Chuyên đề Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại chi nhánh Tây Hà Nội của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU Mở cửa và giao lưu thương mại đã trở thành xu hướng phát triển của hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay. Mỗi quốc gia đều tham gia tích cực hơn vào thương mại quốc tế để tận dụng mọi nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế. Bởi vậy, khi thương mại quốc tế càng phát triển thì vai trò của ngân hàng càng lớn. Ngân hàng đã trở thành cầu nối vô cùng quan trọng, nó là trung gian tài chính, thanh toán cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động ngoại thương. Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng trở nên vô cùng cần thiết trong kinh tế đối ngoại, đặc biệt đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Ngày nay hoạt động thanh toán được coi là một chỉ tiêu khá rõ nét để đánh giá mức độ phát triển, hội nhập đối với hoạt động ngoại thương của một quốc gia nói chung và của từng ngân hàng thương mại nói riêng. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, khi hoạt động ngoại thương càng phức tạp bao nhiêu thì hoạt động thanh toán quốc tế cũng phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro hơn. Với tốc độ phát triển của hoạt động thanh toán quốc tế trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam đã tham gia tích cực và luôn luôn chú trọng đến việc mở rộng hoàn thiện nghiệp vụ của mình. Chính vì vậy hoạt động của ngân hàng luôn đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng trong thanh toán quốc tế và Ngân Hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam đã trở thành một trong những trung tâm thanh toán quốc tế lớn của nước ta, đồng thời nó luôn khẳng định vai trò chủ lực của mình trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới hoạt động, NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội ngay từ khi thành lập cũng luôn coi thanh toán quốc tế là một trong những nghiệp vụ quan trọng hàng đầu và luôn dành sự đầu tư thích đáng. Do vậy, ngân hàng đã đạt được một số kết quả khả quan quan trọng trong hoạt động kinh doanh nhưng bên cạnh đó cũng có những tồn tại cần khắc phục. Chính vì vậy sau khi thực tập với mục đích tìm hiểu thực tế hoạt động thanh toán quốc tế tại chi nhánh và những tồn tại nhằm tìm ra giải pháp khắc phục, phát triển hơn nữa hoạt động này, đề tài: “Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại chi nhánh Tây Hà Nội của NHNo&PTNT Việt Nam” được em chọn làm chuyên đề tốt nghiệp. Chuyên đề gồm ba chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động thanh toán quốc tế của hệ thống ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng nông nhiệp Tây Hà Nội. Chương 3: Một số giải pháp phát tiển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng nông nghiệp Tây Hà Nội. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3 1.1. Hoạt động cơ bản của các ngân hàng thương mại. 3 1.2. Hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại. 4 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của thanh toán quốc tế. 4 1.2.2. Các phương thức thanh toán quốc tế. 5 1.2.2.1. Thanh toán bằng phương thức chuyển tiền. 5 1.2.2.2. Phương thức thanh toán mở tài khoản. 7 1.2.2.3. Phương thức thanh toán nhờ thu. 8 1.2.2.4. Phương thức thanh toán tín dụng dụng chứng từ (L/C). 10 1.2.3. Vai trò của thanh toán quốc tế đối với hoạt động của ngân hàng thương mại. 15 1.2.3.1. Thanh toán quốc tế tạo điều kiện thu hút khách hàng, mở rộng thị phần kinh doanh của ngân hàng thương mại. 15 1.2.3.2. Thanh toán quốc tế góp phần tăng thu nhập cho ngân hàng. 15 1.2.3.3. Thanh toán quốc tế làm giảm rủi ro trong kinh doanh. 16 1.2.3.4. Thanh toán quốc tế làm tăng tính thanh khoản của ngân hàng. 16 1.2.3.5. Thanh toán quốc tế làm tăng cường quan hệ đối ngoại. 16 1.2.4. Rủi ro trong thanh toán quốc tế. 17 1.3. Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại. 19 1.3.1. Quan điểm phát triển hoạt động thanh toán quốc tế. 19 1.3.2. Các nhân tố tác động tới phát triển hoạt động thanh toán quốc tế. 20 1.3.2.1. Nhóm nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng. 20 1.3.2.2. Một số nhân tố khác. 22 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TÂY HÀ NỘI 26 2.1. Khái quát tình hình hoạt động chi nhánh Tây Hà Nội của NHNo&PTNT. 26 2.1.1. Sự hình thành và phát triển của NHNo&PTNT Tây Hà Nội. 26 2.1.2. Mô hình tổ chức quản lý. 26 2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ chủ yếu. 28 2.1.4. Các hoạt động cơ bản. 29 2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội. 30 2.2.1. Hoạt động huy động vốn. 30 2.2.2. Hoạt động sử dụng vốn. 32 2.2.3. Kết quả kinh doanh. 34 2.3. Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế cụ thể tại NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội. 36 2.3.1. Chức năng, nhiệm vụ của phòng thanh toán quốc tế. 36 2.3.2. Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo&PTNT Tây Hà Nội từ năm 2004 – 2006. 36 2.3.2.1. Tình hình khách hàng của hoạt động thanh toán quốc tế . 36 2.3.2.2. Kết quả thanh toán quốc tế theo từng phương thức. 37 2.4. Đánh giá kết quả hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Tây Hà Nội. 45 2.4.1. Những thuận lợi và kết quả đạt được. 45 2.4.1.1. Những thuận lợi. 45 2.4.1.2. Những kết quả đạt được. 47 2.4.1.3. Thực trạng ứng dụng công nghệ trong công tác thanh toán quốc tế tại chi nhánh. 50 2.4.2. Những khó nhăn, tồn tại và nguyên nhân. 51 2.4.2.1. Những khó khăn. 51 2.4.2.2. Tồn tại chủ yếu. 52 2.4.2.3. Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại. 52 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI 57 3.1. Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của chi nhánh Tây Hà Nội. 57 3.2. Một số giải pháp cụ thể. 58 3.2.1. Cung cấp đầy đủ ngoại tệ đáp ứng nhu cầu cho khách hàng. 58 3.2.2. Về tình hình con người. 60 3.2.3. Thực hiện tốt chính sách khách hàng. 60 3.2.4. Phát triển bộ phận quản lí rủi ro. 61 3.2.5. Tình hình công nghệ thông tin. 62 3.3. Một số kiến nghị. 62 3.3.1. Kiến nghị đối với NHNo&PTNT Tây Hà Nội. 62 3.3.2. Kiến nghị đối với NHNo&PTNT Việt Nam. 64 3.3.3 Kiến nghị đối với ngân hàng Nhà Nước. 66 KẾT LUẬN 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 DANH MỤC BẨNG, BIỂU 1. BẢNG Bảng 1: Tình hình huy động vốn của chi nhánh từ năm 2003 – 2006. 31 Bảng 2: Tình hình sử dụng vốn của chi nhánh (2003 – 2006). 33 Bảng 3: Kết quả kinh doanh của chi nhánh (2003 – 2006). 35 Bảng 4: Doanh thu của phương thức chuyển tiền (2004 – 2006). 38 Bảng 5: Doanh thu của phương thức nhờ thu (2004 – 2006). 39 Bảng 6: Doanh số mở L/C nhập khẩu. 41 Bảng 7: Doanh số L/C thông báo xuất khẩu. 43 Bảng 8: Kết quả của hoạt động TTQT (2004 – 2006). 47 Bảng 9: Tổng phí dịch vụ của hoạt động TTQT (2004 – 2006). 48 2. BIỂU Biểu đồ 2.1: Cơ cấu nguồn huy động từ năm 2003 – 2006. 31 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu tổng dư nợ 2003 – 2006. 33 Biểu đồ 2.3: Tổng thu qua các năm 2003 - 2006. 35 Biểu đồ 2.5: Doanh thu phương thức mở L/C từ năm 2004 - 2006. 41 Biểu đồ 2.6: Doanh số L/C thông báo từ năm 2004 – 2006. 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1- Quy tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ UCP – 500. 2- Giáo trình Thanh Toán Quốc Tế trong ngoại thương – PGS.PTS Đinh Xuân Trình – NXB Giáo Dục. 3- Giáo trình Nghiệp vụ Thanh Toán Quốc Tế - PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo – NXB Lao Động Xã Hội - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân. 4- Báo cáo kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Tây Hà Nội. 5- Báo cáo thường niên của NHNo&PTNT Tây Hà Nội qua các năm 2003 – 2006. 6- Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ thanh toán quốc tế của NHNo&PTNT. 7- Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng – GS.TS Lê Văn Tư – NXB Thống kê. 8- Một số thông tin trên Internet.

doc75 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 02/07/2013 | Lượt xem: 528 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Phát triển hoạt động thanh toán quốc tế tại chi nhánh Tây Hà Nội của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c này được khách hàng sử dụng nhiều hơn cả. Doanh số L/C đựơc mở biến đổi qua các năm như sau: Bảng 6: Doanh số mở L/C nhập khẩu. Đơn vị: USD Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Số món 155 166 172 Doanh số 15,253,785.13 18,269,929.43 11,104,276.81 (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động TTQT năm 2004 - 2006) Đơn vị: USD. Biểu đồ 2.5: Doanh thu phương thức mở L/C từ năm 2004 - 2006. Qua bảng tổng kết thấy được doanh số mở L/C biến động thất thường tăng nhẹ năm 2005 sau đó giảm mạnh 2006. Trong năm 2005 tăng 18,269,929.43 USD tương ứng với các món mở L/C là 166, việc tăng doanh số là do Nhà Nước có những điều chỉnh về thuế và hàng hoá nhập khẩu đa dạng và phong phú như: dầu mỡ thực vật, máy móc thiết bị, đặc biệt là hàng điện tử và các linh kiện điện tử… điều đó cũng chứng tỏ hàng nhập khẩu của nước ta là nhiều, nhất là khu vực miền Bắc. Đến năm 2006 doanh số sụt giảm nghiêm trọng từ 18,269,929.43 USD trong năm 2005 xuống còn 11,104,276.81 USD giảm 43% so với cùng kỳ. Có thể lý giải hiện tượng trên là do một vài khách hàng thường xuyên của chi nhánh không phát sinh nhu cầu thanh toán tín dụng chứng từ như: công ty TNHH Nội Thất Hàn Quốc, công ty TNHH Thương Mại sản xuất và dịch vụ kỹ thuật Phú Lợi….Ngoài ra, một số doanh nghiệp không tham gia hoạt động thanh toán với chi nhánh vì họ không cảm thấy hài lòng về quy trình mở L/C, thay vào đó những doanh nghiệp này chuyển sang giao dịch với các NHTM cổ phần khác trên cùng địa bàn. Hạn chế của quy trình nghiệp vụ này là do ngân hàng luôn yêu cầu khách hàng của mình ngoài tỷ lệ ký quỹ phải đóng dấu sẵn đơn xin vay giấy nhận nợ cho phần giá trị chưa được ký quỹ của L/C ngay cả khi họ không có nhu cầu vay vốn mà hoàn toàn có khả năng thanh toán bằng nguồn vốn tự có. Thêm vào đó để được cấp hạn mức tín dụng ngân hàng tiến hành thẩm định doanh nghiệp từ đó sẽ quyết định hạn mức sẽ cấp cho khách hàng. Bên cạnh những yêu cầu khắt khe đối với doanh nghiệp mở L/C, dưới sự chỉ đạo của NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh đã tập trung ưu tiên tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thay vì các doanh nghiệp nhà nước. Trong khi các doanh nghiệp này không thực sự mạnh về nghiệp vụ xuất nhập khẩu như các doanh nghiệp nhà nước, mặt khác nếu muốn thực hiện TTQT tại chi nhánh thì các doanh nghiệp nhà nước phải được xây dựng hạn mức tín dụng. Điều đó gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không có tài sản thế chấp mà ngân hàng thường phải tín chấp. Mặt khác đối với các doanh nghiệp đến giao dịch lần đầu đều phải ký quỹ 100% đã trở thành một hạn chế lớn và họ không có ý định tiếp tục đến giao dịch với chi nhánh nữa mà doanh nghiệp này tìm đến với các NHTM cổ phần trên cùng địa bàn do ngân hàng đó có quy định thông thoáng hơn đối với những nghiệp vụ này. Trong khi các món mở L/C tăng lên chứng tỏ món mở có doanh số không lớn bởi chủ trương của NHNo&PTNT tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà nhu cầu của các doanh nghiệp này thường không lớn. Thông báo L/C xuất khẩu: Cũng như dịch vụ mở L/C, hoạt động thông báo L/C xuất khẩu có sự biến động qua từng năm. Nhưng giá trị của hoạt động L/C xuất khẩu chiếm tỷ trọng không lớn so với doanh số thanh toán L/C nhập khẩu trong tổng doanh số TTQT. Từ đó cho thấy hoạt động xuất khẩu của nước ta là không nhiều chủ yếu là nhập siêu, đây là nguyên nhân gây khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu cũng như hoạt động TTQT tại các ngân hàng bởi nhập siêu lớn dẫn đến thiếu hụt ngoại tệ không có ngoại tệ để thanh toán cho các doanh nghiệp đến hạn phải thanh toán. Mặt khác, những chính sách ưu tiên cụ thể để thu hút các doanh nghiệp xuất khẩu của chi nhánh là chưa hợp lý. Tình hình thông báo L/C xuất khẩu cụ thể: Bảng 7: Doanh số L/C thông báo xuất khẩu. Đơn vị: USD Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Số món 8 10 22 Doanh số 259,231.19 286,593.50 2,402,863.86 (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động TTQT năm 2004 – 2006) Đơn vị: USD. Biểu đồ 2.6: Doanh số L/C thông báo từ năm 2004 – 2006. Trong các năm qua từ năm 2004 đến 2006 giá trị L/C được thông báo có tăng nhưng chiếm tỷ trọng không lớn trong doanh thu từ hoạt động phương thức tín dụng chứng từ. Nếu năm 2004 giá trị thông báo 259,231.19 USD với 8 món thì đến năm 2006 tăng lên 2,402,863.86 USD với 22 món. Nguyên nhân là so mặt hàng xuất khẩu chủ yếu ở Bắc nước ta là hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị thấp nên trị giá L/C thông báo không cao. Mặt khác chi nhánh Tây Hà Nội cũng chưa huy động một lượng ngoại tệ đủ lớn đáp ứng nhu cầu của khách hàng khi cần thanh toán, cũng như không có chính sách tài trợ L/C xuất cơ chế chiết khấu chứng từ xuất khẩu còn chưa linh hoạt trong từng trường hợp, từng đối tượng, từng bộ chứng từ. Từ những kết quả phân tích trên có thể thấy hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại chi nhánh Tây Hà Nội là chủ yếu, trong thanh toán bằng phương thức này thì thanh toán hàng nhập lại có tỷ trọng lớn hơn cả trong khi thanh toán hàng xuất chiếm một tỷ lệ nhỏ. Từ đó phản ánh tình hình hoạt động xuất nhập khẩu nói chung của nước ta nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, lượng xuất khẩu chủ yếu là hàng nông sản mỹ nghệ có giá trị nhỏ gây khó khăn cho hoạt động TTQT của các ngân hàng thương mại nói chung và của chi nhánh Tây Hà Nội nói riêng. 2.4. Đánh giá kết quả hoạt động thanh toán quốc tế tại NHNo&PTNT Tây Hà Nội. 2.4.1. Những thuận lợi và kết quả đạt được. 2.4.1.1. Những thuận lợi. - Về khách quan. Xu hướng hội nhập nền kinh tế mang lại rất nhiều lợi ích to lớn cho nền kinh tế của mỗi quốc gia. Giao lưu thương mại mở rộng đem lại cơ hội thúc đẩy tăng trưởng đầu tư và xuất nhập khẩu. Việt Nam cũng không đưng ngoài xu thế đó và ngày càng được thể hiện vai trò của mình trong nền kinh tế thế giới. Kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, cùng với những thuận lợi khác về kinh tế, chính trị như việc ký hiệp định Việt – Mĩ, gia nhập WTO…đã thực sự mở ra cho hoạt động xuất nhập khẩu những con đường phát triển mới. Nhiều mặt hàng của Việt Nam đã có mặt trên thị trường thế giới và chứng tỏ khả năng chiếm lĩnh thị trường quốc tế của kinh tế nước ta. Đồng thời, một mặt tạo ra những cơ hội để nhập khẩu sản phẩm từ nước ngoài nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày đa dạng và phong phú, mặt khác thu nhận những thành tựu khoa học công nghệ góp phần xây dựng và hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Để thực hiện những hoạt động thanh toán thì tất yếu phải thông qua hệ thống ngân hàng, đây chính là cơ sở cho hoạt động thanh toán quốc tế phát triển. Bên cạnh đó trong xu hướng quốc tế đã làm cho ngày càng nhiều đối tượng tham gia vào kinh tế đối ngoại. Các mối quan hệ kinh tế thương mại tất yếu làm nảy sinh các quan hệ thanh toán. Đó là môi trường cho hoạt động thanh toán qua ngân hàng và là một quan hệ thuận lợi khách quan cho hoạt động TTQT. Khi thế giới diễn ra hội nhập kinh tế thì hội nhập ngân hàng mang lại nhiều cơ hội cho ngành ngân hàng của mỗi quốc gia. Các ngân hàng đều có điều kiện tốt để trao đổi hợp tác, tranh thủ nguồn vốn, tiếp cận công nghệ ngân hàng hiện đại và cơ chế quản lý tiên tiến, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Thông qua những mối quan hệ đó, ngân hàng trong nước có thể thu nhận những kinh nghiệm, cơ hội để phát triển các nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng mình, trong đó một mảng quan trọng là hoạt động thanh toán quốc tế. - Về chủ quan. Xét về mặt chủ quan, các chi nhánh của NHNo&PTNT VN có những điều kiện khá thuận lợi cho hoạt động nghiệp vụ này. Thứ nhất, phải kể đến vai trò của bản thân ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân. Là một ngân hàng thương mại vừa thực hiện đồng thời chức năng kinh doanh đa năng, vừa chuyên trách đảm nhiệm một lĩnh vực riêng so với các ngân hàng khác là vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta. Với mạng lưới hoạt động rộng khắp trong cả nước, NHNo&PTNT chịu trách nhiệm về các vấn đề hỗ trợ, tài trợ vốn, cấp tín dụng cho hợp tác xã, hội nông dân…nhằm đẩy mạnh kinh tế nông nghiệp phát triển góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá nông thôn. Với chủ trương của Đảng là xây dựng và phát triển một nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá đẩy mạnh xuất khẩu nông lâm thuỷ sản ra thị trường thế giới tăng thu ngoại tệ…Với chức năng hoạt động riêng có này khả năng tiếp cận với thị trường xuất khẩu của các chi nhánh NHNo&PTNT hơn hẳn so với các ngân hàng khác. Nhận thức rõ điều này NHNo&PTNT luôn chú trọng khai thác thế mạnh vốn có này cùng với công tác đa dạng hoá các dịch vụ thanh toán, cung cấp ngày càng nhiều tiện ích thanh toán qua ngân hàng dựa trên mức phí linh hoạt và hợp lý. Do thấy rõ tầm quan trọng của hoạt động thanh toán quốc tế đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng trong thời đại ngày nay. Chính vì thế mà chi nhánh Tây Hà Nội đã thu hút được một lượng khách hàng không nhỏ trong việc tập trung đầu tư phát triển hoạt động TTQT. Thứ hai, nhận thấy rõ trình độ cán bộ có ý nghĩa quyết định đến chất lượng hoạt động kinh doanh, chi nhánh đặc biệt quam tâm đến công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ thông qua các hình thức tổ chức các lớp học và tìm hiểu nghiệp vụ do NHNo&PTNT VN tổ chức. Nhờ đó mà chất lượng của hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng được nâng cao đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. 2.4.1.2. Những kết quả đạt được. Tuy mới đi vào hoạt động, song hoạt động TTQT tại chi nhánh đã sớm đi vào ổn định, lượng khách hàng ngày càng tăng, tạo được sự tín nhiệm với khách hàng. Từ đó mà doanh thu từ hoạt động TTQT cũng tăng đáng kể: Bảng 8: Kết quả của hoạt động TTQT (2004 – 2006). Đơn vị: USD Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 DS thanh toán xuất khẩu 7,548 11,079 11,759 Tỷ lệ % tăng giảm +46,78% +1,63% DS thanh toán nhập khẩu 25,903 22,211 17,497 Tỷ lệ % tăng giảm -14,25% -21,23% (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động TTQT năm 2004 - 2006) Qua bảng tổng kết cho thấy kết quả hoạt động TTQT có những biến đổi đáng kể trong năm 2005 doanh số từ thanh toán xuất khẩu tăng lên một cách nhanh chóng tăng 46,78% so với năm 2004 đến năm 2006 doanh số này cũng tăng nhưng tăng với một tỷ lệ rất ít. Trong khi đó doanh số thanh toán từ hoạt động nhập khẩu liên tục giảm và mức giảm này cũng tăng dần, nhưng tỷ trọng của doanh số xuất khẩu nhỏ hơn của nhập khẩu ngay cả khi đạt mức cao nhất vào năm 2006 là 11,759 USD điều đó cho thấy sự mất cân đối trong hoạt động TTQT tại chi nhánh. Tuy nhiên con số này cũng thể hiện sự cố gắng của phòng TTQT cũng như toàn chi nhánh Tây Hà Nội từ khi thành lập tới nay. Sự biến động trong tỷ trọng doanh số của hoạt động TTQT chủ yếu là do sự biến động của phương thức chuyển tiền và tín dụng chứng từ còn phương thức nhờ thu luôn duy trì ở mức thấp. Doanh số thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ luôn chiếm trên 80% tổng doanh số nhưng đến năm 2006 mức thu của phương thức này giảm dần thay vào đó hoạt động chuyển tiền tăng lên một lượng đáng kể. Điều đó cho thấy nhu cầu dùng dịch vụ của ngân hàng, khách hàng ưa thích dùng 2 phương thức chuyển tiền và tín dụng chứng từ hơn bởi với bạn hàng tin cậy khách hàng dùng phương thức chuyển tiền do phương thức này có mức phí thấp, trong khi bạn hàng mới giao dịch lần đầu hoặc khả năng rủi ro cao trong thanh toán thì khách hàng sẽ sử dụng tín dụng chứng từ. Tuy có nhiều hạn chế nhưng không thể phủ nhận rằng hoạt động TTQT của chi nhánh trong những năm qua có những đóng góp vào doanh thu cho toàn chi nhánh được phản ánh qua mức phí mà hoạt động này mang lại: Bảng 9: Tổng phí dịch vụ của hoạt động TTQT (2004 – 2006). Đơn vị: USD Chỉ tiêu Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Phí dịch vụ về TTQT 110,210.93 84,055.74 128,891.77 Tỷ lệ % tăng giảm - 32,29% +46.34% (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động TTQT năm 2004 - 2006) Bên cạnh sự phát triển, nắm bắt được nhu cầu về nguồn ngoại tệ phục vụ cho thanh toán xuất nhập khẩu hiện nay ngày càng tăng, chi nhánh cũng chú trọng tới hoạt động kinh doanh ngoại tệ; không ngừng mở rộng mạng lưới thu đổi ngoại tệ, nguồn cung ngoại tệ không chỉ bó hẹp mà đã vươn ra tất cả các thành phần kinh tế khác nhau và đạt được một nguồn thu đáng kể. Kết quả trên có được là do chi nhánh xây dựng một tỷ giá linh hoạt, thêm vào đó bộ phận TTQT đã nghiên cứu cho phép áp dụng đưa phí mua bán nội bộ với USD vào dịch vụ phí. Như vậy, khách hàng chỉ phải chịu mức mua bán với phí thấp và thu hút khách hàng trong trao đổi mua bán ngoại tệ. Ngoài sự gia tăng về mọi mặt từ doanh số, tổng phí thu được, mua bán ngoại tệ chi nhánh còn đạt được một số kết quả: + Không thể không nhắc tới yếu tố con người trong việc thực thi nghiệp vụ của chi nhánh. Chi nhánh luôn chú trọng tới công tác đào tạo, bố trí cán bộ. Thường xuyên mở các chương trình đào tạo, lớp tập huấn về nghiệp vụ và tổ chức tập huấn phổ biến lại cho cán bộ nhân viên giao dịch trực tiếp, cán bộ của các bộ phận có liên quan. NHNo&PTNT VN đã có quy định mới thay đổi căn bản về nghiệp vụ (quy trình TTQT số 1998/NHNo – QHTQ và quy trình về kinh doanh ngoại tệ số 2008/NHNo – QHTQ), và phòng TTQT cũng đã tiến hành xây dựng các văn bản hướng dẫn chi tiết về nghiệp vụ để đảm bảo hoạt động TTQT của chi nhánh đựoc tiến hành thông suốt, chính xác, và hiệu quả. + Số lượng khách hàng đến giao dịch với khách hàng ngày càng tăng đó là kết quả của chiến lược marketting trên quy mô lớn, phối hợp với phòng tín dụng tiếp cận các khách hàng mới giới thiệu và xúc tiến thực hiện các dịch vụ kết hợp với cho vay. Để duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng truyền thống chi nhánh áp dụng những chính sách ưu đãi, gồm chính sách ưu đãi về lãi suất trong tín dụng xuất nhập khẩu hàng hoá,…Hoạt động một cách thông suốt các yêu cầu của khách hàng, chi nhánh cũng tư vấn cho khách hàng về thông tin liên quan đến giao dịch như điều khoản thanh toán, tìm hiểu thông tin người mua, bán…chính những động thái này đã khiến cho khách hàng cảm thấy yên tâm tin tưởng tạo uy tín cho chi nhánh. 2.4.1.3. Thực trạng ứng dụng công nghệ trong công tác thanh toán quốc tế tại chi nhánh. Trong nền kinh tế hiện nay, hội nhập ngân hàng phải đi trước một bước để làm cầu nối nền kinh tế trong nước với thế giới. Ngành ngân hàng phải đảm bảo là trung gian tài chính tín dụng đắc lực thúc đẩy các hoạt động thương mại bằng các phương thức như cung cấp dịch vụ tín dụng, dịch vụ thanh toán một cách đa dạng tiện lợi, phù hợp với yêu cầu của thương mại quốc tế. Đứng trước những đòi hỏi thực tế đặt ra chi nhánh Tây Hà Nội luôn chú trọng vào công tác hiện đại hoá công nghệ ngân hàng, từng bước phù hợp với yêu cầu của trong và ngoài nước về tình hình thanh toán. Hiện nay chi nhánh đã thực hiện nối thanh toán điện tử với khách hàng, triển khai dịch vụ internet banking, giúp cho công tác thanh toán được nhanh chóng và thuận tiện. Việc triển khai dịch vụ ATM bước đầu có những khả quan, lượng khách hàng phát hành thẻ lên tới 1.500 khách hàng, và chi nhánh vẫn tiếp tục bổ sung thêm máy ATM. Chi nhánh cũng đang thực hiện chương trình giao dịch ngân hàng bán lẻ với trang thiết bị đầy đủ, hiện đại đáp ứng nhu cầu hiện đại hoá ngân hàng. Tuy nhiên chương trình này đang trong giai đoạn hoàn thiện nên vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc như thông tin báo cáo không có chương trình nhặt tự động do vậy gặp nhiều khó khăn trong công tác thống kê. Song song với việc nâng cao chất lượng quy trình nghiệp vụ NHNo&PTNT cũng tích cực tham gia vào đề án hiện đại hoá hệ thông TTQT của World Bank. Có thể nói để đáp ứng nhu cầu TTQT của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tuy thành lập chưa lâu nhưng chi nhánh Tây Hà Nội đã chú trọng đến việc mở rộng các dịch vụ thanh toán, nâng cao công nghệ ngân hàng bằng cách tăng cường áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trang thiết bị máy móc hiện đại nhằm cung cấp tối đa các tiện ích cho khách hàng. 2.4.2. Những khó nhăn, tồn tại và nguyên nhân. 2.4.2.1. Những khó khăn. - Về phía Nhà Nước: với vai trò quản lý vĩ mô, cho đến nay vẫn chưa có một cơ sở pháp lý thực sự rành mạch để hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động này. Các quy chế về TTQT, về dự trữ ngoại tệ chưa đầy đủ và thiếu đồng bộ gây khó khăn cho hoạt động TTQT tại các ngân hàng thương mại. Ví dụ những bất cập trong quy chế dự trữ ngoại tệ tạo ra tâm lý găm giữ ngoại tệ dẫn đến nạn khan hiếm ngoại tệ thiếu trầm trọng trong thanh toán và trao đổi mua bán ngoại tệ. - Về phía ngân hàng: trong qua trình hội nhập nền kinh tế mang lại cho chi nhánh những cơ hội lớn nhưng bên cạnh đó phải kể đến khó khăn, thách thức lớn đối với chi nhánh nói riêng và toàn bộ hệ thông NHNo nói chung là cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các ngân hàng trong và ngoài nước. Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào bắt kịp với tiến độ hội nhập có thể phù hợp được với hệ thống ngân hàng trên thế giới là một đòi hỏi gay gắt và mang tính cấp bách. - Về phía khách hàng: tình trạng các doanh nghiệp kông nắm bắt kịp thời với xu hướng thương mại hiện đại, không đủ kiến thức về bạn hàng, về đối tác nước ngoài và yếu kém về kỹ năng thực hành ngoại thương thường xuyên xảy ra. Ngoài ra tiềm lực về tài chính của hần hết các doanh nghiệp VN còn hạn chế, khả năng thanh toán thấp. Các doanh nghiệp này thường phải đi vay, xin bảo lãnh thanh toán…để thực hiện hợp đồng, song do những nguyên nhân chủ quan cũng như khách quan mà không có khả năng hoàn tất hợp đồng. Đây là những nguyên nhân của những thiệt hại tổn thất về tài chính mà doanh nghiệp phải gánh chịu nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến ngân hàng. Khi doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán ngân hàng sẽ là người gánh chịu hậu quả đầu tiên, đó là những rủi rỏ trong thanh toán quốc tế mà ngân hàng thường dễ mắc phải. Tồn tại về mặt khách hàng còn nằm trong hiện tượng khi cac doanh nghiệp nhập khẩu các mặt hàng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp thì tìm đến thanh toán qua các chi nhánh của NHNo&PTNT nhưng khi tiến hành xuất khẩu các sản phẩm thì lại tìm đến với các ngân hàng thương mại khác có trình độ và dày dan kinh nghiệm về thanh toán xuất khẩu như ngân hàng ngoại thương. Điều này dẫn đến tình trạng khó khăn trong cân đối ngoại tệ tại chi nhánh cũng như trong toàn bộ hệ thống NHNo&PTNT. 2.4.2.2. Tồn tại chủ yếu. Bên cạnh kết quả đạt được, trong hoạt động TTQT của chi nhánh Tây Hà Nội còn nhiều hạn chế nhất định. Điều này ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động thanh toán dẫn tới chất lượng chưa cao, cụ thể: thời gian thanh toán đôi khi kéo dài, độ an toàn và chính xác chưa hoàn toàn đảm bảo. 2.4.2.3. Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại. - Hệ thống trang thiết bị chưa được đầu tư đầy đủ đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ: Cho đến nay chi nhánh được đầu tư công nghệ khá hiện đại song so với nhu cầu hiện đại hoá ngân hàng và sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin thì công nghệ ngân hàng hiện tại vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Việc soạn điện SWIFT đã có chương trình riêng nhưng công việc khác như thống kê, quản lý khách hàng, quản lý dữ liệu tập trung khách hàng, từng mặt hàng khác nhau và nhiều công đoạn giao dịch khác hầu như đều phải quản lý thủ công. Do vậy cơ sở vật chất, tranh thiết bị hệ thống máy tính chưa đồng bộ, mức độ tự động hoá chưa cao, chương trình thường xuyên bị trục trặc. Điều này gây ảnh hưởng cho chất lượng hoạt động TTQT chưa đạt hiệu quả cao và đôi chút còn ảnh hưởng tới uy tín ngân hàng. - Trình độ cán bộ thanh toán: Nhân tố con người luôn là một nhân tố quyết định trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng nhất là trong chi nhánh Tây Hà Nội. Từ khi mới thành lập chi nhánh luôn đầu tư thích đáng mảng nghiệp vụ của cán bộ nhưng vẫn còn nhiều bất cập do phần lớn các cán bộ nhân viên được chuyển từ nhiều đơn vị khác nhau và một số tuyển mới nên trình độ chuyên môn, kinh nghiệm về nghiệp vụ không đồng đều. Hơn nữa việc đào tạo nghiệp vụ tại chi nhánh chủ yếu dựa trên cơ sở tự đào tạo, các chương trình đào tạo về nghiệp vụ của NHNo&PTNT VN chưa bao cao quát đầy đủ. Bởi vậy so với các chi nhánh khác cán bộ nhân viên đều phải vừa học vừa làm dẫn đến những kinh nghiệm trong giải quyết vấn đề phức tạp hoặc những tranh chấp trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ còn hạn chế. Trình độ ngoại ngữ và sự am hiểu pháp luật, khả năng thu thập sử lý thông tin về khách hàng liên quan tới thông lệ quốc tế còn chưa chuyên nghiệp. Vì vậy chi nhánh chưa đáp ứng đầy đủ và kịp thời yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước. - Phương thức thanh toán kém đa dạng, mất cân đối: Trong hoạt động TTQT của chi nhánh tập trung chủ yếu vào 3 phương thức đó là phương thức chuyển tiền, nhờ thu, tín dụng chứng từ trong khi một số ngân hàng thương mại khác mở rộng thêm một số phương thức như phương thức ghi sổ, mở tài khoản trong thanh toán hàng nhập khẩu. Trên thực tế nước ta hiện nay ngày càng nhiều các công ty con trực thuộc tổng công ty mẹ ở nước ngoài, đại lý được mở tại Việt Nam đồng thời các doanh nghiệp tại Việt Nam thường có xu hướng ổn định nguồn hàng cung cấp ở nước ngoài. Do vậy các công ty đó sẽ có nhu cầu sử dụng phương thức thanh toán này. Mặt khác trong các phương thức của chi nhánh lại gây mất cân đối, chiếm tỷ trọng cao nhất là thanh toán tín dụng chứng từ và chuyển tiền trong khi đó hoạt động thanh toán nhờ thu lại rất ít. Nguyên nhân của vấn đề chính là đặc trưng của hai phương thức đó do tính ưu việt về đảm bảo quyền lợi một cách tương đối cho các bên tham gia thanh toán, nên nó được sử dụng rộng rãi, nhất là trong mối quan hệ thanh toán lần đầu giữa các đối tác hoặc trong mối quan hệ thanh toán có sự tin tưởng lẫn nhau. Phương thức thanh toán chuyển tiền và phương thức nhờ thu đều mang lại những lợi thế nhất định cho một bên và rủi ro cho bên càn lại nhưng khách hàng lại ưa dùng phương thức chuyển tiền do thủ tục đơn giản và phần lớn áp dụng cho mối quan hệ bạn hàng lâu dài, có sự tín nhiệm lẫn nhau thêm vào đó là phí dịch vụ phải trả cho ngân hàng trong giao dịch là thấp hơn. - Tài trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hạn chế: Do chính sách của NHNo&PTNT là tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa mà phần lớn các doanh nghiệp này lại bị hạn chế về nguồn vốn trong quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh. Bởi vậy sự hỗ trợ về tài chính từ phía ngân hàng là nhân tố quan trọng để tạo điều kiện cho doanh nghiệp này sản xuất và xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài. Tuy nhiên nguồn vốn của ngân hàng còn hạn hẹp, nên nguồn vốn sẽ được tập trung tài trợ cho những dự án lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao nhằm mục đích thu được vốn. Chính điều đó làm cho việc tài trợ cho các doanh nghiệp tài trợ xuất nhập khẩu đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu đôi khi không được quan tâm đúng mức. Hoạt động tài trợ cho xuất nhập khẩu hàng hoá kém đa dạng. - Chính sách marketing khách hàng gặp khó khăn: Trong hoạt động TTQT của chi nhánh có thể thấy chi nhánh chưa thu hút được các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đến giao dịch thường xuyên, số lượng giao dịch ít giá trị các món tham gia thanh toán nhỏ. Sự mất cân đối giữa khách hàng xuất khẩu và nhập khẩu gây ra sự mất cân đối giữa các món thanh toán xuất khẩu và nhập khẩu dẫn đến mất cân đối trong hoạt động thanh toán của chi nhánh. Do chính sách tiếp thị khách hàng gặp nhiều khó khăn, mặc dù với vị thế là một chi nhánh có trụ sở tại trung tâm thành phố nhưng lại có quá nhiều NHTM khác trên cùng địa bàn cả ngân hàng trong nước và ngoài nước nó đã tạo ra một cản trở lớn. Do phần lớn các khách hàng xuất nhập khẩu đã thiết lập mối quan hệ lâu dài với ngân hàng có thế mạnh về TTQT trong khi đó chi nhánh vừa mới thành lập chưa đưa ra các điều kiện cạnh tranh hơn cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu được hưởng ở các NHTM này. - Biến động của thị trường: Trong thời gian qua thị trường hàng hoá có nhiều biến động ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng hệ quả của nó là ảnh hưởng tới lượng giao dịch trong hoạt động TTQT tại chi nhánh. Những biến động này phải kể đến như sự biến động trên thị trường thép làm cho giá thép trong nước giảm mạnh cung vượt quá cầu do đó các doanh nghiệp hạn chế nhập khẩu thép, tiếp đến là giá dầu thay đổi liên tục cũng ảnh hưởng tới giá cả tiêu dùng trong nước dẫn đến nhu cầu giao dịch của các khách hàng là các doanh nghiệp nhập khẩu cũng thay đổi thất thường làm cho doanh số TTQT của chi nhánh bị hạn chế. - Chính sách ưu tiên tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHNo&PTNT VN: Theo sự chỉ đạo của NHNo&PTNT trong xu thế hội nhập, chi nhánh ưu tiên tập trung tài trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa thay vì các doanh nghiệp nhà nước như trước. Trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa lại không mạnh về nghiệp vụ xuất nhập khẩu trong khi đó các doanh nghiệp nhà nước muốn tham gia TTQT tại chi nhánh phải xây dựng hạn mức tín dụng, điều này gây khó khăn cho doanh nghiệp loại này vì thường không có tài sản thế chấp mà chi nhánh thường phải tín chấp. Từ những chủ trương của NHNo&PTNT chi nhánh đã có chính sách nhằm thu hút một lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhưng do đặc trưng của doanh nghiệp này là có quy mô và nguồn vốn nhỏ điều đó đã làm cho doanh số thanh toán từ hoạt động TTQT có tăng nhưng trị giá của mỗi món lại không lớn. - Chính sách thương mại của Nhà Nước: Sự kém ổn định trong chính sách thương mại của nhà nước đã gây khó khăn cho các ngân hàng trong đó có chi nhánh Tây Hà Nội. Trong chính sách này có những mặt hàng năm nay cho phép nhập khẩu nhưng sang năm lại không được thông qua, thêm nữa là thuế suất thuế nhập khẩu cũng thay đổi liên tục dẫn tới giá cả hàng hoá biến động làm cho ngân hàng cũng như các doanh nghiệp xuất khẩu rơi vào tình trạng khó khăn vì khó chủ động trong việc hoạch định các kế hoạch về xuất nhập khẩu. Định hướng kế hoạch nhập khẩu của nhà nước là vấn đề quan trọng mang tính quyết định đối với chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp trong hoạt động này mà từ đó cũng ảnh hưởng hoạt đông TTQT của ngân hàng. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI. 3.1. Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của chi nhánh Tây Hà Nội. Hoạt động TTQT là một trong các nghiệp vụ không thể thiếu được trong các nghiệp vụ kinh doanh của Chi nhánh Tây Hà Nội. Việc phát triển hoạt động này góp phần tăng khả năng đa dạng hóa các nghiệp vụ của chi nhánh. Đặc biệt trong xu thế quốc tế hoá nhu cầu tham gia vào thương mại quốc tế thông qua thanh toán điện tử là tất yếu. Nhận thấy vai trò quan trọng của hoạt động TTQT ngân hàng nông nghiệp chi nhánh Tây Hà Nội đã đưa ra phương hướng hoạt động: - Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật về công nghệ thông tin ngân hàng ngày một hiện đại đủ sức tiếp cận với tương lai phát triển của khoa học công nghệ ngân hàng. - Đào tạo cán bộ thanh toán viên có trình độ nghiệp vụ tốt, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế; được trang bị kỹ năng về ngoại ngữ, về công nghệ thông tin ngân hàng, để có thể ứng phó với thực tế thanh toán và những rủi ro có thể xảy ra, vừa có thể đáp ứng nhu cầu thanh toán về lâu dài tránh bị tụt hậu so với các quốc gia khác trên thế giới. - Thông qua trang web của chi nhánh, tăng cường giới thiệu với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ,…trao đổi thông tin và tư vấn cho khách hàng một cách thường xuyên nhanh chóng khi khách hàng cần. - Củng cố và mở rộng mạng lưới hoạt động nhằm phát triển số lượng khách hàng thanh toán, thu hút khách hàng tham gia vào xuất nhập khẩu. Mở rộng thị trường thanh toán không chỉ thanh toán cho khách hàng thuộc lĩnh vực xuất nhập khẩu nông sản thiết bị nông nghiệp. - Chú trọng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ thanh toán thoả mãn được thực tế thanh toán, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các sản phẩm dịch vụ nhằm nâng cao chất lượng thanh toán. - Củng cố hoạt động kinh doanh ngoại tệ, tín dụng, tài trợ xuất nhập khẩu đảm bảo cân đối ngoại tệ cần thiết cho thanh toán một cách hợp lý, hiệu quả. Tiếp tục phát triển hoạt động TTQT với mục tiêu xây dựng hoạt động này thành một công cụ chiến lược trong xu thế hội nhập mở rộng khả năng hoạt động của ngân hàng trên thị trường trong nước và thế giới, đạt chỉ tiêu về lợi nhuận và hiệu quả kinh tế cao qua đó thúc đẩy các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng phát triển. Như vậy, yêu cầu đặt ra là phải hiện đại hoá hoạt động TTQT đáp ứng nhu cầu chính xác, tin cậy với mức chi phí thấp và chất lượng dịch vụ cao. Luôn hướng đến nhu cầu của khách hàng theo đúng phương châm: “luôn vì sự thành đạt của khách hàng”. 3.2. Một số giải pháp cụ thể. 3.2.1. Cung cấp đầy đủ ngoại tệ đáp ứng nhu cầu cho khách hàng. Một trong những nguyên nhân chủ yếu mà khách hàng chấm dứt giao dịch TTQT với ngân hàng do ngân hàng không cung cấp đầy đủ ngoại tệ so với ngân hàng khác, bởi ngân hàng hầu như không có nguồn thu ngoại tệ từ khách hàng xuất khẩu. Để cải thiện tình trạng khó khăn về nguồn cung ngoại tệ, giải pháp hiệu quả nhất là tìm cách thu hút khách hàng. Đặc biệt là cần thu hút những khách hàng có nguồn thu ngoại tệ lớn từ lĩnh vực lương thực, chè, cà phê,…thu hút được khách hàng này không những sẽ tạo ra nguồn ngoại tệ ổn định cho ngân hàng mà có thể huy động được nguồn vốn với chi phí thấp. Ngân hàng có thể hưởng lợi trực tiếp từ các khoản tiền chuyển về của khách hàng bằng cách dùng để đầu tư trên thị trường tiền tệ. Mặt khác ngân hàng còn thu được khoản phí TTQT cho mình nhằm tăng doanh thu. Như vậy tổng lợi ích mà khách hàng đem lại cho ngân hàng là khá lớn. Ngân hàng cần áp dụng một chính sách lãi suất tín dụng hợp lý cho khách hàng. Các khách hàng có nhu cầu thanh toán xuất khẩu như hiện nay chủ yếu là hàng thủ công mỹ nghệ, thuỷ sản,…họ thường bị hạn chế về nguồn vốn lưu động chính vì thế mà họ cần phải vay ngân hàng và khách hàng này sẽ trả ngân hàng khi thu tiền về. Khi thu được tiền hàng bằng ngoại tệ họ lấy ngoại tệ đổi lấy nội tệ thông qua ngân hàng sau đó trả cho ngân hàng, lúc này ngân hàng vừa có ngoại tệ vừa thu được phí giao dịch. Vì vậy, một chính sách lãi suất tín dụng và chênh lệch tỷ giá hợp lý sẽ thu hút khách hàng mới tiềm năng. Bộ phận kinh doanh ngoại tệ phải cố gắng tạo ra nhiều sản phẩm dịch vụ về lĩnh vực ngoại hối như giao dịch kỳ hạn, hoán đổi – swap, trong tương lai mở thêm sản phẩm quyền chọn để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Mặt khác cần phải đa dạng hoá việc mua bán huy động các loại ngoại tệ khác nhau trên thị trường để đáp ứng nhu cầu khách hàng, không chỉ huy động USD và kinh doanh 3 loại ngoại tệ khác nhau là USD, EUR, JPY mà mở rộng thêm cả SGD, AUD để phục vụ nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra ngân hàng cũng cần huy động ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng, nguồn ngoại tệ này được huy động khi ngân hàng cần thiết bởi nguồn này tương đối đắt nhưng bù lại nó luôn đáp ứng bất cứ khi nào ngân hàng cần. Như vậy muốn mở rộng và phát triển hoạt động TTQT thì trước hết ngân hàng phải có khả năng tài chính đủ mạnh đáp ứng nhu cầu của khách hàng. 3.2.2. Về tình hình con người. Một trong những yếu tố đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển hoạt động TTQT tại ngân hàng là yếu tố con người. Việc nâng cao trình độ cán bộ TTQT cần phải được ngân hàng thực hiện đồng bộ ngay từ đầu hoạt động thì mới đạt hiệu quả tối đa. Về chính sách tuyển dụng, một số cán bộ trong phòng TTQT của chi nhánh được chuyển từ phòng tín dụng sang do vậy nghiệp vụ về TTQT chưa được đào tạo căn bản, bên cạnh đó số lượng nhân viên còn khiêm tốn. Chính vì vậy chi nhánh nên có chính sách tuyển dụng các sinh viên chuyên ngành TTQT bởi những sinh viên này được đào tạo và có nền tảng về hệ thống TTQT. Mặt khác chi nhánh hoàn toàn có thể thu hút một số cán bộ đã làm việc lâu năm ở các tổ chức tín dụng làm cộng tác viên cho mình. Nếu chi nhánh khai thác được thế mạnh của bộ phận này thì sẽ phát triển thêm nhiều khách hàng mới. Về cán bộ marketing, hoạt động marketing đóng vai trò đặc biệt quan trọng do họ là người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Khi một sản phẩm dịch vụ của ngân hàng tốt nhưng nhân viên marketing không có khả năng truyền đạt cái tốt đó cho khách hàng thì cũng khó mà thuyết phục được họ. Điều đó đòi hỏi các cán bộ nhân viên phải có sự đào tạo toàn diện về tất cả các nghiệp vụ mà ngân hàng cung ứng. Bên cạnh đó trong thời đại thông tin bùng nổ như hiện nay, cán bộ marketing cần phải có kiến thức sâu rộng cập nhật những thông tin của nền kinh tế một cách nhanh nhạy để đưa ra ý kiến tư vấn tốt nhất cho khách hàng trong từng thời kỳ của nền kinh tế. 3.2.3. Thực hiện tốt chính sách khách hàng. Như đặc điểm đã nêu, dịch vụ của ngân hàng mang tính vô hình có nghĩa là sản phẩm dịch vụ không thể lượng hoá được. Khách hàng vừa là người sử dụng vừa là người đánh giá trực tiếp chất lượng của dịch vụ đó. Việc đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng về sản phẩm dịch vụ sẽ phản ánh lại đúng chất lượng của dịch vụ đồng thời cũng giúp ngân hàng giữ được những khách hàng truyền thống và thu hút khách hàng tiềm năng. Chính điều đó cho thấy các ngân hàng hiện đại ngày nay luôn chú trọng vào chính sách khách hàng một cách thích đáng. Để phát triển hoạt động TTQT, ngân hàng cần phải thực hiện tôt chính sách khách hàng như: xem xét cơ chế tín dụng đối với khách hàng TTQT sử dụng lô hàng nhập khẩu làm tài sản đảm bảo, đây là một hình thức cho vay gặp nhiều rủi ro nhất là khi thị trường diễn biến không có lợi cho nhà nhập khẩu thì họ có thể bỏ lô hàng đó để không phải trả tiền. Tuy nhiên trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng thương mại như tình hình hiện nay, chi nhánh có thể triển khai hình thức cho vay cầm cố bằng hàng hoá khi các doanh nghiệp nhập khẩu thiếu vốn. Hoặc triển khai công tác chăm sóc khách hàng nhằm thoả mãn tâm lý, thể hiện sự quan tâm của ngân hàng đối với khách hàng. Bên cạnh những chính sách chung với toàn bộ khách hàng chi nhánh nên có những chính sách ưu đãi cụ thể với một số khách hàng để duy trì lượng khách hàng truyền thống này… 3.2.4. Phát triển bộ phận quản lí rủi ro. Bộ phận quản lý rủi ro là một bộ phận lưu trữ, khai thác, cung cấp thông tin về các rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Việt Nam. Bởi vậy cần phát triển hơn nữa bộ phận này với việc hoàn thiện mạng thông tin đầy đủ, rõ ràng, chính xác đối với hệ thống các ngân hàng thương mại khác và với các doanh nghiệp. Từ đó, ngân hàng có thể hướng dẫn và tư vấn trong lĩnh vực thanh toán quốc tế. Việc cung cấp thông tin này không chỉ hạn chế rủi ro mà còn đem lại cho ngân hàng nguồn thu từ phí dịch vụ, góp phần đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng. 3.2.5. Tình hình công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin là một yếu tố quan trọng nói lên khả năng cạnh tranh của một ngân hàng thương mại. Công nghệ thanh toán hiện đại là cơ sở để một ngân hàng nâng cao chất lượng dịch vụ phục vụ khách hàng, đa dạng hoá loại hình hoạt động. Với nền tảng công nghệ hiện đại ngân hàng sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí. Ngoài ra công nghệ thông tin còn giúp công tác quản lý thông tin, hồ sơ về khách hàng, hợp đồng tín dụng; đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng tiến hành một cách chính xác, kịp thời, an toàn hiệu quả. NHNo&PTNT Tây Hà Nội là một chi nhánh của NHNo&PTNT VN mới được thành lập nên có thuận lợi trong việc tiếp thu, rút kinh nghiệm từ những ngân hàng trước để lựa chọn và đầu tư một hệ thống công nghệ thông tin hiện đại đủ khả năng phát triển tất cả những dịch vụ của một ngân hàng hiện đại theo tiêu chuẩn quốc tế. Để đạt được điều đó, ngân hàng sẽ phải tốn một khoản chi phí đầu tư ban đầu khá lớn nhưng bù lại ngân hàng được sở hữu một hệ thống công nghệ thông tin hiện đại. Xét về lâu dài đầu tư ngay từ đầu sẽ có lợi hơn không chỉ tác động tới năng suất, chất lượng, thời gian, chi phí dịch vụ mà còn tạo ấn tượng tốt cho khách hàng về hình ảnh một ngân hàng hiện đại. 3.3. Một số kiến nghị. 3.3.1. Kiến nghị đối với NHNo&PTNT Tây Hà Nội. - Là một chi nhánh của NHNo&PTNT VN được thành lập và hoạt động trên địa bàn Hà Nội, nơi tập trung nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức có quan hệ kinh tế với nước ngoài có nhu cầu thanh toán quốc tế, vì vậy tuy mới thành lập nhưng chi nhánh cần thấy rõ tầm quan trọng của hoạt động kinh doanh này. Từ đó có chiến lược khai thác mảng dịch vụ này, chi nhánh cần chú trọng công tác huy động và sử dụng vốn trong TTQT sao cho có hiệu quả. Chi nhánh Tây Hà Nội cần đa dạng hoá các hình thức huy động vốn đi kèm với các hình thức marketing thích hợp, nâng cao chất lượng dịch vụ huy động vốn đặc biệt các chi nhánh cấp 2 và phòng giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng, tiếp tục mở rộng mạng lưới triển khai thêm các điểm giao dịch mới nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư và tổ chức kinh tế. Với vai trò là người cung cấp các dịch vụ trong hoạt động TTQT, thay mặt các khách hàng trong thu chi, ngân hàng phải nắm được khả năng tài chính của bạn hàng mà mình tham gia giao dịch. Trong kinh doanh, vốn là yếu tố rất quan trọng tuy nhiên trên thực tế cho thấy các doanh nghiệp “ma” kinh doanh với mục đích xấu nhằm rút vốn của bạn hàng hoặc ngân hàng. Do đó ngân hàng cần nắm chắc khả năng tài chính của doanh nghiệp để từ đó có chiến lược chi vay dài hạn hay không. Đặc biệt cần phải giám sát chặt chẽ đối với hoạt động TTQT, nhất là trong xu thế hội nhập hiện nay hoạt động thanh toán gặp nhiều rủi ro và phức tạp. Do đó yêu cầu thực hiện kiểm toán đối với hoạt động thanh toán cần được quan tâm đúng mức và thường xuyên hơn. Việc kiểm toán nhằm mục đích phát hiện các sai sót, sơ xuất trong thanh toán cũng như tìm ra các rủi ro tiềm ẩn. - Từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất cho chi nhánh, cần tăng cường đầu tư trang thiết bị đầy đủ hiện đại đáp ứng nhu cầu hiện đại hoá ngân hàng. Tiếp tục triển khai việc kết nối thanh toán điện tử với khách hàng, triển khai dịch vụ internet banking, dịch vụ ATM. - Tiếp tục đào tạo nhân sự cho hoạt động TTQT về trình độ nghiệp vụ cũng như ngoại ngữ tin học, nó liên quan tới chất lượng hoạt động TTQT. Chi nhánh có thể tự tổ chức các khoá huấn luyện hoặc cử cán bộ nhân viên đi học lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, tham gia hội thảo, hội nghị về TTQT, về thực hành nghiệp vụ ngoại thương …do các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế thực hiện. Những hoạt động này có tác dụng tạo cơ hội cọ sát thực tế, tăng thêm kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nghiệp vụ của các cán bộ nhân viên. Bên cạnh những yêu cầu về chuyên môn, những yêu cầu về phẩm chất đạo đức và tác phong làm việc hiệu quả cũng vô cùng quan trọng. Để đạt được yêu cầu đó ban lãnh đạo phải nghiên cứu đưa ra chính sách khen thưởng và kỷ luật thích đáng về thể chất và tinh thần để khuyến khích động viên tinh thần làm việc hăng say, đạt hiệu quả cao, tạo động lực phấn đấu cho cán bộ nhân viên. 3.3.2. Kiến nghị đối với NHNo&PTNT Việt Nam. - Dựa vào nội lực tận dụng ưu thế có sẵn về uy tín vai trò của NHNo trong nền kinh tế quốc dân để nâng cao hiệu quả cạnh tranh. Bên cạnh đó phải chú trọng tăng thực lực của ngân hàng bằng cách tăng nhanh vốn tự có của ngân hàng, tạo một nền tảng tài chính vững chắc cho mọi hoạt động trong đó có hoạt động TTQT. - Hoạt động tiếp thị thông tin tuyên truyền bao chí, quảng bá thương hiệu và văn hoá cần chú trọng hơn nữa nhằm góp phần phát triển dịch vụ ngân hàng, nâng cao giá trị thương hiệu trong nước và quốc tế. NHNo&PTNT cần đưa ra các giải pháp thông tin marketing nhẹ nhàng, dễ tiếp thu thông qua nhiều hình thức để củng cố khách hàng truyền thống và thu hút khách hàng tiềm năng. Ngân hàng cần thông qua đội ngũ thanh toán viên chuyên nghiệp để quảng cáo cho sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Ngoài ra NHNo&PTNT cần sử dụng đưa ra nhiều thông tin hơn nữa vào trang web điện tử của ngân hàng nhằm quảng cáo sản phẩm ra thị trường nước ngoài. Các chi nhánh, văn phòng đại diện của NHNo&PTNT ở các nước có nhiệm vụ cung cấp thông tin về sản phẩm mới của ngân hàng tại các nước sở tại. - Đẩy mạnh phát triển kỹ thuật công nghệ ngân hàng, áp dụng công nghệ tiên tiến đặc biệt là công nghệ thông tin vào quản lý kinh doanh của NHNo&PTNT nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, đảm bảo hoà nhập chung với sự phát triển của thế giới. NHNo&PTNT cần hoàn thiện chương trình phẩn mềm TTQT theo hướng đảm bảo mức độ tự động hoá, bảo mật cao, tính cập nhật tức thời. Hiện đại hoá công nghệ thông tin của ngân hàng phải thực hiện theo hệ thống mở để có thể hoà nhập vào mạng thanh toán của ngân hàng Nhà Nước và các ngân hàng trên thế giới. Hội sở chính của NHNo&PTNT nên tiếp tục hoàn chỉnh mạng diện rộng, kết nối trực tuyến với các mạng nội bộ của tất cả các chi nhánh, các phòng giao dịch trong toàn hệ thống NHNo&PTNT. Mạng SWIFT: đây là hệ thống mạng quốc tế hiện đang được sử dụng tại NHNo&PTNT, tuy nhiên trong khi vận hành hệ thống này còn mới mẻ đối với khách hàng. Vì vậy trong thời gian tới mạng SWIFT cần được nâng cấp và đảm bảo vận hành chính xác, kịp thời an toàn, phục vụ nhu cầu thanh toán với dung lượng lớn. - Để phát triển hoạt động TTQT, NHNo&PTNT giữ vững và thúc đẩy hơn nữa hoạt động đối ngoại, mở rộng quan hệ đại lý để tranh thủ vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước. Việc lựa chọn các ngân hàng đại lý, các đối tác nước ngoài phù hợp với từng lĩnh vực đối ngoại của từng khu vực để thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng nước ngoài có uy tín cao là rất quan trọng. Ngoài ra, ngân hàng phải tăng cường nghiên cứu trao đổi kinh nghiệm, nắm bắt nhanh nhạy các diễn biến về tài chính và tiền tệ trên thế giới nhằm cập nhật thông tin vốn để ứng và có đối sách kịp thời khi có biến động. Trong tình hình thế giới hiện nay, hầu hết các ngân hàng quốc tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy, NHNo&PTNT VN nên mở rộng quan hệ quốc tế song phương và đa phương, xây dựng và phát triển mối quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng trong khối ASEAN, ngân hàng các nước láng giềng đặc biệt là Trung Quốc. - NHNo&PTNT cần áp dụng một cách linh hoạt phù hợp trên cơ sở cân đối giữa chi phí, lợi nhuận, thị phần và các mục tiêu khác mà ngân hàng theo đuổi. Suy cho cùng đối với một doanh nghiệp mục đích cuối cùng là lợi nhuận và ngân hàng cũng hoạt động cũng không ngoài mục tiêu đó. Mức phí mà ngân hàng đưa ra phải phù hợp với từng đối tượng khách hàng, từng loại hình phục vụ, từng địa điểm cụ thể mà duy trì được quan hệ với khách hàng thường xuyên, vừa thu hút thêm khách hàng mới. Đối với nhóm khách hàng có uy tín giao dịch thường xuyên với giá trị lớn, sẽ được hưởng lãi suất vay nhỏ hơn, lãi suất tiền gửi cao hơn, mua bán ngoại tệ với giá ưu đãi, việc ký quỹ mở L/C được ưu tiên hơn, giảm phí dịch vụ, thực hiện tức thì mọi yêu cầu. Đối với nhóm khách hàng thanh toán xuất nhập khẩu qua ngân hàng thì được hưởng phí dich vụ rẻ và ưu đãi khác. 3.3.3 Kiến nghị đối với ngân hàng Nhà Nước. - Hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế. Hoạt động kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh có mức độ rủi ro cao. Vì vậy hoạt động này đòi hỏi sự hoàn thiện về môi trường pháp lý để từng bước thực hiện khả năng chuyển đổi của đồng VN trong các hoạt động ngoại hối và hoàn thiện hệ thống quản lý ngoại hối của VN. Kể từ khi luật ngân hàng Nhà Nước VN và tổ chức tín dụng được quốc hội thông qua về quản lý ngoại hối đã giúp các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp thuận lợi hơn trong hoạt động ngoại hối. Tuy nhiên quá trình thực hiện còn bộc lộ một số khiếm khuyết cần bổ sung và hoàn chỉnh. Vì vậy đòi hỏi cấp bách cho ra đời một số quyết định và định hướng về một số nghiệp vụ như L/C chuyển nhượng, L/C giáp lưng, phát hành bảo lãnh theo yêu cầu của ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng Nhà Nước cần đưa ra biện pháp mạnh mẽ hơn, quy chế pháp lý phù hợp nhằm quản lý lượng tiền mặt trong lưu thông. Nâng cao khả năng điều tiết kiểm soát thị trường tiền tệ, đặc biệt là các luồng tiền trong nền kinh tế, lãi suất và tỷ giá còn nhiều bất cập, từ đó hạn chế lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường. Bên cạnh đó tổ chức bộ máy của ngân hàng Nhà Nước còn cồng kênh, kém hiệu quả, năng lực trình độ của cán bộ còn nhiều bất cập so với yêu cầu đổi mới và phát triển hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Do đó ban lãnh đạo cần loại bỏ những người không có năng lực, trình độ kém ra khỏi ngân hàng ưu tiên cho những người có năng lực tạo diều kiện cho họ đi học tập và nghiên cứu ở các nước phát triển từ đó làm nền tảng cho những bước phát triển tiếp theo của ngân hàng. Đó là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai đồng bộ những giải pháp nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và của hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng. - Phát triển thị trường mua bán ngoại tệ liên ngân hàng. Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là thị trường nhằm giải quyết các mối quan hệ trao đổi, cung cấp ngoại tệ giữa ngân hàng Nhà Nước với ngân hàng thương mại với nhau. Vì vậy để các ngân hàng thương mại mở rộng được các quan hệ TTQT phục vụ tốt cho xuất nhập khẩu hàng hoá thì việc phát triển thị trường ngoại tệ liên ngân hàng là hết sức quan trọng; đa dạng hoá việc mua bán ngoại tệ, các phương tiện TTQT, phát triển nghiệp vụ vay mượn ngoại tệ, gửi qua đêm, khai thác quyền mua bán ngoại tệ trên thị trường liên ngân hàng như spot, forward đặc biệt là các hình thức quyền mua ngoại tệ (option) và trao đổi ngoại tệ (swap). Ngân hàng Nhà Nước cần phải tham gia một cách tích cực vào thị trường với tư cách là người kiểm tra, kiểm soát điều tiết thị trường trên cơ sở đó thực thi chính sách về tỷ giá, tiền tệ. Trong điều kiện hiện nay khi tỷ giá chưa thực sự phát huy vai trò điều tiết cung cầu ngoại tệ thì ngân hàng Nhà Nước phải có chính sách một cách hợp lý trong việc hướng dẫn mua bán ngoại tệ trên thị trường thông qua tư cách là người mua bán cuối cùng. - Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng theo hướng hoà nhập với cộng đồng thế giới. Nhà nước ta thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế và chiến lược hoà nhập với cộng đồng thế giới vì mục tiêu phát triển kinh tế đối ngoại của VN trong thiên niên kỷ mới, nhiệm vụ hiện đại hoá công nghệ ngân hàng sẽ tập trung giải quyết hai vấn đề: Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống vi tính đồng bộ và hoàn chỉnh quy trình thủ tục thanh toán thông qua mạng internet. Thứ hai, tiếp tục cải thiện và nâng cao trình độ tự động hoá cũng như quy trình công nghệ ngân hàng là một trong những điều kiện thực hiện tốt chủ trương quản lý vốn tập trung, qua đó các ngân hàng thương mại VN có thể đáp ứng được yêu cầu thanh toán qua hệ thống thông tin tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT). Mô hình thanh toán và quản lý ngân hàng phải được trau dồi, đổi mới phù hợp với yêu cầu tự động hoá tập trung. Kỹ thuật tin học nói chung và hệ thống máy tính nói riêng đang xâm nhập mạnh mẽ vào hoạt động các ngân hàng đặc biệt là hoạt động TTQT. Hoà nhập vào cộng đồng thế giới trong lĩnh vực TTQT một cách mạnh mẽ. Tăng cường sự hoà nhập của hệ thống ngân hàng VN vào thị trường chung thế giới thông qua việc tham gia vào tổ chức thanh toán, tiền tệ, tín dụng và tài chính quốc tế. Ngân hàng Nhà Nước là đầu tầu giúp các ngân hàng thương mại tham gia vào tổ chức tín dụng có uy tín trên thế giới để phát triển nghiệp vụ TTQT. Nhờ đó nghiệp vụ đại lý thanh toán các loại thẻ tín dụng quốc tế được mở rộng, lượng khách dùng thẻ ngày càng nhiều, tạo cơ hội cho sự hoàn thiện cũng như hiện đại hoá các nghiệp vụ ngân hàng. KẾT LUẬN Với xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá, trong suốt chặng đường 50 năm qua, hoạt động TTQT của Việt Nam đã góp phần đãng kể cho việc thực hiện các đường lối chính sách kinh tế đối ngoại và sự nghiệp phát triển kinh tế quốc dân mà Đảng và Nhà Nước đã đề ra. Hoạt động TTQT là nghiệp vụ chủ yếu và không thể tách rời toàn bộ hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt trong lĩnh vực ngoại thương đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài và ở mỗi thời kỳ đều có những thành công và hạn chế nhất định. Việt Nam đang trong xu thế chung của thời đại hội nhập với các nước để cùng nhau phát triển. Các hoạt động kinh tế quốc tế trên thị trường tự do vẫn còn mới mẻ so với kinh tế nước ta. Chính vì vậy hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT là một tất yếu đối với các ngân hàng thương mại nói chung và của chi nhánh Tây Hà Nội nói riêng. Bởi vậy, không chỉ hoàn thiện và phát triển nâng cao giá trị sản phẩm dịch vụ mà còn là thái độ phục vụ của cán bộ nhân viên để tạo sự thiện cảm với tất cả đối tượng khách hàng mang đến sự tin cậy cho họ. Tất cả đều hướng tới mục tiêu chung: đưa chi nhánh ngày càng phát triển, cung cấp sản phẩm dịch vụ đồng bộ, đa dạng và có tính cạnh tranh cao cho các doanh nghiệp và cá nhân, đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế nước nhà, và cuối cùng đưa chi nhánh đạt tới độ tin cậy cao, chất lượng hiệu quả. TÀI LIỆU THAM KHẢO Quy tắc thực hành thống nhất tín dụng chứng từ UCP – 500. Giáo trình Thanh Toán Quốc Tế trong ngoại thương – PGS.PTS Đinh Xuân Trình – NXB Giáo Dục. Giáo trình Nghiệp vụ Thanh Toán Quốc Tế - PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo – NXB Lao Động Xã Hội - Đại Học Kinh Tế Quốc Dân. Báo cáo kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Tây Hà Nội. Báo cáo thường niên của NHNo&PTNT Tây Hà Nội qua các năm 2003 – 2006. Tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ thanh toán quốc tế của NHNo&PTNT. Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng – GS.TS Lê Văn Tư – NXB Thống kê. Một số thông tin trên Internet. MỤC LỤC DANH MỤC BẨNG, BIỂU 1. BẢNG Bảng 1: Tình hình huy động vốn của chi nhánh từ năm 2003 – 2006. 31 Bảng 2: Tình hình sử dụng vốn của chi nhánh (2003 – 2006). 33 Bảng 3: Kết quả kinh doanh của chi nhánh (2003 – 2006). 35 Bảng 4: Doanh thu của phương thức chuyển tiền (2004 – 2006). 38 Bảng 5: Doanh thu của phương thức nhờ thu (2004 – 2006). 39 Bảng 6: Doanh số mở L/C nhập khẩu. 41 Bảng 7: Doanh số L/C thông báo xuất khẩu. 43 Bảng 8: Kết quả của hoạt động TTQT (2004 – 2006). 47 Bảng 9: Tổng phí dịch vụ của hoạt động TTQT (2004 – 2006). 48 2. BIỂU Biểu đồ 2.1: Cơ cấu nguồn huy động từ năm 2003 – 2006. 31 Biểu đồ 2.2: Cơ cấu tổng dư nợ 2003 – 2006. 33 Biểu đồ 2.3: Tổng thu qua các năm 2003 - 2006. 35 Biểu đồ 2.5: Doanh thu phương thức mở L/C từ năm 2004 - 2006. 41 Biểu đồ 2.6: Doanh số L/C thông báo từ năm 2004 – 2006. 44 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. Hà Nội, ngày tháng năm 2007 GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCD TToan QTe.doc
Tài liệu liên quan