Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở thái nguyên (giai đoạn 1997 - 2007)

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở THÁI NGUYÊN (GIAI ĐOẠN 1997 - 2007) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố. MỤC LỤC MỤC LỤC Trang DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, MÔ HÌNH MỞ ĐẦU 01 Chương 1. THỰC TRẠNG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THÁI NGUYÊN TRưỚC KHI TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 06 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thái Nguyên 06 1.2 Thực trạng nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên (1986 - 1996) 12 Chương 2. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THÁI NGUYÊN (1997 - 2007) 2.1 Một số vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 2.2 Chủ trương chính sách của trung ương và của tỉnh Thái Nguyên về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn 2.3 Quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Thái Nguyên (giai đoạn 1997 - 2007) 24 24 34 38 Chương 3. KẾT QUẢ, Ý NGHĨA CỦA QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THÁI 66 NGUYÊN 3.1 Kết quả của quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Thái Nguyên 3.2 Ý nghĩa của quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Thái Nguyên 66 75 KẾT LUẬN 78 DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO 85 1. Lý do chọn đề tài Công nghiệp hóa nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng là một quá trình tất yếu để chuyển từ một nền nông nghiệp lạc hậu thành một nền công nghiệp hiện đại. Ở nhiều quốc gia trên thế giới quá trình này đã diễn ra và một số nước gặt hái được thành công. Mấy thập kỷ gần đây, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở những nước công nghiệp mới (NICs) cũng được bàn luận, khái quát thành kinh nghiệm và mô hình công nghiệp hóa khác nhau. Ở Việt Nam, vấn đề công nghiệp hóa, trong đó có việc đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra từ những năm 60 của thế kỷ trước, tuy đã đạt một số thành tựu đáng kể nhất là những năm đổi mới vừa qua, nhưng đến nay nông nghiệp, nông thôn vẫn là khu vực còn nhiều khó khăn, trở ngại. Bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, giữ vị trí quan trọng trong toàn bộ tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra là cần phải phân tích sâu sắc thực trạng kinh tế nông nghiệp, nông thôn và từ đó đề ra các giải pháp để đẩy nhanh quá trình này trong giai đoạn tới. Thái Nguyên là một tỉnh thuộc trung du miền núi Bắc Bộ, liền kề với thủ đô Hà Nội. Trong những năm đổi mới vừa qua, cùng với những chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp và nông thôn, tỉnh Thái Nguyên đã có những chủ trương, chính sách và biện pháp tác động thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và mang lại những thành tựu quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn tỉnh Thái Nguyên vẫn bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập về cơ chế chính sách và những giải pháp hữu hiệu cần phải được quan tâm giải quyết. Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề ra chủ trương, chính sách và những giải pháp cho quá trình đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tôi đã lựa chọn đề tài: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Thái Nguyên (giai đoạn 1997 - 2007)” làm luận văn thạc sĩ của mình.

pdf97 trang | Chia sẻ: thanhnguyen | Ngày: 12/10/2013 | Lượt xem: 441 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở thái nguyên (giai đoạn 1997 - 2007), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
2007. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 31,1% năm 2000 xuống còn 5% năm 2007. Đầu tư cơ sở vật chất cho sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao ở cơ sở từng bước được tăng cường, hầu hết các thôn làng có nhà văn hóa. Toàn tỉnh có 68% số làng đạt danh hiệu làng văn hóa. Mạng lưới truyền thanh nông thôn được đầu tư, cơ sở vật chất phục vụ công tác tuyên truyền giáo dục, đài phát thanh - truyền hình tỉnh phủ sóng đến tất cả địa bàn trên toàn tỉnh. Công tác xóa đói, giảm nghèo là thành tựu nổi bật nhất, đạt kết quả tích cực. Tỷ lệ nghèo giảm nhanh từ 26,85% năm 2005, 23,74% năm 2006 xuống còn 20,65% vào năm 2007 (theo tiêu chí mới). Toàn tỉnh không còn hộ có nhà xiêu vẹo, dột nát, tranh tre, nứa, lá. Giải quyết việc làm là một trong những vấn đề xã hội bức xúc, là mối quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội. Đây còn là yếu tố quyết định đến thu nhập của mỗi hộ gia đình và sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. 10 năm qua, bình quân mỗi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 64 năm Thái Nguyên đã giải quyết được việc làm cho 14 nghìn lao động vượt 16,7% so mục tiêu đề ra. Năm 2004 có 16 nghìn lao động, năm 2007 có 18 nghìn lao động có thêm việc làm và việc làm mới. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị từ 4,9% năm 2003 xuống còn 4,23% năm 2004 và 4,0% năm 2007. Hệ số sử dụng thời gian lao động của khu vực nông thôn từ 70,8% năm 2000 lên 81,38% năm 2007. Công tác xuất khẩu lao động có cố gắng, hàng năm xuất khẩu lao động từ 2000 đến 2500 người. Các trung tâm dịch vụ việc làm tích cực giới thiệu tư vấn, đào tạo lao động cung cấp cho các doanh nghiệp. Các ngân hàng chuyên doanh trên địa bàn tỉnh đã huy động nhiều nguồn vốn cho vay để mở rộng sản xuất, phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, hình thành thêm cơ sở dạy nghề, bước đầu tổ chức tốt hội chợ việc làm ở trung tâm tỉnh và một số huyện. Đời sống nông dân Thái Nguyên không ngừng cải thiện. 10 năm qua, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp liên tục phát triển với tốc độ khá cao trên 5%/năm, các ngành công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn tăng khá tạo điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn. Đời sống nông dân ở phần lớn các vùng nông thôn được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân tăng từ 1,6 triệu đồng năm 1997 lên 2,4 triệu đồng năm 2003 và 3,1 triệu đồng/người năm 2007 (xếp thứ 3 trong vùng). Điều kiện ăn, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh đựoc cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn từ 26,85% năm 2005, 23,74 năm 2006 xuống còn 20,65% năm 2007. Nhiều làng, xã đã trở thành làng văn hóa, kinh tế phát triển, văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc được phục hồi và phát triển; trình độ dân trí được nâng lên. 2.3.4.5. Tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh Ngay sau khi tái lập, tỉnh đã dành phần lớn số vốn cho việc đầu tư phát triển thành phố Thái Nguyên, đồng thời tỉnh có chủ trương quy hoạch các thị xã, thị trấn, thị tứ và thực hiện đầu tư theo quy hoạch. Trong quy hoạch đã chú trọng đến phát triển công nghiệp, các khu đô thị mới, khu dân cư, hình thành các thị trấn, thị tứ mới. Đồng thời quan tâm đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội nông nghiệp, nông thôn một cách đồng bộ. Thành phố Thái Nguyên đã được công nhận là đô thị loại II, tiến tới đề nghị công nhận đô thị loại I. Thị xã Sông Công đang trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 65 quá trình xây dựng và phát triển đề nghị lên đô thị loại III. Các thị trấn trong tỉnh đang được quy hoạch mở rộng, chất lượng đô thị đã được nâng lên một bước. Quá trình đô thị hóa diễn ra khá nhanh ở nhiều vùng dân cư nông thôn, các khu vực ven đường quốc lộ, tỉnh lộ, các vùng nông thôn có nền kinh tế phát triển. Như vậy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên những năm 1997 - 2007 đã và đang tạo ra sự tăng trưởng cao những chuyển biến tích cực trong ngành kinh tế nông nghiệp cũng như bộ mặt nông thôn Thái Nguyên. Việc đánh giá đúng mức những thành tựu, ưu diểm và thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Thái Nguyên sẽ giúp chúng ta có được bài học kinh nghiệm và hệ thống giải pháp phù hợp để đẩy nhanh hơn nữa sự nghiệp này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 66 Chƣơng 3 KẾT QUẢ, Ý NGHĨA CỦA QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THÁI NGUYÊN (1997 - 2007) Những kết quả đạt được trong việc tổ chức thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và của tỉnh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên những năm qua, có thể nhận thấy rằng, cùng với thành tựu 20 năm đổi mới của đất nước, tỉnh Thái Nguyên bước vào chặng đường đầu thực hiện đường lối đổi mới và đã đạt được những thành tựu quan trọng, tạo tiền đề để chuẩn bị cho giai đoạn sau phát triển tích cực hơn để đẩy nhanh tiến trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, công nghiệp hóa. 3.1. Kết quả của quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Thái Nguyên Trước hết, thực hiện Nghị quyết chuyên đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp nông thôn của Tỉnh ủy và UBND tỉnh trong việc tập trung thực hiện các chương trình kinh tế kỹ thuật có mục tiêu, các dự án trọng điểm trong nông, lâm nghiệp mà tỉnh đề ra như chương trình lương thực, chương trình cây ăn quả, chương trình chăn nuôi, chương trình bảo về vật nuôi, cây trồng, chương trình trồng rừng, chương trình kiên cố hóa kênh mương, chương trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, chương trình định canh, định cư, chương trình 135…đã làm cho sản xuất nông, lâm nghiệp phát triển khá, tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành trong những năm qua đạt 7,6%/năm về giá trị sản xuất. Đây là tốc độ tăng trưởng khá, cao hơn mức bình quân của cả nước, sự tăng trưởng như trên đã làm tăng giá trị sản xuất của ngành trên một nhân khẩu nông nghiệp bình quân từ 1,6 triệu dồng (năm 1997) lên 2,4 triệu đồng (năm 2003) 3,1 triệu đồng (năm 2007) tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh trong 10 năm qua vượt xa tốc độ tăng trưởng trong những năm trước đó, đạt trên 10%, nhất là giai đoạn 2001 - 2007 đạt bình quân 12 - 13%. Tốc độ tăng trưởng này thể hiện nỗ lực to lớn của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh, điều đó có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc trên con đường đổi mới và đẩy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 67 mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hai là, cơ cấu sản xuất nông - lâm nghiệp chuyển dịch theo hướng đẩy mạnh sản xuất các loại nông sản hàng hóa thị trường có nhu cầu và có giá trị kinh tế cao giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, lâm nghiệp, tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi, đây là xu thế chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng tích cực, tiến bộ. Trong ngành trồng trọt, tỷ trọng nhóm cây lương thực giảm, tăng nhanh tỷ trọng nhóm cây công nghiệp, cây rau, hoa quả. Sự chuyển dịch cơ cấu như vậy là phù hợp với xu thế chung của cả nước và khai thác được lợi thế so sánh của tỉnh, bước đầu đã hình thành hình thành bước đầu một số vùng sản xuất hàng hóa tập trung: vùng thâm canh lúa hàng hóa, vùng sản xuất ngô hàng hóa, vùng sản xuất chè đặc sản, vùng nhãn, vùng vải, vùng sản xuất thuốc lá, vùng sản xuất rau và trồng hoa. Trong ngành chăn nuôi đã khai thác được lợi thế của tỉnh đã phát triển chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà công nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, do đó tỷ trọng giá trị sản phẩm chăn nuôi gia súc gia cầm tăng nhanh. Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng trưởng liên tục và đạt mức cao. Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn ở Thái Nguyên đã diễn ra trên diện rộng và trong nhiều lĩnh vực, như chuyển dịch giữa trồng trọt và chăn nuôi, chuyển dịch mùa vụ, chuyển đổi cây trồng, chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi, chuyển dịch sử dụng đất có hiệu quả. Chính có sự đa dạng trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn đã giúp cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh đạt kết quả cao như đã trình bày ở trên. Kết quả phát triển kinh tế trang trại của tỉnh đã khẳng định bước đi đúng đắn và khai thác được lợi thế so sánh trong phát triển nông nghiệp của tỉnh. Thông qua phát triển kinh tế trang trại đã góp phần tạo ra những vùng sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập cho một bộ phận hộ gia đình. Ba là, hơn 10 năm qua, do huy động nhiều nguồn lực, tỉnh đã đẩy mạnh quá trình ứng dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ trong nhiều lĩnh vực trong đó có nông nghiệp, nông thôn. Số lượng máy móc nông nghiệp được trang bị cho nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 68 dân ngày càng tăng, nhất là các khâu: thuỷ lợi, làm đất, tuốt lúa, xay xát, vận tải... nhiều công việc trong sản xuất được cơ giới hóa, giảm nhẹ cường độ và thời gian lao động cho nông dân. Do đó, người dân có điều kiện để mở mang ngành nghề, phát triển các hoạt động kinh tế khác ngoài nông nghiệp. Trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động trong các ngành kinh tế ở nông thôn đã được nâng cao. Đặc biệt việc ứng dụng công nghệ sinh học, hóa học ngày càng rộng rãi. Nhiều loại giống mới có năng suất, chất lượng và chống chịu được thời tiết khắc nghiệt được triển khai trên diện rộng, đồng thời tạo điều kiện luân canh, xen canh, tăng vụ, và do đó đạt được mức tăng nhanh về năng suất, sản lượng về giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích. Việc ứng dụng công nghệ trong các đơn vị sản xuất kinh doanh trong nông thôn, trong các làng nghề cũng được người dân tiếp thu, thực hiện vì vậy cũng tạo ra được sự đột phá về năng suất lao động. Bốn là, quan hệ sản xuất trong nông thôn Thái Nguyên được củng cố, có chuyển biến theo hướng xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa với nhiều thành phần kinh tế tham gia, trong đó kinh tế hộ, kinh tế trang trại cùng với kinh tế hợp tác xã đang từng bước đi vào hoạt động theo hướng ngày càng có hiệu quả. Hợp tác xã hoạt động theo luật tăng lên, đảm nhận những công việc dịch vụ đầu vào, đầu ra và hỗ trợ tích cực cho kinh tế hộ nông dân. Kinh tế nhà nước tiếp tục được tổ chức, sắp xếp lại theo hướng chỉ tồn tại những khâu, những việc mà các thành phần kinh tế khác không làm được. Sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh ở nông thôn Thái Nguyên đã cho phép khai thác và phát huy được các tiềm năng, lợi thế của địa phương để tăng trưởng và phát triển kinh tế. Năm là, hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống trạm trại kỹ thuật phục vụ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và xây dựng nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được đầu tư đúng mức: hệ thống giao thông nông thôn đảm bảo điều kiện giao lưu, vận chuyển hàng hóa nông, lâm sản. Hệ thống công trình thủy lợi đã đảm bảo tưới cho 25.000 ha lúa vụ đông xuân, 34.000 ha lúa vụ mùa, 16.500 ha hoa màu và trên 2.500 ha chè vụ đông. Hệ thống cung cấp nước sạch, điện nông thôn cũng ngày càng được mở rộng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của cư dân, ngành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 69 nghề nông thôn, cơ giới hóa trong nông, lâm nghiệp ngày càng phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu của Thái Nguyên so sánh với cả nƣớc năm 2007 Chỉ tiêu Đơn vị Thái Nguyên Cả nƣớc 1. Tốc độ tăng trưởng GDP % 12,46 8,4 2. Cơ cấu GDP (theo giá hiện hành) % 100 100 - Nông nghiệp % 24,72 20,7 - Công nghiệp xây dựng % 38,76 41,1 - Dịch vụ % 36,52 38,5 3. GDP bình quân/người Tr.đồng 8,36 10,1 4. Kim ngạch xuất khẩu/người USD 53.023 304,6 5. Tỷ lệ dân thành thị % 13 26,3 6. Tỷ lệ lao động qua đào tạo % 28 26 7. Tỷ lệ hộ đói nghèo % 20,65% 7,0 8. Bác sỹ/vạn dân bác sĩ 7,6 5,8 9. Giường bệnh/vạn dân giường 30,8 12,5 Nguồn: niên giám thống kê Thái Nguyên Công cuộc xóa đói, giảm nghèo đạt được kết quả tích cực. Hàng vạn việc làm mới tạo ra đã làm giảm bớt sự căng thẳng, bức xúc trong nông thôn; thu nhập và đời sống của dân cư ngày càng được nâng lên; dân chủ hóa ở nông thôn được quan tâm, mở rộng; bộ mặt nông thôn có sự thay đổi rõ rệt. Nguyên nhân của những thành tựu đã đạt được Có nhận thức đúng đắn, vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 70 nông thôn của các cấp, các ngành mà trước hết là Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh; đồng thời đề cao công tác tuyên truyền vận động nhân dân, được nhân dân hưởng ứng đồng tình ủng hộ và thực hiện theo chủ trương, đường lối đó. Tỉnh đã xây dựng được quy hoạch, kế hoạch, mục tiêu, giải pháp sát với tình hình thực tế của địa phương, của từng vùng trong từng thời gian và cả thời kỳ có tính chiến lược lâu dài, đồng thời tổ chức chỉ đạo thực hiện nghiêm túc quy hoạch, kế hoạch, bám sát mục tiêu đã đề ra. Trong quá trình thực hiện, trong từng thời gian có sự bổ sung sát với tình hình thực tế. Đã phát huy được lợi thế, tiềm năng của tỉnh, nội lực của các thành phần kinh tế của toàn xã hội cho đầu tư phát triển, hướng tới mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững. Có sự quan tâm, ủng hộ, sự chỉ đạo giúp đỡ của các bộ ngành Trung ương; sự đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước vào địa bàn trong suốt quá trình xây dựng và phát triển những năm qua. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được là rất quan trọng, song trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thì nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Nguyên còn những hạn chế, nhược điểm và khó khăn cơ bản sau đây. Tiềm năng kinh tế nông nghiệp của tỉnh chưa được khai thác đầy đủ và hiệu quả, quy mô còn nhỏ bé, chất lượng hiệu quả, tính bền vững còn thấp. Nông nghiệp vẫn chưa thoát khỏi tình trạng phân tán, manh mún, lạc hậu, không ổn định và không đồng đều giữa các vùng trong tỉnh. Sản xuất hàng hóa còn đơn lẻ, vùng sản xuất hàng hóa tập trung có chất lượng và phục vụ cho chế biến và xuất khẩu còn ít. Tuy cơ cấu nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Thái Nguyên đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tiến bộ, song ở nhiều nơi chuyển dịch chậm, chưa rõ nét, thiếu bền vững, chưa gắn với thị trường. Tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong tổng sản phẩm ở một số địa phương còn thấp. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động nông thôn chủ yếu vẫn là thuần nông. Giá trị sản xuất nông nghiệp còn chiếm trên 90%, giá trị sản xuất lâm nghiệp, thủy sản, tiểu thủ công nghiệp, ngành Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 71 nghề nông thôn còn chiếm tỷ trọng thấp. Trong sản xuất nông nghiệp, giá trị sản xuất của các nhóm cây trồng mang tính hàng hóa cao hiện còn ít, tỷ trọng giá trị sản phẩm cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả trong 3 năm có xu thế giảm. Chưa đạt mục tiêu đưa chăn nuôi trở thành ngành chính trong nông nghiệp. Các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao phát triển chưa nhiều, sự chuyển dịch diện tích đất nông nghiệp hiệu quả kém sang trồng cây, nuôi con có hiệu quả cao diễn ra còn chậm, do đó giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp còn thấp: năm 2007 mới chỉ đạt bình quân 21 triệu đồng/ha. Dịch vụ nông, lâm nghiệp, thủy sản tuy đã phát triển nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất nhất là khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Trong những năm qua, cơ cấu ngành dịch vụ có sự dịch chuyển theo hướng giảm dần tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp, tăng tỷ trong dịch vụ lâm nghiệp, thủy sản, song hiện nay dịch vụ nông nghiệp vẫn chiếm hơn 90%. Sản xuất nông nghiệp tuy phát triển tương đối toàn diện, song tốc độ chuyển dịch cơ cấu nội ngành nông nghiệp chưa rõ nét và thiếu bền vững. Giá trị ngành trồng trọt trong tổng giá trị nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao, các cây công nghiệp, cây ăn quả và cây thực phẩm chưa đạt sự phát triển tương xứng vị trí của nó. Tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp còn thấp, đạt 28,4% năm 2000 và 39,4% năm 2007. Giá trị thu được trên một ha đất canh tác còn thấp so với tiềm năng và không đạt kế hoạch, đạt 21 triệu đồng/năm, trong khi một số tỉnh có điều kiện như Thái Nguyên đạt từ 50 - 55 triệu đồng/ha. Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch và hướng dẫn chặt chẽ nên hiệu quả chưa cao và không bền vững. Tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn. Trình độ khoa học - công nghệ trong nhiều lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp còn thấp, nên năng suất, chất lượng nhiều loại nông sản hàng hóa còn hạn chế. Việc ứng dụng công nghệ cao để xây dựng nền nông nghiệp sạch, nông nghiệp ven đô mới dừng lại ở mô hình, chưa ứng dụng được ở diện rộng do quá trình triển khai còn lúng túng, khó khăn. Tác động của công nghiệp vào nông nghiệp và kinh tế nông thôn chưa rõ nét. Số lượng máy móc nông nghiệp chủ yếu trang bị tính bình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 72 quân trên một đơn vị diện tích canh tác còn ít, vì vậy tỷ lệ cơ giới hóa các khâu sản xuất nông nghiệp còn thấp, đặc biệt cơ giới hóa các khâu cấy, gặt đến nay gần như chưa đưa được vào đồng ruộng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Quy mô của các đơn vị sản xuất hầu hết là nhỏ và quá nhỏ, sản phẩm hàng hóa nhất là hàng tiêu dùng và xuất khẩu đơn điệu, còn mang nặng yếu tố truyền thống, ít có sản phẩm hàng hoá công nghệ cao, bên cạnh đó thị trường hạn hẹp, khả năng cạnh tranh thấp. Nhiều cơ sở công nghiệp chế biến lạc hậu về công nghệ, đơn điệu về sản phẩm, chủ yếu là sơ chế, giá trị gia tăng thấp và chưa gắn kết chặt chẽ với vùng nguyên liệu. Các ngành công nghiệp có thế mạnh về thu hút lao động, nguyên liệu tại chỗ như dệt may, da giày, đồ gia dụng, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn ít ở nông thôn Thái Nguyên. Ngành nghề nông thôn ở một số nơi phát triển còn mang yếu tố tự phát, công nghệ lạc hậu. Mô hình cụm công nghiệp làng nghề được triển khai và bước đầu đạt kết quả, song công tác tổ chức quản lý, vấn đề thị trường, thương hiệu sản phẩm còn có hạn chế. Các làng nghề còn ít, sự lan tỏa (cấy nghề) còn chậm chạp, khả năng tiếp cận thị trường trong và ngoài nước chưa mạnh, trình độ quản lý còn hạn chế, chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh còn thấp. Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng nhất là trong các khu, cụm công nghiệp, ở những nơi mới phát triển ngành nghề thủ công nghiệp đã gây nên ô nhiễm nặng ở mức cao như môi trường không khí, nguồn nước. Tiếng ồn, các loại chất thải rắn, lỏng và khí là những tác nhân gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường. Tình trạng lạm dụng các chế phẩm hóa học trong sản xuất nông nghiệp đã và sẽ gây tác hại to lớn đối với cả người sản xuất, người tiêu dùng và môi trường sinh thái. Các đơn vị kinh tế nhà nước chưa phát huy được chức năng là trung tâm kinh tế, khoa học - kỹ thuật, giải quyết đầu vào và đầu ra cho kinh tế hộ. Chủ trương “dồn điền, đổi thửa” giữa các hộ nông dân diễn ra chậm, kinh tế hộ và kinh tế trang trại quy mô nhỏ, hoạt động phân tán, vẫn còn mang tính tự phát. Các điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài rất có lợi thế nhưng chưa được khai thác tốt, do dó số lượng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 73 các dự án nước ngoài đầu tư vào tỉnh còn ít, đóng góp ngân sách tỉnh còn thấp. Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, có mặt còn nhiều yếu kém. Là một trong những tỉnh có mạng lưới giao thông nông thôn phát triển, tuy nhiên hệ thống giao thông này chưa được quy hoạch một cách chi tiết, chưa gắn liền với yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn trong vòng từ 10 đến 20 năm sau, chưa gắn kết đồng bộ với các tỉnh trong vùng theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa. Do đó, chất lượng đường giao thông, nhất là giao thông nông thôn còn thấp. Vấn đề nước sạch mới tập trung ở các đô thị, còn vùng nông thôn rộng lớn chậm được giải quyết. Hệ thống chợ nông thôn đã được đầu tư, mở mang nhưng phân bố không đều, sản phẩm nông nghiệp thiếu đa dạng, phong phú; văn minh thương mại còn xa lạ đối với hầu hết chợ nông thôn; vệ sinh an toàn thực phẩm chưa đảm bảo. Đô thị hóa nhiều tự phát, nhà cửa chia lô theo kiểu đô thị. Quy hoạch đô thị nông thôn làm chậm, chưa dựa trên nền tảng phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, tổ chức đô thị còn nhiều yếu kém, bộ mặt làng quê truyền thống biến dạng, những yếu tố bản sắc văn hóa và truyền thống tốt đẹp ở nông thôn chưa thực sự được quan tâm bảo tồn và phát triển. Tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp ở không ít vùng nông thôn trong tỉnh đang là vấn đề bức xúc. Sự tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào nông nghiệp và nông thôn còn hạn chế. Đời sống văn hóa một số nơi chậm được cải thiện. Số hộ nghèo trong tỉnh còn nhiều mà tập trung ở khu vực nông thôn. Khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị ngày càng chênh lệch lớn. Chất lượng nguồn nhân lực của Thái Nguyên tuy vào loại cao so với các tỉnh trong vùng song nếu xét theo kỹ năng nghề nghiệp theo yêu cầu của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện kinh tế thị trường thì chất lượng lao động ở đây còn có vấn đề cần quan tâm hơn nữa. Bên cạnh đó, tính nhạy bén, linh hoạt theo yêu cầu của cơ chế thị trường cũng rất thấp. Ở Thái Nguyên những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật phần lớn lại tập trung ở các đô thị, các ngành trên tỉnh, huyện còn ở nông thôn rất ít và có nơi hầu như không có. Thực hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 74 chủ trương xã hội hóa y tế, giáo dục bên cạnh mặt tích cực thì cũng làm cho đời sống của bộ phận dân cư nông thôn vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Do trong một thời gian dài, việc chỉ đạo điều hành nền kinh tế nông thôn ở Thái Nguyên mới tập trung vào phát triển sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, còn các lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn chưa được chú ý, nền kinh tế nông thôn của tỉnh hiện nay sản xuất trồng trọt, chăn nuôi chiếm tỷ trọng chưa cao. Những hạn chế, yếu kém trên đang là lực cản lớn đối với phát triển kinh tế - xã hội cũng như đẩy nhanh hơn nữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên. Những nhược điểm này đang được khắc phục, song cần phải có nhiều thời gian. Nguyên nhân của những hạn chế Ngoài những nguyên nhân như: kinh tế của tỉnh có điểm xuất phát thấp, hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn còn yếu kém, thiên tai, dịch bệnh bất trắc xảy ra, giá cả thị trường luôn biến động…thì chủ yếu là do những nguyên nhân chính sau đây: Thứ nhất, cơ chế thị trường và thị trường chậm phát triển ở vùng nông thôn Thái Nguyên. Thứ hai, sự phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh còn thiếu một quy hoạch tổng thể cũng như quy hoạch cụ thể vừa có tính thời hạn vừa có tính chiến lược trong sự phát triển chung của tỉnh và của vùng. Thứ ba, các chính sách, quy định của tỉnh đã ban hành trong những năm qua tuy đã có tác dụng thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển, song chưa đủ mạnh để khai thác hết tiềm năng nội lực cũng như ngoại lực. Thứ tư: tình trạng thiếu vốn còn khá phổ biến, cơ chế huy động vốn cho nông nghiệp, nông thôn còn nhiều điểm bất cập. Để giải quyết khó khăn này, trước hết phải huy động nguồn vốn nội tại cho đầu tư phát triển sản xuất, nhất là nguồn vốn tạo được từ phần giá trị để dành, tiết kiệm được trong dân, nhằm hạn chế tối đa phần lệ thuộc vốn từ bên ngoài. Thứ năm, việc tuyên truyền phổ biến, giới thiệu các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế, thiếu thường xuyên cụ thể Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 75 và sâu sắc nên nhận thức của người dân về cơ chế chính sách, những quy định về nông nghiệp và nông thôn không được đầy đủ. Thứ sáu, môi trường thể chế ở nông thôn một phần chịu ảnh hưởng của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước ở địa phương, đặc biệt là cán bộ cơ sở. 3.2. Ý nghĩa của quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Thái Nguyên Mặc dù vẫn còn một số tồn tại nhưng nếu xét trên phương diện về sự cần thiết và mục đích của việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tác giả luận văn nhận thấy, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Thái Nguyên đã và sẽ để lại nhiều ý nghĩa to lớn. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đã tạo ra những chuyển biến lớn trên lĩnh vực kinh tế Tính đến năm 2007 và dự tính đến 2010, giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp tăng gấp 1,7 lần giá trị sản xuất của ngành trước năm 2003, đưa bình quân giá trị sản xuất trên 1 nhân khẩu nông nghiệp từ 2,4 triệu đồng/người/năm lên 3,5 triệu đồng/người/năm, góp phần tăng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh và tăng thu nhập cho cư dân của tỉnh. Giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất canh tác từ 12,43 triệu đồng/ha lên 22, 10 triệu đồng/ha năm 2010, làm cho hiệu quả sử dụng đất đai tăng lên đáng kể. Khối lượng sản phẩm nông, lâm nghiệp của tỉnh tăng đáng kể, góp phần nâng cao đời sống cho cộng đồng dân cư và tăng sản phẩm hàng hóa. Nông, lâm nghiệp phát triển đã cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông, lâm sản phát triển (xay xát, chế biến chè, chế biến thức ăn gia súc, giết mổ gia súc gia cầm, chế biến giấy, ván ghép nhân tạo, hàng mây, tre đan...), góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa. Bộ mặt xã hội nông thôn ở Thái Nguyên có nhiều thay đổi tích cực Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở thâm canh trong sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi đã và sẽ tạo điều kiện để giải quyết thêm việc làm cho khoảng 85.000 lao động, trong đó lao động sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 76 xuất cây thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày khoảng 6.000 lao động, lao động trồng chè, cây ăn quả khoảng 18.000 lao động, lao động chăn nuôi khoảng 9.000 lao động, lao động lâm nghiệp khoảng 2.000 lao động và lao động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, chế biến, dịch vụ ngành nghề nông thôn khoảng 50.000 lao động. Việc giải quyết thêm việc làm như trên đã làm giảm tình trạng không có việc làm, nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đảm bảo nâng cao đời sống cho 150 nghìn hộ cư trú ở khu vực nông thôn của tỉnh. Bình quân lương thực sản xuất trên đầu người từ 360kg/người lên 350kg/người, bình quân giá trị sản xuất trên nhân khẩu nông nghiệp từ 2,4 triệu đồng/người/năm lên 3,5 triệu đồng/người/năm. 100% người dân đã và sẽ được sử dụng nước sạch, tỷ lệ hộ đói nghèo ở miền núi sẽ giảm xuống còn khoảng 10% vào năm 2010. Thông qua quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đã đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ cơ sở đủ về số lượng và chất lượng đẻ thực hiện sự nghiệp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của tỉnh theo hướng sản xuất hàng hóa. Hệ thống cơ sở hạ tầng ở nông thôn đã và sẽ được tăng cường, ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn cũng được phát triển tạo điều kiện nâng cao dân trí cho cộng đồng dân cư của tỉnh và góp phần xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Môi trường nông thôn Thái Nguyên đã có nhiều chuyển biến Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục được thực hiện, tỷ lệ che phủ của rừng sẽ được nâng lên từ 44,36% - 52%, không những góp phần đảm bảo cân bằng sinh thái ở một tỉnh miền núi mà còn xây dựng được hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất của tỉnh ổn định, bền vững. Mở rộng diện tích trồng chè, cây ăn quả trên đất đồi dốc, do đây là những loại cây trồng có bộ rễ ăn sâu phát triển rộng, bộ tán lớn có tác dụng bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế sự rửa trôi của bề mặt, đồng thời tạo nên cảnh quan cho các vùng du lịch và các khu di tích lịch sử đang ngày càng thu hút khách du lịch như Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 77 hiện nay. Do được đầu tư, xây dựng thêm các công trình nước sạch và các công trình vệ sinh nông thôn, làm cho vệ sinh môi trường ở khu vực nông thôn sẽ được cải thiện rõ rệt. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn tới, đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ nhiều biện pháp về kinh tế, hành chính, kỹ thuật và tổ chức. Những kết luận và giải pháp được nêu ra trong luận văn này đều xuất phát từ sự phân tích thực tiễn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua mà chủ yếu từ năm 1997 đến nay, đồng thời có vận dụng kinh nghiệm thành công của một số tỉnh. Mỗi giải pháp được tác giả nêu trên đều có vị trí quan trọng riêng, đồng thời chúng có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Vì vậy, khi triển khai thực hiện cần phải được tiến hành đồng bộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 78 KẾT LUẬN Bằng cách tiếp cận hệ thống và lôgíc, luận văn đã hệ thống một số vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Với những nội dung phong phú như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thuỷ lợi hóa, sinh học hóa; phát triển công nghiệp nông thôn, làng nghề; phát triển nguồn nhân lực; xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn; ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ. Đồng thời luận văn nêu rõ kinh nghiệm một số tỉnh trong nước về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và khả năng vận dụng những kinh nghiệm đó vào tình hình thực tế của tỉnh Thái Nguyên. Qua việc phân tích toàn diện cả nội dung, biện pháp và thực trạng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Thái Nguyên trong những năm từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước 1986 đến năm 2007, đặc biệt đi sâu nghiên cứu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa 1997 - 2007 ở Thái Nguyên, có thể khẳng định: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên là một quá trình hoàn thiện phương thức tổ chức, quản lý và ứng dụng những thành tựu tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và kinh tế - xã hội nông thôn phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ và luôn giữ vững định hướng của Đảng và nhà nước đã đặt ra. Rút kinh nghiệm từ bài học không thành công của thời bao cấp, trong những năm đổi mới vừa qua vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đã được điều chỉnh cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp và bước đầu đã phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Tuy vậy, tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp, nông thôn Thái Nguyên hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề, chưa hoàn thiện hết. Điều đó cũng dễ hiểu, vì công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vốn là vấn đề phức tạp, có nhiều nội dung liên quan đến hàng triệu hộ nông dân trên địa bàn nông thôn rộng lớn với gần 80% dân số toàn tỉnh, sinh sống. Vì vậy quá trình đó diễn ra phải từ thấp đến cao, từ thí điểm đến mở rộng các mô hình khác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 79 nhau và mỗi mô hình đều dựa trên những điều kiện kinh tế và kỹ thuật nhất định của ngành, địa phương, đồng thời tham khảo kinh nghiệm của thế giới, nhất là các nước trong khu vực đã tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn... Trong điều kiện Việt Nam nói chung, Thái Nguyên nói riêng những năm đầu thế kỷ XXI này, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gắn liền với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Vì vậy vấn đề rất quan trọng mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn không thể thiếu là phát triển mạnh ngành nghề dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn, từng bước đô thị hoá nông thôn, áp dụng nhiều phương pháp công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề của lao động nông thôn, tạo thêm công ăn việc làm để tăng thêm thu nhập cho nông dân. Từng bước đưa nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn Thái Nguyên thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Theo phân tích trong luận văn ta có thể khẳng định công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, của các thành phần kinh tế. Thành tựu của quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn mà Thái Nguyên đã đạt được hơn 10 năm qua là về cơ bản nông nghiệp Thái Nguyên đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởng khá công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn bước đầu phục hồi và phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng, môi trường sinh thái và đời sống nông dân ở hầu hết các vùng được cải thiện rõ rệt. Quan hệ sản xuất từng bước mới phù hợp với yêu cầu phát triển nền nông nghiệp hàng hóa, hệ thống chính trị ở cơ sở được tăng cường, dân chủ được phát huy tốt hơn, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn được bảo đảm. Những thành tựu đó góp phần rất quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tạo tiền đề đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn Thái Nguyên hiện nay còn gặp nhiều khó Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 80 khăn về trình độ khoa học kém phát triển chưa có nhiều ứng dụng vào nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn chuyển dịch chậm chưa theo sát thị trường, sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn phân tán, manh mún, mang nhiều yếu tố tự phát, tư tưởng lạc hậu của người dân và trình độ kiến thức trong nông nghiệp còn hạn chế. Để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cần áp dụng một cách tích cực và đồng bộ nhiều giải pháp kinh tế, kỹ thuật, tổ chức, trong đó việc hoàn thiện môi trường, thể chế đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, tăng cường kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, trong các làng nghề, xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại là những giải pháp rất quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Thái Nguyên. Ðể thực hiện thắng lợi mục tiêu đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm đưa Thái Nguyên ra khỏi tình trạng phát triển không ổn định, đạt được bước chuyển biến quan trọng và phát triển bền vững. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân. Tạo nền tảng để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Giữ vững ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Nâng cao vị thế của tỉnh trong khu vực cũng như trong cả nước. Hiện nay và trong nhiều năm tới, đối với Thái Nguyên nói riêng, Việt Nam nói chung vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn và đa dạng, phát triển nhanh và bền vững với năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; bảo đảm an ninh lương thực và tạo điều kiện để hình thành nền nông nghiệp sạch. Ðẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Muốn vậy cần chú ý một số nội dung sau: Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 81 tế cao; phát triển mạnh chăn nuôi với tốc độ và chất lượng cao hơn nữa; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất, bảo quản và chế biến; khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tự phát. Tiếp tục rà soát, bổ sung, điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo hướng: phát huy lợi thế tự nhiên của từng vùng, lợi thế kinh tế của từng loại cây trồng, con gia súc, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ; hình thành vùng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường và công nghiệp chế biến, bảo đảm hiệu quả bền vững và an ninh lương thực. Trên cơ sở quy hoạch ngành, quy hoạch vùng, cần rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội (giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế, chợ, bưu chính - viễn thông, cụm đô thị ở nông thôn,...) phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch kế hoạch sử dụng đất của Thái Nguyên để có sự quản lý thống nhất, đồng bộ trên địa bàn. Khẩn trương hình thành trung tâm tư vấn hỗ trợ nông nghiệp (thị trường, giá cả, thành lập doanh nghiệp nông nghiệp, xúc tiến thương mại,...). Rà soát bổ sung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhất là đất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, cụm công nghiệp và làng nghề nông thôn. Khẩn trương hoàn thành đề án quy hoạch nông thôn mới phù hợp quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và giữ được nét đặc thù của nông thôn Thái Nguyên. Ðưa nhanh khoa học - công nghệ vào sản xuất, nhất là việc nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng giống cây trồng, giống vật nuôi, kỹ thuật canh tác và môi trường, công nghệ sau thu hoạch; ứng dụng mạnh công nghệ sinh học và xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao; nâng cao khả năng phòng ngừa và khắc phục dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi. Ðổi mới cơ chế quản lý khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp nhằm tăng cường gắn kết giữa các đơn vị nghiên cứu với hệ thống khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ. Ưu tiên bố trí nguồn vốn sự nghiệp khoa học để triển khai các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Chuyển giao nhanh các loại giống tốt về cây trồng, vật nuôi, tập trung vào các loại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 82 cây trồng, vật nuôi có lợi thế, có thị trường; tiếp tục triển khai có hiệu quả chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi. Tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, công tác thú y, bảo vệ thực vật, quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến nông, lâm thủy sản. Có chính sách đặc biệt để khuyến khích phát triển mạnh các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh và có hiệu quả kinh tế hộ và kinh tế trang trại. Chú trọng củng cố và phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, trước hết, cần tổ chức chỉ đạo triển khai có kết quả cao hơn Luật Hợp tác xã năm 2003 và các Nghị định hướng dẫn Luật nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế hợp tác, hợp tác xã. Khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả của các nông, lâm trường quốc doanh. Cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nước sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản, gắn lợi ích người sản xuất nguyên liệu với cơ sở chế biến. Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, ngân sách của tỉnh và đa dạng hóa các nguồn vốn để tiếp tục đầu tư phát triển mạnh hơn cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn. Ưu tiên nâng cấp và xây dựng mới các hệ thống thủy lợi đồng bộ, đi đôi với đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý để bảo đảm an toàn về nước. Củng cố hệ thống hồ đập, kè ven sông; nâng cấp các hệ thống cảnh báo, chủ động phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường nước. Tiếp tục đầu tư phát triển giao thông nông thôn, bảo đảm các xã đều có đường ô tô tới khu trung tâm, từng bước phát triển đường ô tô tới thôn bản; đáp ứng thường xuyên cho nhu cầu của 100% số dân cư nông thôn trong tỉnh có điện sinh hoạt; hơn 75% số dân cư nông thôn của tỉnh được sử dụng nước sạch. Rà soát bổ sung, điều chỉnh chính sách về đất đai, thuế, tín dụng, đầu tư... nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện việc hình thành các khu và cụm công nghiệp, cụm làng nghề ở nông thôn để thu hút các cơ sở sản xuất công nghiệp và kinh doanh dịch vụ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 83 sử dụng nhiều lao động và nguồn nguyên liệu từ nông, lâm thủy sản. Sớm có phương án rà soát, đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường hiện nay, nhất là ô nhiễm nguồn nước để có kế hoạch khắc phục, đồng thời có biện pháp kiểm soát phòng, chống ô nhiễm môi trường tại các cụm công nghiệp, cụm làng nghề và các đô thị mới hình thành ở nông thôn Thái Nguyên. Tập trung giải quyết việc làm, đào tạo nghề cho nông dân và cho lao động nông thôn, đặc biệt quan tâm giải quyết việc làm và thu nhập cho nông dân có đất bị thu hồi để sử dụng vào mục đích phát triển khu công nghiệp, khu đô thị, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm tại chỗ và ngoài khu vực nông thôn. Có chính sách trợ giúp thiết thực để đẩy mạnh đào tạo nghề cho nông dân và lao động nông thôn, đáp ứng cho yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và tìm việc làm ngoài khu vực nông thôn, kể cả đi lao động ở nước ngoài. Tiếp tục đầu tư nhiều hơn cho chương trình xóa đói giảm nghèo, trợ giúp thiết thực cho các vùng và cộng đồng dân cư còn nhiều khó khăn, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển hệ thống khuyến nông, nâng cao dân trí và có chính sách tín dụng cho người nghèo từng bước vượt qua khó khăn, thoát nghèo và nâng cao mức sống một cách bền vững. Tiếp tục triển khai thực hiện các chính sách đặc biệt để trợ giúp điều kiện sản xuất và nhà ở cho đồng bào các dân tộc thiểu số đời sống còn nhiều khó khăn. Tập trung đầu tư để hoàn thành cơ bản chương trình kiên cố hóa trường học, thực hiện tốt hơn chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng; thực hiện ngày càng có nền nếp và chất lượng về quy chế dân chủ ở nông thôn; đẩy mạnh phong trào xây dựng làng xã văn hóa, nâng cao chất lượng hoạt động các thiết chế văn hóa ở cơ sở giữ gìn và phát triển truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp không chỉ là một bộ phận, mà còn là giải pháp quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước và đây cũng là chiến lược lâu dài của Đảng, nhà nước cũng như Thái Nguyên nhằm đạt tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 84 minh. Do vậy để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn phải tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chỉ đạo điều hành tổ chức thực hiện sâu sắc cụ thể, quyết liệt của các cấp, các ngành. Phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả tỉnh để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 85 DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO 1. A Dam Smith (1997). Của cải của các dân tộc. NXB Giáo dục, Hà Nội. 2. Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá IV (1981), Chỉ thị 100-CT/TW. 3. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2005). Văn kiện Đại hội lần thứ XVI Văn phòng Tỉnh ủy Thái Nguyên. 4. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ (2005). Văn kiện Đại hội lần thứ XIV. Văn phòng Tỉnh ủy Phú Thọ. 5. Ban Kinh tế Trung ương (2005). Báo cáo 3 năm thực hiện nghị quyết 15- NQ/TW khoá IX về đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010. 6. Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2002). Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 7. Báo cáo quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bắc Thái thời kỳ 1986 - 1993, 1998 - 2010. Sở địa chính Bắc Thái (1993), Sở địa chính Thái Nguyên (1998, 2007). 8. Báo cáo thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong sản nông, lâm nghiệp Thái Nguyên từ năm 2001 - 2003. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, tháng 8 năm 2003. 9. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế trang trại tỉnh Thái Nguyên. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, tháng 7 năm 2002. 10. Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm (1993). Chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước về tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 11. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2001). Một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 - 2020, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 12. C.Mác (1975). Phê phán khoa học kinh tế chính trị, quyển 1, tập 3. NXB sự thật, Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 86 13. Nguyễn Sinh Cúc (2003), Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới. NXB Thống kê, Hà Nội. 14. Cục Thống kê Thái Nguyên (2005). Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình tỉnh Thái Nguyên, năm 2004. NXB Thống kê, Hà Nội. 15. Cục Thống kê Thái Nguyên (2003). Kết quả tổng điều tra nông nghiệp nông nghiệp và thuỷ sản năm 2001, Tỉnh Thái Nguyên. 16. Cục Thống kê Thái Nguyên. Niên giám thống kê các năm 1986 - 1996, 1997, 1998, 1999, 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2007. NXB Thống kê. 17. Cục Thống kê Thái Nguyên (2005). Thực trạng doanh nghiệp Thái Nguyên, NXB Thống kê, Hà Nội. 18. Nguyễn Trí Dĩnh (1997). Lịch sử kinh tế quốc dân, NXB Giáo dục, Hà Nội. 19. Vũ Văn Dũng (2004), Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi cơ chế chính sách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 20. Đại học Kinh tế quốc dân (1998). Kinh tế Chính trị học tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội. 21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004). Các Nghị quyết của Trung ương Đảng (2001 - 2004), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 22. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, X và Văn kiện các Hội nghị BCH Trung ương. 23. Đỗ Đức Định (1999). Một số vấn đề về chiến lược công nghiệp hóa và lý thuyết phát triển. NXB Thế giới. 24. Nguyễn Đình Hương (2000). Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 25. Hồ Chí Minh toàn tập (2000). NXB Chính trị Quốc gia, trang 180. 26. Hồ Chí Minh (1995). Biên niên tiểu sử, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 27. Naibitt J (1988). Tám xu hướng phát triển của Châu Á đang làm thay đổi thế giới. NXB Chính trị quốc gia. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 87 28. Đỗ Hoài Nam (2004). Một số vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội. 29. Shima H.T (1989). Tăng trưởng kinh tế ở Châu Á gió mùa (3 tập). Viện Châu Á Thái Bình Dương. 30. Perkins D.H, Dapice D.D, Haughton JH (chủ biên), (1994). Việt Nam cải cách kinh tế theo hướng rồng bay. NXB Chính trị quốc gia. 31. Prtersen J.L (2000). Con đường đi đến năm 2015. Hồ sơ của tương lai. NXB Chính trị quốc gia. 32. Riedel J (2005). Kinh tế vĩ mô của nền kinh tế mở. NXB Chính trị quốc gia. 33. Phạm Thị Quý (2002). Chuyển đổi mô hình kinh tế ở Việt Nam. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 34. Sở Công nghiệp Thái Nguyên (2005), Báo cáo kết quả hoạt động thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TU về phát triển làng nghề, khu, cụm công nghiệp làng nghề. 35. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thái Nguyên (2005, 2007). Báo cáo đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp. 36. Sở Tài nguyên - Môi trường Thái Nguyên (2005, 2007). Đề án quy hoạch môi trường Thái Nguyên thời kỳ 2006 - 2020, kế hoạch bảo vệ môi trường giai đoạn 2006 - 2010. 37. Đặng Kim Sơn (2001). Công nghiệp hóa từ nông nghiệp, lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. 38. Sta - lin (1965), toàn tập 12. NXB Sự thật, Hà Nội. 39. Lê Đình Thắng (2002), Định hướng chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta thập niên đầu thế kỷ 21. Kỷ yếu hội thảo khoa học kinh tế các trường đại học. 40. Tỉnh uỷ Thái Nguyên (2005). Các văn bản chỉ đạo của Tỉnh uỷ Thái Nguyên từ 2001 - 2005. Văn phòng Tỉnh uỷ tỉnh Thái Nguyên. 41. Tỉnh uỷ Thái Nguyên (2006). Nghị quyết của Ban chấp hành đảng bộ tỉnh về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp gắn với phát triển đô thị theo hướng hiện đại hóa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 88 42. Tỉnh uỷ Thái Nguyên (2005). Văn kiện ĐH Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, XVI, XVII. Văn phòng Tỉnh uỷ tỉnh Thái Nguyên 43. Tổng cục thống kê (2003). Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thuỷ sản, NXB Thống kê, Hà Nội. 44. Tổng cục thống kê (2001). Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam 10 năm 1991 - 2000. NXB Thống kê, Hà Nội. 45. Trung tâm kinh tế châu Á Thái Bình Dương (VAPEC) (1998). Nông nghiệp Việt Nam bước vào thế kỷ XXI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 46. Nguyễn Kế Tuấn (2006). Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 47. Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên (2005). Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020. Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên 48. V.I.Lê-Nin (1976). Sự phát triển của tư bản ở Nga, NXB Tiến bộ Matxcova năm 1976, trang 542 - 543.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLV2010_SP_BuiThanhTung.pdf
Tài liệu liên quan