Đánh giá hiện trạng xả thải và đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn nước mặt sông Ba Lai trên địa bàn huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre đến năm 2020

LỜI MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Bến Tre là một trong 13 tỉnh, thành nằm ở Tây Nam của Nam Bộ, được hình thành bởi cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ mà thành (gồm sông Tiền dài 83 km, sông Ba Lai 59 km, sông Hàm Luông 71 km, sông Cổ Chiên 82 km). Phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, có ranh giới chung là sông Tiền, phía nam giáp tỉnh Trà Vinh, phía tây giáp tỉnh Vĩnh Long, có ranh giới chung là sông Cổ Chiên, phía đông giáp biển Đông, với chiều dài bờ biển là 65 km. Sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên là những con sông đã giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế văn hóa của nhân dân trong tỉnh: cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và nông nghiệp, những thức ăn giàu đạm như tôm, cá, cua, ốc, góp phần làm tươi đẹp cảnh quan, điều hòa khí hậu . Các con sông này còn có một vị trí quan trọng trong hệ thống giao thông thủy, không chỉ của tỉnh mà cả miền đồng bằng rộng lớn. Từ môi trường thuận lợi này, việc giao lưu văn hóa cũng phát triển mạnh mẽ với các vùng xung quanh. Trong những năm gần đây với chính sách thu hút đầu tư phát triển, nền kinh tế của tỉnh đã có những thay đổi lớn trong cơ cấu kinh tế, thu nhập GDP của tỉnh tăng lên. Quá trình phát triển đã tạo ra nhiều sản phẩm của cải vật chất cho xã hội, tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng chung nền kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng thu nhập dân cư. Song song với nó là khối lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều, vấn đề ô nhiễm môi trường liên quan đến khí thải, chất thải rắn và đặc biệt là nước thải từ các hoạt động sinh hoạt thông thường và công nghiệp đang được xả trực tiếp vào nguồn nước mặt làm cho môi trường nước mặt ngày càng ô nhiễm nặng nề và sẽ là nguy cơ làm biến đổi môi trường, suy giảm hệ sinh thái. Trước các vấn đề tài nguyên, môi trường cấp bách trên, để bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên tỉnh Bến Tre, nhất là môi trường nước đang ngày càng ô nhiễm trầm trọng thì cần phải thực hiện đồng thời các chương trình bảo vệ môi trường: Kiểm soát ô nhiễm nguồn nước mặt do nước thải, các làng nghề, khu, cụm công nghiệp và các đô thị; Kiểm soát và xử lý nước thải do hoạt động chăn nuôi và nuôi thủy sản; Kiểm soát ô nhiễm chất lượng đất do sử TBVTV và phân bón trong nông nghiệp, Tuy nhiên, đối với 4 con sông chính của tỉnh Bến Tre thì việc kiểm soát ô nhiễm sông Tiền và sông Cổ Chiên gặp khó khăn vì có ranh giới chung với tỉnh Tiền Giang và tỉnh Vĩnh Long, sông Hàm Luông thì đang có chương trình khảo sát về hiện trạng ô nhiễm, đánh giá chất lượng nước và đề xuất phân vùng xả thải thí điểm cho đoạn sông dài 5,4km do Sở Tài Nguyên Môi Trường Bến Tre chủ trì thực hiện. Còn riêng đối với sông Ba Lai do bồi tích nhanh của sông Mỹ Tho làm cho sông Ba Lai bị nghẽn ở đầu phía trên, lượng nước yếu đi không tống nổi phù sa của sông Cửa Đại đang bít nghẽn dòng chảy ra biển. Do đó, nó sẽ “chết”, lòng cổ của nó bị lấp dần, xóa hẳn ở huyện Châu Thành, gần xóa ở huyện Giồng Trôm và sắp sửa bị xóa ở huyện Bình Đại, thêm vào đó là lượng nước thải từ các kênh, rạch đổ vào làm cho khả năng tự làm sạch của dòng sông kém dần. Vì vậy, đề tài “Đánh giá hiện trạng xả thải và đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn nước mặt sông Ba Lai trên địa bàn huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre đến năm 2020” là rất cần thiết và mang tính thực tiễn, nhằm phục vụ cho công tác kiểm soát, quản lý và bảo vệ môi trường, đảm bảo nhu cầu sử dụng nước của người dân với các mục đích khác nhau. 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Nước là một trong những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của con người cũng như mọi cơ thể sinh vật, nếu không có nước thì không thể tồn tại sự sống. Ngày nay với mức độ tăng trưởng kinh tế, đô thị hoá, công nghiệp hoá phát triển rầm rộ cùng với sự tăng dân số đã làm cho nhu cầu về nước tăng lên nhanh chóng đồng thời cũng làm nguồn nước tự nhiên bị hao kiệt dần và mức độ ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng.Vì vậy các nước nỗ lực nghiên cứu giải quyết vấn đề ô nhiễm theo điều kiện thực tế của từng nơi. Các nhà khoa học các nước đang hướng đến cách tiếp cận phát triển bền vững, quy hoạch luôn liên kết chặt chẽ với con người, môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Với ý nghĩa thực tế trên , tại nhiều tỉnh trong cả nước đã và đang tiến hành các dự án liên quan đến điều kiện xả thải vào nguồn tiếp nhận chính, với đặc trưng của địa phương nhằm áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam có hiệu quả thiết thực: · Dự án “Đánh giá chất lượng nước sông Tiền, sông Hậu ở một số vùng dân cư của tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long” do Trịnh Thị Hương, Trần Bích Ngọc, Nguyễn Trần Bảo Thanh và cộng sự thực hiện năm 2006, với mục đích mô tả và đánh giá chất lượng nước của các chỉ tiêu hóa lý và vi sinh nước sông Tiền, sông Hậu ở tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ. · Dự án “Điều tra, thống kê các nguồn nước xả thải ra sông/ suối, đánh giá mức độ ô nhiễm, dự báo và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường trên rạch Tây Ninh và sông Vàm Cỏ Đông” do Viện Môi Trường và Tài Nguyên thực hiện. · Đề tài “Nghiên cứu phân vùng chất lượng nước theo các chỉ số chất lượng nước (WQI) và đánh giá khả năng sử dụng các nguồn nước sông, kênh rạch ở vùng TP. Hồ Chí Minh” với mục đích đánh giá diễn biến chất lượng nước và ứng dụng, cải tiến mô hình WQI cho phù hợp với điều kiện tự nhiên ở TP. Hồ Chí Minh. Đề tài do PGS.TS Lê Trình làm chủ nhiệm thực hiện năm 2008. · Đề tài “Ứng dụng chỉ số chất lượng nước để đánh giá và phân vùng chất lượng nước sông, kênh, rạch chính trên địa bàn tỉnh Long An” do Phạm Quốc Khánh thực hiện năm 2011 với mục đích đánh giá mức độ phù hợp của các vùng chất lượng nước của tỉnh Long An đối với các mục tiêu sử dụng nước khác nhau. · Đề tài “Nghiên cứu đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của các sông chính trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” do Lâm Thị Thu Oanh thực hiện năm 2008 với mục đích đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải, xả thải vào các nguồn tiếp nhận chính và phân vùng chất lượng nước trên địa bàn tỉnh Trà Vinh phục vụ công tác quản lý và bảo vệ môi trường của tỉnh. 3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Nhằm bảo vệ môi trường nước mặt sông Ba Lai đề tài đã: · Đánh giá tình hình sử dụng nước, diễn biến chất lượng nước và các nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước sông Ba Lai. · Dự báo tình hình xả thải và tải lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường đến năm 2020. · Đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường nước sông Ba Lai trên địa bàn huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre đến năm 2020. 4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU · Đối tượng nghiên cứu của đề tài là điều tra, đánh giá nguồn xả thải của tất cả các nguồn thải vào sông Ba Lai trên địa bàn huyện Ba Tri thuộc tỉnh Bến Tre. · Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở nhánh song Ba Lai trên địa bàn huyện Ba Tri thuộc tỉnh Bến Tre. · Thời gian thực hiện 31/05 – 07/09/2011 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU · Thu thập các thông tin, số liệu sẵn có liên quan đến môi trường tự nhiên, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của khu vực liên quan đến nhánh sông, hiện trạng chất lượng nước trên nhánh sông. · Thu thập các số liệu về các nguồn thải ở huyện để đánh giá dự báo về lưu lượng và tải lượng ô nhiễm có khả năng đưa vào lưu vực. · Phân tích các tài liệu đã được thu thập, xác định các dữ liệu, thông tin có liên quan để tiến hành khảo sát bổ sung thêm. · Tổng hợp số liệu và đánh giá chất lượng nước. · Đề xuất các giải pháp để quản lý và bảo vệ nguồn nước. 6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU · Phương pháp thu thập thông tin, tổng hợp tài liệu: thu thập các thông tin tư liệu liên quan đến nội dung của dự án: điều kiện tự nhiên, KT-XH, hiện trạng chất lượng môi trường, hoạt động bảo vệ môi trường, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, các nguồn tiếp nhận, . · Phương pháp kế thừa: kế thừa chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã có về hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt, các nguồn thải vào môi trường nước mặt; hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh, các số liệu thủy văn dòng chảy, các loại bản đồ có liên quan, · Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: khảo sát thực tế đánh giá hiện trạng các nguồn thải, hoạt động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nuôi trồng thủy sản, xác định các vị trí lấy mẫu, · Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, thông tin: sử dụng để phân tích và xử lý một cách hệ thống các nguồn số liệu về điều kiện tự nhiên, môi trường và kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, cũng như các nguồn số liệu phục vụ cho công tác phân vùng xả thải nước thải. · Phương pháp lấy mẫu, phân tích chất lượng nước mặt và nước thải: thu mẫu nước (tại mỗi điểm các mẫu nước được thu riêng và bảo quản riêng cho các mục đích: phân tích các kim loại nặng, phân tích vi sinh, phân tích các chất ô nhiễm khác), phân tích tại hiện trường, phân tích trong phòng thí nghiệm. · Phương pháp đánh giá nhanh: trên cơ sở các kết quả thu thập từ tài liệu, số liệu điều tra khảo sát thực tế, đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt, · Phương pháp so sánh quy chuẩn với môi trường Việt Nam: sử dụng QCVN 08: 2008/BTNMT và các QCVN 11, 12, 13: 2008/BTNMT để đánh giá mức độ tác động môi trường trên cơ sở so sánh với các mức giới hạn quy định trong các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường Việt Nam ban hành áp dụng (so sánh với ngưỡng chịu tải về các tính chất vật lý, hóa học và sinh học của môi trường). · Phương pháp đánh giá lưu lượng, tải lượng ô nhiễm từ nước thải: dựa theo số liệu dân cư, quy hoạch phát triển chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và hệ số phát thải nước thải của dân cư, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản để đánh giá lưu lượng và tải lượng ô nhiễm do nước thải của các nguồn thải này ở hiện tại và dự báo đến năm 2020.

doc98 trang | Chia sẻ: banmai | Ngày: 02/05/2013 | Lượt xem: 1003 | Lượt tải: 4download
Tóm tắt tài liệu Đánh giá hiện trạng xả thải và đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn nước mặt sông Ba Lai trên địa bàn huyện Ba Tri tỉnh Bến Tre đến năm 2020, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ta có thể dự tính được lượng nước thải và tải lượng ô nhiễm các chất theo bảng 3.7 là: Bảng 3.7: Dự tính lượng nước thải trong quá trình chăn nuôi 2011 Trâu Bò Heo Gia cầm Tổng cộng Định mức (m3/con.năm) 8 8 14,6 0,9 Huyện Ba Tri 9.352 571.552 194.355 698.568 1.473.827 Xã Tân Mỹ 16 8.320 1.474,6 16.245 26.055,6 Xã Tân Xuân 1.888 43.232 26.615,8 50.292 122.027,8 Xã Bảo Thạnh 672 12.776 20.732 23.130 57.310 Bảng 3.8: Tải lượng ô nhiễm của hoạt động chăn nuôi. Huyện Ba Tri Trung bình nồng độ ô nhiễm Mg/l Lượng thải m3/ngày Tải lượng ô nhiễm nước thải Kg/ngày TSS BOD COD TSS BOD COD 2.459 2.466 3.545 Tân Mỹ 71,4 177,6 176,1 61,7 Tân Xuân 334,3 822 824,4 1.186 Bảo Thạnh 157 386 387,1 556,5 Tổng 562,7 1.385,6 1.387,6 1.804,2 Trong những năm gần đây, phong trào chăn nuôi phát triển mạnh, về chăn nuôi bò: ở 3 xã Tân Mỹ, Tân Xuân, Bảo Thạnh có 8.041 con chiếm 11,25% tổng đàn bò toàn huyện (71.444), còn lại tập trung nhiều ở Phú Lễ, Phước Tuy, Mỹ Nhơn, Mỹ Thạnh. Đàn heo 3.344 con chiếm 25,12% tổng đàn heo toàn huyện (13.312 con), còn lại tập trung nhiều ở Mỹ Chánh, Mỹ Hòa, Bảo Thuận. Đàn gia cầm 99.630 con chiếm 12,83% tổng đàn gia cầm toàn huyện (776.187 con). Việc phát triển phong trào chăn nuôi đã tận dụng được các phụ phẩm trong trồng trọt như: rơm, cỏ, rau màu, giải quyết được lao động nhàn rỗi của địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương. Song song với đó là việc môi trường chăn nuôi ngày càng bị ô nhiễm. Đây cũng là vấn đề bức xúc. Theo thống kê hằng năm ước tính chất thải phát sinh ra khoảng 205.392 m3/năm. Trong đó tải lượng BOD là 506,4 tấn/năm, COD là 658,5 tấn/năm. Hình 3.4: Vịt được nuôi cặp bờ kênh lớn. 3.2.4 Nước thải nuôi trồng thủy sản Với lợi thế nguồn tài nguyên thủy sản phong phú, diện tích mặt nước lớn, chất lượng nước tốt, có truyền thống nuôi trồng thủy sản và đã hình thành được cơ sở vật chất kỹ thuật bước đầu: từ sản xuất giống đến nuôi trồng và chế biến; do không bị ngập lũ và có thể phát triển đa dạng các loại thủy sản (mặn, lợ, ngọt) với các loại hình nuôi trồng phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, do sự gia tăng diện tích nuôi trồng thiếu định hướng và chưa phù hợp với quy hoạch sử dụng nguồn nước nên đã phần nào gây nên nguy cơ gây suy thoái chất lượng nước. Trong quá trình nuôi các chất thải, nước ao nuôi đều xả thải ra môi trường nhất là đối với nuôi cá da trơn. Ô nhiễm môi trường do trong chăn nuôi, trồng trọt ra môi trường nước tự nhiên,… làm cho môi trường nuôi ngày càng bị ô nhiễm, quá trình nuôi tôm bị bệnh người dân không xử lý theo quy định, xả trực tiếp ra môi trường, một số hộ nuôi nhỏ lẻ không có ao xử lý. Do đó sự ảnh hưởng của ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng thủy sản đến sông Ba Lai là rất lớn. Theo trung tâm ứng dụng và tiến bộ khoa học công nghệ An Giang 2007 lượng nước thải của hoạt động nuôi trồng thủy sản thải ra là rất lớn 1.800 m3/ngày. Với diện tích nuôi trồng ở Bảo Thạnh 463 ha, sản lượng 1.910 tấn; Tân Xuân diện tích 283 ha, sản lượng 4.499 và Tân Mỹ với diện tích 17,4 ha, sản lượng 208 tấn thì lượng nước thải thải ra môi trường của cả 3 xã sẽ vào khoảng 1.293.120 m3/ngày. Bảng 3.9: Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản 2011 Chỉ tiêu Đơn vị TH năm 2010 Bảo Thạnh Tân Xuân Tân Mỹ 1/. Nuôi trồng ha 5.074 463 283 17,4 a/. Nuôi mặn lợ " 4.456 461 229 + Nuôi tôm " 3.147 341 229 - Nuôi CN " 881 36 60 - Quảng canh " 1.769 225 169 - Tôm rừng " 497 80 - Tôm lúa " + Nuôi cá,TS đặc sản " 1.309 120 0 0 - Nuôi cá nước lợ 64 - Nghêu 1.245 - Sò 120 b/. Nuôi nước ngọt " 618 2 54 17 + Cá đồng " 618 2 54 17,4 + Tôm " 2/. Sản lượng Tấn 63.248 1.910 4.499 208 a/. Nuôi trồng " 13.566 1.440 2.949 150 - Tôm " 7.800 560 300 0 - Cá " 4.259 80 2649 150 - Nghêu, sò " 1.475 800 0 (Nguồn: Dự thảo chi tiết nông lâm, nông ngư 2011) Đây chỉ là thống kê diện tích nuôi trồng thủy sản, chưa thống kê được số lượng cơ sở nuôi trồng thủy sản của các xã nên tình hình kiểm soát quản lý cũng như xử lý chất thải môi trường thủy sản còn rất nhiều hạn chế. Do đó sự ảnh hưởng của ô nhiễm từ hoạt động nuôi trồng thủy sản đến sông Ba Lai rất lớn. Mô hình nuôi tôm công nghiệp được nuôi ở Bảo Thạnh và Tân Xuân với tổng diện tích là 96 ha. Tương đương lượng nước thải ra mỗi ngày là 172.000 m3 Hình 3.5: Mô hình nuôi tôm công nghiệp Mô hình nuôi tôm rừng ở Bảo Thạnh cũng được phát triển với tổng diện tích 80 ha. Hình 3.6: Mô hình nuôi tôm rừng Mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến chiếm diện tích nhiều nhất với Bảo Thạnh (225 ha), Tân Xuân (169 ha), có thể kết hợp với trồng lúa hoặc nuôi cua biển…. để tăng thu nhập. Hình 3.7: Mô hình nuôi tôm quảng canh kết hợp trồng lúa 3.2.5 Các nguồn ô nhiễm khác Ngoài các nguồn thải quan trọng và có tiềm năng gây ô nhiễm cao như đã chỉ ra ở trên, sông còn có nhiều nguồn thải khác có khả năng gây tác động xấu đến môi trường nước như: nước rò rỉ từ các bãi rác, nước mưa chảy tràn qua các khu dân cư và đồng ruộng, tiêu thoát nước trong nông nghiệp, hoạt động giao thông vận tải thủy, hoạt động khai thác khoáng sản, hoạt động du lịch,… Ngoài ra còn có khả năng lan truyền ô nhiễm từ các huyện/tỉnh nằm trên thượng nguồn là rất cao. 3.3 Dự báo các nguồn thải có ảnh hưởng đến chất lượng nước sông 3.3.1 Sự cần thiết để thực hiện dự báo các nguồn thải vào sông Ba Lai đến năm 2020 Một trong các nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm môi trường nước sông Ba Lai đoạn trên địa bàn huyện Ba Tri nói chung và sông Ba Lai nói riêng là do các nguồn nước thải (sinh hoạt, công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản,…) chưa xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu xả trực tiếp ra các nguồn nước mặt. Thế nhưng việc quản lý, kiểm soát các nguồn xả thải hiện nay lại đang gặp nhiều khó khăn do thông tin về các nguồn xả thải này chưa được thống kê, cập nhật đầy đủ. Đây cũng chính là rào cản cho các nhà quản lý môi trường trong việc xây dựng các biện pháp quản lý, kiểm soát và quy hoạch sử dụng hợp lý nguồn nước mặt cũng như gây nhiều bất cập cho các nghiên cứu khoa học có liên quan của tỉnh. Ngoài ra, trong tương lai để bảo vệ môi trường được một cách toàn diện thì vấn đề môi trường không chỉ tập trung nghiên cứu, bảo vệ môi trường trong một vùng hay một địa phương mà còn phải hướng đến tác động môi trường của các khu vực lân cận do đó việc dự báo trước sẽ giúp cho việc quản lý môi trường đồng thời tìm ra các giải pháp để ngăn chăn kip thời tránh gây những tổn thất về kinh tế cũng như môi trường trong tương lai. 3.3.2 Dự báo các nguồn ô nhiễm chính thải vào sông Ba Lai đến năm 2020 3.3.2.1 Sinh hoạt Nước thải sinh hoạt cũng là một trong những nguồn đáng kể ảnh hưởng đến chất lượng nước. Với tốc độ phát triển của 3 xã ven sông (trong đó xã Tân Xuân sắp lên thị trấn), mức gia tăng dân số là tương đối lớn, do vậy lượng nước thải sinh hoạt phát sinh sẽ ngày càng gia tăng. Dự báo đến năm 2020, Theo TCXD VN 32:2006 lượng nước cấp cho mỗi người trung bình khoảng 100 lít/ngày/người đối với nông thôn và lượng nước thải ước tính khoảng 80% lượng nước cấp. Như vậy lượng nước thải sinh hoạt năm 2020 trên địa bàn 3 xã dự tính là: Bảng 3.10 : Dự tính lượng nước thải sinh hoạt năm 2011 - 2020 Huyện Ba Tri Năm 2020 Dân số (người) Nhu cầu nước (m3/ngày) Lưu lượng nước thải (m3/ngày) Xã Tân Mỹ 6.969 696,9 557,5 Xã Tân Xuân 6.469 646,9 517,5 Xã Bảo Thạnh 12.320 1.232 985,6 Tổng 25.758 2.575,8 2.060,6 Như vậy dự kiến đến năm 2020, tổng lưu lượng nước thải sinh hoạt dân cư trên địa bàn 3 xã khoảng 2.060,6 m3/ngày và 752.119 m3/năm. Trong đó có khoảng 601.695,2 m3/năm chảy ra hệ thống kênh rạch hoặc ao hồ gần nhà và có khoảng 150.423,8 m3/năm tự thấm được nêu chi tiết ở bảng 3.11: Bảng 3.11: Ước tính lượng nước tự thấm và chảy vào sông, rạch Huyện Ba Tri Năm 2020 Lượng nước thải (m3/ngày) Lượng nước tự thấm (m3/ngày) Lượng nước chảy vào sông, rạch (m3/ngày) Xã Tân Mỹ 557,5 446 111,5 Xã Tân Xuân 517,5 414 103,5 Xã Bảo Thạnh 985,6 788,5 197,1 Tổng 2.060,6 1.648,5 412,1 Trên cơ sở hệ số ô nhiễm do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1993) thiết lập đối với các quốc gia đang phát triển được đưa ra trong bảng 3.3 và công thức tính tải lượng nước thải sinh hoạt (CT - 3.1) ta có tải lượng nước thải sinh hoạt vùng khảo sát theo bảng 3.12 là: Bảng 3.12: Thông số ô nhiễm theo WHO, 1993. Huyện Ba Tri Thông số ô nhiễm TSS BOD5 COD Tổng N Tổng P Tân Mỹ Tải lượng (kg/ngày) 749,1 344,9 651,6 62,7 17,8 Tân Xuân 695,4 320,2 604,8 58,2 16,5 Bảo Thạnh 1.324,4 609,8 1.151,9 110,9 31,4 Với tải lượng nước thải đưa ra dự báo cho năm 2020 của BOD là 465,3 tấn/năm, COD là 879 tấn/năm và tải lượng Nitơ, Photpho cũng rất lớn ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước mặt của kênh rạch. Qua quá trình ước tính lưu lượng và tải lượng nước thải của các xã ven sông trên, có thể nhận thấy áp lực mà sông Ba Lai sẽ phải đối mặt trong thời gian tới là rất đáng kể, nếu như nguồn nước thải không được xử lý hiệu quả trước khi xả thải ra môi trường. Vì vậy trong tương lai cần phải thay các mương thoát nước bằng hệ thống cống tròn với quy cách thích hợp theo từng lưu vực thu nước; tiến hành xây dựng hệ thống cống trên khu vực chưa có hệ thống thoát nước kết hợp với nạo vét các kênh rạch, các đường thoát nước chính. Đồng thời cần dự trù quỹ đất xây dựng các hồ điều hòa và trạm bơm tiêu các cấp, xây dựng giếng tách tràn, hệ thống thu nước thải tập trung; hồ xử lý sinh học nhằm có thể tách, thu gom và xử lý nước thải sau năm 2020 trong điều kiện có nhiều thuận lợi hoặc có nhu cầu bức thiết. 3.2.2.2 Nông nghiệp Về trồng trọt: Tuy diện tích đất gieo trồng có khuynh hướng giảm dần để chuyển sang mục đích sử dụng khác như phát triển đô thị, công nghiệp, công trình công cộng, dịch vụ,.... nhưng tốc độ tăng trưởng ngành trồng trọt đến năm 2020 vẫn ổn định nhờ vào quá trình phát triển các vùng chuyên canh theo chiều sâu và phát triển đa dạng hóa các loại hình dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp. Do vậy, đến năm 2020 diện tích đất trồng trọt của vùng khảo sát có thể giảm 4 – 5%. Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng ngành trồng trọt 2 – 3%/năm thì hóa chất BVTV có thể tăng lên 1 kg/ha/vụ, tuy nhiên lượng phân bón hóa học có thể không tăng nhiều (300 kg/ha/vụ) so với năm 2010. Dự báo năm 2020 lượng phân bón hóa học và thuốc BVTV được nêu trong bảng 3.13: Bảng 3.13: Dự báo lượng phân bón hóa học và thuốc BVTV sử dụng năm 2020 Huyện Ba Tri Diện tích đất sản xuất nông nghiệp (ha) Lượng phân bón/thuốc BVTV (kg/ha/vu) Tổng lượng phân/thuốc BVTV (kg/vụ) Phân bón Hóa chất BVTV Phân bón Hóa chất BVTV Tân Mỹ 1.909 300 1 572.700 1.909 Tân Xuân 3.159 300 1 947.700 3.159 Bảo Thạnh 1.122 300 1 336.600 1.122 Tổng 6.190 300 1 1.857.000 6.190 Dựa vào dự báo lượng phân bón hóa học và thuốc BVTV sử dụng năm 2020 ta sẽ dự báo được tải lượng ô nhiễm do phân bón và thuốc BVTV đưa vào hệ thống kênh rạch được nêu trong bảng 3.14: Bảng 3.14: Dự báo tải lượng phân bón và thuốc BVTV thải vào môi trường đến năm 2020 Huyện Giồng Trôm Diện tích đất sản xuất nông nghiệp (ha) Tổng lượng phân/thuốc BVTV (kg/vụ) Tổng lượng phân/thuốc BVTV thải vào môi trường(kg/vụ) Phân bón Hóa chất BVTV Phân bón Hóa chất BVTV Tân Mỹ 1.909 572.700 1.909 229.080 764 Tân Xuân 3.159 947.700 3.159 379.080 1.264 Bảo Thạnh 1.122 336.600 1.122 134.640 449 Tổng 6.190 1.857.000 6.190 742.800 2.476 Về chăn nuôi: Chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Tri có vai trò quan trọng để giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân. Vì vậy, chăn nuôi là một trong những mục tiêu được định hướng quy hoạch phát triển của tỉnh đến năm 2020. Trong đó các xã Tân Mỹ, Tân Xuân và Bảo Thạnh đều là những địa bàn được chọn tập trung phát triển chăn nuôi vì vậy sông Ba Lai sẽ chịu ảnh hưởng rất nhiều từ nước thải chăn nuôi. Bảng 3.15: Dự tính số lượng vật nuôi năm 2011 - 2020 Huyện Ba Tri 2020 Bò Heo Gia cầm Xã Tân Mỹ 5.633 1.876 61.373 Xã Tân Xuân 1.084 104 19.824 Xã Bảo Thạnh 1.665 1.461 28.226 Tổng 8.382 3.441 109.423 ( Nguồn: dự thảo chi tiết nông lâm, nông ngư 2011) Dự tính được lượng vật nuôi năm 2020 ta sẽ tính được lưu lượng và tải lượng ô nhiễm đến năm 2020 theo bảng 3.16 và bảng 3.17 là: Bảng 3.16: Dự tính lượng nước thải trong quá trình chăn nuôi 2020 Bò Heo Gia cầm Tổng cộng Định mức (WHO,1993) (m3/con.năm) 8 14,6 0,9 Xã Tân Mỹ 45.064 27.390 55.236 127.690 Xã Tân Xuân 8.672 1.518 17.842 28.032 Xã Bảo Thạnh 13.320 21.331 25.403 60.054 Tổng 67.056 50.239 98.481 215.776 Bảng 3.17: Tải lượng ô nhiễm của hoạt động chăn nuôi. Huyện Ba Tri Trung bình nồng độ ô nhiễm mg/l Lượng thải m3/ngày Tải lượng ô nhiễm nước thải kg/ngày TSS BOD COD TSS BOD COD 2.459 2.466 3.545 Tân Mỹ 349,8 860,1 188,8 404,5 Tân Xuân 76,8 862,6 189,4 405,6 Bảo Thạnh 164,5 1240 272,3 583,1 Tổng 591,1 2962,7 650,5 1393,2 Nước thải chăn nuôi là một trong những loại nước thải rất đặc trưng, có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao bởi hàm lượng chất hữu cơ (BOD, COD), cặn lơ lửng và sinh vật gây bệnh, nó có nhiều mùi hôi đặc trưng khó chịu và gây ô nhiễm nặng. Vì vậy, nếu lượng nước thải này không được thu gom, xử lý đúng quy định cho phép thì trong tương lai sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước sông Ba Lai. 3.2.2.3 Nuôi trồng thủy sản Các công nghệ về sản xuất con giống, thức ăn, quy trình nuôi thủy sản thâm canh ngày càng hoàn thiện, quy mô nuôi ngày càng tăng. Hoạt động này sẽ gây ra áp lực tác động tiêu cực đến môi trường. Nuôi thâm canh được coi như một quá trình cuối đường ống bao gồm một lượng lớn các vật liệu được đưa vào sau đó chỉ một lượng nhỏ vật nuôi được thu hoạch phần còn lại được coi như là chất thải thải ra môi trường bên ngoài. Thức ăn công nghiệp có thành phần dinh dưỡng cao đặc biệt là giàu protein, phốt pho là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng phú dưỡng hóa và làm suy giảm tài nguyên thủy sinh của của sông rạch trong lưu vực. Dự báo lượng nước thải thủy sản năm 2020 thải ra sông rạch được tính theo bảng 3.18: Bảng 3.18: Dự tính lượng nước thải nuôi trồng thủy sản ra môi trường đến năm 2020. Huyện Ba Tri Diện tích (ha) Lượng nước thải (m3/ngày) Tân Mỹ 560,8 1.009.440 Tân Xuân 260,6 469.080 Bảo Thạnh 17,2 30.960 Tổng 838,6 1.509.480 Như vậy, ước tính diện tích nuôi trồng thủy sản của 3 xã đến năm 2020 là vào khoảng 838,6 ha; mà lưu lượng thải là 1.800 m3/ha.ngày vậy tổng lưu lượng nước thải thải ra trong một ngày sẽ là 1.509.480 m3. CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ NGUỒN NƯỚC SÔNG BA LAI ĐẾN NĂM 2020. 4.1 Đề xuất các biện pháp quản lý và bảo vệ nguồn nước mặt 4.1.1 Giải pháp về nguồn lực con người, tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ môi trường. Tăng cường năng lực quản lý tại địa phương: Huyện cần có chế độ đãi ngộ hợp lý nhằm thu hút nguồn nhân lực được đào tạo chính quy chuyên ngành môi trường. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ quản lý và chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ làm công tác BVMT từ huyện đến cơ sở, nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của công tác BVMT tại địa phương, đơn vị. Huyện nên cử các cán bộ môi trường, cán bộ quản lý có liên quan được giao lưu học hỏi các mô hình BVMT đạt hiệu quả tốt ở các huyện khác cũng như các tỉnh khác. Giáo dục nâng cao nhận thức của người dân và kêu gọi sự hợp tác của cộng đồng trong công tác BVMT. Tăng cường vai trò của cộng đồng trong công tác giám sát quá trình triển khai cũng như áp dụng quy định, chính sách về môi trường tại địa phương, cộng đồng trực tiếp tham gia giải quyết các xung đột môi trường. Cần tổ chức các cuộc họp định kỳ, buổi tuyên truyền tại các huyện nhằm phổ biến kiến thức môi trường, các luật môi trường một cách dễ hiểu, rõ ràng nhằm nâng cao nhận thức của người dân về công tác giữ gìn và bảo vệ môi trường. Cần có các hình thức khen thưởng, tuyên dương đối với các xã và cá nhân có nhiều thành tích tốt trong công tác bảo vệ môi trường. Đồng thời, tổ chức các buổi trao đổi kinh nghiệm giữa các cán bộ môi trường nhằm giúp họ tiếu thu, học hỏi và áp dụng các biện pháp quản lý hiệu quả. Đưa chương trình giáo dục môi trường vào trường học; Tổ chức các buổi hoạt động ngoại khóa giúp các em biết thêm về vai trò của môi trường; Thường xuyên tổ chức các ngày chủ nhật xanh, khuyến khích các em tham gia làm sạch đường phố, trường lớp nhằm giữ thói quen giữ vệ sinh chung; Giáo dục các em hiểu được vai trò và lợi ích của cây xanh.... Kết hợp với Đài phát thanh, truyền hình, báo chí..... để tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng. Phối hợp với các tổ chức đoàn thể tổ chức các buổi hoạt động phong trào kêu gọi sự tham gia của cộng đồng nhân các ngày Tổ chức hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường (ngày 29/6 – 6/5), Ngày Đa dạng sinh học (ngày 22/5), Ngày Môi trường thế giới (ngày 5/6).....Đồng thời trong huyện và các xã tổ chức phổ biến rộng khắp trong cộng đồng. Thành lập các đội đoàn viện tình nguyện tại địa phương nhằm thường xuyên bám sát địa bàn, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn các hộ gia đình trong việc xử lý rác thải sinh hoạt, nước thải sinh hoạt.... Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch truyền thông nhằm tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản. 4.1.2 Các giải pháp chung để hạn chế xâm nhập mặn Do biến đồi khí hậu làm cho mực nước biển dâng cao, diện tích đất bị ngập nước và xâm nhập mặn đang bị đe dọa, trong khi đó đất ở khu vực khác cao hơn dùng trồng lúa và các loại cây trồng khác cũng đang giảm nhanh do phát triển công nghiệp và đô thị hóa. Xâm nhập mặn sâu ảnh hưởng đến chất lượng nước, suy giảm sản xuất nông nghiệp. Quần thể của một số loài (chủ yếu là các động vật hoang dã) đang bị đe dọa bởi thay đổi môi trường nước từ ngọt sang mặn và lợ. Một phần diện tích đất trồng trọt ở tỉnh có thể bị xâm nhập mặn, hệ sinh thái nước ngọt sẽ bị thu hẹp dần và hệ sinh thái nước mặn và lợ sẽ tăng cao. Các giống cây trồng đặc hữu của địa phương có khả năng bị suy thoái. Một số khu vực thủy sản nước ngọt giảm do không thích ứng kịp với môi trường (độ mặn, độ kiềm). Các hệ sinh thái nước lợ và ven bờ, đặc biệt là các loài nhuyển thể hai mảnh vỏ (nghêu, sò…) có thể bị chết hàng loạt do không chống chịu nổi với nồng độ muối, nhiệt độ thay đổi bất thường. Các quần thể sinh vật hiện hữu sẽ thay đổi cấu trúc và thành phần loài, giảm trữ lượng do chế độ thủy lý, thủy hóa và thủy sinh xấu đi liên quan đến nước nhiễm mặn. Bảo Thạnh là xã chịu ảnh hưởng của quá trình xâm nhập mặn này nhiều nhất và sẽ bị tác động trực tiếp đến tình trạng thiếu nước ngọt, khô hạn, đất nông nghiệp bị bỏ hoang do khả năng tích giữ nước, khả năng cung cấp nước và tài nguyên nước ngầm bị hạn chế. Ngoài ra việc sản xuất lương thực trên nhiều vùng gặp khó khăn ảnh hưởng đến việc cung cấp lương thực hoặc tăng giá thành sản xuất sẽ tác động tiêu cực đến đời sống của một bộ phận cư dân người nông dân. Việc phải di chuyển nơi ở; mất việc làm, thu nhập giảm sẽ tác động không nhỏ đến mức sống, sức khỏe của người dân. 4.1.2.1 Các giải pháp: Về công trình: Thường xuyên kiểm tra đo độ mặn ở các cống đầu mối để có lịch đóng mở các cửa cống cho phù hợp, đảm bảo ngăn mặn trữ ngọt. Đối với những khu vực chưa có đê bao khép kín, vận động dân đắp đập tạm, đắp đê bao ngăn mặn, trữ ngọt cục bộ. Trung tâm nước sinh hoạt thông báo tình hình diễn biến mặn đến các hộ sử dụng nước để có biện pháp trữ nước ngọt phục vụ sinh hoạt. Địa phương làm tốt công tác thủy lợi nội đồng, đồng thời vận động nhân dân tiết kiệm nước ngọt trong mùa khô, tăng cường phương tiện trữ ngọt để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt trong các đợt hạn. Phát triển hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn. Quản lý điều tiết nước và vận hành cống: Giám sát mặn thường xuyên, vận hành hợp lý các công trình vừa đảm bảo tiêu thoát, ngăn mặn và đưa nước ngọt về. Chủ động trữ nước, lấy nước. Định kỳ thoát nước mặn và nguồn nước ô nhiễm trên sông, kênh rạch, trong đó đặc biệt là nguồn nước lợ và ô nhiễm trên sông Ba Lai. Phối hợp giữa các địa phương trong quản lý vận hành hệ thống công trình thủy lợi phục vụ chống hạn và xâm nhập mặn. Làm tốt công tác thông tin, dự báo: Dự báo dài hạn, ngắn hạn và cập nhật thông tin độ mặn (trong ngày) trên các phương tiện thông tin đại chúng ( Đài phát thanh, truyền hình.....) 4.1.2.2 Kế hoạch sử dụng nguồn nước Bơm tưới chống hạn Tùy theo vị trí địa lý, khai thác tối đa lợi thế của thủy triều như đối với vùng giáp ranh, tranh thủ thời cơ điểm triều cường, bơm nước cho các vùng phía dầu nguồn nhằm lấy nước phục vụ tưới và chống hạn. Tại các vùng ven biển, tranh thủ lúc triều kém, khi đó cũng là lúc dòng ngọt tiến về biển nhiều hơn, chủ động bơm nước tưới cho các vùng hạ lưu. Ngành chủ quản và các cơ quan chức năng cũng cần nghiên cứu khai thác nguồn nước ngầm tầng sâu, phân phối theo hệ thống tập trung, đề phòng nguồn nước mặt cạn kiệt trong nhiều ngày. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi Cập nhật thông tin dòng chảy thượng lưu, bố trí thời vụ lúa xuân hè là loại cây trồng sinh trưởng trong mùa khô. Trong những năm tới nên xuống giống vụ hè thu vào cuối tháng 4, tháng 5 để sử dụng lượng nước mưa dầu mùa. Trong tháng 2, tháng 3 nên cày ải, đóng cống giữ khô phơi đất ruộng. Lựa chọn các giống chịu hạn mặn, sử dụng các loại cây trồng ít tốn nước. Khuyến cáo người dân sử dụng nước tiết kiệm. Quy hoạch vùng nuôi thủy sản nước mặn, nước ngọt hợp lý, ổn định, để có ranh giới mặn ngọt rõ ràng, có các biện pháp công trình, phương án điều tiết nước hợp lý cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Các vùng nuôi trồng thủy sản, như tôm, cá da trơn cần phải bơm lượng nước thải từ các ao hồ nuôi cá ra đồng ruộng để tưới cho lúa vừa có nguồn nước ngọt tưới cho lúa trong mùa khô, vừa là nguồn dinh dưỡng cho lúa vì lượng nước thải từ các ao nuôi sẽ có tác dụng hấp thu các chất Nitơ và Photpho đồng thời góp phần phân hủy các chất hữu cơ trong đất làm tốt cho lúa, nghiêm cấm xả thải trực tiếp ra kênh, rạch và cuối cùng là ra sông Ba Lai. 4.1.3 Đề xuất giải pháp giảm thiểu mức ô nhiễm nước thải từ các ao nuôi trồng thủy sản: Từ kết quả điều tra thực tế, khảo sát mô hình nuôi tôm, cá da trơn ( cụ thể là cá tra), các kết quả thử nghiệm hiệu quả xử lý cho thấy: Lưu lượng thải từ các ao nuôi tôm, cá tra: Lượng nước thải từ các ao nuôi tôm, cá tra (quy theo 1ha) thay đổi theo thời gian nuôi là rất lớn. Trong giai đoạn khi tôm, cá 1 tháng nuôi đầu tiên mức độ thải không nhiều do lượng tôm, cá trong ao nhỏ, lượng thức ăn ít. Sau 2 đến 3 tháng nuôi khi cá trong ao lớn, lượng thức ăn nhiều nên việc thay nước phải thường xuyên hơn và mỗi ngày lượng nước thải tăng dần từ 8.000 – 15.000 m3/ lần thay nước, tuy nhiên lượng thải không liên tục. Do đặc tính nguồn nước và chế độ cho ăn nên nguồn nước thải hằng ngày vào khoảng từ 8 – 10 giờ, nghĩa là tính chất nguồn thải không liên tục nhưng số lượng thải thì lại rất lớn. Thành phần chất ô nhiễm trong ao nuôi tôm, cá tra: Do đặc tính của việc nuôi tôm, cá tra công nghiệp là sử dụng thức ăn công nghiệp giàu đạm, vì vậy thành phần chất ô nhiễm trong nước thải từ nuôi tôm cá được xác định bao gồm 3 chất chủ yếu là chất hữu cơ, Nitơ và Photpho. Đặc điểm vùng nuôi tôm, cá tra ở Ba Tri: Nuôi tôm, cá tra ở Ba Tri chủ yếu được phát triển trong các ao dọc theo bờ sông Ba Lai, khu vực kế tiếp các ao nuôi là ruộng lúa. Các hộ nuôi tôm cá không thể sử dụng nước thải để tưới trực tiếp cho lúa mà phải đầu tư bố trí diện tích đất đào ao để làm hồ xử lý sinh học ( theo quy định về việc xây hồ sinh học để xử lý nước thải từ các ao nuôi tôm, cá da trơn). Vì vậy, với 3 đặc tính nêu trên về lưu lượng thải, thành phần chất ô nhiễm, đặc điểm vùng nuôi và điều kiện cơ sở hạ tầng thì giải pháp xử lý chủ động như làm thoáng và xử lý hiếu khí trước khi đưa ra ruộng lúa sẽ là giải pháp mang tính khả thi nhất. Trên cơ sở các kết quả thử nghiệm bằng hồ sinh học cho thấy mặc dù giải pháp hồ sinh học cũng có kết quả nhất định trong xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra, tuy nhiên do lượng nước thải rất lớn,thời gian xử lý rất dài nên để xử lý nước thải từ ao nuôi cá tra trong thời điểm cuối vụ nuôi cần phải xây dựng hồ xử lý có diện tích bằng 5 - 7 lần so với diện tích ao nuôi. Điều này khó có thể thực hiện được trong các vùng nuôi cá tra hiện nay và hơn nữa việc sử dụng dạng hồ sinh học vẫn chưa giải quyết triệt để được các chất ô nhiễm từ nước thải nếu không áp dụng các biện pháp xử lý bổ sung như thu hồi sinh khối thực vật phù du. Trên cơ sở phân tích như trên, có thể thấy rằng hầu hết các ao nuôi cá tra dọc theo sông Ba Lai đều nằm trong vùng sản xuất nông nghiệp mà chủ yếu là trồng lúa, hàm lượng chất ô nhiễm trong nước thải rất cao, thành phần chất thải đều là chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng (Nito, Photpho), lượng nước thải lớn nên giải pháp có tính khả thi nhất là xử lý trước bằng các phương pháp đơn giản như làm thoáng, hồ sinh học hiếu khí,... có thể áp dụng ở điều kiện nông thôn rồi sử dụng lượng nước thải này để tưới cho lúa. Vì vậy, chúng tôi đề xuất mô hình để xử lý nước thải như sau: Các ao nuôi cá tra thường được đào sát bờ sông, lượng đất đào lên ( theo tính toán của các nhà chuyên môn, mỗi ao nuôi cá tra cần phải đào sâu 3m), như vậy lượng đất đào cho mỗi ha ao là 10.000m2x3m = 30.000m3 phải được đem lên đắp xung quanh ao hay để xây dựng đường nông thôn, tuyệt đối không được đổ xuống sông như đã làm từ trước đến nay. Việc đổ trực tiếp đất đào ao xuống sông là một trong những nguyên nhân chính làm cho cao trình đáy sông Ba Lai được nâng lên khoảng từ 1,5 – 2m.( Tham khảo báo cáo chuyên đề: ’’Đánh giá diễn biến môi trường các vùng nhạy cảm ở tỉnh Bến Tre’’) Lượng nước thải từ các ao nuôi cá tra được bơm lên các mương làm thoáng, hồ sinh học hiếu khí để làm giảm bớt nồng độ các chất hữu cơ trước khi dẫn về các ruộng lúa, nơi cuối cùng có tác dụng hấp thu các chất Nitơ và Photpho đồng thời góp phần phân hủy các chất hữu cơ trong đất. Nếu lượng nước thải từ các ao nuôi cá tra dọc theo sông Ba Lai được xử lý như mô hình đã được đề xuất ở trên thì toàn bộ lượng nước thải này sẽ không thải trực tiếp ra sông Ba Lai và như thế sẽ giảm được một lượng nguồn nước thải rất lớn đang làm ô nhiễm sông Ba Lai mà trong tương lai nếu như không được xử lý và có thể lượng nước này sẽ lớn hơn gấp nhiều lần do số lượng ao nuôi sẽ tăng lên theo như quy hoạch thì chắc chắn nguồn nước sông sẽ bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng hơn. Ngoài ra cần phải giảm thiểu mức ô nhiễm này từ nguồn như giảm lượng thức ăn dư thừa, thuốc phun và các loại hóa chất cũng chỉ cung cấp vừa đủ. 4.1.4 Các giải pháp chung để giảm thiểu ô nhiễm từ đầu Đối với sinh hoạt: tuyên truyền người dân xóa các cầu cá thay vào đó là sử dụng các hố xí hợp vệ sinh. Ngoài ra thì giảm lượng hóa chất dư thừa sử dụng hằng ngày như các loại xà phòng, các chất tẩy rửa.... Đối với trồng trọt: áp dụng các chương trình như BMI, 4 đúng.... trong nông nghiệp, giảm lượng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón dư thừa vào đồng ruộng. Đối với chăn nuôi: cần lắp đặt, xây dựng các hầm bioga để có thể vừa thu được khí sinh học vừa có phân bón cho cây trồng thay cho thải trực tiếp ra các kênh rạch để bảo vệ môi trường. Đối với nuôi trồng thủy sản: cần khuyến khích hộ nuôi giảm lượng thức ăn dư thừa, thuốc phun xuống các ao nuôi vừa tránh bớt ô nhiễm vừa tiết kiệm được chi phí cho hộ nuôi. 4.2 Xây dựng quy định xả thải nước thải 4.2.1 Cơ sở pháp lý - Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005; - Căn cứ Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật ngày 29 tháng 6 năm 2006; - Căn cứ Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật; - Căn cứ Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; - Căn cứ Quyết định số 04/2008/QĐ-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành các quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường; - Căn cứ Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường; 4.2.2 Quy định xả thải nước thải vào nguồn tiếp nhận Quy định xả thải nước thải trên địa bàn huyện (đoạn sông Ba Lai) để áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về môi trường như sau: Các tổ chức, cá nhân là chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm quan trắc, thống kê, kiểm toán chất thải để tính toán, xác định lưu lượng nước thải công nghiệp để áp dụng hệ số lưu lượng nguồn thải. Các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm cung cấp đúng, đầy đủ, chính xác và trung thực các thông tin về lưu lượng nước thải công nghiệp cho cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường. Trong trường hợp số liệu của các tổ chức, cá nhân cung cấp chưa đủ tin cậy, cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường sẽ tính toán, xác định hoặc trưng cầu giám định theo quy định pháp luật. Trong một số trường hợp đặc thù tùy thuộc vào quy mô, tính chất dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, điều kiện cụ thể về môi trường tiếp nhận nước thải, địa điểm thực dự án và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, Ủy ban nhân dân huyện có những quy định riêng. Việc xác định, tính toán lưu lượng các nguồn xả nước thải có thể được thực hiện thông qua các nội dung sau: - Thông tin về công nghệ máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất; - Tổng lượng nước sử dụng; - Số lượng nguồn phát sinh nước thải công nghiệp; - Các thông số của nguồn xả nước thải; - Đo lưu lượng các nguồn xả thải; - Kiểm toán chất thải. 4.3 Các biện pháp hỗ trợ khác 4.3.1 Tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường Vấn đề tuyên truyền nâng cao nhận thức không có gì mới, tuy nhiên công tác này phải được thực hiện thường xuyên, tránh thực hiện theo phong trào, có đúc kết đánh giá nhận xét và rút kinh nghiệm. Do công tác BVMT mang tính xã hội hóa sâu sắc và cần nguồn lực to lớn (kinh phí và nhân lực) để thực hiện đồng bộ công tác BVMT cần có cơ chế chính sách lôi cuốn đông đảo các lực lượng (bao gồm người dân, cơ sở sản xuất kinh doanh, tổ chức xã hội, chính quyền địa phương…) tham gia vào công tác BVMT. Các nội dung cơ bản bao gồm: - Triển khai Luật Bảo vệ Môi trường và các Văn bản dưới luật đến từng tổ chức quản lý môi trường ở các cấp, cơ sở sản xuất gắn việc BVMT vào nội dung xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư để mọi người hiểu rõ nghĩa vụ, quyền lợi, tự giác chấp hành. - Tuyên truyền, vận động nhân dân, nâng cao nhận thức cộng đồng góp phần giữ gìn vệ sinh môi trường, thực hiện nếp sống văn minh đô thị. - Tổ chức các hội thảo khoa học phổ biến các kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm cải tạo ô nhiễm môi trường và phòng ngừa ô nhiễm môi trường cho các địa phương. - Tổ chức các diễn đàn thân thiện môi trường: nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp, khuyến khích và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia vào công tác quản lý môi trường; Các buổi hội thảo, tọa đàm chuyên đề về quản lý và BVMT như: vấn đề môi trường đối với sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sự phát triển bền vững của nền kinh tế, khuyến kích doanh nghiệp tham gia quản lý môi trường, khuyến kích mỗi doanh nghiệp có một cán bộ quản lý môi trường HSE (Health, Safety and Environment – Sức khỏe – An toàn – Môi trường), áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn và Tiêu chuẩn môi trường ISO 14000; Các cuộc thi tìm hiểu về môi trường trong học sinh, sinh viên (Sony xanh, Thế giới xanh…). - Tăng cường nhận thức: đưa ra các khuyến cáo liên quan đến thương hiệu sản phẩm, mà việc này gây ra một áp lực của người tiêu dùng lên sản phẩm. Người tiêu dùng chỉ nên lựa chọn những sản phẩm mà trong quá trình sản xuất không gây ô nhiễm môi trường. Cộng đồng xã hội cần đề cao những hành động cương quyết của người tiêu dùng là không lựa chọn các sản phẩm mà trong quá trình sản xuất để lại những hậu quả về môi trường. (Ví dụ như công nghệ sản xuất, lượng tài nguyên thiên nhiên sử dụng trên một đơn vị sản phẩm và việc xử lý sản phẩm sau khi đã qua sử dụng) - Tăng cường thông tin chất lượng môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao trách nhiệm BVMT. Cần bổ sung số liệu thực trạng ô nhiễm môi trường nước, không khí, các đặc trưng trung bình, max, min hàng tháng của các thông số môi trường và các trạm giám sát môi trường trong niên giám của tỉnh/thành để thuận tiện cho việc theo dõi, đánh giá và nhắc nhở nhân dân có trách nhiệm BVMT. - Giáo dục môi trường và tổ chức phối hợp giữa các cơ quan ban ngành địa phương, phân công rõ ràng chức năng, nhiệm vụ về BVMT các cấp. - Giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm về BVMT cho cộng đồng dân cư, các nhà quản lý, hoạch định chính sách, các nhà doanh nghiệp đồng thời với việc tăng cường các biện pháp quản lý hành chính, cưỡng chế, thực hiện nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. - Khuyến khích công chúng tham gia bảo vệ môi trường, lắp đặt đường dây điện thoại nóng tố giác khi phát hiện bất kỳ hiện tượng nào gây ô nhiễm nước sông. 4.3.2 Nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý môi trường huyện Ba Tri Nhu cầu quản lý môi trường ngày càng cao trong quá trình xây dựng và phát triển tỉnh Trà Vinh, đặc biệt là quản lý lưu vực sông. Trong thực tế, Chi cục Bảo vệ môi trường có vai trò quan trọng trong tham mưu cho lãnh đạo về công tác quản lý và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng bền vững, tuy nhiên lực lượng còn mỏng, năng lực chuyên môn quản lý môi trường còn ít nhiều hạn chế. Cần thiết phải được đào tạo và nâng cao nghiệp vụ quản lý môi trường đón đầu với những thách thức diễn biến môi trường phức tạp trong thời gian tới cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu. Tranh thủ nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế và ngân sách Nhà nước để cử cán bộ đi tham quan học tập nâng cao trình độ, tham gia hội nghị, hội thảo, chuyên đề. Các cán bộ lãnh đạo về môi trường cần được trang bị các kiến thức về các bước thiết kế và xây dựng một dự án BVMT bao gồm: phân tích các bên liên quan, phân tích vấn đề, phân tích mục tiêu, xây dựng và lựa trọn phương án và lập ma trận thiết kế dự án. Đề ra những chính sách ưu đãi đối với những cán bộ chuyên trách có trình độ sau đại học phù hợp với chuyên môn. Hoàn thiện bộ máy quản lý môi trường về phương diện tổ chức, cơ sở vật chất. Lồng ghép nội dung BVMT trong tất cả các quy hoạch phát triển của các ngành và địa phương. Xây dựng trình độ chuyên sâu về quản lý môi trường cho các cán bộ quản lý thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn và dài hạn nhằm đáp ứng cho nhu cầu trước mắt và tới năm 2016, hướng đến năm 2020. Thường xuyên tổ chức hội thảo, tập huấn để kịp thời bổ sung các thành tựu mới và hướng dẫn các quy định mới của Nhà nước về công tác BVMT, các kiến thức về môi trường… cho cán bộ chuyên trách và kiêm nghiệm. Tổ chức tham quan học hỏi các mô hình quản lý môi trường trong các khu công nghiệp, khu đô thị, trang trại… điển hình. 4.3.3 Tăng cường công tác quan trắc chất lượng môi trường nước - Đầu tư trang thiết bị và máy móc để đáp ứng công tác đo đạc, phân tích các chỉ tiêu môi trường, đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin và số liệu tin cậy cho việc đánh giá hiện trạng và diễn biến môi trường. - Chuẩn hóa các quy trình khảo sát, lấy mẫu, phân tích phòng thí nghiệm theo Tiêu chuẩn, Quy chuẩn quốc gia và quốc tế (Villas) thông qua các hoạt động đào tạo, phối hợp giữa các phòng thí nghiệm và tham gia mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia. Xây dựng cơ sở dữ liệu quan trắc môi trường và quản lý bằng GIS. Áp dụng mô hình hóa môi trường về chất lượng nước, không khí, chất thải rắn nhằm tăng cường nguồn thông tin thứ cấp, giảm những nỗ lực không cần thiết trong công tác quan trắc. Áp dụng công nghệ thông tin xây dựng cơ sở dữ liệu Tài nguyên – Môi trường nhằm thu thập, hệ thống, phân tích, đánh giá các thông tin về môi trường phục vụ công tác điều hành các hoạt động quản lý môi trường trên lưu vực sông. Ngoài ra, cũng cần đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường nước, tranh thủ đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho bảo vệ môi trường, phát triển các quỹ môi trường và khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường nước. CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận Tuyến sông Ba Lai trên địa bàn Huyện Ba Tri là một trong những nguồn nước mặt đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của Huyện và là nguồn sống của người dân trong việc cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất hàng ngày vì vậy việc bảo vệ môi trường nước sông Ba Lai không thể không thực hiện. Từ kết quả nghiên cứu, luận văn rút ra một số kết luận sau: Hiện nay, tuyến sông Ba Lai đang phải tiếp nhận khoảng gần 317.608,4 m3/năm nước thải sinh hoạt và hàng ngàn m3 nước thải công nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản. Dự báo đến năm 2020, mỗi ngày tuyến sông Ba Lai sẽ phải tiếp nhận từ nước thải sinh hoạt 601.987 m3/năm; nước thải chăn nuôi vào khoảng 215.776 m3/năm với tải lượng ô nhiễm của một số chỉ tiêu cơ bản như BOD5: 237,3 tấn/ngày; COD: 508,5 tấn/ngày; SS và hàng triệu m3 nước thải nuôi trồng thủy sản,...Cho thấy áp lực mà sông Ba Lai phải gánh chịu trong thời gian tới là rất lớn do đó việc quy hoạch, kiểm soát, quản lý nguồn nước này đòi hỏi phải được đầu tư nghiên cứu chuyên sâu để có biện pháp bảo vệ môi trường thích hợp và khả thi. Việc đánh giá tình hình xả thải nước thải, tải lượng các chất ô nhiễm từ nước thải sinh hoạt, chăn nuôi,…. của huyện vào tuyến sông Ba Lai góp phần giúp các cơ quan quản lý môi trường của Huyện đưa ra biện pháp quản lý nguồn thải, xác định mức độ xả thải, khả năng tiếp nhận nước thải và phân vùng chất lượng nước cho từng mục đích sử dụng phù hợp nhằm giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ chất lượng nước sông Ba Lai nhằm hướng đến sự phát triển bền vững trong tương lai. Ngoài ra, để đánh giá tình hình xả thải nước thải, đề xuất các giải pháp quản lý và bảo vệ chất lượng nước mặt trên tuyến sông Ba Lai có ý nghĩa và mang lại hiệu quả tốt hơn trong công tác quản lý môi trường, luận văn cũng đã đề xuất các biện pháp hỗ trợ: xây dựng cơ sở dữ liệu về các nguồn thải, xây dựng quy định xả thải nước thải cùng một số biện pháp khác như: nâng cao nhận thức cộng đồng, năng lực cho cán bộ quản lý môi trường, tăng cường công tác quan trắc chất lượng môi trường nước,... 5.2 Kiến nghị Do sự hạn chế về thời gian và nguồn số liệu nên luận văn chỉ mới bước đầu nghiên cứu khảo sát, đánh giá tình hình xả thải nước thải của Huyện Ba Tri vào sông Ba Lai tỉnh Bến Tre. Thực tế để đánh giá đúng chất lượng nước thải còn phải tính đến sự lan truyền ô nhiễm từ thượng nguồn của các huyện lân cận vào địa phận sông Ba Lai. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi cần phải có đầy đủ chuỗi số liệu quan trắc chất lượng nước trên diện rộng và các mô hình thủy lực – lan truyền chất trong mạng lưới sông rạch phức tạp. Đây cũng là trở ngại lớn trong việc thực hiện luận văn này – số liệu đo đạc về các tuyến sông thuộc tỉnh Bến Tre rất ít. Vì vậy, trong thời gian tới việc xây dựng cơ sở dữ liệu nền về chất lượng môi trường, đo đạc thủy văn tại sông và quy hoạch bố trí mạng lưới điểm quan trắc môi trường nước, cần hết sức lưu ý đến vấn đề này. Mạng lưới quan trắc môi trường nước mặt cần chú trọng vào các vị trí trên sông rạch nơi tiếp giáp với các huyện xung quanh để có cơ sở đánh giá mức độ ảnh hưởng ô nhiễm tại các khu vực tiếp giáp, từ đó có biện pháp xử lý hoặc hợp tác với các địa phương có trách nhiệm liên đới cùng nhau đề ra biện pháp khắc phục, khống chế ô nhiễm theo cấp độ quản lý tổng hợp lưu vực sông. TÀI LIỆU THAM KHẢO Phòng Nông nghiệp phát triển nông thôn huyện Ba Tri, Quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú đến năm 2020, năm 2011. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Ba Tri đến năm 2020. Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bến Tre, Báo cáo kết quả quan trắc và phân tích môi trường tỉnh Bến Tre, (2009 – 2011). Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bến Tre, Báo cáo tổng hợp hiện trạng môi trường 5 năm tỉnh Bến Tre (2005 – 2010), năm 2011. Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010 và phương hướng nhiệm vụ chủ yếu kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015. Báo cáo quy hoạch phát triển thương mại dịch vụ 2011. Dự thảo chi tiết nông lâm, nông ngư 2011. Sơ kết 2 năm thực hiện quy hoạch môi trường. Lâm Thị Thu Oanh, Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu đánh giá khả năng tiếp nhận nước thải của các sông chính trên địa bàn tỉnh Trà Vinh”, năm 2011. Lê Thị Thủy Triều, Luận văn thạc sĩ “Điều tra, đánh giá phân vùng xả thải nước thải vào các nguồn tiếp nhận trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp”, năm 2011. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hậu Giang, Quy hoạch quản lý và bảo vệ môi trường tỉnh Hậu Giang đến năm 2020, năm 2007. PHỤ LỤC Phiếu thu thập thông tin về các hộ gia đình: ĐẠI HỌC QUỐC GIA TPHCM VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN BIỂU MẪU PHIẾU [2-3] PHIẾU ĐIỀU TRA THÔNG TIN MÔI TRƯỜNG (Áp dụng cho các hộ gia đình) A. THÔNG TIN VỀ CHỦ HỘ: Tên chủ hộ……………………………………………………………………….. Địa chỉ:………………………………………..Điện thoại:…………………….. Số nhân khẩu:……………….(người). Người lớn:…………………...(người). Trẻ em:……………………….(người). B. HIỆN TRẠNG CẤP THOÁT NƯỚC: 1. Nguồn nước ông (bà) sử dụng được lấy từ:   Công ty cấp nước.   Nước giếng khoan (nước ngầm).   Nước mưa.   Nguồn nước sông,kênh,rạch. 2. Nước thải từ nhà ông (bà) được thoát ra như thế nào?   Tự thấm   Thoát trực tiếp ra sông, kênh, rạch.   Khác (nêu cụ thể):…………………………………………… 3.Nguồn nước tại các kênh, rạch gần nơi ông (bà) sinh sống được sử dụng để:   Sản xuất công nghiệp   Tưới tiêu   Sinh hoạt   Nuôi trồng thủy sản.   Chăn nuôi.   Khác………………. 4. Ông (bà) có chăn nuôi không? Có :   Không :   Nếu có: TT Con Số lượng (con, tấn) Cách thức nuôi (chuồng trại,thả rong,..) Diện tích (m2) Công suất máy bơm Số giờ bơm trong 1 ngày (h/ngày) 5. Nguồn nước phục vụ cho chăn nuôi:   Công ty cấp nước   Nước sông, kênh, rạch   Nước ngầm (giếng khoan) 6. Nước thải do chăn nuôi được xả thải ra:   Ra sông, kênh, rạch.(ghi rõ nguồn nhận)………………………..   Ra đất tự ngấm. 7. Nhà ông (bà) có hệ thống xử lý nước thải trong chăn nuôi không? Có :   Không :     Biogas.   Tách lấy phân.   Hầm tự hoại.   Phương pháp khác (nêu rõ)……………… 8. Nhà ông (bà) có dùng bơm để bơm nước không? Có :   Không :   Nếu có: Công suất của bơm là:………………………………… Một tháng ông (bà) tiêu tốn bao nhiêu điện năng :……………….KW. 9. Ông (bà) có trồng lúa không? Có :   Không :   Nếu có: Diện tích đất trồng lúa là:…………..hecta. Một năm trồng được ………..vụ. Máy bơm dùng để bơm nước có công suất là:…………w Lượng điện tiêu thụ 1 tháng cho tưới ruộng là:………….KW. Nguồn nước phục vụ cho tưới tiêu là:   Công ty cấp nước.   Nước giếng khoan (nước ngầm).   Nước mưa.   Nguồn nước sông, kênh, rạch. Lượng nước sau khi tưới được thải ra.   Tự thấm   Thoát trực tiếp ra kênh. (ghi rõ kênh nhận)…………………………….   Khác (nêu cụ thể):……………………………………………………. 10. Nguyên nhân gây ô nhiễm chủ yếu kênh rạch tại khu vực ông (bà) sinh sống:   Nước thải từ sinh hoạt.   Nước thải công nghiệp   Hoạt động giao thông thủy.   Người dân xả rác ra kênh,rạch.   Sự phát triển mạnh của một số loài thực vật trong nước.   Khác, (nêu cụ thể):……………………………………………….. 11.Theo ông (bà), nước kênh, rạch tại nơi ông (bà) sinh sống hiện nay ở trong tình trạng nào:   Không ô nhiễm   Bắt đầu ô nhiễm   Ô nhiễm   Ô nhiễm nghiêm trọng C. HIỆN TRẠNG THU GOM, THẢI BỎ CHẤT THẢI RẮN: 12. Hình thức xử lý lượng rác sinh hoạt tại hộ gia đình:   Đổ tại bô rác gần nhà.   Đổ xuống kênh,rạch gần nhà.   Đổ ở những khu vực trống.   Có xe thu gom rác tới nhà. 13. Rác trong khu vực gia đình sinh sống có được thu gom tốt không?   Rất tốt.   Không tốt, khoảng………. % rác thải được thu gom.   Có nhiều rác thải ra sông,kênh,rạch gây ô nhiễm.   Khu vực này chưa được thu gom.   Khác, (nêu cụ thể)……………………………. 14. Theo ông (bà), vấn đề môi trường bức xúc nhất hiện nay tại khu vực ông (bà) sinh sống là:   Ô nhiễm nước thải từ CSSX, làng nghề.   Ô nhiễm tiếng ồn.   Ô nhiễm kênh rạch.   Ô nhiễm do rác thải.   Ô nhiễm khác ( nêu rõ )…………………… XIN CHÂN THÀNH CÁM ƠN ÔNG (BÀ) Ngày…tháng…năm 2011 Người thu thập thông tin Người cung cấp thông tin Phiếu thu thập thông tin về các cơ sở nuôi trồng thủy sản: ĐẠI HỌC QUỐC GIA TPHCM BIỂU MẪU PHIẾU [ 3-3] VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN PHIẾU ĐIỀU TRA THÔNG TIN VỀ MÔI TRƯỜNG ( Áp dụng cho các cơ sở nuôi trồng thủy hải sản.) A. THÔNG TIN CHUNG. 1. Tên cơ sở : ……………………………………………………………........... 2. Địa chỉ liên hệ :……………………………………………………………………...... 3. Điện thoại/Fax: ………………………………………………………………………. 4. Người đại diện :……………………………………………………………................ 5. Loại hình hoạt động của cơ sở :   Nhà nước   Tư nhân.   Liên doanh.   Hộ gia đình   Khác :……………………………………………………………………… B. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ 1. Tình hình STT Loại thủy sản Khối lượng Mô hình nuôi trồng Diện tích sử dụng (m2) Lượng điện tiêu thụ (kw/tháng) 1 2 3 4 2. Thời gian cung cấp thức ăn : Số lần cung cấp trong ngày :………………..(lần). Khối lượng thực phẩm cho 1 lần :……………..(kg/lần). 3. Quy trình nuôi trồng : (Đề nghị vẽ sơ đồ khối và mô tả sơ lược) …………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….. 4. Nhu cầu dùng nước của cơ sở :………………..m3/ngày. Trong đó : Nước dùng cho sinh hoạt :…………………….. m3/ngày. Nước dùng cho nuôi trồng :……………………… m3/ngày. Nước dùng cho mục đích khác :………………... m3/ngày. 5. Nguồn nước cấp cho cơ sở : Nước máy : Không :   Có :  …………….. m3/ngày Nước ngầm: Không :   Có :  …………….. m3/ngày Tầng sâu (m) Công suất (m3/ngày) Ghi chú Giếng 1 Giếng 2 Giếng 3 Giấy phép khai thác nước ngầm : Có :   Không :   Số giấy phép khai thác nước ngầm :…………………………………. 6. Kế hoạch mở rộng trong tương lai. Mở rộng diện tích trong tương lai: Có :   Không :   Diện tích mở rộng (dự kiến) :…………………………………………….. Công suất mở rộng (dự kiến) :……………………………………………. 7. Cơ sở có giấy phép xả thải không ? Có :   Không :   ( Nếu có giấy phép xả thải thì vui lòng đính kèm giấy chứng nhận đăng ký xả thải) 8. Cơ sở có thực hiện đúng như Nghị định số 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải của Chính phủ ngày 13/06/2003 ? Có :   Không :   9. Cơ sở có kê khai phí bảo vệ mội trường đối với nước thải : Có :   Không :   10. Cơ sở đã có hệ thống xử lý nước thải không ? Có :   Không :   11. Hệ thống xử lý nước thải, nước mưa có tách ra không ? Có :   Không :   12. Cơ sở có bị ngập lụt không ? Có :   Không :   13. Thời gian ngập lụt từ:……………….trong năm. 14. Thời gian ngập lụt có ảnh hưởng đến cơ sở không? Có :   Không :   15. Cơ sở có thiết kế hệ thống đảm bảo cho ngập lụt không? Có :   Không :   16. Cơ sở có giấy phép cam kết bảo vệ môi trường không ? Có :   Không :   Nếu có giấy phép số :…………………………………………………………… Xin chân thành cám ơn ! Ngày …....tháng……năm 2011 Người đại diện NƯỚC VÙNG HẠ LƯU TT Chỉ tiêu Đơn vị Phương pháp thử Kí hiệu mẫu NM-37 1 pH - TCVN 6492:2000 7.29 2 Độ mặn %o Thiết bị chuyên dùng 9.2 3 SS mg/l TCVN 4560:1988 73 4 Fe mg/l TCVN 6177:1996 0.84 5 Mn mg/l APHA 3111B ©, 20th Ed 0.024 6 N-NH4+ mg/l APHA 4500-NH3-G, 20th Ed 0.02 7 Dầu mỡ khoáng mg/l TCVN 5070:1995 0.02 8 BOD5 mgO2/l TCVN 6001:1995 6 9 COD mgO2/l APHA 5220 C, 20th Ed 0.02 10 Coliform MPN/100ml APHA 9221B-9222C 93 NƯỚC CÁC SÔNG RẠCH CHÍNH TT Chỉ tiêu Đơn vị Phương pháp thử Kí hiệu mẫu NM-14 NM-15 1 pH - TCVN 6492:2000 6.61 6.65 2 Độ mặn %o Thiết bị chuyên dùng 0 0 3 SS mg/l TCVN 4560:1988 194 180 4 Fe mg/l TCVN 6177:1996 4.14 4.31 5 Mn mg/l APHA 3111B ©, 20th Ed 0.015 0.015 6 N-NH4+ mg/l APHA 4500-NH3-G, 20th Ed 0.04 0.04 7 N-NO3- mg/l APHA 4500-NO3, 20th Ed 0.15 0.06 8 BOD5 mgO2/l TCVN 6001:1995 11 6 9 COD mgO2/l APHA 5220 C, 20th Ed 18 10 10 Coliform MPN/100ml APHA 9221B-9222C 23000 6400 Bảng kết quả phân tích chất lượng nước trên sông, kênh rạch chính KHM Vị trí lấy mẫu Lần quan trắc pH Độ mặn SS Fe Mn NH4+ NO3- BOD5 COD Coliform NM-14 Bến đò Rạch Gừa Đầu mùa mưa 2009 7.39 0.4 52 0.44 0.031 0.51 1.72 6 10 11000 Đầu mùa khô 2009 6.86 0 106 2.46 0.037 0.17 0.23 5 9 11000 Đầu mùa mưa 2010 7.7 144 3.23 1.48 0.096 7 12 4600 Đầu mùa khô 2010 7.08 0 127 3.34 0.002 0.18 0.331 5 12 5700 Đầu mùa mưa 2011 7.21 4.3 110 0.79 KPH 0.14 0.124 4 7 430 NM-15 Cống đập Ba Lai Đầu mùa mưa 2009 7.59 0.7 28 0.28 0.024 0.51 0.84 <3 4 15 Đầu mùa khô 2009 7.03 0 24 1.25 0.02 0.12 0.33 <3 5 210 Đầu mùa mưa 2010 7.67 156 0.66 1.15 0.051 4 6 230 Đầu mùa khô 2010 6.88 0 58 1.7 KPH 0.05 0.388 4 6 2400 Đầu mùa mưa 2011 7.65 5.6 56 1.68 0.031 0.13 0.124 4 6 2400 Bảng kết quả phân tích chất lượng nước vùng hạ lưu KHM Vị trí lấy mẫu Lần quan trắc pH Độ mặn SS Fe Mn NH4+ NO3- BOD5 COD Coliform NM-37 Cửa Ba Lai Đầu mùa mưa 2009 7.26 21.4 108 0.5 0.008 0.05 <3 7 110 KPH Đầu mùa khô 2009 7.29 9.2 73 0.84 0.024 0.02 <3 6 93 0.02 Đầu mùa mưa 2010 7.71 188 0.83 1.235 <3 5 210 KPH Đầu mùa khô 2010 7.35 6.9 156 1.76 0.066 1.39 3 5 280 KPH Đầu mùa mưa 2011 7.99 28 234 1.71 0.044 0.424 4 6 430 0.04 Một số hình ảnh đi khảo sát thực tế: H ình 1: Sử dụng nước kênh cho mục đích sinh hoạt Hình 2: Mô hình nuôi tôm sú ở xã Bảo Thạnh Hình 3: Lục bình và rong rêu phát triển mạnh do nước ô nhiễm các chất hữu cơ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docbai lam luan van 26-8-2011.1.doc
  • docBM05-QT04-DT Phieu giao de tai.doc
  • docloi cam doan.doc
  • docLoi cam on.doc
  • docmuc luc.doc
Tài liệu liên quan