Chuyên đề Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Thường Tín thời kỳ 2001-2010

Huyện Thường Tín đang trong quá trình phát triển. Thời gian qua, nền kinh tế, xã hội của huyện đã có nhiều khởi sắc, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dàn. Các làng nghề ngày càng phát triển theo mô hình doanh nghiệp và hợp tác xã, sản phẩm làm ra không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu ra thị trường nhiều nước. Quy mô sản xuất của các ngành trên ngày càng mở rộng và tập trung hơn vào các khu, cụm, điểm công nghiệp, điểm phát triển làng nghề. Ngành dịch vụ của huyện cũng có nhiều chuyển biến với giá trị tăng qua các năm, nhiều khu thương mại đã và đang được xây dựng hệ thống dịch vụ tương đối phát triển giúp tăng sự giao lưu trao đổi hàng hóa. Những thành tựu này có sự đóng góp không nhỏ của quy hoạch sử dụng đất 2001 - 2010 của huyện Thường Tín Đó là khẳng định đầu tiên có thể rút ra sau khi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của huyện Thường Tín - Hà Tây".

doc69 trang | Chia sẻ: linhlinh11 | Ngày: 26/12/2018 | Lượt xem: 134 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Chuyên đề Đánh giá việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Thường Tín thời kỳ 2001-2010, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
dụng đất năm 2000, bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến 2010, đã cụ thể hóa các chỉ tiêu của quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 trong kỳ kế hoạch đầu. Nhờ đó, công tác quản lý của Nhà nước về đất đai được củng cố. Việc giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giải quyết tranh chấp, vi phạm phát sinh không còn tình trạng chỉ căn cứ vào nhu cầu, vào những thông tin mang tính chủ quan do người sử dụng cấp đất.Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, huyện có cơ sở chính xác để thực hiện giao đất, cho thuê đất,. đúng ranh giới, đúng mục đích, đảm bảo sự công bằng trong giải quyết tranh chấp. Trong giai đoạn 2001 - 2005 huyện Thường Tín đã thực hiện được mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm diện tích đất nông nghiệp và tăng diện tích đất phi nông nghiệp, tận dụng chiều cao không gian. Do vậy đất đai được sử dụng hợp lý hơn và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Năm 2005, diện tích đất nông nghiệp là 6825,79 ha, giảm 1324,52 ha so với năm 2000. Diện tích đất phi nông nghiệp năm 2005 là 4435,45 ha tăng 177,75 ha so với năm 2000, trong đó đất chuyên dùng tăng nhiều nhất với diện tích tăng lên là 147,21 ha nên diện tích đến năm 2005 là 2163,63 ha. Đó là kết quả của việc đánh giá đúng xu hướng phát triển kinh tế- xã hội, nhu cầu của người sử dụng đất điều kiện thực tế của địa phương để có thể xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch sử dụng đất, đáp ứng nhu cầu phát triển của huyện. Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, việc xây dựng các khu, cụm, điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các điểm phát triển làng nghề truyền thống đã được triển khai rộng khắp trên toàn huyện, tạo ra cho các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân có nơi sản xuất tập trung, phát triển làng nghề gắn với môi trường. Nhờ đó, việc đầu tư đã được tập trung, hiệu quả sử dụng vốn cao, sản xuất có qui mô hợp lý, giải quyết được một lượng lao động khá lớn trong huyện. Như cụm công nghiệp Thường Tín, cụm công nghiệp Phụng Hiệp, Quất Động, Hà Hồi các điểm phát triển làng nghề như Chương Dương, Nhị Khê, Liên Phương Đó là do lãnh đạo huyện cùng với các ban ngành đã xây dựng kế hoạch hợp lý. Trong quá trình thực hiện, huyện đã tiến hành huy động được nguồn vốn đầu tư để tiến hành đầu tư vào các hạng mục công trình như xây dựng cơ sở hạ tầng tại các cụm, điểm khu công nghiệp. Một số chính sách như chính sách thu hút vốn đầu tư, chính sách giảm thuế, ưu đãi đối với các tổ chức đầu tư vào các khu, cụm điểm công nghiệp trong việc thuê đất, thu tiền sử dụng đất, các giấy tờ hồ sơ liên quan đến thuê đất, giao đất đã được thực hiện khá tốt, là một động lực thu hút nhiều nhà đầu tư vào đầu tư các công trình, dự án trên địa bàn huyện. Việc thực hiện quyết định giao đất, cho thuê đất đảm bảo kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng đất co mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Khi các quyết định về giao đất, cho thuê đất được ký ban hành, huyện đã tiến hành các thủ tục nhằm bàn giao đất cho người sử dụng đất một cách nhanh chóng nhằm đáp ứng kịp thời mặt hàng đất đai để người sử dụng đất đầu tư đảm bảo tiến độdự án xã được duyệt. Trong sản xuất nông nghiệp, tuy diện tích đất nông nghiệp giảm nhưng tổng sản lượng giảm không nhiều, đáp ứng được yêu cầu về an ninh lương thực của huyện. Đến đầu năm 2005 huyện đã hoàn thành chỉ tiêu gieo cấy 12687 ha, năng suất lúa đạt 59,75 tạ/ha. Nhu cầu chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nông nghiệp được đáp ứng, mà đảm bảo phát triển nông nghiệp, vừa đảm bảo cung cấp đất cho nhu cầu sử dụng của các ngành khác. Trong nội bộ đất nông nghiệp, cơ cấu sử dụng đất cũng thay đổi theo hướng hiệu quả hơn, hợp lý hơn (chuyển đất trồng lúa không hiệu quả song nuôi trồng thủy sản, giảm diện tích đất trồng lúa, tăng diện tích cây công nghiệp ngắn ngày có hiệu quả cao). Đó là kết quả của một kế hoạch sử dụng đất có hiệu quả, thực hiện tốt các chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp (miễn giảm thuế nông nghiệp, khen thưởng hàng lợi ích kinh tế đối với những hộ gia đình, cá nhân làm ăn giỏi), chính sách chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và vận dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhờ đó năng suất cây trồng được nâng cao, góp phần ổn định đời sống của một bộ phận người dân và chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp đi lên. Về diện tích đất ở cũng được sử dụng hợp lý, có sự tập trung hơn. Diện tích này cũng tăng lên 85,7 ha nhưng chỉ tăng về đất ở nông thôn, còn đất ở đô thị thì vẫn giữ nguyên, không thay đổi. Diện tích đất cho các mục đích khác cũng đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Các công trình giao thông, thủy lợi được huyện đầu tư xây dựng vừa đảm bảo nhu cầu sinh hoạt của người dân vừa đảm bảo cho việc lưu thông hàng hóa, giao lưu, phục vụ cho ngành nông nghiệp phát triển. Cũng trong giai đoạn này đất chưa sử dụng đã giảm 61,2 ha, từ 359,99 ha năm 2000 giảm xuống còn 298,97 ha năm 2005, do thực hiện các chính sách về khuyến khích cải tạo đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho đất nông nghiệp (miễn giảm thuế, lệ phí, phí liên quan đến diện tích đất đưa vào sử dụng trong những năm đầu, huyện tiến hành đầu tư một phần vốn cho việc cải tạo cũng như xây dựng giao thông, thủy lợi để việc khai thác, sử dụng đạt hiệu quả với chi phí hợp lý). Có thể nói, việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ 2001 - 2005 đã có những đóng góp rất lớn vào sự phát triển của huyện Thường Tín. Đất đai được sử dụng hợp lý và hiệu quả hơn. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế các ngành góp phần không nhỏ làm thay đổi bộ mặt nông thôn các xã trong huyện, còn thị trấn Thường Tín dần được đô thị hóa trở thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của huyện. Sở dĩ đạt được những kết quả này là do trong những năm thực hiện kế hoạch sử dụng đất, các cấp ủy Đảng chính quyền đã có sự chỉ đạo sát sao đối với việc thực hiện; đã có sự phân công, phân nhiệm hợp lý giữa các ngành, các cấp, được cụ thể tới từng phòng ban về trách nhiệm của mình; nhiều chính sách hợp lý được thực hiện. Kế hoạch sử dụng đất kỳ 2001 - 2005 được vận dụng dựa trên điều kiện thực tế hàng năm nên có tính khả thi khá cao, đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất của người sử dụng, nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Hơn nữa, huyện đã tiến hành đầu tư kinh phí khá lớn cho công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trang bị các thiết bị, máy móc tiên tiến vào hoạt động này nên đã đem lại hiệu quả hoạt động cao. 4.2. Những hạn chế tồn tại Việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ 2001 - 2005 nhìn chung đã mang lại nhiều hiệu quả đối với huyện Thường Tín trong công tác quản lý sử dụng đất đai và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế. Kế hoạch sử dụng nông nghiệp vẫn còn chưa hợp lý. Diện tích đất nông nghiệp đến năm 2005 là7992,88 ha chiếm tới 62,79% tổng diện tích đất tự nhiên. Đất trồng cây hàng năm còn chiếm diện tích lớn (7314,76 ha, chiếm 57,46% tổng diện tích tự nhiên và 91,52% diện tích đất nông nghiệp). Cơ cấu cây trồng vật nuôi tuy đã có bước chuyển dịch nhưng cây trồng chủ lực vẫn là cây lúa, diện tích các cây công nghiệp ngắn ngày hiệu quả cao còn thấp. Vật nuôi chủ yếu là gia cầm, lợn, trâu tuy có số đầu vật nuôi khá nhưng vẫn thấp hơn với những năm trước quy hoạch, lại chịu ảnh hưởng của dịch bệnh nên hiệu quả giảm đáng kể. Đất nuôi trồng thủy sản còn ít. Đó là do ở huyện, người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, chưa biết tận dụng đất nhờ thâm canh tăng vụ, tăng hệ số quay vòng sử dụng đất. sản xuất vẫn chủ yếu là thủ công, chưa biết áp dụng triệt để các tiến bộ khoa học vào sản xuất chăn nuôi còn mang tính cá thể, chưa chú trọng đầu tư vào giống, các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh. Về chỉ tiêu chuyển mục đích sử dụng đất còn nhiều vấn đề cần tính toán. Diện tích đất nông nghiệp chuyển sang phi nông nghiệp được tính toán lấy chủ yếu từ đất trồng lúa có hiệu quả. Còn nhiều diện tích đất lúa sản xuất không hiệu quả, những vùng úng, trũng lại không được tính toán để chuyển đổi hoặc chuyển đổi chậm đã gây nên tình trạng lãng phí đất nông nghiệp, hiệu quả sản xuất sau chuyển đổi thấp hơn trước khi chuyển đổi có chiều lúng túng trong quá trình thực hiện chuyển đổi do chưa có hướng dẫn quy trình cụ thể. Kế hoạch sử dụng đất xây dựng chưa sát với nhu cầu thực tế của địa phương,việc thực hiện còn thiếu trọng tâm. Một số địa phương khi xây dựng các khu, cụm, điểm công nghiệp đã không thu hút được các dự án đầu tư, chưa biết tiết kiệm diện tích đất mặt bằng, chưa tận dụng chiều cao không gian. Đó là do khi xây dựng kế hoạch sử dụng đất, huyện đã không tính toán kỹ nguồn vốn đầu tư cho các hạng mục công trình, không thực hiện đúng quy trình về đăng ký nhu cầu của đơn vị sử dụng đất dẫn đến vốn đầu tư thiếu, các công trình xây dựng chậm tiến độ hoặc xây dựng dở dang rồi dừng lại vì hết vốn. Việc bàn bạc, xác định nhu cầu sử dụng định hướng cho cán bộ Địa chính xã lập các danh mục nên mang tính chủ quan, không chính xác. Như ở cụm công nghiệp Thường Tín, tuy đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng nhưng số dự án đầu tư vào mới chỉ chiếm 53,4% diện tích đất, còn lại vẫn đang bị bỏ trống rất lãng phí. Việc quy hoạch khu dân cư vẫn ở tình trạng phân tán, chưa tập trung theo cụm điểm để tiện quản lý. Bởi lẽ huyện không kiểm soát được sự gia tăng cơ học hàng năm của các xã. Trong quá trình quy hoạch huyện kịp thời chủ quan không dành một khu đất trống để làm đất ở. Vì vậy, khi có hộ mới phát sinh hoặc các hộ tự giãn, nhu cầu về đất ở phát sinh, chính quyền tiến hành cấp đất ở tại những thửa đất chưa sử dụng hoặc đang sử dụng vào các mục đích không đem lại hiệu quả tại những khu vực bất kỳ có điều kiện làm đất ở (cạnh đường giao thông). do còn thiếu kinh nghiệm và chỉ đạo thống nhất nên tiến độ cho thuê đất còn chậm so với nhu cầu của nhà đầu tư. Công tác thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng còn nhiều thiếu sót. Một số nơi, cấp chính quyền còn để cho các chủ đầu tư tự thỏa thuận với dân với giá đền bù khiếu giá đền bù có sự chênh lệch, không sát với giá cả của Nhà nước. Một số hộ dân bị thu hồi đất, do chưa hiểu luật cũng như trước sự "không công bằng' về giá đền bù đã cản trở việc thực hiện, không chịu dọn đi để bàn giao mặt bằng cho các chủ đầu tư. Vì vậy nên một số dự án mặc dù đã có quyết định giao đất, cho thuê đất nhưng đến nay vẫn chưa có mặt bằng để xây dựng, thực hiện dự án. Bên cạnh đó, một tình trạng cũng khá phổ biến tại nhiều địa phương là các cụm công nghiệp chưa được triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật trước khi bàn giao cho doanh nghiệp nên khi các doanh nghiệp có dự án đầu tư cũng khó có thể tiến hành xây dựng và đi vào sản xuất. Một số dự án thì lại không thể thể hiện đúng tiến độ do chủ đầu tư hạn chế về năng lực tài chính. Đó là cấp chính quyền khi xây dựng kế hoạch không tính đủ nguồn vốn đầu tư, khi phê duyệt dự án của các chủ đầu tư không kiểm tra, xác minh năng lực tài chính của chủ đầu tư Đó là một số những hạn chế, tồn tại trong quá trình thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ 2001 - 2005 của huyện Thường Tín. Những hạn chế này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của kế hoạch và yêu cầu đặt ra là phải có giải pháp nhằm khắc phục giải quyết những hạn chế, tồn tại này mới có thể phát huy hết hiệu quả của kế hoạch sử dụng đất thời gian tiếp theo. Chương III phương hướng và giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất I. Kế hoạch sử dụng đất của huyện Thường Tín thời kỳ 2006 - 2010 Trên cơ sở phân tích kết quả đã đạt được trong kỳ kế hoạch 2001 - 2005; phân tích đánh giá tổng hợp nhu cầu sử dụng đất; sự thay đổi của điều kiện thực tế địa bàn, uỷ ban nhân dân huyện Thường Tín đã tiến hành lập kế hoạch sử dụng đất kỳ 2006 - 2010. 1. Kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp Đến năm 2010, đất nông nghiệp của huyện còn là 6 461,91 ha giảm 1 530,97 ha so với năm 2005. Diện tích đất cây hàng năm là 5 416,68 ha, giảm 1 898,08 ha so với năm 2005. Diện tích đất cây lâu năm là 292,85 ha, tăng 215,14 ha. Đất mặt nước nuôi trồng thủy sản là 729,21 ha, tăng 151,97 ha. Huyện tiếp tục thực hiện chuyển đổi (trong nội bộ) diện tích đất nông nghiệp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng đất: 4 990,48 ha đất lúa sang trồng lúa + nuôi trồng thủy sản; 94,19 ha đất lúa sang trồng cây màu đặc sản và hoa, cây cảnh; 137,06 ha đất lúa sang trồng cây ăn quả; 185,18 ha đất lúa sang nuôi trồng thủy sản Bảng 07: Diện tích, cơ cấu sử dụng đất trước và sau kế hoạch. TT Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2010 Tăng (+) giảm (-) (ha) Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 12 729.30 100.00 12 729.30 100.00 1 Đất nông nghiệp 7 992.88 62.79 6 461.91 50.76 -1 530.97 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 7 392.47 58.07 5 709.53 44.85 -1 682.94 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 7 314.76 57.46 5 416.68 42.55 -1 898.08 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 77.71 0.61 292.85 2.30 215.14 1.2 Đất lâm nghiệp 1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 577.32 4.54 729.29 5.73 151.97 1.4 Đất nông nghiệp khác 23.09 0.18 23.09 0.18 0.00 2 Đất phi nông nghiệp 4 437.45 34.86 6 029.14 47.36 1 591.69 2.1 Đất ở 1 273.33 10.00 1 644.70 12.92 371.37 2.2 Đất chuyên dùng 2 163.63 17.00 3 363.42 26.42 1 199.79 2.2.1 Đất trụ sở cơ quan,công trình SN 64.76 0.51 64.29 0,51 -0.47 2.2.2 Đất quốc phòng, anninh 49.23 0.39 55.69 0.44 6.46 2.2.3 Đất sản xuất kinh doanh, phi NN 433.45 3.41 1 554.01 12.21 1 120.56 2.2.4 Đất có mục đích công cộng 1 616.19 12.70 1 689.43 13.27 73.24 2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 89.87 0.71 90.70 0.71 0.83 2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 151.13 1.19 169.61 1.33 18.48 2.5 Đất sông suối và MNCD 746.16 5.87 742.87 5.84 -4.29 2.6 Đất phi nông nghiệp khác 12.33 0.10 18.84 0.14 5.51 3 Đất chưa sử dụng 298.97 2.35 238.25 1.87 -60.72 3.1 Đất bằng chưa sử dụng 298.97 2.35 238.25 1.87 -60.72 Nguồn: Báo cáo thuyết minh tổng hợp kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Thường Tín - Hà Tây. 2. Kế hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp 2.1. Kế hoạch sử dụng đất ở 2.1.1. Kế hoạch sử dụng đất ở đô thị Đến năm 2010, đất ở đô thị tăng 219,99 ha nhằm phục vụ cho nhu cầu mở rộng thị trấn Thường Tín và phát triển một số khu đô thị mới như khu đô thị Nhị Khê, khu đô thị vạn Minh. Trong đó có 216,79 ha từ đất trồng lúa; 1,0 ha từ đất nuôi trồng thủy sản; 2,2 ha từ đất trụ sở cơ quan cũ. Do đó đất ở đô thị năm 2010 có tổng diện tích là 228,97 ha 2.1.2. Kế hoạch sử dụng đất ở nông thôn Đến năm 2010, đất ở nông thôn tăng 151,38 ha để cấp cho hộ mới và hộ tự giản. Diện tích này lấy từ đất lúa 125,18 ha từ đất trồng cây lâu năm 0,55 ha; từ đất nuôi trồng thủy sản 17,4 ha từ đất trụ sở của cơ quan cũ 1,19 ha từ đất quốc phòng, an ninh 1,74 ha; từ đất ở cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 4,57 ha; từ đất phi nông nghiệp khác 0,75 ha. Tính chung tổng diện tích đất ở nông thôn năm 2010 là 1 415,73 ha. 2.2. Kế hoạch sử dụng đất chuyên dùng Đến năm 2010 đất chuyên dùng tăng 1 206,38 ha. Đất chuyên dùng tăng do lấy từ đất nông nghiệp là 1 197,74 ha, từ đất nghĩa trang, nghĩa địa 0,11 ha, từ đất sông suối và mặt nước chuyên dùng là 4,29 ha; từ đất chưa sử dụng là 7,35 ha. Đất chuyên dùng giảm 9,7 ha do chuyển sang đất ở. Tính chung, đất chuyên dùng giai đoạn 2006 - 2010. Đất trụ sở cơ quan công trình sự nghiệp giảm 0,47 ha do chuyển sang đất ở 3,39 ha và lấy từ lúa 2,92 ha. Đất quốc phòng an ninh: tăng 8,2 ha để mở rộng trụ sở cơ quan công an và xây dựng hệ thống phòng thủ, giảm 1,74 ha do chuyển sang làm đất ở. Tính chung đến 2010 đất quốc phòng, an ninh tăng 6,46 ha. Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tăng 1 120,56 ha để phát triển một số khu, cụm, điểm công nghiệp (Phụng Hiệp, Ninh Sở, Văn Tự, Vân Tảo, Hà Hồi); các điểm phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, các cơ sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp. Đất có mục đích công cộng tăng 73,24 ha. 2.3. Kế hoạch sử dụng đất tôn giáo, tín ngưỡng Đất tôn giáo tín ngưỡng tăng 0,83 ha, trong đó xã Hà Hồi 0,50 ha, xã Văn Tự 0,13 ha, xã Quất Động 0,2 ha. Tổng diện tích đất có mục đích tôn giáo, tín ngưỡng đến năm 2010 là 90,7 ha. 2.4. Kế hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa: Đất nghĩa trang, nghĩa địa tăng 18,59 ha do việc mở rộng và giảm 0,11 ha do chuyển sang mục đích sử dụng khác. Tổng diện tích đất nghĩa trang, nghĩa địa của huyện năm 2010 là 169,61 ha, tăng 18,48 ha so với năm 2005. 2.5. Kế hoạch sử dụng đất sông suối và mặt nước chuyên dùng. Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng giảm 4,29 ha do chuyển mục đích khác (đất chuyên dùng). 3. Kế hoạch sử dụng đất chưa sử dụng Quỹ đất chưa sử dụng của huyện đến năm 2005 vẫn còn 298,97 ha, là đất bằng chưa sử dụng. Trong kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010, diện tích đất chưa sử dụng sẽ được khai thác và đưa vào sử dụng với các mục đích sau: * Chuyển sang mục đích nông nghiệp 53,37 ha, trong đó 12,33 ha sang đất chuyên trồng lúa; 1,03 ha sang trồng cây ăn quả; 40,01 ha sang nuôi trồng thủy sản. * Chuyển sang mục đích chuyên dùng là 7,35 ha để làm đất khu công nghiệp. Như vậy, đến năm 2010 đất chưa sử dụng của huyện còn là 238,25 ha 4. Đánh giá kế hoạch sử dụng đất kỳ 2006 - 2010 Do sự thay đổi của điều kiện kinh tế, xã hội của huyện cũng như những kết quả đã đạt được của kỳ kế hoạch sử dụng đất 2001 - 2005 dẫn tới sự thay đổi so với dự kiến ban đầu về cơ cấu sử dụng đất của huyện, năm 2006 ủy ban nhân dân huyện đã tiến hành lập kế hoạch sử dụng đất kỳ 2006 - 2010 của huyện Thường Tín trong quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001 - 2010 (sau đây gọi là kế hoạch) được thể hiện ở bảng sau: Bảng 08: Bảng so sánh cơ cấu sử dụng đất năm 2010: TT Chỉ tiêu QHSDĐ 2001-2010 KHSDĐ 2006-2010 So sánh QH - KH (ha) Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 12 770.00 100.00 12 729.30 100.00 -40.70 1 Đất nông nghiệp 6 571.61 51.46 6 461.91 50.76 -109.70 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 5 851.32 45.82 5 709.53 44.85 -141.79 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 5 616.57 43.98 5 416.68 42.55 -199.89 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 234.75 1.84 292.85 2.30 +58.10 1.2 Đất lâm nghiệp 1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 683.24 5.35 729.29 5.73 +46.05 1.4 Đất nông nghiệp khác 37.05 0.29 23.09 0.18 -13.96 2 Đất phi nông nghiệp 6 109.15 47.83 6 029.14 47.36 -80.01 2.1 Đất ở 1 425.28 11.16 1 644.70 12.92 +219.42 2.2 Đất chuyên dùng 3 604.84 28.24 3 363.42 26.42 -241.42 2.2.1 Đất trụ sở cơ quan,công trình SN 59.73 0,47 64.29 0.51 5.06 2.2.2 Đất quốc phòng, anninh 55.93 0.44 55.69 0.44 -0.24 2.2.3 Đất sản xuất kinh doanh, phi NN 1 838.31 14.40 1 554.01 12.21 -284.30 2.2.4 Đất có mục đích công cộng 1 650.87 12.93 1 689.43 13.27 38.56 2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 60.21 0.47 90.70 0.71 30.49 2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 155.71 1.22 169.61 1.33 13.90 2.5 Đất sông suối và MNCD 843.73 6.61 742.87 5.84 -118.84 2.6 Đất phi nông nghiệp khác 19.38 0.15 17.84 0.14 -1.74 3 Đất chưa sử dụng 89.24 0.70 238.25 1.87 149.01 3.1 Đất bằng chưa sử dụng 89.24 0.70 238.25 1.87 149.01 (Nguồn: Báo cáo thuyết minh tổng hợp QHSDĐ 2001 - 2010 và kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 huyện Thường Tín - Hà Tây) Trong kế hoạch, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện giảm 40,7 ha do trong giai đoạn 2000 - 2005 kết quả kiểm kê đất đai phát hiện sai sót ở xã VânTảo (tổng diện tích theo tài liệu cũ là 544,62 ha; theo kết quả kiểm kê mới là 503,92 ha, giảm 40,7 ha). Về cơ cấu sử dụng đất: * Đất nông nghiệp: Trong kế hoạch diện tích đất nông nghiệp giảm so với trong quy hoạch là 109,70 ha. Trong đó đất sản xuất nông nghiệp giảm 141,79 ha , đất nuôi trồng thủy sản tăng 40,05 ha và đất nông nghiệp khác giảm 13,96 ha. * Đất phi nông nghiệp: Diện tích đất phi nông nghiệp trong kế hoạch giảm 80,01 ha so với trong quy hoạch. Tuy nhiên trong nội bộ đất phi nông nghiệp lại có sự tăng giảm khác nhau. Các loại đất tăng lên như đất ở 219,42 ha, đất tôn giáo, tín ngưỡng (30,49 ha), đất nghĩa trang, nghĩa địa (13,90 ha). Các loại đất giảm diện tích gồm đất chuyên dùng (241,42 ha), đất sông suối và mặt nước chuyên dùng (118,84 ha), đất phi nông nghiệp khác (1,74 ha). * Đất chưa sử dụng: Trong kế hoạch đất chưa sử dụng còn rất nhiều, cao hơn trong quy hoạch là 149,01 ha. Sở dĩ có sự thay đổi này là do những dự báo dài hạn được tính đến trong quy hoạch sử dụng đất (2001 - 2010) không chính xác, không phù hợp với sự thay đổi của thực tế. Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất 2001 - 2005 đã làm cho cơ cấu sử dụng đất của huyện thay đổi, không khớp với dự kiến trong kế hoạch ban đầu. Sự biến động về dân số, về quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa hiện đại hóa trên thực tế không diễn ra đúng như dự báo. Do vậy dẫn đến hiện trạng và nhu cầu sử dụng đất trên địa bàn huyện thay đổi. Sự thay đổi trong kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 so với quy hoạch sử dụng đất 2001 - 2010 chính là để đáp ứng sự thay đổi đó, nhằm đảo bảo sự phù hợp, tính khả thi và hiệu quả của kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010. 4.2. Đánh giá hiệu quả và mức độ sử dụng đất. Kế hoạch sử dụng đất 2006 -2010 của huyện Thường Tín tiếp tục phân phối lại quỹ đất đai của huyện theo hướng tăng diện tích đất chuyên dùng và diện tích đất ở, giảm diện tích đất nông nghiệp. Trong kế hoạch đã đưa ra các phương án cụ thể đối với từng loại đất, phù hợp với đặc điểm về địa chất, địa hình, vị trí địa lý của đất, giúp việc sử dụng từng loại đất phát huy hết tiềm năng, đáp ứng nhu cầu của người sử dụng đất và yêu cầu của các mục đích sử dụng đất. * Đất nông nghiệp: Cũng như kỳ kế hoạch trước, trong kỳ kế hoạch 2006 - 2010, diện tích đất nông nghiệp đã được giảm nhiều. Tuy nhiên, do năng suất cây trồng tăng lên (từ 61,2 tạ/ha/vụ năm 2005 lên 64,2 tạ/ha/vụ năm 2010) nên sản lượng lương thực giảm không đáng kể. Huyện đã tiến hành phân bổ quỹ đất nông nghiệp theo hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi. Việc phân bổ này đã đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa hiệu quả hơn, kinh tế hơn của người dân trong huyện, vừa đảm bảo tăng thu nhập vừa đảm bảo nhu cầu về an ninh lương thực. Tuy nhiên, việc phân bố sử dụng đất nông nghiệp vẫn còn một số hạn chế: Diện tích đất nông nghiệp tuy giảm nhưng vẫn còn lớn so với tổng diện tích, chưa đạt được tỷ lệ phân bố đất hợp lý. Việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để đáp ứng cho nhu cầu đất đai của các ngành khác chủ yếu lấy từ đất lúa, màu phần lớn là diện tích đất lúa 2-3 vụ bị chuyển mục đích sử dụng trong khi đó phần diện tích đất 1 vụ và 2 vụ không chắc ăn lại không được tính toán để chuyển đổi mà chỉ chuyển đổi trong nội bộ đất nông nghiệp. Việc chuyển đổi mục đích như vậy sẽ gây lãng phí tài nguyên đất nông nghiệp, trong khi thực tế khi đi vào sử dụng với mục đích mới, không đảm bảo chắc chắn có thu được hiệu quả cao hơn mục đích sử dụng cũ hay không. * Đất phi nông nghiệp Trong giai đoạn từ nay đến 2010 các ngành kinh tế trên địa bàn đều phát triển, trong đó phát triển mạnh nhất là cây công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp xây dựng cơ bản. Hiện nay các điểm phát triển công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề vẫn hoạt động phân tán trên khắp địa bàn huyện, thiếu sự tập trung nên gây khó khăn cho việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng,vào hoạt động sản xuất. Do vậy yêu cầu đặt ra là phải xây dựng các cụm điểm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các điểm tập trung phát triển làng nghề truyền thống phục vụ cho sự nghiệp. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của huyện. Để thực hiện được yêu cầu đó thì nhu cầu về đất đai là rất lớn. Việc phân bổ quỹ cho mục đích phát triển công nghiệp, xây dựng trong kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 là hợp lý, diện tích đất chuyên dùng tăng lên chín là để phục vụ cho việc xây dựng, phát triển của huyện; đáp ứng được nhu cầu đất đai để xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh cũng như tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp Kế hoạch sử dụng đất cũng đã phân bổ đất cho các mục đích công cộng, đáp ứng được nhu cầu mở mang phát triển giao thông, thủy lợi phục vụ đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân trong huyện. Diện tích đất ở cũng được phân bổ dựa trên cơ sở dự báo sự phát triển dân số và nhu cầu về đất ở của người dân, đáp ứng được nhu cầu của người dân về việc đảm bảo chỗ ở phục vụ cuộc sống Nhận xét: kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 được xây dựng trên cơ sở đất đai thời kỳ 2006 - 2010 đã được ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây xét duyệt, các nghiên cứu đánh giá điều kiện tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội của huyện đồng thời nghiên cứu trên địa bàn. Kế hoạch sử dụng đất 2006 - 2010 được xây dựng trên quan điểm vừa khai thác hiệu quả tài nguyên đất đem lại hiệu quả kinh tế phục vụ lợi ích con người, nhu cầu phát triển kinh tế của huyện vừa đảm bảo giữ vững cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường cho phát triển bền vững. Kế hoạch đã phân bố sử dụng đất một cách hợp lý, cân đối giữa các ngành va các mục đích, phù hợp với nhu cầu phát triển của từng giai đoạn theo định hướng chung của toàn huyện. II. Một số giải pháp để thực hiện quy hoạch sử dụng đất Để phương án quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất kỳ 2006 - 2010 của huyện Thường Tín có khả năng thực thi, đáp ứng được yêu cầu đất đai của các ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, văn hóa,xã hội an ninh, quốc phòng phát triển như định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2006 - 2010 và những năm tiếp theo đã được phê duyệt; đất đai và tài nguyên môi trường được bảo vệ và ngày càng sử dụng hợp lý cần phải có một số biện pháp, giải pháp, chính sách hợp lý. 1. Giải pháp tăng cường công tác quản lý đất đai các cấp Cần phải khẳng định rõ cho các cấp chính quyền và toàn thể nhân dân, người sử dụng đất thấy rằng: tài nguyên đất đai là loại tài nguyên quý giá nhưng có hạn, việc tạo lập 1 ha đất nông nghiệp (đặc biệt là đất lúa) là rất khó khăn, phải trải qua thời gian lâu dài có sự đầu tư công sức và trí tuệ rất lớn của con người. Với Thường Tín địa hình đồng bằng, khí hậu ôn hòa, có thể quy hoạch thành các khu, cụm, điểm công nghiệp gắn với chuỗi đô thị, các điểm phát triển làng nghề truyền thống, các hoạt động du lịch, dịch vụ ở các khu di tích vấn đề mở rộng đất nông, lâm, thủy sản, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đang gặp khó khăn. Trong khi đó, dân số của huyện ngày một tăng, yêu cầu phân bố, sử dụng các quỹ đất hợp lý (nhất là đất phi nông nghiệp) ngày càng lớn làm cho bình quân diện tích đất đai từ diện tích tự nhiên, đất nông - lâm nghiệp ngày càng giảm dần. Nếu không có biện pháp quản lý cứng rắn của chính quyền sự ủng hộ của nhân dân, các chủ sử dụng đất thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh lương thực; phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp; an toàn xã hội; an ninh quốc phòng. Do đó biện pháp hàng đầu phải đặt ra là rà soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phân bổ lại các quỹ đất hợp lý. tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; bổ sung quy hoạch các cụm điểm công nghiệp (thi công cơ sở hạ tầng trước, bàn giao đến cơ sở sản xuất ngay sau khi được phê duyệt), khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào khai thác du lịch của huyện để khai thác tài nguyên đất đai, con người đang bỏ ngở này. Phải coi việc thực hiện rà soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 vừa là trách nhiệm vừa là công cụ của công tác quản lý đất đai các cấp. Các xã, các ngành trong huyện căn cứ vào rà soát quy hoạch sử dụng đất của huyện tiến hành ngay việc lập quy hoạch sử dụng đất ngành mình, cấp mình quản lý; lấy rà soát quy hoạch sử dụng đất cấp huyện làm khung sườn để bổ sung và chi tiết hóa quy hoạch sử dụng đất của ngành mình, cấp mình theo quy định của Luật Đất đai và các văn bản liên quan khác. Để sử dụng tiết kiệm hiệu quả đất đai hiện có, tránh tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất tùy tiện, lãng phí, các cấp chính quyền cần phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý đất đai ở các cấp, các ngành. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý sử dụng đất, kịp thời phát hiện và xử lý thật nghiêm các trường hợp vi phạm Luật Đất đai, có chính sách khuyến khích, khen thưởng kịp thời, thỏa đáng cho các tổ chức cá nhân sử dụng tốt, tiết kiệm, hiệu quả; tiến hành cải tạo, sử dụng tối đa diện tích đất chưa sử dụng còn lại với mục đích phù hợp nhất; tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo quy hoạch một cách hợp lý, hiệu quả Tăng cường củng cố hệ thống địa chính từ huyện đến xã một cách đồng bộ; tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, tăng cường quy chế để đảm bảo bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả; xây dựng hệ thống chuyên ngành ổn định từ huyện đến xã, tăng cường đội ngũ chuyên môn trên cơ sở tuyển chọn bổ sung và bồi dưỡng để nâng cao năng lực công tác. Đầu tư đào tạo cán bộ, nâng cao nghiệp vụ quản lý đất đai, quản lý Nhà nước cho cán bộ địa chính tăng cường đội ngũ cán bộ trẻ, có trình độ chuyên môn (sử dụng thành thạo các phần mềm quản lý, đồ họa bản đồ. Đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện công nghệ hiện đại để hệ thống hồ sơ địa chính: bản đồ, sổ sách,tài liệu, số liệu (số hóa) ngày một chất lượng, chính xác hơn, được lưu trữ tốt hơn, giúp cho việc quản lý đất đai ngày càng đúng quy hoạch, đúng pháp luật. Rà soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt và một trong những căn cứ pháp lý để thực hiện tốt công tác quản lý và sử dụng đất đai. Vì vậy sau khi được phê duyệt cần thông tin đầy đủ đến các cấp, các ngành, mỗi đối tượng sử dụng, nhằm tăng cường công tác quản lý và xác định được định hướng với tính chất, quy mô đầu tư phù hợp. Hàng năm tổ chức đánh giá, sơ kết việc thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch, phát hiện và đề xuất, điều chỉnh, bổ sung những bất cập nảy sinh trong quá trình thực hiện. 2. Biện pháp tuyên truyền giáo dục Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, thông qua việc tổ chức các cuộc thi, hội thảo tuyên truyền cho người dân nắm vững luật pháp, chính sách quản lý sử dụng đất đai của Đảng và Nhà nước. Cần làm cho mọi người dân hiểu rõ các qui định, các chính sách của Nhà nước liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai; giúp họ hiểu và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền lợi của mình theo pháp luật. Hướng dẫn cho tổ chức, cá nhân và người sử dụng đất hiểu và thực hiện việc quản lý, sử dụng, bảo vệ khai thác đất đai theo đúng quy hoạch, kế hoạch: sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới, chuyển đổi mục đích sử dụng đất phải theo quy hoạch, kế hoạch, phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, quyết định theo qui định của pháp luật. 3. Giải pháp về cơ chế chính sách Huyện cần nhanh chóng đưa các chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư vào thực hiện và thực hiện một cách đồng bộ, nhất quán, bình đẳng giữa mọi tổ chức, cá nhân người sử dụng đất: chính sách giao đất cho thuê đất thông thoáng với thủ tục hành chính đơn giản nhưng chính xác, tạo điều kiện cho người sử dụng đất nhanh chóng có đất để sử dụng, tránh tình trạng mất nhiều thời gian đi lại làm thủ tục, hồ sơ. Các chính sách tạo hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi cho đầu tư để giúp chủ đầu tư có cơ sở pháp lý chắc chắn, việc đầu tư được thuận lợi và dễ dàng, nhanh chóng vào hoạt động. Đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng (là lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, lợi nhuận thấp, lâu thu hồi vốn đầu tư), công nghiệp, dịch vụ và du lịch (là những ngành đang rất phát triển, lợi nhuận cao phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện). Huyện phải tiến hành nghiên cứu xây dựng chính sách ưu đãi thu hút đầu tư, xây dựng nhà chung cư, cụm điểm công nghiệp, giải phóng mặt bằng để đưa đất vào sử dụng theo đúng quy hoạch, kế hoạch có hiệu quả. Đối với nhà chung cư thì được ưu đãi trong việc thuê đất như giá thu thấp hơn, được hỗ trợ về vốn, về kỹ thuật trong quá trình thực hiện, được vay vốn ưu đãi. Xây dựng cụm điểm công nghiệp thì được ưu đãi về thuê đất như thời gian thuê, giá thuê, ưu đãi về giải phóng mặt bằng, đầu tư vốn, kỹ thuật giải phóng mặt bằng do chính quyền thực hiện, không để cho các nhà đầu tư phải tự thỏa thuận với người dân, có biện pháp cưỡng chế thích hợp đối với các trường hợp cố tình gây khó khăn để nhanh chóng bàn giao mặt bằng cho các nhà xây dựng các nhà đầu tư. Thực hiện tốt chính sách đất đai, nhà ở cho người có công với cách mạng, các đối tượng chính sách khác như cho thuê đất nông nghiệp với giá rẻ, giảm tiền sử dụng đất khi mua nhà chung cư được ưu tiên bán với giá thấp với nhiều hình thức trả tiền phù hợp với các đối tượng. Những người không có đất được ưu tiên giao đất cho thuê đất chính sách như vậy nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng chính sách, đảm bảo cho người nghèo có đất canh tác và có cơ hội có nhà ở hiện đại. Tiếp tục nghiên cứu đưa khung giá đất của tỉnh ban hành vào thực hiện, đồng thời có chính sách điều tiết sự hưởng lợi để có nguồn thu cho ngân sách, vừa đảm bảo công bằng xã hội, nhất là việc điều tiết phần chênh lệch giá đất ở khu vực do Nhà nước đầu tư hạ tầng mà đất tăng giá nhằm đảm bảo cho Nhà nước và nhân dân cùng có lợi. Vì khung giá đất của tỉnh ban hành còn nhiều bất hợp lý sự chênh lệch về giá lớn giữa các khu vực làm cho quyền lợi của các đối tượng sử dụng đất khó được đảm bảo một cách công bằng. Một điểm cần lưu ý là các cơ chế chính sách này của huyện đều phải dựa vào cơ chế chính sách của tỉnh, lấy đó làm cơ sở làm khung sườn để chi tiết hóa, cụ thể hóa, phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn huyện. 4. Giải pháp về đầu tư Để thực hiện được các chỉ tiêu đất đai theo quy hoạch kế hoạch đã được phê duyệt, ủy ban nhân dân cấp theo chức năng, nhiệm vụ của mình tìm nguồn đầu tư khai thác đất đai bằng các nguồn vốn có thể. Điều tra xây dựng các dự án khai thác sử dụng, bảo vệ đất đưa các diện tích đất chưa sử dụng vào sử dụng khai thác đều phải có dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt để tránh những chồng chéo, bất hợp lý, không đúng với quy hoạch đã được phê duyệt. Đầu tư cho các dự án lập quy hoạch sử dụng đất của các xã, các ngành trên địa bàn huyện. Vốn đầu tư cho các công trình giao thông, thủy lợi, xây dựng cơ bản, cải tạo đất đai theo phương án quy hoạch là rất lớn. ủy ban nhân dân huyện cần có biện pháp huy động các nguồn vốn như ngân sách Nhà nước, vốn vay tín dụng, vốn huy động trong nhân dân, vốn thu được từ quỹ đền bù đất đai, thu từ đấu giá đất ở, đấu giá quyền sử dụng đất thu từ giao đất, cho thuê đất. Nguồn vốn nên được tập trung đầu tư thông qua các dự án phát triển kinh tế - xã hội đã được phê duyệt. Theo ước tính, tổng nguồn vốn thu từ đất trong giai đoạn 2006 - 2010 là 12831,29 triệu đồng, bình quân mỗi năm là 436625 triệu đồng. Nguồn vốn này được thu từ các khoản như thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tiền thuê đất (trong nước và nước ngoài), tiền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất, lệ phí địa chính và lệ phí và lệ phí trước bạ. Nguồn vốn này là khá lớn mà huyện có thể thu được. Do đó cần thực hiện đầy đủ, chính xác các văn bản có liên quan đến các nguồn thu này, nhằm đảm bảo thu đúng, thu đủ. Huyện phải cân đối ngân sách hợp lý để có vốn đối ứng kích thích, thu hút đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp, chế biến lâm sản và ngành nghề nông thôn, đầu tư xây dựng hạ tầng các khu, cụm, điểm công nghiệp. Bởi đầu tư vào các lĩnh vực này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao, góp phần thúc đẩy nền kinh tế của huyện phát triển theo hướng hiện đại. Bên cạnh đó, huyện phải ưu tiên khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp. Thường Tín là huyện đi lên từ nông nghiệp, do đó nông nghiệp là yếu tố hết sức quan trọng, nông nghiệp là nơi tạo ra lương thực để nuôi sống con người. Huyện Thường Tín có diện tích nông nghiệp khá lớn: 7992,88 ha, chiếm 62,79% tổng diện tích đất tự nhiên (năm 2005). Trong quá trình đổi mới hiện nay, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì đất nông nghiệp đang giảm đi một cách nhanh chóng để phục vụ cho các nhu cầu khác như xây dựng các khu công nghiệp, giao thông. Do vậy cần phải ưu tiên, khuyến khích phát triển nông nghiệp theo chiều sâu bằng các giải pháp về đầu tư vốn và công nghệ để sản lượng lương thực không giảm cùng với diện tích đất nông nghiệp. 5. Giải pháp về cán bộ, nguồn nhân lực Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý đất đai, đặc biệt có chiến lược, chính sách đào tạo cán bộ chuyên sâu về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những giải pháp mang tính chiến lược sâu sắc. Hiện nay, so với yêu cầu về trình độ chuyên môn, khả năng vận dụng khoa học, công nghệ tiên tiến vào thực tiễn thì đội ngũ cán bộ, công chức của huyện còn nhiều bất cập. Đội ngũ cán bộ ở huyện còn thiếu tuy đã được rèn luyện và có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn, nhưng một phần không nhỏ được đào tạo từ những chuyên ngành ít liên quan đến nghiệp vụ quản lý đất đai. Cán bộ trung cấp chiếm tỷ lệ cao, tuy năng nổ nhiệt tình song so với yêu cầu quản lý Nhà nước thì còn nhiều hạn chế về năng lực quản lý và trình độ chuyên sâu. Phần lớn số cán bộ địa chính phường, xã những người giúp đỡ ủy ban nhân xã về mặt chuyên môn - chỉ mới qua các lớp tập huấn, một số ít qua đào tạo trung cấp Trên thực tế, không đủ khả năng đáp ứng yêu cầu về chuyên môn công tác. Đó là những nguyên nhân làm hạn chế hiệu lực công tác quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và công tác xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng. Tình hình đó đặt ra nhiệm vụ lớn cho công tác đào tạo, tuyển dụng, quy hoạch và sử dụng cán bộ công chức phải trên cơ sở bám sát mục tiêu, nhiệm vụ của ngành, đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, dự kiến chính xác những nhu cầu và khả năng phát triển để từ đó có phương hướng, kế hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, kiểm tra đánh giá chấn chỉnh một cách khoa học, cụ thể là: phải tiến hành đào tạo và đào tạo lại theo mỗi cấp độ. Trong đó đặc biệt chú ý tới việc nâng cao trình độ cho cán bộ địa chính cấp xã bởi thực tế các cán bộ cấp xã có đủ điều kiện theo dõi sát sao những biến động cụ thể của từng thửa đất trên địa bàn quản lý; hơn nữa đội ngũ này đóng vai trò quan trọng trong khâu tuyên truyền, vận động và hướng dẫn nhân dân hiểu chính sách của Nhà nước trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Bên cạnh đó, việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ công chức là hết sức cần thiết. Thông qua thực tiễn, hiệu quả công tác để xem xét, đánh giá. Người nào có năng lực, người nào chưa đáp ứng được yêu cầu, từ đó mới kích thích mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực trong mỗi con người nhờ đó mà chọn đúng, sắp xếp vào những vị trí phù hợp với yêu cầu công tác và khả năng của mỗi người nhằm phát huy tối đa năng lực và kiến thức của cán bộ, công chức trong ngành. 6. Các giải pháp cụ thể 6.1. Đối với đất nông, lâm nghiệp Việc chuyển đất nông nghiệp, lâm nghiệp sang mục đích phi sản xuất nông, lâm nghiệp phải được quản lý nghiêm ngặt, chặt chẽ, hạn chế tối đa việc chuyển đất lúa, đất màu tốt có hiệu quả kinh tế sang mục đích khác. Bất kỳ một cơ quan tổ chức, cá nhân nào nếu lấy đất nông - lâm nghiệp sang phi sản xuất nông nghiệp, ngoài việc phải đền bù giá trị tài sản hoa màu, đất đai còn phải cấp kinh phí đào tạo nghề mới hoặc cấp kinh phí đầu tư khai thác hiệu quả đất chưa sử dụng để tạo công ăn việc làm ổn định cho người bị thu hồi đất. Những xã có bình quân đất nông nghiệp (500m2 không được lấy đất canh tác sang làm đất ở, đất chuyên dùng (trừ trường hợp đặc biệt phải có ý kiến của tỉnh cho phép). Nhanh chóng hoàn thành việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ, tổ chức, cá nhân, tăng cường công tác quản lý quỹ đất khó giao, đất công ích để mọi tấc đất phải được sử dụng hiệu quả và được quản lý chặt chẽ, đúng quy hoạch được duyệt. Xây dựng ngay các phương án chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông, thủy sản chi tiết, hợp lý. Mở rộng những diện tích úng, trũng trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản. Tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi trên quỹ đất chưa sử dụng một cách nhanh và hợp lý nhất. 6.2. Đối với đất phi nông nghiệp Việc sử dụng đất phi nông nghiệp (đất ở, đất chuyên dùng) phải theo quy hoạch, kế hoạch chung và quy hoạch, kế hoạch chi tiết đến từng chủ sử dụng đất; nhanh chóng xử lý hoàn thiện hồ sơ đất ở, đất chuyên dùng để tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất chuyên dùng cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo quy định của pháp luật. Tổ chức điều tra, khảo sát chi tiết,phân loại xác định nhu cầu đất chuyên dùng cho tổ chức, cá nhân để có phương án điều chỉnh quỹ đất chuyên dùng giữa các ngành, các lĩnh vực hợp lý để phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Kiện toàn bộ máy quản lý có chuyên môn sâu về quản lý: các quỹ đất chuyên dùng, đất ở (nhất là đất ở đô thị), nâng cao tối đa hiệu quả sử dụng các quỹ đất quý giá này, phù hợp với quy định luật pháp hiện hành, tránh những xáo trộn gây khó khăn cho người sử dụng đất. Quản lý sử dụng đất phải theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả, sử dụng tốt không gian với kiểu kiến trúc truyền thống bảo tồn văn hóa dân tộc. Dành diện tích thích đáng để trồng cây xanh bảo vệ, cải thiện môi trường, cảnh quan khu dân cư, khu đô thị. Hệ thống cấp thoát nước, các công trình văn hóa, thể thao, các cụm, điểm công nghiệp cần được ưu tiên quy hoạch chi tiết, cụ thể, bền vững và thân thiện với môi trường. Khu dân cư nội thị cần hạn chế dần đi đến chấm dứt việc cấp đất cho từng hộ lẻ để xây dựng nhà riêng và xây dựng khu chung cư cao tầng, các căn hộ khép kín. Các chung cư nên được quy hoạch gần các công trình phúc lợi, trung tâm thương mại. Cần có quy định mức đất ở cụ thể từng vùng dưới mức tối đa theo Luật Đất đai, quy định để hạn chế việc sử dụng lãng phí đất đai, phù hợp với sinh hoạt của xã hội công nghiệp hóa, đô thị hóa (nhất là đô thị hóa nông thôn). Có chính sách cụ thể để kiểm soát thị trường đất đai, đang hình thành, phát triển vô tổ chức như hiện nay. 6.3. Đối với đất chưa sử dụng Nguồn đất chưa sử dụng hiện tại còn 298,97 ha (năm 2005) chiếm 2,33% diện tích đất tự nhiên. Đến năm 2010 diện tích này giảm xuống còn 238,25 ha (chiếm 1,87%). Nguồn đất này cần được nhanh chóng quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến cấp xã. Cần tập trung đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi, điện theo các dự án và kế hoạch hàng năm để khai thác tối đa tiềm năng của các xã này. Đất chưa sử dụng đã được đưa vào sử dụng nhưng chưa có hiệu quả kinh tế cao, chưa thống kê vào đất nông nghiệp - huyện cần có chính sách đầu tư cho vay ưu đãi để tổ chức, cá nhân tiếp tục cải tạo, khai thác nâng cao chất lượng đất đai. Để nguồn đất này bổ sung vào diện tích đất nông nghiệp bị chuyển sang mục đích chuyên dùng đất ở đảm bảo an ninh lương thực, tăng giá trị dinh dưỡng, đầu người, tăng sản phẩm xuất bán cho các cụm, điểm công nghiệp. III. Một số kiến nghị - Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng; công tác quản lý sử dụng đất đai nói chung là một việc rất phức tạp và nhạy cảm, do vậy đề nghị với Quốc hội, Chính phủ, ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tây thường xuyên tăng cường công tác giám sát, kiểm tra nhằm chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót, tồn tại ở địa phương; đồng thời cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Đất đai để mọi người dân hiểu và thực hiện. - Nhà nước quan tâm đầu tư kinh phí cho công tác đo đạc lập bản đồ địa chính để có tài liệu phản ánh đầy đủ hiện trạng sử dụng đất nhằm phục vụ cho công tác quản lý, lập quy hoạch chi tiết, công tác giao đất cho thuê đất. - Đề nghị Nhà nước quan tâm đầu tư vốn phục vụ cho công tác bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội cho các khu tái định cư trong quy hoạch để sớm có địa bàn bố trí cho các hộ có nhu cầu tái định cư tới nơi ở mới, nhằm thực hiện việc bàn giao giải phóng mặt bằng cho các chủ đầu tư thuộc các dự án đã được Nhà nước giao đất. - Đề nghị Nhà nước có cơ chế chính sách hỗ trợ hợp lý phù hợp với điều kiện hiện tại của từng địa phương về đào tạo chuyển đổi nghề đối với các hộ bị thu hồi đất để chuyển nghề. - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý sử dụng đất đai, phát hiện ngăn chặn, xử lý kịp thời, triệt để đối với các vi phạm trong khu vực Nhà nước đã quy hoạch. - Các dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các ngành chức năng trong việc quản lý, sử dụng đất đai đúng pháp luật, đúng mục đích, có hiệu quả. Kết luận Huyện Thường Tín đang trong quá trình phát triển. Thời gian qua, nền kinh tế, xã hội của huyện đã có nhiều khởi sắc, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dàn. Các làng nghề ngày càng phát triển theo mô hình doanh nghiệp và hợp tác xã, sản phẩm làm ra không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn được xuất khẩu ra thị trường nhiều nước. Quy mô sản xuất của các ngành trên ngày càng mở rộng và tập trung hơn vào các khu, cụm, điểm công nghiệp, điểm phát triển làng nghề. Ngành dịch vụ của huyện cũng có nhiều chuyển biến với giá trị tăng qua các năm, nhiều khu thương mại đã và đang được xây dựng hệ thống dịch vụ tương đối phát triển giúp tăng sự giao lưu trao đổi hàng hóa. Những thành tựu này có sự đóng góp không nhỏ của quy hoạch sử dụng đất 2001 - 2010 của huyện Thường Tín Đó là khẳng định đầu tiên có thể rút ra sau khi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của huyện Thường Tín - Hà Tây". Đề tài đã tiến hành nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất, khái quát nhất của đất đai về mặt lý luận như khái niệm, nội dung của quy hoạch, việc thực hiện và điều chỉnh quy hoạch được thực hiện như thế nào? Trên cơ sở những lý luận đó, qua việc nghiên cứu những đặc điểm về mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Thường Tín, xem xét, đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất trong kỳ kế hoạch 2001 - 2005 và những kết quả đạt được, chúng ta có thể thấy được thực tế thực hiện quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Thường Tín đã và đang diễn ra như thế nào? Việc thực hiện quyền sử dụng đất đã đem lại những kết quả gì đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Từ đó đưa ra một số những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện tốt hơn phương án đề ra trong kỳ kế hoạch tới. Mặc dù có nhiều thiếu sót, nhưng có thể nói, đề tài đã giúp tôi có được một sự hiểu biết nhất định về những vấn đề liên quan đến quy hoạch sử dụng đất đai, từ những khái niệm đơn giản nhất cho đến những qui định pháp lý có liên quan. Từ đó bổ sung thêm kiến thức về mặt lý luận của mình. Hơn nữa, khi nghiên cứu thực tế tại Thường Tín tôi có được những hiểu biết có thể nói là cơ bản và sơ đẳng nhất về thực tế khi tiến hành thực hiện quy hoạch sử dụng đất tại một địa bàn cụ thể, những thiếu sót cần khắc phục và một số giải pháp để có thể thực hiện tốt quyền sử dụng đất. Lời nói đầu 1 Chương I 4 Cơ sở khoa học của vấn đề quy hoạch 4 Sử dụng đất 4 I. Khái niệm , đặcđiểm , vai trò của quy hoạch sử dụng đất 4 1. Khái niệm , đặc trưng của quy hoạch sử dụng đất 4 1.1 Khái niệm quy hoạch sử dụng đất 4 1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất 7 1.2.1. Tính lịch sử xã hội 7 1.2.2. Tính tổng hợp . 8 1.2.3 Tính dài hạn . 8 1.2. 4. Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô . 8 1.2.5 Tính chính sách . 9 1.2.6 Tính khả biến 9 1.2.7 Tính hiệu quả . 9 1.2.8 Tính đúng đắn . 9 2 . Vai trò của quy hoạch sử dụng đất . 10 II, Một số quy đinh pháp lý về quy hoach sử dụng đất 11 1. Nguyên tắc , căn cứ quy hoạch sử dụng đất . 11 1.1 Nguyên tắc lập quy hoạch sử dụng đất 11 1.2 Căn cứ để lập quy hoạch sử dụng đất 12 2. Nội dung của quy hoạch sử dụng đất 12 3. Thực hiện và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất 15 3.1 Thực hiện quy hoạch sử dụng đất . 15 3.2 Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất . 16 CHƯƠNG II : THựC TRạNG THựC HIệN QUY HOạCH Sử DụNG ĐấT ở HUYệN THƯờNG TíN (Hà TÂY) 17 I. ĐIềU KIệN Tự NHIÊN, KINH Tế, Xã HộI, CủA HUYệN THƯờNG TíN: 17 1. Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 17 1.1. Điều kiện tự nhiên 17 1.1.1. Vị trí địa lý 17 1.1.2. Địa hình 17 1.2.3. Khí hậu, thuỷ văn 17 1.2. Nguồn tài nguyên thiên nhiên 18 1.2.1. Tài nguyên đất 18 1.2.2. Tài nguyên nước 19 1.2.3. Tài nguyên khoáng sản 19 1.2.4. Tài nguyên nhân văn 19 1.3. Đánh giá chung về tài nguyên thiên nhiên 20 2.Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 20 2.1. Tình hình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 20 2.2 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 23 2.3. Dân số và lao động 24 2.4. Tình hình phát triển văn hoá -xã hội 25 2.5. Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế xã hội 25 II. Thực trạng thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Thường Tín-tỉnh Hà Tây thời kỳ 2001-2010 26 1. Qúa trình xây dựng quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001-2010 của huyện Thường Tín 26 1.1. Hiện trạng sử dụng đất 27 1.2. Kế hoạch sử dụng đất huyện Thường Tín 2001-2005 29 1.2.1. Kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp 29 1.2.2. Kế hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp 29 1.2.2.2. Kế hoạch sử dụng đất chuyên dùng 30 2. Tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ 2001-2005 của huyện Thường Tín: 32 3. Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ 2001-2005 33 4. Đánh giá kết quả thực hiện: 38 4.1. Những ưu điểm 38 4.2. Những hạn chế tồn tại 42 Chương III 45 phương hướng và giải pháp thực hiện quy hoạch 45 sử dụng đất 45 I. Kế hoạch sử dụng đất của huyện Thường Tín thời kỳ 2006 - 2010 45 1. Kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp 45 2. Kế hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp 46 2.1. Kế hoạch sử dụng đất ở 46 2.1.1. Kế hoạch sử dụng đất ở đô thị 46 2.1.2. Kế hoạch sử dụng đất ở nông thôn 47 2.2. Kế hoạch sử dụng đất chuyên dùng 47 2.3. Kế hoạch sử dụng đất tôn giáo, tín ngưỡng 48 2.4. Kế hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa: 48 2.5. Kế hoạch sử dụng đất sông suối và mặt nước chuyên dùng. 48 3. Kế hoạch sử dụng đất chưa sử dụng 48 4. Đánh giá kế hoạch sử dụng đất kỳ 2006 - 2010 48 4.2. Đánh giá hiệu quả và mức độ sử dụng đất. 50 II. Một số giải pháp để thực hiện quy hoạch sử dụng đất 53 1. Giải pháp tăng cường công tác quản lý đất đai các cấp 53 2. Biện pháp tuyên truyền giáo dục 55 3. Giải pháp về cơ chế chính sách 56 4. Giải pháp về đầu tư 57 5. Giải pháp về cán bộ, nguồn nhân lực 59 6. Các giải pháp cụ thể 60 6.1. Đối với đất nông, lâm nghiệp 60 6.2. Đối với đất phi nông nghiệp 61 6.3. Đối với đất chưa sử dụng 62 III. Một số kiến nghị 62 Kết luận 64

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNKT172.doc