Chuyên đề Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G

Kế hoạch tài chính phải được xây dựng trên cơ sở tình hình thực tiễn của Công ty, thêm vào đó phải tính đến các tác động và các thay đổi của môi trường kinh doanh nhằm đảm bảo kế hoạch tài chính phù hợp với năng lực thực hiện của Công ty. Muốn làm được như vậy thì phải nâng cao tính chính xác và hiệu quả của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, có nghĩa là nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên và cải thiện hệ thống thông tin tài chính kế toán trong Công ty. Đảm bảo các kế hoạch tài chính phải được thực hiện đúng, đồng thời cũng thường xuyên theo dõi, kiểm tra để có những thay đổi phù hợp tránh tình trạng phát hiện sai sót quá muộn không kịp khắc phục, làm ảnh hưởng tới việc thực hiện toàn bộ kế hoạch tài chính. Xác định nhu cầu vốn cho từng giai đoạn phát triển của Công ty, từ đó có kế hoạch, chính sách huy động vốn hợp lý. Đồng thời đảm bảo hiệu quả của các đồng vốn đi vay cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Công ty nên tìm cho mình không chỉ là một loại nguồn vốn mà cần phải có cả vốn dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Các nguồn này phải đảm bảo tính ổn định, nên làm ăn lâu dài với một hoặc một vài tổ chức tín dụng uy tín, hiệu quả.

doc112 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 25/12/2013 | Lượt xem: 106 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Chuyên đề Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ì giá vốn hàng bán năm 2007 (43,111,090,649 VNĐ) vẫn cao hơn so với năm 2006 (40,953,028,025 VNĐ). Điều này là do tổng doanh thu thuần của năm 2007 tăng khá nhiều so với năm 2006. Như vậy, ta có thể nói rằng, trong năm 2007, doanh nghiệp đã thực hiện tốt các biện pháp tiết kiệm chi phí, giảm giá thành từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm của công ty trên thị trường. 1.1.4. Về hàng tồn kho. Tỷ trọng hàng tồn kho trong tổng tài sản năm 2007 là 24.098% (1,225,478,833 VNĐ) giảm tương đối so với năm 2006 (1,330,667,599 VNĐ, khoảng 29.03% tổng tài sản). Chứng tỏ rằng khâu tiêu thụ sản phẩm của công ty hoạt động ngày càng hiệu quả, thêm vào đó là việc xác định lượng nguyên vật liệu tồn kho đã chính xác hơn, vừa đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất vừa đảm bảo rằng chi phí cơ hội của việc dự trữ hàng tồn kho là thấp nhất. 1.1.5. Về khả năng thanh toán ngắn hạn. Các hệ số trong nhóm hệ số về khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty năm 2007 đều đạt được so với mục tiêu đề ra, hơn thế nữa, hệ số thanh toán ngắn hạn lại lớn hơn 1, chứng tỏ rằng công ty vẫn đảm bảo sự lành mạnh cho các khoản vay ngắn hạn (đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản vay ngắn hạn). Hệ số thanh toán nhanh tuy nhỏ hơn 1 song vẫn đạt yêu cầu, có thể tạo được lòng tin cho các nhà đầu tư ngắn hạn vào công ty. 1.1.6. Về năng lực hoạt động của công ty. Đầu tiên, ta thấy rằng, hiệu suất sử dụng tổng tài sản và hiệu suất sử dụng tài sản cố định đạt mức cao (hiệu suất sử dụng tài sản cố định là khoảng 23 lần, còn hiệu suất sử dụng tổng tài sản là khoảng 12 lần). Tiếp theo là vòng quay của hàng tồn kho là 48.05 lần, đạt được mục tiêu đề ra là 45 lần, đồng thời cao hơn mức trung bình trong 5 năm từ 2003 đến 2007 (44.06 lần). Song vòng quay của tài sản lưu động năm 2007 lại khá thấp so với những năm trước đó và so với mức trung bình của 5 năm từ 2003 đến 2007, đồng thời không đạt được mục tiêu đề ra. Sở dĩ như vậy vì tốc độ tăng của doanh thu thuần năm 2007 nhỏ hơn so với tốc độ tăng của tài sản lưu động bình quân năm 2007. 1.2. Hạn chế. 1.2.1. Về các khoản phải thu. Các khoản phải thu của năm 2007 tăng lên rất lớn so với năm 2006. Năm 2006 là 76,232,585 VNĐ (chiếm 1.66% so với tổng tài sản năm 2006) đã tăng lên tới 312,693,246 VNĐ năm 2007 (chiếm 6.37% so với tổng tài sản năm 2007). Điều này, chứng tỏ rằng chính sách bán hàng tín dụng của công ty năm 2007 đã mở rộng hơn rất nhiều so với năm 2006. Chính điều này là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến vòng quay của tài sản lưu động năm 2007 không đạt được chỉ tiêu đặt ra. Công ty cần phải xem xét lại tính hợp lý của việc mở rộng chính sách bán hàng tín dụng ồ ạt như vậy. Vì việc này hàm chứa một lượng rủi ro và ảnh hưởng rất lớn tới mọi mặt hoạt động của công ty. 1.2.2. Về các khoản nợ phải trả. Các khoản nợ phải trả của năm 2007 lớn hơn so với năm 2006 về cả giá trị tuyệt đối và giá trị tương đối. Năm 2006, nợ phải trả của công ty là 3,362,689,575 VNĐ, chiếm 26.65% so với tổng nguồn vốn, đến năm 2007 con số này đã lên tới 3,471,500,950 VNĐ, chiếm 29,23% so với tổng nguồn vốn năm 2007. Trong quá trình tăng vay vốn ngắn hạn, công ty cần chú ý tới các hệ số về khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty, để đảm bảo sự lành mạnh về tài chính cho công ty. 1.2.3. Về chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. Đầu tiên là chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí này năm 2007 đã tăng 766,986,9889 VNĐ so với năm 2006 (từ 3,428,160,838 VNĐ, chiếm 6.24% tổng doanh thu thuần năm 2006 lên 4,195,147,827 VNĐ, chiếm 7.13% tổng doanh thu thuần năm 2007). Thứ hai, chi phí bán hàng năm 2007 cũng tăng hơn so với năm 2006. Năm 2006, chi phí bán hàng chỉ chiếm 17.04% so với doanh thu thuần (9,363,484,079 VNĐ), đến năm 2007 đã chiếm 17,36% doanh thu thuần (10,221,167,730 VNĐ). Từ những con số vừa đưa ra ở trên cho thấy rằng, công ty cần xem xét lại tình hình của các khoản chi phí gián tiếp năm 2007. Chi phí bán hàng tăng có thể do tính cạnh tranh trên thị trường quảng cáo ngày càng khốc liệt, do đó, công ty cần tăng chi phí cho các khâu xúc tiến bán hàng và khâu hậu mãi, nhưng chi phí quản lý doanh nghiệp thì công ty cần thực sự xem xét lại, vè nó thể hiện rằng năng lực của ban lãnh đạo công ty đang có dấu hiệu giảm sút. 1.3. Nguyên nhân Các điểm hạn chế của công ty trong năm 2007 có rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng đầu tiên mà chúng ta cần phải nói tới các nguyên nhân khách quan. Thứ nhất, tính cạnh tranh trên thị trường nói chung và thị trường thiết kế, lắp dựng các loại biển quảng cáo nói riêng đang ngày càng trở nên khốc liệt. Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước gia nhập WTO, công ty công ty phải liên tục đổi mới công nghệ, không chỉ cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài có nhiều lợi thế về công nghệ và tài chính. Chính vì thế, trong năm 2007, chính sách bán hàng tín dụng của công ty đã được mở rộng hơn, đồng thời với đó là các khoản chi phí chi cho bán hàng cũng tăng lên so với năm 2006. Thứ hai, tình trạng lạm phát ngày càng gia tăng trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2007 (khoảng 11%) đã khiến cho giá cả của các loại nguyên vật liệu và dịch vụ đầu vào không ngừng tăng cao. Vì thế, các loại chi phí của công ty đều tăng hơn so với năm 2006 là điều không thể tránh khỏi và là tình trạng chung của nền kinh tế. Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét tới các nguyên nhân chủ quan dẫn đến những tồn tại trong năm 2007. Thứ nhất, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý trong công ty nói chung và cán bộ quản lý tài chính nói riêng chưa có nhiều cải thiện đáng kể. Họ làm việc chủ yếu dựa vào kinh nghiệm là chính, ít áp dụng theo các quy trình quản lý hiện đại. Vì vậy, đã làm gia tăng các chi phí không cần thiết, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý tài chính. Do trình độ quản lý còn hạn chế nên không xác định được chính xác lượng tiền mặt và lượng hàng tồn kho tối thiểu để duy trì hoạt động của công ty, do đó mà làm gia tăng các chi phí cơ hội cho việc nắm giữ tiền mặt và quá nhiều hàng tồn kho. Thứ hai, huy động vốn không có kế hoạch rõ ràng đã dẫn đến tình trạng vay vốn tràn lan, đặc biệt là vốn ngắn hạn. Việc huy động vốn chỉ chú ý tới mặt là làm sao vay được vốn chứ chưa chú ý tới việc vay bao nhiêu là hợp lý? Vốn này sẽ được sử dụng vào đâu? Sử dụng như thế nào cho hiệu quả? Do đó làm tăng nhanh các khoản vay ngắn hạn trong năm 2007 so với năm 2006. Thứ ba, do các nhân viên phòng kinh doanh nôn nóng ký kết các hợp đồng với khách hàng nên đã chấp nhận một số điều khoản không có lợi cho công ty, trong đó đặc biệt phải nói tới là việc thanh toán. Khách hàng thường yêu cầu được thanh toán giá trị hợp đồng sau một thời gian nhất định chứ không thanh toán ngay sau khi nhiệm thu sản phẩm, mà các nhân viên thì lại muốn ký được hợp đồng nên thường chấp nhận điều khoản này. Chính điều này đã làm gia tăng các khoản phải thu của công ty năm 2007, làm gia tăng các nguy cơ rủi ro đối với công ty vì khách hàng của công ty không chỉ là những khách hàng truyền thống đã làm ăn lâu dài mà có cả những khách hàng mới, tiềm năng. 2. Thực trạng quản lý tài chính. 2.1. Công tác phân tích tài chính. Phòng kế toán và phòng tài chính có mối quan hệ chặt chẽ, luôn phối hợp và giúp đỡ nhau trong quá trình tiến hành công việc. Phòng kế toán luôn đảm bảo cung cấp các thông tin kế toán chính xác và kịp thời cho phòng tài chính để phòng này có thể tiến hành phân tích và hoạch định tài chính một cách chính xác, sát với tình hình thực tế của công ty. Phòng kế toàn và phòng tài chính đều đang sử dụng các phần mềm hỗ trợ chuyên môn hiện đại, nâng cao hiệu quả làm việc và tính chính xác của công việc. 2.2. Công tác hoạch định tài chính. Công tác hoạch định tài chính của công ty được dựa trên các yếu tố sau: Thứ nhất, căn cứ theo chiến lược và mục tiêu phát triển của công ty mà phòng tài chính đưa ra kế hoạch tài chính sao cho phù hợp và đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu chung của công ty. Thứ hai, căn cứ vào kết quả kinh doanh của những năm trước đó mà có hướng đưa ra kế hoạch tài chính nhằm khắc phục những tồn tại của những năm trước, đồng thời đảm bảo rằng kế hoạch này phù hợp với năng lực và khả năng thực hiện thực tế của công ty, tránh tình trạng kế hoạch đưa ra thì tốt nhưng không phù hợp với năng lực thực tế dẫn đến không hoàn thành kế hoạch. Thứ ba, căn cứ vào những diễn biến trên thị trường kinh tế nói chung và thị trường ngành nói riêng để có những kế hoạch phù hợp, ứng phó được với những thay đổi từ môi trường. Từ đó, đảm bảo tính ổn định cho hoạt động kinh doanh của công ty. Công tác hoạch định tài chính tại công ty luôn chú trọng tới việc chủ động huy động và sử dụng vốn, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn nói riêng và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung. 2.3. Công tác kiểm tra tài chính. Công tác kiểm tra tài chính luôn được công ty chú trọng, đặc biệt là công tác kiểm tra tài chính thường xuyên. Nhằm đảm bảo rằng kế hoạch tài chính đang được thực hiện tốt, đồng thời đảm bảo các sai sót được phát hiện và sửa chữa kịp thời, hạn chế ảnh hưởng lên việc thực hiện kế hoạch chung. Hơn thế nữa, là có những động thái kịp thời phản ứng lại với những thay đổi từ môi trường kinh doanh bên ngoài, tránh tình trạng “nước tới chân mới nhảy”. Nhìn chung, công tác kiểm tra tài chính của công ty được tiến hành tương đối có hệ thống và nhất quán, đồng thời đảm bảo tính khách quan và minh bạch, tạo niềm tin cho chính các thành viên công ty cũng như các nhà đầu tư và khách hàng. 2.4. Quản lý vốn luân chuyển. Nhìn chung, công tác quản lý vốn luân chuyển của công ty đã đạt được mục tiêu để ra, luôn quan tâm và thường xuyên phân tích tình hình vốn lưu động và sử dụng vốn lưu động. Song điểm hạn chế lớn nhất trong quản lý vốn luân chuyển của công ty chính là quản lý tiền mặt và các khoản tương đương tiền. Công ty chưa có phương pháp quản lý tiền mặt thích hợp, chính vì thế, làm giảm tính chính xác của việc xác định lượng tiền mặt tối thiểu cần thiết, dẫn đến tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt và các khoản tương đương tiền. Riêng trong năm 2007, ngoài hạn chế trong quản lý tiền mặt và các khoản tương đương tiền, công ty còn gặp phải vấn đề trong quản lý các khoản phải thu mà nguyên nhân của nó đã được đề cập ở phần trên. Các nhà quản lý tài chính của công ty cần nhanh chóng xem xét lại tính hợp lý của các khoản cho nợ này, để co những điều chỉnh phù hợp trong kế hoạch tài chính cho năm 2008. 2.5. Quyết định tài chính. Dựa trên hiệu quả của công tác phân tích tài chính và hoạch định tài chính mà ban lãnh đạo công ty đã có cái nhìn tổng quan và chi tiết chính xác về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty nói chung và tình hình tài chính nói riêng. Từ đó, các quyết định tài chính được đưa ra chính xác và kịp thời hơn, đảm bảo hiệu quả. Các quyết định đầu tư của công ty chủ yếu là đầu tư trong nội bộ doanh nghiệp về các loại tài sản cố định, tài sản lưu động hay mở rộng sản xuất, vì thế trong giai đoạn tới công ty cần tích cực có thêm các quyết định đầu tư tài chính ra bên ngoài tuy rằng ban đầu có thể không phải là lớn. CHƯƠNG III - MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH QUẢNG CÁO VÀ THƯƠNG MẠI P&G. I. MỤC TIÊU CỦA CÔNG TY TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 1. Căn cứ xây dựng mục tiêu. Căn cứ đầu tiên để Công ty xác định mục tiêu phát triển trong thời gian tới là thực trạng của Công ty mà chúng ta đã phân tích rất kỹ ở chương II. Tiếp theo đó, để đảm bảo tính chính xác của mục tiêu, Công ty không chỉ phải căn cứ vào tình hình biến động của môi trường kinh tế Việt Nam mà còn phải căn cứ vào tình hình kinh tế khu vực cũng như thế giới vì hiện nay chúng ta đã và dang tham gia quá trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu ngày càng sâu và rộng, được đánh dấu bằng sự kiện nước ta gia nhập WTO vào tháng 1 năm 2007. 1.1. Nền kinh tế thế giới và khu vực Châu Á. Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF đánh giá các áp lực và những rủi ro mà nền kinh tế thế giới sẽ gặp phải trong thời gian tới đây: áp lực lạm pháp, sự mất cân đối toàn cầu, rủi ro có xu hướng giảm, khu vực Châu á vẫn tiếp tục mức thặng dư cán cân vãng lai lớn và các nguồn vốn vẫn tiếp tục chảy vào nhiều [Theo đó IMF dự báo sang năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ chậm lại nhưng vẫn vững chắc và sẽ duy trì ở mức 4.8%, thấp hơn so với mức tăng trưởng 5.2% năm 2007.] Thiên Thanh - Dự báo kinh tế thế giới 2008. Tạp chí Thông tin tài chính, số 23 tháng 12 năm 2007. Trong đó, các nước có nền kinh tế mới nổi vẫn là những nhân tố chính đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thế giới, đặc biệt là hai quốc gia Trung Quốc và Ấn Độ. Tại Châu Á, tốc độ tăng trưởng kinh tế được dự đoán tiếp tục tăng trưởng nhanh vào năm 2008. Dự báo tốc độ tăng trưởng trong toàn khu vực đạt mức khoảng 7.2% năm 2008. Nước Mỹ, nền kinh tế mạnh nhất thế giới được dự báo là sẽ có mức tăng trưởng chậm, khoảng 1.9% năm 2008, thấp hơn khoảng 1% so với dự báo trước đó của IMF và giảm mạnh so với mức 2.9% năm 2006. Nguyên nhân là do ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc khủng hoảng trên thị trường tín dụng và cho vay cầm cố thế chấp dưới tiêu chuẩn tại Mỹ tháng 8/2007. Bảng 18: Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2008. Đơn vị: % 2005 2006 2007 2008 Tổng sản lợng toàn cầu 4.8 5.4 5.2 4.8 Mỹ 3.1 2.9 1.9 1.9 Khu vực đồng Euro 1.5 2.8 2.5 2.1 Đức 0.8 2.9 2.4 2 Nhật Bản 1.9 2.2 2 1.7 Châu Phi 5.6 5.6 5.7 6.5 Trung Quốc 10.4 11.1 11.5 10 Ấn độ 9 9.7 8.9 8.4 Nguồn: IMF, World Economic Outlook, tháng 10/2007. Tóm lại, qua những phân tích dự báo trên, có thể nói rằng, kinh tế thế giới vẫn có tốc độ tăng trưởng vững chắc mặc dù một số quốc gia có thể phải đối mặt với vấn đề lạm phát và tỷ lệ tăng trưởng thấp hơn so với những năm trước. Điều này sẽ tạo động lực cho Chính phủ các nước, các nhà chuyên gia kinh tế nghiên cứu và đưa ra những quyết sách thích hợp trong điều hành kinh tế vĩ mô của đất nước mình. 1.2. Nền kinh tế Việt Nam. Trong năm 2007, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam là gần 8.5%, so với 8.2% năm 2006, là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng lớn nhất trong khu vực Châu Á. Việt Nam trở thành thành viên của WTO vào hồi tháng 1/2007, đã lôi cuốn con số đầu tư kỷ lục 20.3 tỷ USD trong các dự án đầu tư sau khi chính phủ Việt Nam hứa hẹn sẽ thi hành cam kết với WTO, mở rộng cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Bên cạnh những thuận lợi, trong năm đầu tiên gia nhập WTO, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức mà vấn đề nổi cộm nhất là chỉ số giá tiêu dùng tăng cao và kim ngạch nhập khẩu siêu lớn. Công bố lần cuối cùng những dữ kiện kinh tế trong năm qua, cơ quan thống kê của chính phủ cũng cho biết, Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn với mức lạm phát 8.3% trong năm qua, chủ yếu do giá cả tăng 15% cho cả thực phẩm và nhiên liêu. Tỷ lệ xuất khẩu năm 2007 lên tới 48.4 tỷ USD, tăng 21.5% so với năm 2006 song do tỷ lệ nhập khẩu lại có tốc độ tăng lớn hơn nhiều, khoảng 35.5% so với năm 2006 (lên tới 60.8 tỷ USD). Do vậy, thâm hụt mậu dịch năm 2007 đã lên tới 12.4 tỷ USD. Đồng thời, theo báo cáo “Môi trường kinh doanh” của Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC) và Ngân hàng Thế giới (WB) đã chỉ ra rằng, Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong lĩnh vực tiếp cận tín dụng bằng việc mở rộng phạm vi tài sản có thể sử dụng để thế chấp, ban hành Luật chứng khoán quy định rõ ràng hoạt động của thị trường chứng khoán và trung tâm giao dịch chứng khoán, tăng cường bảo vệ nhà đầu tư thông qua việc ban hành Luật doanh nghiệp mới. [Tuy nhiên, cũng cần cải thiện thêm một số lĩnh vực,Việt Nam hiện còn xếp hạng thấp trong 3 lĩnh vực: bảo vệ nhà đầu tư, giải thể doanh nghiệp, và đóng thuế.] Quang Trường - Báo cáo môi trường kinh doanh 2008, Việt Nam vẫn có thể xếp hạng cao hơn nữa. Tạp chí Thông tin tài chính, số 22 tháng 11 năm 2007. 2. Mục tiêu của Công ty trong giai đoạn tới. Theo những căn cứ trên, Công ty đã xây dựng hệ thống mục tiêu cho mình trong giai đoạn tới như sau: Trở thành công ty hàng đầu về công nghệ mới trong lĩnh vực thiết kế, lắp dựng các loại biển quảng cáo tấm lớn hiện đại. Doanh thu tiếp tục tăng trưởng bình quân là trên 10%/năm, lợi nhuận sau thuế tăng khoảng 13%/năm Các chỉ tiêu tài chính về khả năng thanh toán, khả năng hoạt động và sinh lời tiếp tục duy trì, đảm bảo sự tin tưởng của người góp vốn và các nhà đầu tư vào Công ty. Nâng cao hơn nữa năng lực trong các khâu của quản lý tài chính, đặc biệt là trong khâu phân tích và lập kế hoạch tài chính vì nó là tiền đề để thực hiện các khâu tiếp theo trong quá trình quản lý tài chính. Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn của Công ty kể cả nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn đi vay, các tài sản của Công ty kể cả tài sản cố định và tài sản lưu động. Tiếp tục tăng cường bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ công nhân viên trong Công ty, từ các công nhân sản xuất cho tới đội ngũ cán bộ lãnh đạo. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH QUẢNG CÁO VÀ THƯƠNG MẠI P&G. 1. Duy trì và phát triển các mối quan hệ tài chính. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thì các quan hệ tài chính của Công ty với các chủ thể khác trong nền kinh tế liên tục phát sinh và thay đổi. Vấn đề ở đây là Công ty làm thế nào đề nắm bắt được các quan hệ này và ngày một hoàn thiện, củng cố chúng. 1.1. Hoàn thiện quan hệ tài chính giữa Công ty với Nhà nước. Như ta đã giới thiệu ở phần lý luận, quan hệ tài chính giữa Công ty với Nhà nước phát sinh khi Công ty thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước và các chính sách, luật pháp tác động tới việc thành lập và hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Trong thời gian vừa qua, Công ty luôn hoàn thành nghĩa vụ thuế của mình đối với nhà nước đúng thời hạn quy định. Chính điều này đã tạo sự tin tưởng của các cơ quan thuế đối với Công ty, vì thế trong tương lai Công ty cần tiếp tục phát huy tinh thần này để duy trì và củng cố quan hệ tài chính với Nhà nước. 1.2. Hoàn thiện các mối quan hệ tài chính giữa Công ty với thị trường tài chính. Mối quan hệ giữa Công ty với thị trường tài chính là mối quan hệ biện chứng. Công ty tham gia thị trường tài chính chủ yếu với tư cách là một khách hàng, tức là tham gia thị trường để tìm nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của mình, có thể là các nguồn vốn ngắn hạn hoặc cũng có thể là các nguồn vốn trung và dài hạn, điều này phụ thuộc vào kế hoạch tài chính của Công ty trong từng giai đoạn khác nhau. Còn thị trường tài chính lại coi các công ty như các thị trường đầu ra cho sản phẩm của họ, các nguồn vốn, điều này có nghĩa là nếu không có nhu cầu tìm kiếm vốn tài trợ của các công ty thì thị trường tài chính cũng không thể tồn tại được. Như vậy, ở đây ta có thể hiều đơn giản là các công ty cần thị trường tài chính để có vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, còn thị trường tài chính cần các công ty như thị trường tiêu thụ. Để hoàn thiện quan hệ tài chính này, Công ty cần tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư trên thị trường tài chính, thông qua việc minh bạch tài chính, đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn cũng như các khoản nợ đáo hạn, đảm bảo khả năng sinh lời của vốn đầu tư… Đồng thời với đó, Công ty cũng phải tạo cho mình những nhà tài trợ vốn ngắn hạn tin cậy và thường xuyên, nhằm đảm bảo lượng vốn ngắn hạn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh. 1.3. Hoàn thiện quan hệ tài chính giữa Công ty với các thị trường khác. Quan hệ giữa công ty với thị trường tài chính là quan hệ quan trọng nhất, có ảnh hưởng tới mọi quan hệ khác của Công ty. Song bên cạnh đó, Công ty còn phải tạo mối quan hệ tốt với nhiều thị trường khác để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh luôn được ổn định. Đầu tiên phải nói tới quan hệ với thị trường đầu vào, cung cấp các loại nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của Công ty. Nếu có quan hệ tốt với thị trường này Công ty sẽ có rất nhiều điều kiện thuận lợi không chỉ trong việc ổn định nguồn vật tư đầu vào mà còn có thể được cung cấp với mức giá ưu đãi (tiền đề cho việc hạ giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm của Công ty). Đặc biệt trong điều kiện thị trường luôn biến động từng ngày như hiện nay thì việc hoàn thiện, củng cố mối quan hệ này lại càng trở nên quan trọng. Theo những phân tích ở trên thì giá vốn hàng bán của năm 2007 đã giảm tương đối so với năm 2006, chứng tỏ rằng mối quan hệ giữa Công ty với các nhà cung cấp là khá tốt đẹp. Công ty phải tiếp tục phát huy hơn nữa để quan hệ giữa Công ty và các nhà cung cấp ngày càng trở nên bền chặt. Thứ hai là mối quan hệ của Công ty với thị trường đầu ra. Năm 2007 tỷ trọng thành phẩm tồn kho chỉ chiếm 7.26% so với tổng tài sản, giảm so với mức 9% năm 2006. Điều này cho thấy, quan hệ của Công ty với thị trường đầu ra đang ngày một cải thiện, rất có lợi cho Công ty vì giảm các chi phí cơ hội cũng như đẩy nhanh vòng quay của vốn, tăng hiệu quả đồng vốn. Vì thế, Công ty phải tiếp tục duy trì và hoàn thiện hơn nữa mối quan hệ này. Muốn làm được điều đó, Công ty cần phải thực hiện tốt công tác nghiên cứu, thăm dò, thâm nhập thị trường nhằm đánh giá khái quát tiềm năng thị trường, đồng thời với đó là việc đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến quảng cáo cho sản phẩm của Công ty đối với thị trường tiềm năng. Đối với các khách hàng lâu năm phải có chính sách ưu đãi thích hợp để duy trì mối quan hệ làm ăn tốt đẹp. Tiếp theo là mối quan hệ với thị trường lao động, Công ty phải tự xây dựng cho mình hệ thống các tiêu chuẩn và các chính sách tuyển dụng nhân sự riêng. Đảm bảo chất lượng của đội ngũ nhân sự trong Công ty vì nhân sự là vấn đề cốt lõi quyết định hiệu quả mọi mặt hoạt động. 1.4. Hoàn thiện các mối quan hệ tài chính trong nội bộ công ty. Các mối quan hệ này tồn tại trong nội tại Công ty, như quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh trong Công ty, quan hệ giữa người sở hữu vốn và người có quyền sử dụng vốn, quan hệ giữa Công ty và người lao động... Vì thế, quan hệ tài chính trong nội bộ Công ty không chỉ thể hiện thông qua chinh sách phân chia lợi nhuận, chính sách cổ tức mà còn thể hiện thông qua các chính sách đãi ngộ, tuyển mộ người lao động như về lương, thưởng. Chính sách phân phối lợi nhuận có hợp lý thì mới làm cho các cổ đông yên tâm và hài lòng với số vốn mình bỏ ra, tạo sự ổn định trong nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty, đồng thời chính sách đối với người lao động phải công bằng và phù hợp thì mới thu hút và tạo động lực cho đội ngũ cán bộ công nhân viên của Công ty yên tâm làm việc, tích cực cống hiến cho Công ty, có trách nhiệm cao đối với công việc của mình, tham gia đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu chung. 2. Minh bạch hoá tài chính Công ty. Thực tế thì minh bạch tài chính là một giải pháp nằm trong việc hoàn thiện mối quan hệ với thị trường tài chính, song do sự quan trọng và tính cấp bách của nó mà em xin tách ra thành một giải pháp riêng biệt. [ Sự minh bạch tài chính là yếu tố sống còn cho hoạt động kinh doanh và phát triển của các doanh nghiệp về lâu dài. Nâng cao sự minh bạch tài chính là yếu tố cấp bách đối với các doanh nghiệp, đặc biệt nếu doanh nghiệp hướng tới sự thành công và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới.] Ngọc Quỳnh - Minh bạch tài chính góp phần thu hút các nguồn vốn đầu tư .Tạp chí Thông tin tài chính, số 4 tháng 3 năm 2007. Theo một cuộc khảo sát do Chính phủ Singapore tiến hành năm 2004 thì “minh bạch tài chính là điều kiện tất yếu để tiếp cận được với các nguồn vốn hấp dẫn khác chứ không chỉ thông qua kênh vay mượn thông thường”. Tương tự như ở các quốc gia trong khu vực, ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác ở Việt Nam đang càng ngày càng quan tâm tới việc cho vay đối với khu vực tư nhân song vấn đề gây lo lắng nhất cho họ hiện nay là việc minh bạch tài chính chưa được các doanh nghiệp quan tâm và thực hiện một cách thoả đáng. Theo xu hướng này, Công ty P&G nói riêng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam nói chung muốn huy động được các nguồn vốn một cách hiệu quả thì phải thay đổi thái độ đối với vấn đề minh bạch tài chính và tiến hành minh bạch hoạt động tài chính của Công ty. Để làm được điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, các tổ chức chuyên môn và Công ty, đồng thời Công ty cũng cần xây dựng môi trường văn hoá doanh nghiệp tạo điều kiện cho công tác kế toán, báo cáo tài chính và công khai các thông tin tài chính tốt hơn. Đìều quan trọng nhất là nâng cao kiến thức chuyên môn cho các kế toán viên và những hiểu biết về tài chính cho ban lãnh đạo. Song song với đó cần có các hướng dẫn cụ thể về kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong Công ty. 3. Nâng cao năng lực quản lý tài chính của Công ty. Thị trường kinh doanh ngày nay đang ngày một mở rộng hơn, một mặt mang lại những lợi ích dài hạn để doanh nghiệp lớn mạnh thông qua mở rộng thị trường và đổi mới cơ chế quản lý và kinh doanh theo yêu cầu cạnh tranh, mặt khác sẽ là thách thức không nhỏ đối với khả năng của doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải cơ cấu lại sản xuất kinh doanh, chuyển dịch đầu tư và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh. Quá trình đối phó với các thách thức cạnh tranh đặt ra cho doanh nghiệp cần thiết có sự hỗ trợ từ nhiều phía nhằm tạo điều kiện để các nguồn vốn tài chính được nhanh chóng chuyển sang sử dụng ở các lĩnh vực kinh doanh khác, hiệu quả hơn... Đặc biệt, vấn đề quản lý tài chính doanh nghiệp là một vấn đề lớn các doanh nghiệp rất cần phải quan tâm và chú trọng. Để có thể tranh thủ được các lợi ích của việc mở rộng thị trường và giải quyết các thách thức ngắn hạn, các doanh nghiệp cần đặt ra một số nội dung trọng điểm trong công tác quản lý tài chính để đảm bảo kết quả của mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ nhất, Công ty phải xây dựng được chiến lược tài chính tổng thể và rà soát lại từng đầu mục của chiến lược tài chính sau mỗi giai đoạn để đảm bảo điều chỉnh kip thời khi cần thiết. Theo đó, trước hết Công ty phải xác lập tốc độ tăng trưởng mong muốn mà Công ty có thể đạt đươc. Tính toán mức vốn cần thiết để trang trải các khoản tồn kho, trang thiết bị, nhà xưởng và nhu cầu nhân sự cần thiết để đạt được tốc độ tăng doanh thu, dự tính được chính xác và kịp thời nhu cầu vốn để có kế hoạch thu hút vốn bên ngoài trong trường hợp ngân quỹ từ lợi nhuận không chia không đủ đáp ứng. Trong trường hợp lợi nhuận làm ra không đủ đáp ứng nhu cầu tăng trưởng dự báo của Công ty, người quản lý tài chính phải bố trí vay nợ bên ngoài hay lập phương án tăng vốn từ các chủ sở hữu hay các phương pháp tái cấu trúc Công ty… Đôi khi, việc giảm tốc độ tăng trưởng để mức lợi nhuận làm ra có thể theo kịp nhu cầu tăng trưởng và mở rộng cũng là một lựa chọn phù hợp. Thực tế cho thấy việc thu hút vốn đầu tư và vay nợ cần nhiều thời gian, công sức nên đòi hỏi nhà quản lý phải dự báo chính xác và kịp thời để tránh tình trạng gián đoạn công việc kinh doanh. Thứ hai, các kế hoạch tài chính ngắn hạn cũng không kém phần quan trọng vì để đạt tới kế hoạch tài chính dài hạn, nhà quản lý tài chính phải định ra và hoàn thành được từng kế hoạch tài chính ngắn hạn. Ngay cả đối với các doanh nghiệp nhỏ thì nhà quản lý tài chính cũng phải lập kế hoạch tài chính trong ngắn hạn. Các công cụ thường dùng trong lập kế hoạch ngắn hạn là một sô bảng dự tính tài chính cho tháng, quý, năm tiếp theo như báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán, … Thứ ba, [các chiến lược và kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn lập ra phù hợp hay không phù hợp với Công ty được đánh giá bằng kết quả thực hiện nó.] Thảo Nguyên- Nỗi lo trước thềm năm mới. Tạp chí tài chính tháng 2 năm 2008. Quản lý tài chính đòi hỏi các doanh nghiệp, công ty phải hoàn thành các kế hoạch này ít nhất ở mức độ tốt như dự tính. Mọi sự thay đổi trên thực tế so với kế hoạch dự tính là những nội dung được tất cả các bên liên quan tới Công ty luôn yêu cầu phải được giải trình rõ ràng, cụ thể và xác đáng. Phương pháp phổ biến nhất và cũng là phương pháp khá đơn giản để đánh giá tình hình tài chính mà quản lý tài chính sử dụng là đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính được tính toán dựa vào bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty. Để làm được như vậy thì các kế hoạch và chiến lược tài chính lập ra phải tránh được bốn điểm sai lầm sau: Đưa ra những kế hoạch quá sức: việc đưa ra những kế hoạch kinh doanh và kế hoạch ngân quỹ mang tính thực tế và phù hợp với thực tế của mình luông đảm bảo cho Công ty vừa thu được lợi nhuận vừa phát triển bền vững trong thời gian dài. Bỏ qua những nhu cầu ngân sách trước mắt: chuẩn bị đầy đủ ngân sách cho các kế hoạch kinh doanh, đảm bảo độ an toàn cho nguồn vốn bỏ ra. Quá tự tin vào chỉ tiêu doanh số: trong kinh doanh luôn tồn tại khoảng cách giữa việc hoàn tất giao dịch và việc hoàn tất thanh toán. Rất nhiều nhà kinh doanh chỉ chú tâm tới chỉ tiêu doanh thu mà xem nhẹ vấn đề thanh toán nên có thể lâm vào tình trạng đổ vỡ khi không thể thu được những gì đã bỏ ra. Yếu kém trong khâu quảng cáo: nhiều doanh nghiệp hiện nay tiến hành quảng cáo một cách máy móc so với tỷ lệ doanh số trong cùng kỳ hoạt động của mình, điều này dẫn đến một nghịch lý rằng trong thời gian đầu tung ra sản phẩm cần quảng cáo nhiều nhất thì dường nhu chi phí quảng cáo trong giai đoạn này lại là thấp nhất. Thứ tư, chú trọng cơ chế quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp. Cơ chế quản lý và điều hành nguồn vốn và các chi phí sản xuất kinh doanh cần được tăng cường theo hướng điều chỉnh cơ cấu thu chi phù hợp với việc cắt giảm các chi phí đầu vào. Cơ chế quản lý chi của doanh nghiệp phải đảm bảo kế hoạch chi hợp lý, hiệu quả, đảm bảo kiểm soát được bội chi, tiến tới cân bằng vốn và doanh thu. Hệ thống quản lý tài chính, chi tiêu từng bước thực hiện vi tính hoá, đẩy mạnh phân cấp quản lý tài chính trong doanh nghiệp và tăng tính tự chủ tài chính đối với các đơn vị trực thuộc của doanh nghiệp. Cân đối tỷ lệ chi và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh doanh trong từng thời kỳ và đảm bảo an toàn tài chính doanh nghiệp. Thứ năm, tập trung hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính. Các doanh nghiệp cần chủ động tiếp cận và tìm kiếm nguồn vốn đầu tư trên thị trường vốn, thị trường tài chính và phải coi chi phí đầu tư về vốn là một phần của hiệu quả đầu tư và sản xuất kinh doanh. Các chuẩn mực về quản trị doanh nghiệp cần được chú trọng. Thứ sáu, đẩy nhanh tiến trình nâng cao năng lực của bộ máy quản lý tài chính trong doanh nghiệp. Đặc biệt phải khẩn trương hình thành đội ngũ chuyên gia quản lý tài chính có năng lực, trình độ chuyên môn, đáp ứng yêu cầu của các hoạt động kinh doanh. Mục tiêu của quản lý tài chính tương đối rõ ràng đó là lợi nhuận của Công ty, đồng thời kế hoạch để đạt được mục tiêu đó cũng được đưa ra rõ ràng. Vấn đề ở đây là việc thực hiện các kế hoạch tài chính đó như thế nào là phụ thuộc vào việc người triển khai thực hiện có đủ trình độ để hiểu rõ những thuận lợi, những khó khăn và các giải pháp thích hợp để giải quyết các khó khăn đó không, đồng thời, linh hoạt để xử lý các thay đổi bất thường trên thị trường. [Không có biến động nào là không tác động tới tình hình tài chính của Công ty vì thế sự năng động và kinh nghiệm của các nhà quản lý tài chính trở nên vô cùng quan trọng, nhất là khi Công ty phải đối mặt với những khó khăn.] Thảo Nguyên- Nỗi lo trước thềm năm mới. Tạp chí tài chính tháng 2 năm 2008. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống thông tin quản lý tài chính hiệu quả để có thể quản lý được quá trình cạnh tranh ngày một cao, thu chi cũng ngày một lớn. Thông tin trong quản lý tài chính có vai trò đặc biệt quan trọng, do đó minh bạch hoá tình hình tài chính thông qua các báo cáo tài chính của Công ty trở thành một giải pháp và cũng là yêu cầu của quản lý tài chính. Nhà quản lý tài chính phải nắm rõ và thể hiện rõ sức mạnh tài chính cũng như sự lành mạnh về tài chính của Công ty đến đâu thông qua các chỉ tiêu tài chính cụ thể và phân tích tài chính xác đáng. Tình hình tài chính của Công ty phải được diễn giải một cách chi tiết, hệ thống, trong sáng và minh bạch dựa trên hệ thống kế toán tuân thủ các chuẩn mực kế toán quốc gia và quốc tế được công nhận. Quyền được tiếp cận và được cung cấp thông tin của các chủ sở hữu Công ty phải được đảm bảo thông qua các văn bản pháp lý của Công ty. Cuối cùng, nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn có những biến động nhất định trong từng thời kỳ. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý tài chính là xem xét, lựa chọn cơ cấu vốn sử dụng sao cho tiết kiệm, hiệu quả nhất. Quản lý tài chính trong doanh nghiệp phải tiến hành phân tích và đưa ra một cơ cấu nguồn vốn huy động tối ưu cho doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Quản lý tài chính phải thiết lập một chính sách phân chia lợi nhuận một cách hợp lý đối với doanh nghiệp, vừa bảo vệ được quyền lợi của chủ doanh nghiệp và các cổ đông, vừa đảm bảo được lợi ích hợp pháp, hợp lý cho người lao động; xác định phần lợi nhuận để lại từ sự phân phối này là nguồn quan trọng cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh mới, sản phẩm mới, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có mức độ tăng trưởng cao và bền vững. Quản lý tài chính trong doanh nghiệp còn có nhiệm vụ kiểm soát việc sử dụng cả các tài sản trong doanh nghiệp, tránh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích. 4. Hoàn thiện quản lý vốn luân chuyển. Qua các phân tích ở phần thực trạng, ta thấy rằng việc quản lý vốn luân chuyển của Công ty P&G còn gặp nhiều hạn chế cần có các biện pháp giải quyết. 4.1. Giảm chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt. Như đã phân tích ở trên ta thấy rằng, việc nắm giữ tiền mặt ở Công ty hiện nay chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của các nhà quản lý tài chính chứ ít dựa theo một phương pháp khoa học nào. Điều này có thể ít sai lệch nếu như môi trường không biến động, còn một khi môi trường biến động thì cách quản lý tiền mặt như thế nay có thể gây hậu quả lớn. Chính vì thế, trong thời gian tới đây, Công ty cần có phải xây dựng hệ thống phân tích, xác định nhu cầu dự trữ tiền mặt một cách khoa học. Điều này có nghĩa là Công ty sẽ xác định được chính xác lượng tiền mặt tối thiểu cần nắm giữ đủ để thực hiện các giao dịch hàng ngày và có thể nắm được các cơ hội đến với Công ty. Như thế, chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt giảm xuống, đồng nghĩa với chi phí kinh doanh giảm xuống, tức là năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng lên và phần lợi nhuận cũng tăng lên. Đồng thời, Công ty cần tăng cường các giao dịch không sử dụng tiền mặt hoặc tránh tình trạng khan hiếm tiền mặt bằng cách theo dõi chặt chẽ quá trình nhận tiền thanh toán. Bước một là lập hoá đơn trước khi giao hàng. Có ba cách lập hoá đơn trước khi giao hàng: thứ nhất là lập hoá đơn theo từng hạng mục (hoặc theo sự kiện), cách này khá phổ biến khi quá trình sản xuất đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn. Vì thế, việc lập hoá đơn sau khi hoàn thành một hạng mục quan trọng của công việc (chẳng hạn như hoàn thành một hợp đồng con, nhận được một khối lượng lớn vật liệu...) là phù hợp. Như vậy, hoá đơn sẽ được lập ra trước khi hoàn thành sản phẩm cuối cùng; thứ hai là lập hoá đơn theo tiến trình thời gian, cách này phổ biến trong ngành công nghiệp quốc phòng và hàng không. Hoá đơn theo tiến trình thời gian cho phép chúng ta hạch toán chi phí phát sinh theo tháng, tức là khách hàng sẽ chụi chi phí sản xuất, kết quả là chúng ta sẽ thu được chi phí trước khi giao hàng; thứ ba là lập hoá đơn theo hạng mục con chính, cách này phổ biến trong ngành xây dựng, hoá đơn sẽ được lập khi một bộ phận quan trọng của sản phẩm cuối cùng hoàn thành, theo cách lập hoá đơn này làm gia tăng tốc độ chảy của dòng tiền mỗi khi hoàn thành một hạng mục quan trọng của sản phẩm. Bước thứ hai là xác định ngày đến hạn thanh toán, việc này là quan trọng vì nó xác định khi nào chúng ta nhận được tiền của khách hàng. Không nên nhận một đơn hàng nếu như chúng ta không chắc chắn về khả năng thanh toán của nó và cũng phải nhớ rằng nếu gia hạn nợ cho khách hàng nghĩa là lại có thêm một khoản chi phí phát sinh, vì thế cần tính đến các chi phí này trong hợp đồng và giá cả. Đối với các trường hợp có rủi ro nợ thanh toán cao thì chúng ta nên sử dụng phương thức thanh toán ngay khi giao hàng (C.O.D). Giảm giá có thể được chấp nhận tuy nhiên phải đi kèm theo các điều kiệnvề ngày giao hàng, ngày khách hàng chấp nhận sản phẩm, ngày lập hoá đơn. Bước thứ ba là xác định mức phạt cho việc thanh toán chậm, việc này sẽ giúp chúng ta nhận được các thanh toá đúng thời gian hơn và có cơ sở pháp lý để tính lãi suất từ các khoản nợ nếu chúng không được thanh toán đúng hạn. 4.2. Xác định lượng tồn kho hợp lý. Nguyên liệu đầu vào rất quan trọng cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh dù là trong lĩnh vực nào. Việc đảm bảo lượng nguyên vật liệu đầu vào đầy đủ và kịp thời không chỉ ảnh hưởng tới chi phí sản xuất mà còn ảnh hưởng tới tiến độ của quá trình sản xuất và chất lượng của sản phẩm đầu ra. Chính vì thế, xác định được một lượng tồn kho hợp lý luôn là điều quan trọng trong quản lý hàng tồn kho. Đặc biệt trong điều kiện thị trường biến đổi liên tục và tình trạng lạm phát gia tăng như hiện nay. Lượng tồn kho này vừa phải đảm bảo rằng nguyên vật đầu vào luôn phải đủ cho quá trình sản xuất vừa phải đảm bảo chi phí cơ hội của việc dự trữ lượng nguyên vật liêu đầu vào này là nhỏ nhất. Để xác định được lượng tồn kho cần thiết chính xác, Công ty cần phải có đội ngũ cán bộ quản lý hàng tồn kho có trình độ chuyên môn và đa dạng hoá các phương pháp trong quản lý hàng tồn kho như nhập trước xuất trước (FIFO), nhập sau xuất trước (LIFO)... phù hợp với đặc điểm của từng loại nguyên vật liệu, hàng hoá tồn kho. 4.3. Giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn trong các khoản phải thu. Việc tồn tại các khoản phải thu là việc không thể tránh khỏi trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, đặc biệt là trong lĩnh vực mà Công ty đang tham gia hoạt động. Vấn đề lúc này là làm sao để giảm thiều các rủi ro tiềm ẩn trong các khoản phải thu này. Để giảm thiểu các rủi ro này, Công ty cần xây dựng chính sách quản lý khoản phải thu thống nhất bao gồm chính sách bán hàng tín dụng, phân tích tín dụng khách hàng và chính sách thu hồi nợ hợp lý. Việc bán hàng tín dụng không được áp dụng quá rộng rãi, phải chọn lọc đối tượng khách hàng mà bán hàng tín dụng, Ưu tiên cho các khách hàng đã làm ăn lâu năm, có uy tín, còn đối với các khách hàng mới thì trước khi bán hàng tín dụng cần nghiên cứu và tìm hiểu về khả năng tài chính của họ, chỉ bán hàng tín dụng cho những khách hàng tiềm năng. Các điều khoản về thanh toán cần được ghi rõ ràng trong các hợp đồng, nhất là về các khoản chiết khấu thanh toán áp dụng nếu thanh toán sớm và các khoản tiền phạt nếu không thanh toán khi đáo hạn. Như thế, sẽ khuyến khích việc thanh toán đúng thời hạn, đảm bảo các kế hoạch của Công ty không bị xáo chộn. Đối với những hợp đồng có rủi ro thanh toán cao nên áp dụng phương thức thanh toán ngay khi giao hàng. Đồng thời, Công ty phải trích lập khoản dự phòng phải thu khó đòi trong trường hợp rủi ro các khoản phải thu xảy ra. III. ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP. 1. Các điều kiện về cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước. Công ty P&G cũng giống như các doanh nghiệp khác phải tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật và phù hợp với cơ chế chính sách của Nhà nước. Chính vì thế, để các hoạt động của Công ty, đặc biệt là công tác quản lý tài chính nâng cao hiệu quả thì phải được Luật và cơ chế, chính sách của Nhà nước tạo những điều kiện thuận lợi. 1.1. Đổi mới chính sách tài chính đối với doanh nghiệp. Trong những năm qua, các cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp đang được hoàn thiện từng ngày, cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về sắp xếp đổi mới phát triển, nâng cao hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp. Song những bất cập vẫn còn tồn tại rất nhiều vì thế cần tiếp tục đổi mới các cơ chế, chính sách này. 1.1.1. Chính sách về tín dụng. Chính sách tín dụng đối với các doanh nghiệp phải đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi ngành kinh tế, nhằm mở rộng quy mô vốn đầu tư của doanh nghiệp - tiền đề cơ bản để doanh nghiệp đổi mới mở rộng cả về chiều rộng và chiều sâu. Xây dựng và phát triển thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm và huy động được các nguồn vốn. Mở rộng khả năng tiếp cận với thị trường vốn nước ngoài vì với tốc độ phát triển như hiện nay, nếu chỉ sử dụng nguồn vốn trong nước thì không thể đủ đáp ứng nhu cầu hoặc nếu có thì chi phí của việc sử dụng các nguồn vốn này cũng tăng lên nhanh chóng. Khả năng tiếp cận với thị trường vốn nước ngoài có thể được cải thiện thông qua điều chỉnh tỷ giá hối đoái hợp lý, hạ thấp hàng rào thuế quan so với trong khu vực và từng bước đơn giản hoá thủ tục thuế quan để thu hút thêm vốn đầu tư từ nước ngoài vào... Muốn làm được những điều này thì cần phải có những bước chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới công tác nghiệp vụ, cải cách hành chính, xây dựng quy trình làm việc, quy trình soạn thảo chính sách chế độ tài chính doanh nghiệp, tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ cho cán bộ công chức để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ. Mặt khác, tăng cường sự đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền với cấp uỷ Đảng và các tổ chức quần chúng tạo thành khối thống nhất trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao; tăng cường phối hợp giữa Cục tài chính doanh nghiệp với các đơn vị có liên quan trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, với các Bộ, ngành, sở tài chính địa phương, các doanh nghiệp trong công tác quản lý, giám sát tài chính doanh nghiệp; Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và động viên, khen thưởng kịp thời các đơn vị, cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. 1.1.2. Đổi mới chế độ trích khấu hao tài sản cố định. Chế độ trích khấu hao tài sản cố định áp dụng cho các doanh nghiệp hiện hành đã và đang bộc lộ nhiều bất cập như tỷ lệ khấu hao thấp không phản ánh đúng thực chất hao mòn tài sản cố định, số khấu hao thu hồi không đủ để các doanh nghiệp tái đầu tư. Đặc biệt trong điều kiện công nghệ đang phát triển với tốc độ như vũ bão hiện nay thì Nhà nước cấn sớm xem xét lại tính hợp lý của chế độ trích khấu hao tài sản cố định hiện hành. Trong chế độ này, Nhà nước nên đưa ra nhiều phương pháp trích khấu hao khác nhau, đồng thời chỉ rõ ưu nhược điểm của từng phương pháp để các doanh nghiệp tuỳ điều kiện của mình mà lựa chọn phương pháp áp dụng. 1.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật Hiện nay, hệ thống pháp luật của nước ta nói chung còn nhiều hạn chế và thiều đồng bộ mặc dù Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc cải cách, hoàn thiện hệ thống này. Trong đó, hệ thống pháp luật về tài chính và quản lý tài chính doanh nghiệp đang có nhiều bức xúc, nhất là khi nước ta đã tham gia vào WTO, vì thế cần nhanh chóng tiến hành xây dựng và cải cách. Nhưng trong quá trình này cần đặc biệt chú ý tới việc giảm sự chồng chéo của các quy định Nhà nước thông qua việc giảm bớt các quy định dưới luật. Một thực tế của hệ thống pháp lý ở nước ta hiện nay là trong hoạt động quản lý các tổ chức và cá nhân thừa hành vẫn coi trọng tính pháp lý của văn bản dưới luật cao hơn luật. Từ đó dẫn đến một thực tế rằng, các đạo luật mới ra đời không thể đi vào thực tiễn nếu chưa có các nghị định, thông tư hướng dẫn của các đơn vị quản lý ngành và các doanh nghiệp thì chỉ thực hiện một cách máy móc theo tinh thần của các văn bản hướng dẫn dưới luật. Đồng thời, với các hoạt động liên quan tới nhiều lĩnh vực thì lại chụi sự rằng buộc của nhiều văn bản hướng dẫn, quy định của các ban, ngành khác nhau, mà nhiều khi tinh thần hướng dẫn lại khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau. Vì vậy, cần phải xây dựng một khung pháp lý thống nhất, luật hoá hoặc chuẩn mực hoá cho các hoạt động quản lý tài chính, tránh tình trạng có quá nhiều quy định dưới luật chồng chéo nhau. 2. Các kiến nghị với công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. 2.1. Kế hoạch tài chính phải được xây dựng rõ ràng và phù hợp với khả năng của Công ty. Kế hoạch tài chính phải được xây dựng trên cơ sở tình hình thực tiễn của Công ty, thêm vào đó phải tính đến các tác động và các thay đổi của môi trường kinh doanh nhằm đảm bảo kế hoạch tài chính phù hợp với năng lực thực hiện của Công ty. Muốn làm được như vậy thì phải nâng cao tính chính xác và hiệu quả của công tác phân tích tài chính doanh nghiệp, có nghĩa là nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên và cải thiện hệ thống thông tin tài chính kế toán trong Công ty. Đảm bảo các kế hoạch tài chính phải được thực hiện đúng, đồng thời cũng thường xuyên theo dõi, kiểm tra để có những thay đổi phù hợp tránh tình trạng phát hiện sai sót quá muộn không kịp khắc phục, làm ảnh hưởng tới việc thực hiện toàn bộ kế hoạch tài chính. Xác định nhu cầu vốn cho từng giai đoạn phát triển của Công ty, từ đó có kế hoạch, chính sách huy động vốn hợp lý. Đồng thời đảm bảo hiệu quả của các đồng vốn đi vay cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Công ty nên tìm cho mình không chỉ là một loại nguồn vốn mà cần phải có cả vốn dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Các nguồn này phải đảm bảo tính ổn định, nên làm ăn lâu dài với một hoặc một vài tổ chức tín dụng uy tín, hiệu quả. 2.2. Đảm bảo sự phối hợp đồng bộ, chính xác và kịp thời giữa các bộ phận trong Công ty. Để công tác quản lý tài chính đạt hiệu quả cần cần có sự phối hợp hiệp tác giữa các bộ phận trong Công ty vì công tác quản lý tài chính có phạm rộng lớn, bao trùm và có ảnh hưởng lớn tới mọi hoạt động của Công ty. Để làm được như vậy đòi hỏi kênh thông tin trong công ty phải được xây dựng, không chỉ một kênh mà phải xây dựng một hệ thống kênh thông tin. Đồng thời, tạo mối quan hệ liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận trong Công ty cũng như môi trường và bầu không khí làm việc thân mật, chan hoà. 2.3. Chủ động vận dụng cơ chế hiện có một cách linh hoạt vào điều kiện thực tế của Công ty. Trong bối cảnh hành lang pháp lý chưa thật hoàn chỉnh, Công ty cần phải bám sát vào các cơ sở pháp lý hiện có để có những điều chỉnh, kiến nghị hợp lý với các cơ quan Nhà nước. Đón đầu những thay đổi về cơ chế nhằm có kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng những tiền đề để khi điều kiện cho phép là có thể triển khai được ngay các hoạt động hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính. 2.4. Xây dựng và phát triển hệ thống kiểm soát. Cần nhận thức đầy đủ vai trò, tác dụng của hệ thống kiểm soát và tính cấp thiết của việc xây dựng hệ thống này. Tiếp theo, cần tổ chức các chương trình bồi dưỡng cán bộ, trao đổi học tập kinh nghiệm về hệ thống kiểm soát. Phải xác định một hệ thống chỉ tiêu có vai trò thước đo để đánh giá hiệu quả hoạt động của Công ty, qua đó đánh giá hiệu quả của quản lý tài chính. Hệ thống chỉ tiêu này được xây dựng dựa trên việc lựa chọn những chỉ tiêu quan trọng nhất đối với Công ty (căn cứ vào đặc điểm cụ thể của Công ty để xây dựng hệ thống chỉ tiêu và cách thức áp dụng). Hệ thống thông tin quản lý phải được xây dựng và sử dụng một cách đồng bộ để cung cấp thông tin cho ban lãnh đạo chất lượng cao nhất. Mặt khác, nhà quản lý cũng cần có đủ năng lực để điều hành và khai thác có hiệu quả hệ thống thông tin này. Hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ đối với các hoạt động tài chính kế toán tại Công ty thông qua việc tăng cường phối hợp giữa phòng, tổ kiểm toán nội bộ với phòng, ban tài chính và với các bộ khác trong Công ty; nâng cao năng lực của các kiểm toán viên... KẾT LUẬN Qua những nghiên cứu ở trên, ta đã thấy rõ tầm quan trọng của quản lý tài chính trong các doanh nghiệp, đồng thời thấy rõ sự phức tạp và khó khăn trong quá trình quản lý tài chính, nó được coi là một trong những lĩnh vực khó của quản lý doanh nghiệp. Đặc biệt là trong điều kiện nước ta đang tiến hành hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu và rộng như hiện nay, vừa tạo ra nhiều cơ hội vừa đặt ra những thách thức cho doanh nghiệp. Để tồn tại và đứng vững trên thị trường trong điều kiện đó thì các doanh nghiệp phải có các biện pháp quản lý tài chính tốt để đảm bảo việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn. Trong báo cáo này, với đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G” đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về tài chính và quản lý tài chính, thực trạng quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương maih P&G trong 5 năm gần đây. Trên cơ sở đó, cộng với sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Anh Vân, em đã đưa ra số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại công ty TNHH quảng cáo và thương mại P&G. Do trình độ còn hạn chế nên đề tài của em không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến để em có thể hoàn thiện hơn đề tài của mình. Em xim thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. BBT - Công tác tài chính doanh nghiệp 2007 và nhiệm vụ năm 2008. Tạp chí Tài chính doanh nghiệp số 1+2 năm 2008. Cao Thị Thuý Nga - Minh bạch tài chính và vấn đề tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng. Tạp chí Nhà quản lý tháng 9 năm 2007. Khoa Ngân hàng Tài chính, trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Giáo trình tài chính doanh nghiệp – PGS. TS Lưu Thị Hương & PGS. TS Vũ Huy Hào. NXB Đại học Kinh tế Quốc dân. Khoa Khoa học quản lý, trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Giáo trình Hiệu quả và quản lý dự án Nhà nước – PGS. TS Mai Văn Bưu. NXB Khoa học và kỹ thuật 2001. Khoa Khoa học quản lý, trường Đại học Kinh tế Quốc dân – Giáo trình khoa học quản lý tập I & II – PGS. TS Đoàn Thị Thu Hà & PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền. NXB Khoa học và kỹ thuật, 2002. Ngọc Quỳnh - Minh bạch tài chính góp phần thu hút các nguồn vốn đầu tư .Tạp chí Thông tin tài chính, số 4 tháng 3 năm 2007. Ngô Hồng Linh & Phạm Lê Hoa & Bùi Trinh - Để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. NXB Thống kê, 2001. Quang Trường - Báo cáo môi trường kinh doanh 2008, Việt Nam vẫn có thể xếp hạng cao hơn nữa. Tạp chí Thông tin tài chính, số 22 tháng 11 năm 2007. Thảo Nguyên - Nỗi lo trước thềm năm mới. Tạp chí tài chính tháng 2 năm 2008. Thiên Thanh - Dự báo kinh tế thế giới 2008. Tạp chí Thông tin tài chính, số 23 tháng 12 năm 2007. Trần ái Kết (chủ biên) – Giáo trình lý thuyết tài chính- tiền tệ. NXB Giáo dục, 2007. TS. Nguyễn Đình Cung - 5 điểm yếu trong quản trị công ty của Việt Nam. Tạp chí Nhà quản lý tháng 9 năm 2007. TS. Nguyễn Thanh Liêm – Quản trị tài chính. NXB Thống kê, 2007. 14. 15. 16. 17.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc12298.doc
Tài liệu liên quan