Chuyên đề Nghiên cứu về marketing nông nghiệp

MỤC LỤC PHẦN NỘI DUNG 7.1 NGHIÊN CỨU VỀ MARKETING NÔNG NGHIỆP 5 7.1.1 Khái niệm 5 7.1.1.1 Khái niệm Marketing của các nước trên Thế Giới 5 7.1.1.2 Khái niệm Marketing tại các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường tại Việt Nam 6 7.1.2 Các phương pháp nghiên cứu Marketing 8 7.1.2.1 Phương pháp nghiên cứu dạng hoạt động nghiệp vụ 8 7.1.2.2 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: tiếp cận thị trường thông qua sản phẩm, mặt hàng 9 7.1.2.3 Phương pháp nghiên cứu và thể chế 11 7.1.2.4 Phương pháp nghiên cứu về cấu trúc, hoạt động, kết quả thị trường 15 7.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC – HOẠT ĐỘNG – KẾT QUẢ THỊ TRƯỜNG 17 7.2.1 Cấu trúc thị trường 17 7.2.1.1 Mức độ tập trung của người bán và người mua 17 7.2.1.2 Mức độ khác biệt về các sản phẩm 18 7.2.1.3 Rào cản tham gia thị trường 19 7.2.2 Hoạt động của thị trường 21 7.2.3.1 Hiệu quả giá cả 22 7.2.3.2 Hiệu quả sản xuất 23 7.3 MỘT SỐ CÔNG CỤ PHÂN TÍCH VỀ CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ VÀ MARKETING 24 7.3.1 Sử dụng giá cả quốc tế 24 7.3.1.1 Hệ số bảo hộ danh nghĩa (NPC) 24 7.3.1.2 Hệ số bảo hộ thưc tế (EPC) 25 7.3.1.3 Chi phí nội nguồn (DRC) còn gọi là hệ số chi phí nguồn lực trong nước 29 7.3.2 Tỉ lệ giá thị trường và giá chính thức 30 7.3.3 Tỉ giá thời vụ 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO NGHIÊN CỨU VỀ MARKETING NÔNG NGHIỆP .1.1 Khái niệm Tiếp cận thị trường (Marketing) hay gọi tắt là “Tiếp thị”, là việc nhận dạng ra được những gì mà con người và xã hội có nhu cầu một cách có lợi. Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA) định nghĩa: "Marketing là một nhiệm vụ trong cơ cấu tổ chức và là một tập hợp các tiến trình để nhằm tạo ra, trao đổi, truyền tải các giá trị đến các khách hàng, và nhằm quản lý quan hệ khách hàng bằng những cách khác nhau để mang về lợi ích cho tổ chức và các thành viên trong hội đồng cổ đông".  Có thể xem như marketing là quá trình mà những cá nhân hoặc tập thể đạt được những gì họ cần và muốn thông qua việc tạo lập, cống hiến, và trao đổi tự do giá trị của các sản phẩm và dịch vụ với nhau (P.Kotler).

doc34 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 29/06/2013 | Lượt xem: 1090 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Nghiên cứu về marketing nông nghiệp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Khái niệm Marketing tại các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường tại Việt Nam Theo quan điểm của các nhà doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay thì: Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu, mong muốn của họ thông qua trao đổi về một loại sản phẩm – dịch vụ nào đó trên thị trường. Trong khái niệm Marketing, điều quan trọng đầu tiên mang tính quyết định thành hay bại trong kinh doanh của các doanh nghiệp là phải nghiên cứu nhu cầu, mong muốn và yêu cầu cũng như hành vi mua hàng của khách hàng, sau đó tiến hành sản xuất sản phẩm – dịch vụ phù hợp trước khi đem ra tiêu thụ trên thị trường thông qua các hoạt động trao đổi và giao dịch. Nghiên cứu marketing là một phân ngành của xã hội học ứng dụng, tập trung vào việc thấu hiểu hành vi, ý thích và sở thích của người tiêu dùng trong một nền kinh tế thị trường và hướng tới việc tìm hiểu những tác động, cũng như so sánh sự thành công của các chiến dịch marketing (Nguyễn Đình Thọ 2008). Nghiên cứu Marketing là quá trình thu thập, ghi chép, phân tích, và diễn giải một cách có hệ thống và khoa học các dữ liệu về các vấn đề có liên quan đến hoạt động Marketing về: hàng hoá, dịch vụ và ý tưởng. Như vậy, cần chú ý các đặc điểm sau: Nghiên cứu Marketing là sự ứng dụng những kỹ thuật và nguyên tắc của các cuộc nghiên cứu khoa học, mang 4 tính chất cơ bản: Khách quan Chính xác Thực nghiệm Logic Nghiên cứu Marketing là sự ứng dụng “chuỗi lý luận” có hệ thống thông qua: Quan sát (Observation) Thảo luận (Discussion) Phỏng vấn (Interviewing) Lập giả thiết (Formulation of hypothese) Dự đoán tương lai (Prediction of future) Kiểm định lại giả thiết (Testing of the hypothese) Nghiên cứu Marketing không nhằm mục đích thõa mãn kiến thức. hướng đến việc tìm ra các giải pháp cho các vấn đề tiếp thị thực tiễn. Mà nó hướng đến hiệu quả , nhằm mục đích thu lợi nhuận cụ thể. ] Vì vậy: trước khi tiến hành nghiên cứu Marketing, người ta phải cân nhắc khá kỹ về chi phí, thời gian, và tính bảo mật của các cuộc nghiên cứu. a) Mục tiêu nghiên cứu marketing Nghiên cứu thị trường để đánh giá tiềm năng thị trường mà đưa ra chiến lược marketing. Đánh giá thị trường tiềm năng chính xác sẽ đưa ra chiến lược marketing khả thi. Giúp doanh nghiệp hiểu rõ về những nhu cầu của khách hàng để có thể sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách hàng Nhằm đánh giá kết quả kinh tế của hệ thống thị trường như: lợi nhuận các xí nghiệp và của cả ngành; hiệu quả của tổ chức marketing khác nhau và phương pháp thực hiện hoạt dộng marketing; và hiệu quả của việc sử dụng các công nghệ tiên tiến; Xác định được tỷ lệ chiếm lĩnh thị trường tối thiểu của doanh nghiệp đối với các sản phẩm và dich vụ để đảm bảo được lợi nhuận trên vốn đầu tư hợp lý; Nhằm đánh giá tác động của các qui định và các chương trình can thiệp vào thị trường của nhà nước; Tóm lại tư tưởng chủ đạo của Marketing là “Mọi quyết định kinh doanh đều phải xuất phát từ thị trường”. Muốn thực hiện được tư tưởng chủ đạo này thì phải có đầy đủ thông tin về thị trường, về môi trường kinh doanh, tức là phải nghiên cứu Marketing để: Hiểu rõ khách hàng Hiểu rõ các đối thủ cạnh tranh Hiểu rõ tác động của môi trường đến doanh nghiệp Hiểu rõ các điểm mạnh, điểm yếu của ta Căn cứ vào các thông tin thu được qua nghiên cứu Marketing, các nhà quản lý sẽ vạch ra chiến lược, chính sách kinh doanh phù hợp nhằm vào thị trường mục tiêu. Nhằm phát triển các công cụ hoặc kỹ năng huấn luyện cho các nhà lập chính sách hiện tại và tương lai có lien quan đến lĩnh vực Marketing nông nghiệp. b) Lợi ích của việc nghiên cứu Marketing Nghiên cứu Marketing có thể giúp: Loại bỏ những vấn đề chưa rõ, những nhận định chủ quan, hàm hồ. Tránh những rủi ro không tiên liệu được. Giúp nhà kinh doanh tìm ra phương thức hoạt động có hiệu quả hơn, giảm chi phí, đạt doanh số cao hơn, tác động quảng cáo, tuyên truyền mạnh mẽ sâu rộng hơn. Hỗ trợ đắc lực các hoạt động khác của doanh nghiệp như: sản xuất, kỹ thuật, tài chính để đạt được mục tiêu nâng cao sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng. 7.1.2 Các phương pháp nghiên cứu Marketing 7.1.2.1 Phương pháp nghiên cứu dạng hoạt động nghiệp vụ - Được tiến hành trong quá trình lưu chuyển hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Các nghiệp vụ này có thể được thực hiện bởi đơn vị nhà nước, hợp tác xã hoặc tư nhân.[3, tr.61] - Các chức năng chủ yếu: + Chức năng trao đổi: mua, bán, thu gom, phân chia, chào hàng, quảng bá. + Chức năng vật chất: dự trữ, vận chuyển, phân loại, chế biến làm tăng giá trị của sản phẩm. + Chức năng phương tiện- điều kiện: tiêu chuẩn hóa, thương lượng hợp đồng, thanh toán, tính toán rủi ro, tìm hiểu nghiên cứu thị trường. - Ưu điểm của phương pháp tiếp cận này: + Xem xét cụ thể từng công việc phải thực hiện + Giúp cho việc đánh giá và ước lượng chi phí marketing của từng thành viên một cách rõ rang, chính xác. + Nắm rõ sự khác biệt về chi phí marketing của các nông sản khác nhau + Hỗ trợ cho việc cải tiến hoạt động của bộ máy marketing: phân chia công việc phức tạp thành các chức năng riêng biệt. 7.1.2.2 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: tiếp cận thị trường thông qua sản phẩm, mặt hàng - “ Bán cái mà thị trường cần”; - Phân tích, khảo sát thị trường để cung cấp loại nông sản cần thiết; - Hướng đến tìm hiểu trực tiếp sản phẩm hơn là tìm hiều cấu trúc marketing; - Nghiên cứu một loại sản phẩm cụ thể là quan tâm đến những khía cạnh của sản phẩm như: đặc tính của sản phẩm, hiện trạng về nhu cầu và nguồn cung cấp, thái độ hành vi tiêu dùng, hệ thống giá cả từ nông trại, đại lý buôn bán và đại lý bán lẻ. Đặc tính của sản phẩm bao gồm: Sản phẩm có giá trị lớn hay nhỏ Sản phẩm lâu bền hay mau hỏng, mau lỗi thời Sản phẩm cồng kềnh hay gọn nhẹ Sản phẩm kỹ thuật cao hay đơn giản,v.v….[3, tr 79] - Hiện trạng về nhu cầu và nguồn cung cấp: Cầu hàng hóa nông sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.trước hết cầu phụ thuộc nhiều vào đặc điểm giới tính,tâm lý, tuổi tác và các đặc tính khác thuộc văn hóa xã hội của con người. Cầu phụ thuộc vào thu nhập và khả năng thanh toán của người tiêu dùng.thu nhập càng cao cầu càng đa dạng, chất lượng cầu càng cao. Cầu phụ thuộc vào tập quán phong tục thói quen tiêu dùng của các nhóm khách hàng. Cầu phụ thuôc vào giá cả hàng hóa.giá thấp thì nhu cầu tăng và ngược lại. Chính vì các đặc điểm và yếu tố này ảnh hưởng đến cầu nông sản hàng hóa mà các nhà hoạt động marketing cần nghiên cứu kỹ đặc điểm của từng loại thị trường mục tiêu để có biện pháp tiếp cận và cung ứng sản phẩm phù hợp nhất. Nguồn cung ứng ] Khối lượng hàng hóa nông sản trên thị trường phụ thuôc vào nhiều yếu tố: Điều kiện tự nhiên: sản phẩm nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi điều kiện khí hậu thời tiết. Sự khan hiếm nông sản thường xuất hiện vào lúc giáp vụ. Trái lại những lúc chín vụ nông sản lại dư thừa. Trình độ khoa học công nghệ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất: quy mô nguồn lực sản xuất, trình độ chuyên môn hóa, trình độ thâm canh, mức độ ứng dụng khoa học kỹ thuật của các vùng, các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến cung nông sản hàng hóa Các chính sách hỗ trợ và khuyến khích của chính phủ Sức mua của người tiêu dùng và hiệu quả kinh doanh đối với người sản xuất và nhà trung gian. Mức độ cạnh tranh trên thị trường và năng lực canh tranh của doanh nghiệp tham gia vào quá trình cung ứng sản phẩm nông nghiệp. - Thái độ hành vi người tiêu dùng: chìa khóa để đạt được hiệu quả trong kinh doanh là phải xác định đúng nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu, từ đó tìm mọi cách đáp ứng sự thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó bằng các phương thức có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh. - Hệ thống giá cả sản phẩm từ nông trại, đại lý buôn bán và đại lý bán lẻ: do địa bàn rộng nên ít có trường hợp nông dân bán trực tiếp sàn phẩm đến tay người tiêu dùng mà thương thông qua trung gian nên giá mà người nông dân bán cho các tổ chức tham gia dây chuyền là giá của người sản xuất. Giá mà người tiêu dùng phải trả là giá bán lẻ. Giá ấn định từ người thu gom đến người bán lẻ là giá buôn bán.[1, tr.30&31] * Ví dụ về nghiên cứu sản phẩm (cà phê): cần quan tâm đến: + Đặc tính của cà phê: Là sản phẩm có giá trị cao Sản phẩm cần được sơ chế qua nhiều công đoạn, sẽ mau hỏng nếu không được bảo quản tốt Sản phẩm cà phê thường không đồng nhất Sản phẩm lệ thuộc nhiều vào vị trí địa lý đất trồng, loại đất, nhiệt độ , thời vụ canh tác và thu hoạch + Hiện trang về nhu cầu và nguồn cung cấp - Nhu cầu: do là sản phẩm xuất khẩu đạt giá trị cao nên thu hút nguồn cung mạnh. - Nguồn cung cấp: Sản phẩm thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan như : thời tiết, sâu bệnh Các chính sách của chính phủ đối với sản phẩm làm thay đổi cơ cấu tổ sản xuất, là ảnh hưởng đến nguồn cung của thị trường Sự tăng giảm nhu cầu xuất khẩu ảnh hưởng nguồn cung sản phầm Tăng giảm quy mô canh tác các loại nông sản khác + Thái độ hành vi của người tiêu dùng: tìm hiểu về thái độ của khách hàng đối với sản phẩm gạo hiện tại xem họ có thật sự hài lòng chưa.để từ hoàn thiện sản phẩm tốt hơn 7.1.2.3 Phương pháp nghiên cứu và thể chế - Phương pháp này nghiên cứu các hoạt động của đơn vị hoặc cá nhân tham gia vào hoạt động Marketing, tính chất và đặc điểm của các người trung gian/đại lý và các đơn vị có liên quan, cách sắp xếp và tổ chức bộ máy Marketing. * Các hoạt động của đơn vị hoặc cá nhân tham gia vào hoạt động marketing. Trong thực tiển kinh doanh các doanh nghiệp đã tìm thấy được tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động marketing. Hoạt động marketing đã giúp cho các doanh nghiệp giảm bớt sự cách biệt giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Các loại cách biệt bao gồm: Cách biệt về không gian: nơi sản xuất, nơi tiêu thụ Cách biệt về thời gian: thời điểm sản xuất, thời điểm tiêu thụ Cách biệt về thông tin: thông tin giữa người bán và người mua Khác biệt về đánh giá hàng hóa trong sản xuất và tiêu dùng Khác biệt về số lượng hàng hóa mua và bán Khác biệt về mặt hàng cung ứng và tiêu dùng Vì vậy marketing sẽ là cầu nối giữa nhà sản xuất và khách hàng, giúp hai bên hiểu nhau nhằm đạt cả hai mục tiêu: tối đa lợi nhuận trong sản xuất và tối đa mức thỏa mãn trong tiêu dùng . Marketing quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường. Đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường, nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh. Các trung gian Marketing Các trung gian marketing là những công cụ để hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc cổ động, bán hàng và giao hàng của doanh nghiệp đến tận tay người tiêu dùng. Họ bao gồm: Các trung gian phân phối sản phẩm: các nhà buôn (bán sỉ và lẻ), đại lý, môi giới. Các trung gian phân phối tạo nên sự tiện lợi về địa điểm (tồn trữ sản phẩm gần nơi khách hàng cư trú tạo nên sự sẳn có cho việc mua sẳm), tiện lợi về thời gian (bằng cách mở cửa nhiều giờ hơn để khách hàng mua sắm thuận tiện), tiện lợi về chủng loại (chuyên môn hóa cửa hàng hay sắp xếp, bố trí các quầy bày sản phẩm tiện cho việc lựa chọn của khách hàng), tiện lợi về sở hữu (bằng cách chuyển sản phẩm đến khách hàng theo các hình thức thanh toán dễ dàng như trả bằng thẻ tín dụng và có dịch vụ chuyển hàng đến tận nhà nếu khách hàng mua nhiều). Các cơ sở cần phải hỗ trợ cho hoạt động phân phối, bao gồm hệ thống các doanh nghiệp kinh doanh kho bãi và bảo quản, các cơ sở vận chuyển… Các doanh nghiệp tồn trữ và vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Các doanh nghiệp phải quyết định hình thức và phương tiện vận chuyển nào cho hiệu quả nhất trong sự so sánh về chi phí, giao hàng, tốc độ và an toàn. Các cơ sở dịch vụ marketing như các cơ quan nghiên cứu marketing, các công ty quảng cáo, các hãng truyền thông và các hãng tư vấn về marketing hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc hoạch định và phân phối sản phẩm đến đúng ngay thị trường. Các trung gian tài chính: ngân hàng, các cơ sở tín dụng, các công ty bảo hiểm và các tổ chức tài chính khác có góp phần trong những cuộc giao dịch về tài chính, bảo hiểm cho các rủi ro có liên quan đến công việc mua và bán sản phẩm. Doanh nghiệp cần phân tích đặc điểm và tình hình hoạt động của các trung gian để có chính sách thích hợp nhằm thiết lập và duy trì các quan hệ tích cực và đồng thời doanh nghiệp cũng kịp thời điều chỉnh, thay đổi các chính sách phân phối sản phẩm mới để thích hợp với các thay đổi của các giới trung gian. Cách sắp xếp và tổ chức bộ máy Marketing Khi thiết lập kế chiến lược marketing cần phải chú ý đến lợi ích của các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp, các thành viên đó tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa như: phòng kinh doanh, phòng tài chính (tài vụ), phòng kỷ thuật, phòng thiết kế sản phẩm, phòng cung ứng và tiêu thụ… Các phòng này có quan hệ trực tiếp với nhau về lợi ích , do vậy cần quan tâm đúng mức. Chính những bộ phận này tạo ra môi trường vi mô cho doanh nghiệp. Bảng 1: Môi trường vi mô của doanh nghiệp Ban lãnh đạo Thiết kế sản phẩm Marketing Tài vụ Sản xuất Cung ứng vật tư Phân phối Mục tiêu cơ bản của công ty là thu lợi nhuận. Nhiệm vụ cơ bản của hệ thống quản trị marketing là đảm bảo sản xuất ra những mặt hàng hấp dẫn đối với các thị trường mục tiêu. Những thành công của sự chỉ đạo marketing còn phụ thuộc vào cả hoạt động của các đơn vị khác trong công ty. Và vào sự tác động những người môi giới, các đối thủ cạnh tranh và công chúng trực tiếp. Các lực lượng tác dụng trong môi trường vi mô của công ty bao gồm: những người cung ứng, các đối thủ cạnh tranh, môi giới marketing, khách hàng và công chúng trực tiếp. Những người quản trị marketing không thể giới hạn mình trong những nhu cầu của thị trường mục tiêu. Họ phải chú ý đến tất cả các yếu tố của môi trường vi mô. Các công ty cần phải có tổ chức dịch vụ marketing để những công ty quản cáo, những tổ chức của các phương tiện quản cáo và các công ty tư vấn marketing giúp cho công ty sản xuất định hướng chính xác hơn và đưa khách hàng của mình đến những thị trường thích hợp đối với họ. Bên cạnh đó các tổ chức tài chính tín dụng bao gồm các ngân hàng, các công ty tín dụng, các công ty bảo hiểm và các tổ chức khác hỗ trợ cho công ty đầu tư và cho các thương vụ hay bảo hiểm chống rủi ro liên quan đến việc mua bán hàng. Phần lớn các công ty và khách hàng không thể bỏ qua dự giúp đỡ của các tài chính tín dụng khi đầu tư cho các thương vụ của mình. Việc tăng giá tín dụng hay thu hẹp khả năng tín dụng có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả của hoạt động marketing của công ty. Vì thế công ty cấn thiết lập mối liên hệ bền vững với những tổ chức tài chính tín dụng quan trọng nhất đối với mình. Đặc biệt hoạt động marketing cần hợp tác chặt chẻ với các bộ phận trong doanh nghiệp. Bộ phận tài chính tài vụ là cơ sở để thực hiện các chiến lược marketing. Bộ phận kỷ thuật giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm để đáp ứng đúng nhu cầu của người tiêu dùng. Bộ phận cung ứng vật liệu liên quan đến việc đảm bảo các yếu tố đầu vào cho sản xuất. Bộ phận kinh doanh chịu trách nhiệm sản xuất và thực hiện kế hoạch sản xuất sản phẩm đã đề ra. Hoạt động của bộ phận này dù ở điều kiện nào cũng ảnh hưởng trực tiếp đến bộ phận marketing.[1, tr.33&34] 7.1.2.4 Phương pháp nghiên cứu về cấu trúc, hoạt động, kết quả thị trường Phương pháp này phân tích về tính chất cạnh tranh của thị trường và tìm ra mối liên hệ của kết quả của thị trường với cấu trúc và hoạt động của thị trường trong một ngành nhất định. Phương pháp này chủ yếu nhằm tìm hiểu hoạt động của các nhóm xí nghiệp hành xử như là các đối thủ cạnh tranh, hoặc có tác động hỗ trợ lẫn nhau như các nhà cung ứng hoặc các khách hàng trong một ngành kinh doanh. Trong số 4 phương pháp được đề cập ở trên, phương pháp nghiên cứu về cấu trúc – hoạt động – kết quả thị trường là phương pháp thích hợp nhất để nghiên cứu và phân tích kết quả của các nhóm sản xuất khác nhau và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực Marketing tham gia đến việc tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp. - Cấu trúc thị trường nhằm nghiên cứu mối quan hệ, đặc tính của các đối thủ của các đối tượng mua bán trên thị trường để xác định cấu trúc, dạng của thị trường. Cấu trúc thị trường bao gồm: + Mức độ tập trung của người mua , người bán và thị phần chiếm giữ trên thị trường. + Mức độ khác biệt giữa các sản phẩm. + Điều kiện tham gia thị trường + Khả năng nắm bắt thông tin trên thị trường - Sự vận hành thị trường: cách thức mà doanh nghiệp điều chỉnh để thích nghi với điều kiện mới trên thị trường trong quá trình kinh doanh + Chiến lược 4P của doanh nghiệp + Việc tổ chức bộ máy Marketing để nâng cao hiệu quả + Kênh phân phối tối ưu - Khảo sát thị trường: phân tích tác động của môi trường kinh tế xã hội, kĩ thuật, các chính sách kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp + Đo lường hiệu suất của các dịch vụ cung cấp trên thị trường + Đo lường tính hiệu quả của hệ thống Marketing, chi phí Marketing, lợi nhuận cho các thành viên, mức độ thỏa mãn của khách hàng.[2, tr.134] Bảng 2: Các chỉ tiêu chủ yếu trong phân tích SCP Cấu trúc thị trường Sự vận hành của thị trường Kết quả thực hiện *Loại hình thị trường *Các thành viên tổ chức trung gian *Loại kênh phân phối *Tiêu chuẩn chất lượng, phân loại sản phẩm *Điều kiện cơ sở hạ tầng *Điều kiện, các rào cản khi gia nhập và rút khỏi thị trường. * Hoạt động mua vào *Hoạt động bán ra *Vấn đề vận chuyển *Vấn đề tồn trữ *Vấn đề thông tin trên thị trường *Quan hệ tài chính, tín dụng kinh doanh *Rủi ro không chắc chắn trong kinh doanh *Hiệu quả trong khâu cung cấp sản phẩm thích hợp với nhu cầu của khách hàng *Hiệu quả trong dịch vụ cung cấp: - Thời gian: mùa vụ - Không gian: nơi bán - Dạng, chất lượng sản phẩm - Giá cả trong mối liên hệ với chi phí Marketing Trong phân tích SCP thì 3 bộ phận này có liên quan mật thiết với nhau. Trong ngắn hạn, nếu cấu trúc thị trường thích hợp, sự vận hành thị trường tốt thì kết quả thực hiện trên thị trường sẽ mang lại hiệu quả cao. Ngược lại, trong dài hạn nếu có được kết quả thực hiện trên thị trường tốt thì sẽ thúc đẩy việc điều hành thị trường tốt hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoàn thiện hơn cấu trúc thị trường hiện có. Mối quan hệ này được thể hiện trong sơ đồ: Sơ đồ cấu trúc thị trường Cấu trúc thị trường Sự vận hành của thị trường Kết quả thực hiện 7.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC – HOẠT ĐỘNG – KẾT QUẢ THỊ TRƯỜNG 7.2.1 Cấu trúc thị trường Nghiên cứu đặc tính của các đối tượng mua bán trên thị trường để xác định cấu trúc, dạng của thị trường. Ba đặc điểm của cấu trúc thị trường: mức độ tập trung của người mua và người bán, mức độ khác biệt về giá cả sản phẩm, các điều kiện gia nhập thị trường.[3, tr.63] 7.2.1.1 Mức độ tập trung của người bán và người mua Khái niệm này đề cập đến sự phân bố số lượng và qui mô của các người mua và người bán có khả năng làm chủ hoặc kiểm soát thị trường. Loại hình thị trường có thể được xác định dựa vào mức độ cạnh tranh của nó. Mức độ cạnh tranh nay phụ thuộc vào số lượng người bán và người mua trong thị trường. Số lượng người bán có thể là một, một vài hoặc nhiều tương ứng với các loại hình thị trường độc quyền, thiểu số độc quyền và cạnh tranh. Mức độ tập trung của người bán và người mua có thể đo lường thông qua các số liệu về tổng số người bán hoặc người mua đang kiểm soát một thị phần đáng kể hoặc thông qua các số liệu về doanh số bán hoặc mua của các đơn vị kinh doanh lớn nhất, thông thường khoảng 4 đến 12 người bán hoặc mua lớn nhất. Ví dụ: thị trường cà phê Việt Nam, thông qua các sự kiện văn hoá quảng bá, tiếp thị, cà phê đã trở thành một thứ đồ uống khá phổ biến ở nhiều địa phương, từ thành thị đến nông thôn. Tỉnh Đắk Lắk trước đây chỉ có một vài quán cà phê, nhưng sau khi có các sự kiện quảng bá về cà phê đã hình thành nên phong trào uống cà phê khá rầm rộ. Chỉ riêng tại thành phố Buôn Ma Thuột nay đã hình thành nhiều dãy phố kinh doanh cà phê như đường Ngô Quyền, Ngô Mây, Hai Bà Trưng, Lê Thánh Tông..., với nhiều thương hiệu cà phê nổi tiếng. Các tỉnh vùng trọng điểm cà phê của cả nước như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai... đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến sâu cà phê như cà phê rang xay, cà phê bột, cà phê hoà tan. Hiện nay, tỉnh Đắk Lắk có gần 100 doanh nghiệp đầu tư cơ sở chế biến các sản phẩm cà phê được tiêu thụ trong nước, xuất khẩu, với nhiều thương hiệu nổi tiếng như cà phê bột, cà phê hoà tan của Công ty Cổ phần cà phê Tây Nguyên, Thắng Lợi, Trung Nguyên, Mêhicô, An Thái, Phước An...Mỗi năm, số lượng cà phê nhân được chế biến bước đầu chiếm 10% trong tổng sản lượng (400.000 tấn) cà phê nhân của cả tỉnh. Tỉnh Đắk Lắk phấn đấu đến năm 2020 tăng sản lượng các loại sản phẩm cà phê chế biến sâu ( cà phê bột, cà phê hoà tan) lên 20% trong tổng sản lượng cà phê của cả tỉnh. Tỉnh Lâm Đồng là địa phương có diện tích cà phê đứng thứ 2 sau tỉnh Đắk Lắk, với diện tích 135.596 ha, sản lượng mỗi năm đạt trên 282.324 tấn cà phê nhân. Thế nhưng, hiện nay cũng chỉ mới có 8 cơ sở chế biến cà phê rang xay, cà phê bột, với sản lượng mỗi năm 1.300 tấn cà phê bột để cung ứng cho thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Hiện nay, giá cà phê nhân”rớt” xuống rất thấp, chạm đáy ngang bằng với giá thành chỉ có 21.500 đến 23.400 đồng/kg. Các doanh nghiệp tạm dừng thu mua xuất khẩu cà phê và bà con nông dân cũng “găm “ hàng chờ giá lên.  7.2.1.2 Mức độ khác biệt về các sản phẩm Một thương hiệu nổi tiếng không chỉ đơn thuần ở tên gọi và logo, mà còn ở quá trình marketing gắn liền với mặt hàng đó. Trong thị trường các loại hàng hóa muốn cạnh tranh và thu hút được nhiều khách hàng đòi hỏi các nhà cung cấp phải biết cách làm cho hàng hóa của họ trở nên đặc trưng hơn các loại hàng hóa cùng loại trên trên thị trường. Sản phẩm và dịch vụ có thể khác biệt bằng nhiều hình thức: dịch vụ khách hàng tốt, thiết kế dễ hiểu dễ sử dụng, hiệu suất tối ưu, thuận tiện, an toàn, thân thiện với môi trường, chất lượng tốt, đa dạng mẫu mã và đáng tin cậy. Hàng hóa là sản phẩm hay dịch vụ có thể thỏa mãn được mong muốn hay nhu cầu cụ thể được cung cấp cho thị trường nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng. Trong sản xuất, nhà sản xuất phải nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng và sau đó tạo ra những hàng hóa thích hợp để thỏa mãn nhu cầu đó. Ở mỗi sản phẩm mặc dù đặc điểm, dịch vụ và chất lượng có thể như nhau, nhưng nhà cung cấp vẫn có thể tạo nên sự khác biệt trên cơ sở chi phí giá cả, đa dạng hóa các sản phẩm. Ví dụ: như chiến lược xuất khẩu lúa gạo của thái lan một trong những giải pháp để giảm chi phí hậu cần cho lúa gạo xuất khẩu là việc thay thế vận chuyển xe tải bằng tàu thủy. Việc giảm chi phí nói chung giúp các nhà xuất khẩu gạo của Thái Lan dễ dàng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Thái Lan luôn đổi mới và gia tăng hiệu quả xuất khẩu vì họ ý thức rằng các nước khác cũng phát triển chiến lược để cạnh tranh với gạo Thái Lan trên thị trường thế giới. Thái Lan tăng cường đa dạng hóa các sản phẩm gạo và mẫu mã bao bì đóng gói. Thái Lan thường xuất khẩu rất đa dạng các mặt hàng gạo sau đây: gạo thơm trắng Thái Lan (Hommali, Jasmine rice), gạo trắng Thái, gạo tấm trắng Thái, gạo nếp trắng Thái, gạo nếp đen Thái, gạo đỏ Thái, gạo đồ Thái (Thai Parboiled Rice), gạo lức Thái, gạo lức thơm Thái. Trong đó, gạo trắng hạt dài Thái Lan thường có các phẩm cấp gạo sau đây: 100% phẩm cấp B, 5%, 10%, 15%, 25%, 35% tấm, 100% tấm A1 cực siêu hạng, và 100% tấm A 1 siêu hạng. Loại gạo hạt dài gồm các sản phẩm như: loại 100% gạo không chọn lựa hạt (không dùng máy để tách hạt khác màu), 5%, 10% và loại 15% tấm không chọn lựa hạt. Sự khác biệt về mẫu mã sản phẩm: sở thích của người tiêu dùng còn được thể hiện qua việc lựa chọn bao bì, mẫu mã thông thường những sản phẩm có mẫu mã đẹp sẽ được khách hàng chú tâm nhiều hơn, góp phần hình thành hành vi mua hàng của khách hàng. Sự khác biệt về sản phẩm dùng để đánh giá mức độ người mua có thể phân biệt và thể hiện sở thích đối với những sản phẩm cùng loại nhưng khác nhau về cơ sở sản xuất, chiến lược marketing nếu người bán có thu hút nhiều khách hàng hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm của họ thì họ sẽ được thị phần rộng hơn. 7.2.1.3 Rào cản tham gia thị trường Những rào cản gia nhập thị trường bao gồm: quy định, thuế, chính sách, nguồn lực tài chính, …hạn chế được đối thủ cạnh tranh mới để nhập và bắt đầu hoạt động trong một ngành nhất định. Ví dụ: Một số quy định kĩ thuật đối với hàng nhập khẩu vào EU Tiêu chuẩn về quản lý chất lượn: Đối với tiêu chuẩn chất lượng, hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sang thị trường EU thuộc các nước đang phát triển. ISO 9000 là hệ thống quản lý chất lượng gồm các quy trình kỹ thuật và kiểm tra, kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất ra sản phẩm chứ không phải là một tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm như một số doanh nghiệp và cá nhân lầm tưởng Tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh và an toàn thực phẩm: theo các quy chế 91/492/EEC và 91/493/EEC, các sản phẩm phải đáp ứng các tiêu chuẩn cụ thể về vệ sinh gồm độ tươi, độ sạch, mức nhiễm vi sinh tối đa (bao gồm các vi sinh vật gây bệnh và các vi sinh vật chỉ thị), dự lượng hoá chất (kim loại nặng, kháng sinh và thuốc trừ sâu), chất độc, độc tố sinh học biển và ký sinh trùng và quy định về giám sát: Quyết định 94/356/EEC yêu cầu nhà sản xuất có hàng thuỷ sản xuất khẩu sang EU phải tổ chức giám sát hoạt động sản xuất và chế biến của mình phù hợp với HACCP. Tiêu chuẩn HACCP là điều kiện quan trọng của doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản vào EU(Nguồn Vinanet). Tiêu chuẩn môi trường: Thị trường EU yêu cầu hàng hoá có liên quan đến môi trường phải dán nhãn theo qui định (nhãn sinh thái, nhãn tái sinh) và có chứng chỉ được quốc tế công nhận. Ví dụ, tiêu chuẩn GAP (Good agricultural Practice) và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolabels) đang ngày càng được phổ biến, chứng tỏ các cấp độ khác nhau về môi trường tốt. Ngoài ra, các công ty phải tuân thủ hệ thống quản lý môi trường (các tiêu chuẩn ISO14000) và các bộ luật mang tính xã hội về đạo đức. Tiêu chuẩn The Social Accountability 8000 sẽ càng trở nên quan trọng trong những năm tới. Tiêu chuẩn về nhãn hiệu thương mại: Vấn đề nhãn mác, nhãn hiệu thương mại, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu được EU quy định rất chặt chẽ và nghiêm ngặt. Chẳng hạn, đối với sản phẩm thực phẩm, đồ uống, đóng gói phải ghi rõ tên sản phẩm, danh mục thành phẩm, trọng lượng, thời gian sử dụng sản phẩm cách sử dụng, địa chỉ của nước sản xuất hoặc nơi bán, nơi sản xuất, các điều kiện đặc biệt để bảo quản, để chuẩn bị sử dụng hoặc các thao tác bằng tay, mã số và mã vạch để nhận dạng lô hàng. Luật IUU: IUU là các hoạt động đánh bắt cá không hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định. Theo Hội đồng Liên minh châu Âu (EC), hoạt động này là một trong những hoạt động gây tác hại nghiêm trọng cho môi trường biển, tính bền vững của các đàn cá và tình hình kinh tế -xã hội của ngư dân. Theo đó, EC ban hành quy định số 1005/2008 vào tháng 9/2008 nhằm thiết lập hệ thống trong cộng đồng phòng ngừa, ngăn chặn và xoá bỏ các hoạt động khai thác thuỷ sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. Chống bán phá giá: được trình bày trong các văn kiện GATT như sau: bán phá giá và việc bán những hàng hóa xuất khẩu ở một giá thấp hơn “giá trị bình thường” (giá trị bình thường nghĩa là giá bán sản phẩm ở nước xuất khẩu). GATT cũng xác định: Mức phá giá = Giá bán hàng tại thị trường trong nước – Giá xuất khẩu. EU áp dụng luật chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu từ nước thứ ba, kể cả các đối tác thương mại được hưởng ưu đãi, trừ các thành viên của khu vực kinh tế châu Âu (EEA) trong một số lĩnh vực chịu sự chi phối trong khuôn khổ chính sách cạnh tranh của EU. 7.2.2 Hoạt động của thị trường Nghiên cứu hoạt động của thị trường là nghiên cứu cách thức mà doanh nghiệp tự điều chỉnh trước những biến đổi của thị trường. Trong thị trường ở từng thời điểm khác nhau thì lượng cung hàng hóa và giá cũng khác nhau. Để ít bị tác động hay có thể mang về nguồn lợi nhuận khổng lồ thì chúng ta cần phải hiểu rõ các nguyên tắc hoạt động của thị trường và tìm ra phương pháp khắc phục. Hoạt động của thị trường gồm những đặc điểm sau: Doanh nghiêp sử dụng một số các biện pháp để can thiệp vào giá và sản lượng. Doanh nghiêp tự đưa ra những chính sách về sản phẩm của mình. Sử dụng các hình thức marketting, khuyến mãi thu hút khách hàng. Ứng dụng các sách lược loại trừ đối thủ, hay liên kết với đối thủ. Khi hiểu được cấu trúc và quy luật thị trường của một ngành cụ thể. Thì việc dự đoán các hoạt động sắp diễn ra của các doanh nghiệp là tương dối dễ dàng và có tính chính xác cao. Chẳng hạn nếu một nghành chỉ có một doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó chỉ phản ứng với điều kiện kinh tế chứ không phản ứng với thách thức của các đối thủ trong kinh doanh. Tuy nhiên trong trường hợp thị trường nhiều doanh nghiệp thì có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nhà kinh doanh. Do đó bản thân mỗi doanh nghiệp trong thị trường có phản ứng trực tiếp đối với những thay đổi của các doanh nghiệp khác. ==> Từ đó ta có thể dễ dàng vạch ra những chiến lược lâu dài để phát triển công ty vững mạnh hơn 7.2.3 Kết quả thị trường Kết quả thị trường thể hiện thông qua việc đánh giá mức hiệu quả kinh tế của một ngành đạt được trên thực tế so với mức tối ưu mà ngành đó có khả năng đạt được để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội. Bressler và King (1970) đề xuất 2 chỉ tiêu đo lường hiệu quả: hiệu quả giá cả và hiệu quả sản xuất.[3, tr.64] 7.2.3.1 Hiệu quả giá cả Trong thị trường cạnh tranh hoàn chỉnh, chỉ tiêu hiệu quả giá cả của doanh nghiệp là: Giá cả sản phẩm bằng với chi phí cận biên : P = MC Giá cả yếu tố sản xuất bằng với giá trị sản phẩm cận biên. Trong thị trường sự chênh lệch về giá theo thời gian, không gian và hình thức sản phẩm chỉ là sự khác biệt về chi phí tồn trữ, chi phí vận chuyển và chi phí chế biến. Trong cấu trúc thị trường cạnh tranh, giá cả sẽ dịch chuyển theo cung cầu hoặc là những tác động kinh tế khác. Đối với mỗi mức giá mà doanh nghiệp đưa ra sẽ có một lượng cầu khác nhau. Thông thường giá và nhu cầu có tỷ lệ nghịch, tức là giá càng cao, sức cầu càng thấp và ngược lại. ] Do đó cần xác định độ co giãn của cầu theo giá: Ví dụ: Giả sử người bán tăng giá 5% lượng cầu giảm đi 10% thì độ co giãn của cầu sẽ là 2 khi đó người bán sẽ khó tăng giá. Nếu giá tăng 5% lượng cầu giảm đi 5%, độ co giãn là 1 trong trường hợp này doanh số của người bán vẫn không đổi. Nếu giá tăng lên 2% lượng cầu giảm đi 1% khi độ co giãn là 1/2 sức cầu co giãn ít, người bán dễ tăng giá. Nếu nhu cầu co giãn nhiều, người bán sẽ nghĩ đến việc hạ giá. Mức độ chính xác và tốc độ điều chỉnh giá cả theo các tác nhân có thể dùng như một chỉ dẫn cho mức quan hệ hỗ tương giữa các thị trường trong cơ chế hình thành giá cả. Một hệ thống Maketing trong đó giá cả thể hiện được mối quan hệ hỗ tương theo không gian là hệ thống thực hiện được cơ chế giá cả có hiệu quả. Việc so sánh giá cả một mặt hàng ở nông thôn và thành thị cho thấy mức độ chặt chẽ về liên kết giữa hai thị trường và mức chi phí tương ứng. Giả sử cùng một sản phẩm A Nếu bán ở nông thôn có giá là P Nếu bán ở thành thị có giá là P Khi đó chênh lệch giá sản phẩm A giữa nông thôn và thành thị Trong trương hợp tỷ lệ giá cả này là rất thấp thì một trong những hướng nghiên cứu có thể có để đánh giá thêm vấn đề là liệu nhà nươc có chính sách tac động để nhằm hạn chế lợi nhuận của giới kinh doanh hay không Một phương pháp khác là kiểm tra mức độ liên kết của thị trường là Chỉ số liên kết thị trường IMC là tỷ số của tham số về mức độ hiệu quả của thị trường địa phương và thị trường thành thị. IMC thể hiện độ lớn tương đối hai tác động của giá trị quá khứ của thị trường địa phương và thị trường tham chiếu đến việc hình thành giá cả hện tại. Nếu IMC càng gần 0 mức độ liên kết của thị trường càng lớn và IMC < 1 mức độ liên kết cao trong ngắn hạn. 7.2.3.2 Hiệu quả sản xuất Maketing có hiệu quả khi các khâu chế biến, tồn trữ, vận chuyển ở mức chi phí tối thiểu. Mức hiệu quả của một ngành hàng có thể được đo lường thông qua chỉ tiêu hiệu quả sử dụng qui mô dùng để đo lường khả năng tổ chức của xí nghiệp để tận dụng được lợi thế của hiệu quả theo qui mô. Hồi qui đa biến có thể được sử dụng để đo lường hiệu quả sử dụng qui mô, chẳng hạn như xem xét lượng hàng hóa vận chuyển theo một khoảng cách nhất định và qui mô của xí nghiệp (được thể hiện qua năng lực vận chuyển của các phương tiện vận chuyển) tác động đến chi phí vận chuyển trung bình như thế nào. 7.3 MỘT SỐ CÔNG CỤ PHÂN TÍCH VỀ CHÍNH SÁCH GIÁ CẢ VÀ MARKETING 7.3.1 Sử dụng giá cả quốc tế Giá cả nội địa được so sánh với giá cả quốc tế của cùng một loại hàng hóa. Các hệ số thường được sử dụng là hệ số bảo hộ danh nghĩa (NPC), hệ số bảo hộ thực tế (EPC) và chi phí nội nguồn (DRC). 7.3.1.1 Hệ số bảo hộ danh nghĩa (NPC) Thông thường mức thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu được xem như sự bảo hộ danh nghĩa cho các sản phẩm sản xuất trong nước. Việc tính toán hệ số bảo hộ hữu hiệu cho sản xuất được hầu hết các quốc gia áp dụng nhằm xem xét và phân tích hiệu quả của việc bảo hộ sản xuất. Theo thông tin tình hình xuất khẩu gạo năm 2010 Khoản mục Gạo 5% Giá FOB, thành phố Hồ Chí Minh 421 (USD/tấn) Tính bằng USD 490 Tính bằng ngàn đồng/tấn1 10290 Chi phí xuất khẩu (đồng/kg)2 518 Giá xuất khẩu tương đương (đông/kg)3 8841 Giá gạo (bán buôn) (đồng/kg) 7300 NPC 0.826 (Số liệu tổng hợp từ Tổng cục Thống kê) 1 Tỷ giá hối đoái: 1 USD = 21000 VNĐ 2 Chi phí xuất khẩu = chi phí có liên quan đến việc xuất khẩu gạo từ thị trường bán buôn đến cảng xuất. 3 Giá xuất khẩu tương đương = giá FOB - Chi phí xuấ khẩu - Trong đó: Pid = giá nội địa của hàng hóa; Pib = giá quốc tế của hàng hóa; i = mặt hàng i. * NPC > 1, chính sách giá của nhà nước bảo vệ người sản xuất trong nước. * NPC < 1, chính sách giá của nhà nước bảo vệ người tiêu dung. Hoặc tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa, NPR được sử dụng: NPR = {( Pid - Pib )/ Pib }*100 = (NPC – 1)*100 ó NPR = {( 7300 - 8841)/ 8841}*100 = (0.826 – 1)*100= - 17.4 * NPR > 0, chính sách giá bảo vệ người sản xuất. * NPR < 0, chinh sach bảo vệ người tiêu dùng. => Theo số liệu về giá gạo năm 2010 cho thấy nhà nước có những chính sách để bảo vệ người tiêu dùng. 7.3.1.2 Hệ số bảo hộ thực tế (EPC) Hệ số bảo hộ hiệu dụng (hệ số bảo hộ thực tế) của một sản phẩm là chênh lệch giữa giá trị gia tăng tính theo giá trong nước của ngành sản phẩm đó và giá trị gia tăng tính theo giá thế giới rồi chia cho giá trị gia tăng tính theo giá thế giới. Chúng ta đều đã biết, thuế nhập khẩu là thuế gián thu đánh vào hàng nhập khẩu. Mục đích đánh thuế có thể là để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, bảo hộ sản xuất trong nước, hoặc chỉ đơn thuần là thực hiện chính sách phân biệt đối xử với các đối tác thương mại khác nhau. Dù với lý do gì  đi nữa, thì việc đánh thuế nhập khẩu sẽ làm gia tăng giá cả của mặt hàng đó trong nước với một lượng bằng mức thuế. Giá cả tăng là động lực thúc đẩy các nhà sản xuất trong nước gia tăng sản xuất. Mức thuế suất ghi trong biểu thuế nhập khẩu còn gọi là mức bảo hộ danh nghĩa. Tác động của bảo hộ danh nghĩa lên sản lượng sản xuất trong nước còn tùy thuộc vào thuế nhập khẩu đánh vào đầu vào sản xuất của hàng hóa đó. Nếu thuế đầu vào này cao thì nó sẽ làm giảm bớt tác động gia tăng sản lượng của bảo hộ danh nghĩa, và như vậy, mức bảo hộ thực tế đối với hàng hóa đó là thấp hơn so với mức bảo hộ danh nghĩa cho thấy. Hệ số bảo hộ hiệu dụng là hệ số đo lường mức độ bảo hộ thật của quá trình sản xuất, chứ không chỉ có sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất như hệ số bảo hộ danh nghĩa. Ngành j sử dụng các đầu vào i, kết hợp với các nhân tố sản xuất (vốn, lao động), tạo ra giá trị sản xuất và giá trị gia tăng của ngành sản phẩm j. Mức bảo hộ hiệu dụng làm tăng trị giá gia tăng trong nước, và được định nghĩa là: ej = (V*j - Vj)/Vj = V*j / Vj - 1                         (2.1) Trong đó: Vj là trị giá gia tăng của sản phẩm j theo giá thế giới (tức là trong trường hợp không có bất cứ loại thuế nhập khẩu nào đối với i và j), V*j là trị giá gia tăng tính theo giá trong nước (tức là mức giá đã bao gồm thuế nhập khẩu). Việc tính giá trị gia tăng tính theo giá trong nước (Vj) và giá thế giới (V*j) của các ngành sản phẩm phải được dựa vào Bảng cân đối liên ngành (I/O). Hiện nay, chúng ta có Bảng I/O của cả nước năm 1996 (do Tổng cục Thống kê thực hiện) và Bảng I/O của TP.HCM năm 1996 (do Viện Kinh tế TP.HCM thực hiện). Vj và V*j được tính như sau: V*j = GTSXj (1 - Saij)                           (2.2) Vj = GTSXj {1/(1+tj) - S[aij/(1+ti)]}       (2.3) Trong đó: GTSXj là giá trị sản xuất của ngành sản phẩm j tính theo giá trong nước; tj là mức thuế nhập khẩu danh nghĩa của j (thuế quan đầu ra); ti là mức thuế nhập khẩu danh nghĩa của các đầu vào I (thuế quan đầu vào), và aij là hệ số chi phí trực tiếp của đầu vào i trong sản xuất sản phẩm j. Như vậy: ej = (1 - Saij)/{1/(1+tj) - S[aij/(1+ti)]}   (2.4) Công thức 2.4 cho thấy: với các điều kiện khác không đổi thì: Hệ số bảo hộ hiệu dụng sẽ cao hơn khi mức thuế quan đầu ra tj cao hơn. Hệ số bảo hộ hiệu dụng sẽ cao hơn khi mức thuế quan đầu vào ti thấp hơn. Hệ số bảo hộ hiệu dụng sẽ cao hơn khi hệ số aij cao hơn. Về mặt lý thuyết thì hệ số bảo hộ hiệu dụng có thể âm, có thể dương và có thể bằng không. Hệ số bảo hộ hiệu dụng thường âm đối với những ngành công nghiệp có thế mạnh xuất khẩu bởi vì khi đó thuế nhập khẩu đối với ngành sản phẩm đó bằng không, trong khi đó đầu vào sản xuất lại phải chịu thuế nhập khẩu. Vì vậy những ngành có mức bảo hộ hiệu dụng âm mà vẫn tồn tại và phát triển được là những ngành có lợi thế cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Năm 2000, Bộ Kế hoạch - đầu tư đã tiến hành đánh giá tính cạnh tranh của một số sản phẩm cũa VN, trong đó có vận dụng tính toán hệ số bảo hộ này, kết quả đánh giá như sau: HỆ SỐ BẢO HỘ ĐỐI VỚI MỘT SỐ NGÀNH SẢN PHẨM CỦA VIỆT NAM Ngành sản phẩm Hệ số bảo hộ danh nghĩa Hệ số bảo hộ hiệu dụng Cà phê 20,0 31,4 Gạo 5,0 6,1 Mía 10,0 11,1 Thủy sản 24,6 29,9 Dầu mỡ động, thực vật 14,9 23,4 Rượu bia 78,6 152,3 Đường 22,6 144,0 Cà phê chế biến 40,0 98,1 Sản phẩm từ thủy hải sản 24,6 70,8 Xay xát, chế biến lương thực thực phẩm 25,8 - 260,6 Bột giấy, giấy, sản phẩm từ giấy 18,4 127,3 Xi măng 36,0 135,0 Phân bón 2,6 3,2 Thuốc trừ sâu 2,3 2,9 Xà phòng và chất tẩy rửa 34,0 2432,4 Xe máy, xe đạp, phụ tùng 44,9 285,4 Sợi, chỉ và vải 26,7 69,8 Quần áo, khăn các loại 45,4 - 2889,0 Dệt thảm 0,0 - 20,7 Thuộc da 13,8 27,0 Sản phẩm từ da 47,5 170,8 Chế biến thức ăn gia súc 10,0 4,8 ( Hay: EPC: Tỷ số giữa giá trị gia tăng của sản phẩm tính theo tỷ giá nội địa (= giá nội địa của sản phẩm – giá trị đầu mua ngoài tính theo giá nội địa) và giá trị gia tăng của sản phẩm tính theo giá quốc tế (= giá quốc tế của sản phẩm – giá trị đầu vào mua ngoài tính theo giá quốc tế). EPC >1: người sản xuất được hưởng lợi từ chính sách bảo hộ của nhà nước. EPC <1: người sản xuất bị thiệt hại do chính sách bảo hộ của nhà nước. Hoặc sử dụng tỷ lệ bảo hộ quốc tế (EPR): Tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu (ERP) là tiêu chí để đánh giá mức độ bảo hộ mậu dịch đối với các nhà sản xuất trong nước. ERP là tỷ lệ giữa phần chênh lệch của giá trị gia tăng tính theo giá trong nước với giá thế giới (có tính đến tự do hóa thương mại). Phần chênh lệch này có được nhờ cơ cấu thuế của từng quốc gia. * Tương đương với (EPC – 1)*100 * EPR > 0: người sản xuất được hưởng lợi từ chính sách bảo hộ và ngược lại. Khoản mục Giá nội địa (đồng/kg) Giá quốc tế (đồng/kg) Giá trị sản phẩm 7000 7770 Giá trị đầu vào mua ngoài Giá trị gia tăng của sản phẩm 5820 6937 EPC = 5820/6937 = 0.839 < 1 => Người sản xuất bị thiệt hại do chính sách bảo hộ của Nhà nước EPR = (EPC-1)*100 = (0.839 – 1)*100 = -16.1 < 0 =>Người tiêu dùng được hưởng lợi từ chính sách bảo hộ. 7.3.1.3 Chi phí nội nguồn (DRC) còn gọi là hệ số chi phí nguồn lực trong nước Nội dung chính của việc tính hệ số chi phí nguồn lực trong nước (Domestic Resource Cost - DRC) của một sản phẩm (hay ngành sản phẩm) là tính chi phí sản xuất theo giá trị của các đầu vào trung gian ở mức giá thế giới và các nhân tố sản xuất theo chi phí cơ hội. Ý nghĩa của hệ số DRC là nó phản ánh chi phí thật sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra một hàng hóa nào đó. Thuế quan và các rào cản phi thuế quan làm tăng giá của các đầu vào trung gian, làm cho chí phí sản xuất đối với từng nhà sản xuất riêng lẽ khác với chi phí sản xuất chung mà xã hội phải gánh chịu. Do đó, việc loại bỏ các ảnh hưởng của thuế quan và phi thuế quan là nhằm để ước lượng chi phí thật sự mà xã hội phải trả trong việc sản xuất ra hàng hóa đó. Trong các nghiên cứu ứng dụng, việc định lượng các ảnh hưởng của phi thuế quan thường rất khó khăn, nên việc định lượng chỉ dừng lại với các ảnh hưởng thuế quan. Chi phí cơ hội của một nhân tố sản xuất được định nghĩa là thu nhập của nhân tố đó khi tham gia vào một hoạt động sản xuất thay thế khác gần nhất. Chi phí cơ hội của vốn thường bằng lãi suất trên thị trường. Đối với các nước nông nghiệp, đông dân, thường các nhà kinh tế tính chi phí cơ hội cho các công nhân công nghiệp ở những ngành phổ thông, không đòi hỏi chuyên môn cao là bằng thu nhập của lao động trong nông nghiệp, hoặc cao hơn mức thu nhập này một ít. Hệ số chi phí nguồn lực trong nước (DRC) là tỉ lệ giữa chi phí các nhân tố sản xuất theo chi phí cơ hội so với trị giá gia tăng theo giá quốc tế. Nếu hệ số DRC nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là cần một lượng nguồn lực trong nước nhỏ hơn 1 để tạo ra được 1 đồng trị giá gia tăng theo giá quốc tế. Trong trường hợp đó thì sản phẩm hay ngành sản phẩm trên là có lợi thế cạnh tranh. Ngược lại, nếu hệ số DRC lớn hơn 1 thì có nghĩa là cần một lượng nguồn lực trong nước lớn hơn 1 để tạo ra được 1 đồng trị giá gia tăng theo giá quốc tế, và như vậy là không có lợi thế cạnh tranh. Công thức tính DRC: DRCj = (DCj)/IVAj Trong đó: DCj là chi phí trong nước cho các nhân tố sản xuất theo chi phí cơ hội để sản xuất ra sản phẩm j, IVAj là trị giá gia tăng của sản phẩm j theo giá thế giới. Hệ số DRC càng cao có nghĩa là càng tốn nhiều các nhân tố sản xuất trong nước để tạo ra 1 đồng trị giá gia tăng theo giá thế giới, nên không hiệu quả. Nói cách khác: Chi phí nội nguồn nhằm so sánh chi phí cơ hội của sản xuất nội địa với giá trị gia tăng của sản phẩm tạo ra trong quá trình sản xuất đó tính theo giá quốc tế: Giá trị của các nguồn lực sử dụng trong SXHH tính theo chi phí cơ hội DRC = Giá trị gia tăng hàng hóa tính theo giá quốc tế * DRC >1 thể hiện nền kinh tế tiết kiệm được ngoại tệ do tự sản xuất trong nước. * DRC <1 thể hiện nền kinh tế gánh chịu chi phí do tự sản xuất trong nước. * DRC = 1 thể hiện sự cân bằng giữa chi phí trong nước cho các nhân tố sản xuất ra sản phẩm và giá trị gia tăng hàng hóa theo giá quốc tế. 7.3.2 Tỉ lệ giá thị trường và giá chính thức Giá thị trường: giá cân bằng giữa cung và cầu, là số tiền có thể thu được từ giao dịch bán, số tiền phải trả từ giao dịch mua hoặc giá trị của công cụ tài chính trên thị trường hoạt động. Giá chính thức (giá trị sản phẩm): là do chi phí lao động làm ra chúng quyết định. => Tỉ giá này (giá thị trường /giá chính thức) thể hiện mức độ hiệu quả của chính sách can thiệp giá cả và thị trường của nhà nước. Trong kinh tế học vi mô, chúng ta đã biết đến những sự can thiệp cuả chính phủ như: hỗ trợ giá, chính sánh giá trần, giá sàn, quota. 7.3.3 Tỉ giá thời vụ Tỉ giá thời vụ là mức giá trung bình của tháng có giá cao so với mức giá trung bình của tháng có giá thấp. Mức giá này thể hiện được mức chênh lệch về giá cả liên quan đến tồn trữ. Chẳng hạn tỉ giá 1,1 hay 1,2 trong khoảng thời gian 8 tháng khi giá cả thời vụ đang tăng chứng tỏ rằng Nhà nước có những chính sách can thiệp vào hoạt động Marketing của tư nhân. Một tỷ giá cao, trong khoảng 1,6 đến 1,8 chẳng hạn, trong cùng thời kì thể hiện rằng lợi nhuận hoặc chi phí tồn trữ quá cao. Để kiểm tra xem chi phí tồn trữ có quá cao hay không thì có thể xem đến mức lại suất của khoảng tín dụng cho tồn trữ hoặc mức độ hao hụt do tồn trữ. Ví dụ: Việc điều chỉnh sâu tỷ giá VND/USD của Ngân hàng Nhà nước mới đây là bước đi không tránh khỏi, nhưng nó không giúp giải quyết bài toán lớn hơn là thay đổi một cơ cấu sử dụng, chi tiêu ngoại hối bất cân đối của quốc gia, mà đây mới thực sự là vấn đề nhức đầu của Chính phủ. Việc tăng tỷ giá VND/USD thêm 9,3% của Ngân hàng Nhà nước gần đây thực sự là một cơn sốc đối với thị trường. Từ trước đó thị trường đã ít nhiều dự đoán về việc không tránh khỏi điều chỉnh tỷ giá, nhưng ít người hình dung Ngân hàng Nhà nước lại tiến hành điều chỉnh sâu một cách đột ngột như vậy. * Việc điều chỉnh có thể tránh khỏi không?   Một số ý kiến của chuyên gia cả trong nước lẫn nước ngoài cho rằng cách làm này của Ngân hàng Nhà nước là chưa hợp lý, vì hai lý do. Thứ nhất, điều chỉnh để đồng USD tăng giá so với VND khiến hàng hóa nhập khẩu tăng giá, gây sức ép lên lạm phát và gián tiếp gây sức ép lên cả lãi suất. Hệ lụy này gây khó cho cả người tiêu dùng lẫn nhà sản xuất. Thứ hai, đồng USD lên giá khiến các khoản vay bằng đồng USD càng trở nên khó trả nợ hơn. Có khả năng sẽ xuất hiện thêm các đơn vị đi vay phải xin hoãn thanh toán nợ, tương tự như Vinashin gần đây. Như vậy, việc điều chỉnh tỷ giá bị cho là gây tác động tiêu cực tới cả tiêu dùng, sản xuất, và vay trả nợ của doanh nghiệp, tựu chung lại sẽ khiến Chính phủ phải hy sinh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề mà nhiều chuyên gia chưa lưu tâm đúng mức là: trong khoảng ngắn hạn, Chính phủ có cách điều hành nào tốt hơn không? Bức tranh tỷ giá trực tiếp phản ánh tình trạng cán cân thanh toán của quốc gia. Từ nhiều năm nay, dòng tiền vào từ nguồn thu xuất khẩu chênh lệch trầm trọng so với nguồn chi cho nhập khẩu. Mức nhập siêu trong năm 2010 là 12,4 tỷ USD (1), tức là trung bình mỗi tháng hơn 1 tỷ USD. Để bù đắp lượng thâm hụt thương mại khổng lồ này, Việt Nam thường dựa nhiều vào nguồn ngoại hối từ đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) hoặc gián tiếp, kiều hối, các khoản vay nước ngoài, và trích bù đắp từ dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước.  Tuy nhiên, việc bù đắp nói trên chỉ có thể coi là giải pháp mang tính thời vụ. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam đang ngày càng mỏng. FDI năm 2010 giảm, chỉ bằng 82,2% so với 2009. Vay nợ không thể coi là giải pháp nghiêm túc để bù đắp cán cân thanh toán, đặc biệt là khi tất cả các ngưỡng an toàn nợ công mà Chính phủ đang cân nhắc gần đây (60% hay 65% GDP?) đều đang lần lượt có nguy cơ bị đe dọa vượt ngưỡng (2). Các khoản đầu tư nước ngoài gián tiếp kiểu đầu tư vào chứng khoán lại càng mang tính chất thời vụ, không phải là nguồn ngoại hối lâu dài để có thể bù đắp cho thậm hụt thương mại. Như vậy, việc giảm giá VND so với USD là tất yếu, nhưng tại sao lại điều chỉnh tới 9,3%? Có thể đây là con số mà Ngân hàng Nhà nước đã tính toán và thấy là cần thiết để giúp cân bằng cán cân thanh toán trong một khoảng thời gian tương đối dài (có thể là 6 tháng – 1 năm). Vậy tại sao không điều chỉnh ít một từng bước để thị trường dần dần thích nghi (ví dụ: mỗi tháng 1-2%)? Câu trả lời có lẽ Ngân hàng Nhà nước sẽ đưa ra là chính sách điều chỉnh kiểu từ từ sẽ tạo ra tâm lý kỳ vọng. Thị trường sẽ dự đoán trước được khá sát mức điều chỉnh của Ngân hàng Nhà nước và điều này tạo ra động cơ găm giữ đồng USD xuyên suốt cả năm. Tâm lý này sẽ đẩy giá USD trên thị trường chợ đen cao hơn mức cân bằng cung cầu, càng gây khó khăn hơn cho tiêu dùng và sản xuất. Trong khi nếu Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh quyết liệt một lần, và thể hiện sự trung thành với mức giá mới trong một thời gian đủ lâu thì thị trường sẽ có đủ cơ sở để tin vào tín hiệu mà những người làm chính sách tiền tệ đã đưa ra. Tâm lý găm giữ ngoại tệ sẽ sớm được giải tỏa sau khi cơn sốc ban đầu qua đi. * Có phải là giải pháp lâu dài?  Chắc chắn là không! Nhưng nó cần thiết để từng bước định hình một chính sách tỷ giá giúp nền tài chính tiền tệ phát triển bền vững hơn. Việc Ngân hàng Nhà nước  điều chỉnh tỷ giá sâu như đã làm vừa qua khiến các ngân hàng thương mại mất một nguồn thu mua USD với giá rẻ từ Ngân hàng Nhà nước, làm tăng nhu cầu mua từ thị trường tự do và qua đó gián tiếp đội giá USD trên thị trường tự do. Tuy nhiên, như thế mới là gần với giá thực tế của đồng USD so với VND khi nền kinh tế không còn phải ăn bám từ quỹ dự trữ ngoại hối.  Điều cần làm tiếp theo là củng cố các tiền đề để giúp cán cân thanh toán được cân bằng mà không cần phải điều chỉnh giảm giá một cách quyết liệt tương tự trong tương lai. Trước mắt giá USD tăng có thể tạm thời làm nhu cầu mua hàng hóa nhập khẩu như ô tô và iPhone giảm xuống, giúp phần nào giảm nhập siêu. Nhưng về lâu dài mục tiêu chiến lược phải là một những nguồn thu ngoại hối ổn định và bền vững hơn. Nguồn thu đó phải bắt nguồn từ sản xuất hàng hóa xuất khẩu thay vì xuất đi tài nguyên và nguyên liệu thô khác. Cần ghi nhận rằng nguồn thu từ xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua đã bớt dần lệ thuộc vào xuất khẩu dầu thô. Quay lại việc điều chỉnh sâu tỷ giá VND/USD của Ngân hàng Nhà nước, đó là bước đi không tránh khỏi. Nhưng nó không giúp giải quyết bài toán lớn hơn là thay đổi một cơ cấu sử dụng, chi tiêu ngoại hối bất cân đối của quốc gia. Đây mới thực sự là vấn đề nhức đầu của Chính phủ, trong bối cảnh bản thân Nhà nước cũng đang gặp vấn đề về cân đối thu chi ngân sách, và chưa thể hiện được một giải pháp rõ ràng để cải thiện hiệu quả sử dụng đồng tiền. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh đó, việc giảm giá lại càng cần thiết, để các nhà quản lý và làm chính sách cảm nhận rõ hơn hơi thở nóng từ thực tế nền tài chính tiền tệ của Việt Nam. ( TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Nguyên Cự, (2008). Giáo trình Marketing nông nghiệp, Đại học nông nghiệp Hà Nội. Lưu Thanh Đức Hải, (2007). Giáo trình Marketing ứng dụng, NXB: Thống Kê. Ngô Xuân Bình. Giáo trình Marketing Căn Bản, NXB: Thống Kê. Vũ Thế Phú. Quản trị Marketing, Đại hoc quốc gia TPHCM. Viện nghiên cứu phát triển TPHCM. CN. Vũ Phạm Tín

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doctien_hanh_nghien_cuu_trong_mar_nong_nghiep_3213.doc
Tài liệu liên quan