Đề tài Ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ của người dân tân

Ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ của người dân tânMỤC LỤC PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU. I. Lý do chọn đề tài. I.1. Tính cấp thiết của đề tài. II. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài. II.2. ý nghĩa thực tiễn II.1.ý nghĩa lý lụân III. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu IV. Đối t¬ợng - Khách thể - Phạm vi nghiên cứu. IV.1. Đối t¬ợng nghiên cứu. IV.2. Khách thể nghiên cứu. IV.3. Phạm vi nghiên cứu. V. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu V.1. Cơ sở lý luận V.2.Thao tác hoá khái niệm V.3. Phương pháp nghiên cứu VI. Giả thuyết và khung lý thuyết VI.1. Gỉa thuyết VI.2. Khung lý thuyết PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Vài nét về địa bàn nghiên cứu II. Ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ của người dân xã Tân Lập – huyện Mộc Châu II.1. Thực trạng sức khoẻ, bệnh tật của người dân II.2. Nguyên nhân ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ người dân PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ III.1. Kết luận III.2.khuyến nghị TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc30 trang | Chia sẻ: banmai | Ngày: 15/04/2013 | Lượt xem: 330 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ của người dân tân, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA XÃ HỘI HỌC _____________________ BÁO CÁO THỰC TẬP Đề tài :ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẾN SỨC KHOẺ CỦA NGƯỜI DÂN TÂN (Qua khảo sát xă hội học tại xã Tân Lập - huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn La tháng 5/2007) Giáo viên hướng dẫn :TS MAI KIM THANH Sinh viên thực hiệ : KIỀU XUÂN HÌNH Lớp : K48 - Chuyên ngành xã hội học Niên khoá : 2003 - 2008 Hà nội tháng9 năm2007 MỤC LỤC PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU. I. Lý do chọn đề tài. I.1. Tính cấp thiết của đề tài. II. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài. II.2. ý nghĩa thực tiễn II.1.ý nghĩa lý lụân III. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu IV. Đối tợng - Khách thể - Phạm vi nghiên cứu. IV.1. Đối tợng nghiên cứu. IV.2. Khách thể nghiên cứu. IV.3. Phạm vi nghiên cứu. V. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu V.1. Cơ sở lý luận V.2.Thao tác hoá khái niệm V.3. Phương pháp nghiên cứu VI. Giả thuyết và khung lý thuyết VI.1. Gỉa thuyết VI.2. Khung lý thuyết PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Vài nét về địa bàn nghiên cứu II. Ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ của người dân xã Tân Lập – huyện Mộc Châu II.1. Thực trạng sức khoẻ, bệnh tật của người dân II.2. Nguyên nhân ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ người dân PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ III.1. Kết luận III.2.khuyến nghị TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN I : MỞ ĐẦU I /Lý do chọn đề tài : I.1: Tính cấp thiết của đề tài Môi trường là bộ phận quan trọng có liên quan chặt chẽ đến đời sống sức khoẻ của con người. ở các làng quê môi trường có quan hệ mật thiết đối với đời sống, sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng làng xã, thôn bản. Chính vì thế mà môi trường ở nông thôn không được quan tâm để ý bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ cuộc sống của cộng đồng ở tại làng xã đó Ở nông thôn ngày nay do nhu cầu phát triển kinh tế nhiều làng xã, thôn bản, hộ gia đình đã mạnh giạn đầu tư kinh phí vào phát triển nghề thủ công, nghề truuyền thống như, cơ kim khí, mây tre đan, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm với số lượng lớn. Xong việc xử lý nguồn nước thải, chất thải chưa đáp ứng yêu cầu gây ra ô nhiễm môi trường, nhiều hộ chăn nuôi không có hệ thống kênh rãnh thoát nước mà thải trực tiếp ra vườn, ra ao ngay nhà gây mùi hôi thối ô nhiễm, ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ của con người. Trên các trục đường ở làng quê ngày nay đang xuất hiện nhiều đống rác thải to kếch rù nằm ngổn ngang ngay trên đường đi liên thôn, liên xã và những trung tâm công cộng của làng xã như sân kho, sân bóng ....những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người mà còn làm mất cả mỹ quan của một làng quê, thôn bản xưa nay vẫn được coi là nơi có môi trường không khí trong lành và mát mẻ Nhiều làng quê, thôn bản vẫn còn duy trì những hủ tục ăn, uống không hợp vệ sinh như ăn gỏi cá, gỏi thịt, uống tập trung, thức ăn để bốc mùi mới ăn, ngủ sàn, ngủ nương, uống nước suối, tắm sông, tắm ao hồ. Nhiều vùng đồng bằng nông thôn, miền núi ngày nay nguồn nước ăn vẫn chủ yếu là nước giếng khơi, giếng đất, thậm chí có nơi còn ăn nước ao hồ, sông suối ( xã Tân Lập – huyện Mộc Châu – Tỉnh Sơn La có tới 80% số hộ dùng nước khe suối để ăn, sinh hoạt hàng ngày ) các tập tục sinh hoạt và sản xuất tự nhiên của các vùng nông thôn thường dẫn đến sự ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, việc sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu vào sản xuất nông nghiệp ngày nay ở nông thôn là chủ yếu, trong khi đó nhiều loại thuốc trừ sâu không đảm bảo chất lượng đă gây hại đến sức khoẻ của con người và động, thực vật. Nhiều hộ gia đình chưa quan tâm đến giếng nước, công trình vệ và khu chăn nuôi, chỉ mang tính chất có chưa nghĩ đến việc xử lý chất thải và hậu quả từ các công trình này thải ra nó ảnh hưởng đến môi trường và sức khẻo của con người. Đặc biệt những vùng rừng núi sâu xa hẻo lánh, trình độ nhận thức của người dân còn hạn chế, việc tuyên truyền và phổ biến các thông tin môi trường chưa rộng khắp, người dân chưa ý thức được việc giữ gìn vệ sinh môi trường và chăm sóc sức khoẻ cho bản thân, gia đình và cộng đồng vứt rác và tiểu tiện bừa bãi. Công trình vệ sinh bố trí chưa hợp lý, nước thải chăn nuôi, nước thải nhà xí, nơi tắm giặt, nơi nấu ăn thải bừa bãi ra ngay rau vườn, trâu bò nhốt ngay gầm sàn nhà ở, nhiều thói quen sinh hoạt xưa nay chưa được thay đổi, ốm đau chưa được quan tâm điều trị, coi thường bệnh tật, chính vì thế mà thường xảy ra dịch trong thôn, trong bản như dịch tả, dịch đau mắt, dịch cúm, nhiễm khuẩn ....đây là những vấn đề mà xã hội cần quan tâm. Song nhiều nghiên cứu về môi trường lâu nay chưa thấy đề cập đến vấn đề môi trường ở nông thôn ngày nay. Đặc bịêt là vấn đề môi trường ở vùng núi sâu, xa mà ở đây bà con đang ngày ngày sinh sống và lao động với những điều kiện môi trường không đảm bảo cho sức khoẻ của họ, họ chưa nhận thức được vấn đề môi trường có ảnh hưởng tới sức khoẻ như thế nào. Nên cần phải có những nghiên cứu đưa ra để giúp họ cải thiện môi trường, bảo vệ sức khoẻ tránh những tai biến, bênh tật do thiên nhiên và chính bản thân mình gây ra. Đây là lý do mà bản thân quan tâm và chọn đề tài nghiên cứu này “ Ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ của người dân xã Tân Lập – huyện Mộc Châu – Tỉnh Sơn La’’ II/ Ý nghĩa lý luận và thực tiễn II.1: ý nghĩa lý luận Bảo vệ và giữ gìn môi trường là một vấn đề đặc biệt quan trọng được nhiều quốc gia quan tâm, môi trường mà bị ô nhiễm sẽ dẫn tới ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, làm cho thiệt hại về kinh tế, xã hội chậm phát triển. Chính vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường tới sức khoẻ của con người là hết sức quan trọng Kết quả nghiên cứu của vấn đề này : Giúp làm sáng tỏ những hành động của người dân đối với môi trường, hàng ngày họ ăn, uống sinh hoạt có những tác động tới môi trường Giúp hình thành lên những quan niệm khoa học trong báo cáo về môi trường của người dân nói chung và người dân tộc, vùng sâu, vùng xa nói riêng II.2: ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu Giúp cho Nhà nước và những người làm công tác quản lý môi trườngđưarnhữnghoạch định, chính sách để bảo vệ môi trường khỏi ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân và cộng đồng Giúp cho người dân khỏi lo toan trước những thảm hoạ, tai biến của thiên nhiên gây ra như lũ quét, sương muối, hạn hán, bão lụt ... Giúp cho xã hội, cho cộng đồng có một môi trường xanh, sạch đẹp, có một bầu không khí trong lành, mát mẻ và dễ chịu III/ Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Thông qua thực trạng sức khoẻ của người dân để tìm hiểu những tác động của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tới sức khỏe của họ, xu thế này trong thời gian tới. Từ đó đề xuất những kiến nghị mang tính khả thi IV/ Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu IV.1: Đối tượng nghiên cứu: tác động của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tới sức khoẻ của người dân xã Tân Lập – huyện Mộc Châu – Tỉnh Sơn La IV.2: Khách thể nghiên cứu : toàn bộ người dân đang sinh sống và lao động tại xã Tân Lập – huyện Mộc Châu – Tỉnh Sơn La IV.3: Phạm vi nghiên cứu : nghiên cứu môi trường Môi trường được chia làm hai loại Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Môi trường tự nhiên gồm : khí hậu, địa lý, nguồn nước Môi trường xã hội gồm : quan hệ giưa các thành viên trong gia đình, ngoài xã hội, những thói quen trong sinh hoạt hàng ngày của người dân. Nhưng ở đây do điều kiện thời gian, không gian, điều kiện kinh tế có hạn, nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sâu một số ảnh hưởng của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội đến sức khoẻ của người dân xã Tân Lập – huyện Mộc Châu – Tỉnh Sơn La Phạm vi khảo sát : khảo sát tại địa bàn xã Tân Lập – huyện Mộc Châu – Tỉnh Sơn La Thời gian khảo sát : Tháng /5/2007. Những thông tin hỏi từ năm 2003 trở lại đây ( 5/2007) V/ Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu V.1: Một số lý thuyết liên quan đến đề tài Lý thuyết biến đổi xã hội: Mọi xã hội cũng giống như tự nhiên không ngừng biến đổi. Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định bên ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó. Do đó bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hoá nào, cho dù nó có bảo thủ và cổ truyền đến đâu đi chăng nữa cũng luôn biến đổi Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó nhứng khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và cấc hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi qua thời gian Lý thuyết hành động xã hội: Trên phương diện triết học, hành động xã hội chính là một hình thức hoặc cách giải quyết các mâu thuẫn, vấn đề xã hội. Hành động xã hội được tạo ra bởi các phong trào xã hội, các tổ chức, Đảng phái chính trị Trong xã hội học, hành động xã hội được hiểu cụ thể hơn và thường gắn với các chủ thể hành động là các cá nhân Theo Mar Weber “hành động xã hội là một hành vi mà chủ thể gắn cho một ý nghĩa chủ quan nhất định”. Hành động xã hội luôn gắn với tính tích cực cá nhân. Tính tích cực này lại bị quy định bởi hành loạt các yếu tố như nhu cầu, lợi ích, định hướng giá trị của chủ thể hành động, tất cả các yếu tố và quá trình đó chính là phương thức tồn tại của chủ thể Lý thuyết liên quan đến môi trường: V.2: Thao tác hoá khái niệm Khái niệm môi trường : Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo, có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên Khái niệm sức khoẻ: Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần xã hội. Sức khoẻ không chỉ được bảo đảm bởi cuộc sống vật chất mà còn quy định bởi đời sống tinh thần “Trạng thái sức khoẻ của một cá nhân, của cộng đồng phản ánh phần nào hiện trạng chất lượng nước, không khí, thức ăn, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt” Khái niệm chăm sóc sức khoẻ: V.3: Phương pháp nghiên cứu bao gồm Phân tích tài liệu : toàn bộ các nguồn tài liệu như báo cáo Đại hội Đảng bộ xã Tân Lập – Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội của UBND xã Tân Lập – Báo cáo tổng kết năm 2006 của trạm y Tế xã - Báo cáo của trung tâm y Tế huyện Mộc Châu và một số tài liệu về môi trường nông thôn Phương pháp quan sát : quan sát trực tiếp toàn bộ đời sống, sinh hoạt hàng ngày của người dân xã Tân Lập, quan sát nguồn nước sinh hoạt hàng ngày, các vật dụng đựng nước, quan sát môi trường xung quanh khu dân cư, khu nhà ở, quan sát địa lý, khí hậu, quan sát những thói quen, ý thức vệ sinh môi trường của người dân, quan sát các công trình, hệ thống vệ sinh trong gia đình và ngoài công cộng, quan sát việc xử lý rác thải, nước thải từ các khu chuồng trại chăn nuôi, nhà vệ sinh, nơi tắm giặt, nơi nấu ăn thải ra Phương pháp phỏng vấn Phỏng vấn bằng bảng hỏi : với N mẫu theo cơ cấu giới tính, học vấn, nghề nghiệp, thuần nông hỗn hợp, quy mô gia đình từ 2 thế hệ trở lên Phỏng vấn sâu : phỏng vấn 5 người Lãnh đạo xã = 1 ( nam ) Cán bộ y tế xã = 1 (nữ ) Người dân trực tiếp sản xuất = 3 ( nam 1, nữ 2 ) VI / Gỉa thuyết và khung lý thuyết VI.1: Gỉa thuyết Thực trạng sức khoẻ, bệnh tật của người dân Nhận thức của người dân về môi trường và sức khoẻ Môi trường tự nhiên ( khí hậu, nguồn nước, địa lý ) và môi trường xã hội ( quan hệ trong gia đình, ngoài xã hội, những thói quen trong sinh hoạt của người dân ) ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân VI.2: Khung lý thuyết Điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa lý, nguồn nước Đặc điểm kinh tế, chính trị - VH - XH Xã Tân Lập Đặc điểm cộng đồng (phong tục tập quán) Đặc điểm hộ gia đình nhận thức văn hoá - xã hội Truyền thông y tế Dịch vụ y tế Sức khoẻ người dân Nhận thức thái độ, hành vi chăm sóc sức khoẻ của người dân PHẦN II : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I /Vài nét về địa bàn nghiên cứu Tân Lập là một xã vùng hai của huyện Mộc Châu – Tỉnh Sơn La, về phía Đông giáp ranh với xã Võng Luông, Vân Hồ về phía Tây giáp xã Chiềng Hắc về phía Nam giáp xã Tân Hợp về phía Bắc giáp xã Xuân Nha. Cách thị trấn Mộc Châu khoảng 30 km, diện tích đất tự nhiên của xã trên 1421,20 ha trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 684,4ha, đất ở là 298 ha, đất ao hồ 0,26ha, đất trồng rừng là 508,2 ha Tính đến thời điểm tháng 6 năm 2005 toàn xã có 1791 hộ với trên 8593 nhân khẩu, trong đó có 399 hộ trên 1859 nhân khẩu là dân tái định cư từ huyện Mường La nơi giải phóng xây dựng thuỷ Điện Sơn La chuyển về định cư tại xã Tân Lập ( theo báo cáo Đại hội Đảng bộ xã Tân Lập nhiệm kỳ 2005- 2010 tổ chức ngày 19 tháng 6 năm 2005 ) Hiện nay toàn xã có 14 Bản và 4 Tiểu Khu gồm: Bản Hoa I, Bản Hoa II, Bản Dọi I, Bản Dọi II, Bản Tà Phình, Bản Nậm Tôm, Bản 32, Bản Nậm Khao, Bản Co Phay, Bản Lóng Cóc, Bản Nà Tân, Bản Phiêng Đón .......và có 7 dân tộc anh em gồm dân tộc Thái, dân tộc Mông, dân tộc La Ha, dân tộc Kinh...., có tới 68% là dân tộc Thái Nghề nghiệp chính của người dân ở đây chủ yếu làm nông nghiệp chiếm 97%, còn 3% là kinh doanh dịch vụ Về sản xuất nông nghiệp Hiệu quả từ sản xuất nông nghiệp, năng xuất mùa vụ còn kém, thấp, theo báo cáo của UBND xã Tân Lập trình tại kỳ họp thứ 7 HĐND xã khoá XVIII nhiệm kỳ 2004 – 2009 họp ngày 26 tháng 12 năm 2006 cho thấy bình quân thu nhập một ha chỉ đạt 987 đến 1000 kg lúa trên 1 ha Từ năm 2003 thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về di dân tái định cư, phục vụ xây dựng công trình thuỷ Điện Sơn La, xã Tân Lập đã tiếp nhận 399 hộ trên 1859 nhân khẩu từ xã Ít Ong huyện Mường La về định cư tại xã, từ đó đời sống của nhân dân trong xã cũng có phần xáo trộn, người dân sở tại phải giành một phần đât sản xuất và đất ở cho dân tái định cư. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến đời sống kinh tế của xã có phần khó khăn Tính đến thời điểm tháng 6 năm 2005 toàn xã có 23 hộ giàu = 0,13%, có 247 hộ khá giả = 13,9%, có 863 hộ trung bình = 48,2%, có 600 hộ nghèo = 33,5%, có 48 hộ đói = 0,27 %. Cả xã có 3 hộ có nhà kiên cố bằng bê tông, có 62 hộ nhà tranh vách đất, nền đất còn lại là nhà sàn gỗ lợp ngói sông cầu ( ngói quặc ) Về phương tiện vận tải cả xã có 12 xe ô tô lớn nhỏ, công nông đầu ngang có 4 cái máy cày tay và máy xay xát có 120 cái có 62% số hộ có ti vi loại bình thường (năm trăm đến một triệu đồng) Đặc biệt là khi có dân tái định cư về xã Tân Lập đã xây dựng và mở rộng được tuyến đường xã và rải nhựa đoàng hoàng, nhiều hộ được đền bù tiền đất và hoa màu của dự án dân tái định cư cộng với đường giao thông trong xã thuận lợi, hai nữa đường ở đây tuy được cải tạo rải nhựa nhưng khá dốc chỉ có đi bộ và dùng các phương tiện động cơ mới đi được, nên nhiều hộ đã mạnh giạn mua xe máy loại bình thường tầm tiền 5 đến 10 triệu đồng để lấy phương tiện đi lại khoảng 44% số hộ có xe máy Trong xã có 29 hộ kinh doanh dịch vụ chiếm 0,16%, có 4 hộ kinh doanh vận tải chiếm 0,2% có 5 hộ chuyên xây dựng chiếm 0,22%, có13 hộ chế biến nông sản chiếm 0,9%. Ngoài trồng ngô, cấy lúa, trồng sắn ra nhiều hộ trồng mận, trồng chè Về chăn nuôi mỗi hộ có 2 đến 3 con Lợn, có 2 đến 3 con Trâu Bò, nhiều hộ có 5 đến 7 con như gia đình Cô Hà Thị Biến ở Bản Dọi I nuôi tới 12 con Bò cả to lẫn nhỏ Thu nhập bình quân đầu người đạt 3.250 nghìn đồng người trên năm ( theo báo cáo Đại hộ Đảng bộ xã Tân Lập tháng 6/ 2005 ) kinh tế tự cung tự cấp là chủ yếu vừa sảu xuất và vừa tiêu thụ Về cơ sở hạ tầng, cả xã có 4 trường học 1 trường mầm non có 5 lớp học, 1 trường tiểu học có 32 lớp học, 1 trường Trung học cơ sở có 21 lớp học, 1 trường Trung học phổ thông có 3 lớp học, xã có một trạm y tế được xây dựng lại năm 2003 kiên cố bằng bê tông có 4 phòng làm việc, trụ sở UBND xã cũng mới được xây mới năm 2004 khá khang trang, 2 tầng 8 phòng làm việc, một trạm cấp phát điện cho nhân dân Tuyến đường nhựa mới được xây dựng năm 2000 dài 4 km từ UBND xã đến Bản Dọi I Về văn hoá xã hội Năm học 2006 -2007 cả xã có 2360 em học sinh ở 4 cấp học đạt 93% số em trong độ tuổi đi học đến trường, song tỷ lệ trẻ em bỏ học dở chừng cũng khá cao chủ yếu là ở cấp II và cấp III, do điều kiện kinh tế, nhà lại ở xã trường học, đường nhiều đèo dốc, cho đến nay cả xã có 3 Bản được huyện Mộc Châu công nhận là Bản văn hoá đó là Bản Dọi I, Bản Hoa I và Bản Phiêng Đón, có 965 hộ được xã công nhận là gia đình văn hoá, mỗi Bản đều xây dựng hương ước riêng của Bản mình. Trạm y tế xã được biến chế 5 người trong đó có một trạm trưởng và 4 nhân viên, trạm trưởng và nhân viên đều học qua trường trung cấp y và có 17/ 18 Bản, Tiểu khu có đội ngũ y tế thôn, bản. Hàng năm có khoảng 94% số trẻ em dưới 5 tuổi được tiêm chủng và uống vi ta min A ( theo báo cáo của UBND xã trình tại kỳ họp thứ 7 HĐND xã, họp ngày 26 tháng 12 năm 2006 ). Hàng năm vào dịp tết nguyên đán cổ truyền UBND xã thường tổ chức các hoạt động vui xuân như bắn nỏ, ném còn .. Đặc biệt là ở đây trước kia và hiện nay vẫn còn hộ trồng cây Anh Túc ( cây thuốc phiện ) năm 2006 xã huy động chặt phá 20.600 m2 cây Anh Túc, triệt phá 6 ổ nhóm buôn bán, tàng trữ, vận chuyển chất ma tuý. Vận động 139 đối tượng đi cai và phát hiện 23 đối tượng nghi nghiện, nhiều đối tượng nghiện quá lâu không thể cai được chủ yếu là người già. Nhìn chung qua quan sát, phỏng vấn và tìm hiểu một số báo cáo của xã cho thấy dấu hiệu kinh tế xã hội của cư dân ở đây đang từng bước đi lên so với những năm trước đây đời sống có khấm khá hơn, người dân thuần tuý, chịu khó làm ăn II/ ảnh hưởng của môi trường tới sức khoẻ của người dân xã Tân Lập – huyện Mộc Châu II.1 Thực trạng sức khoẻ, bệnh tật của người dân xã Tân Lập Tân Lập là một xã nằm ở độ cao so với mặt nước biển khoảng 1500 m nên có nhiệt độ thời tiết tương đối mát mẻ, cư dân ở đây đêm năm ngủ quanh năm đều phải đắp chăn bông, thời tiết nơi đây ít có nơi có được Thời tiết được thiên nhiên ưu đãi là vậy, mát mẻ dễ sống. Song việc giữ gìn, bảo vệ môi trường ở đây hầu như chưa được người dân quan tâm, để ý đến, cư dân ở đây chủ yếu là người dân tộc, họ vẫn còn có lối sống cổ xưa và có những thói quen trong sinh hoạt có lẽ khó để thay đổi như đi cầu xong dùng que nứa để gạt, nhốt trâu dưới gầm sàn nhà ở, ngủ sàn, ăn gỏi cá, thịt, hút thuốc lào, từ những thói quen đó nếu cứ duy trì không được thay đổi sẽ gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người Khía cạnh đầu tiên nhằm để xem xét toàn bộ vấn đề này là tìm hiểu sự cảm nhận của người dân lao động về sức khoẻ hiện tại của bản thân. Từ kết quả điều tra mẫu bằng bảng hỏi cho thấy số người tự đánh giá là khoẻ mạnh ở đây trong tổng số 154 người được hỏi và trả lời thì có 5,2% số người trả lời hiếm khi bị đau ốm và có 70,8% số người trả lời thỉnh thoảng đau ốm, 24% số người trả lời yếu và rất yếu. Nếu so với các khu vực khác có số người cùng độ tuôi thì chắc chắn tỷ lệ người có sức khoẻ yếu ở đây là khá cao. Mặt khác như một xu hướng tất yếu, tỷ lệ người có sức khoẻ ốm yếu cũng tăng lên so với các năm trước đây, theo báo cáo của trạm y tế xã năm 2005 khám và điều trị cho 892 lượt người ( cũng có thể trước đây người ta không đến trạm y tế khám chữa bệnh ). Song cũng khặng định rằng số người đau ốm mỗi năm một tăng Một chỉ báo nữa để đánh giá tình trạng sức khoẻ của người dân ở đây, từ số liệu điều tra thời gian đau ốm của gia đình ta gần đây cho thấy bảng sau Bảng 1: Thời gian đau ốm trong gia đình gần đây Đau ốm Tỷ lệ % Có 69% Không 31% Tổng 100% Bảng 2: Mức độ ốm đau Mức độ Tỷ lệ % Thường xuyên 24% Thỉnh thoảng 70,8% Hiếm khi 5,2% Tổng 100% Những căn bệnh mà người dân ở đây thường mắc phải được thể hiện qua kết quả như sau Bệnh bướu cổ 4,6%, bệnh sốt rét 14%, bệnh nhiễm khủân 38%, bệnh về mắt 19,3%, bệnh tiêu hoá 18,3%, bệnh đau đầu 5,6%, thực tế có người mắc hai, ba bệnh Như vây qua điều tra cho thấy thì bệnh mà người dân ở đây mắc phải chủ yếu là bệnh nhiễm khuẩn, bệnh tiêu hoá, bệnh đau mắt, bệnh sốt rét, bệnh đau đầu. Điều đó phản ánh rất rõ đặc trưng của điều kiện sống, sinh hoạt của người dân nơi đây, tuy thời tiết ở đây được thiên nhiên ưu đãi, so với mọi nơi khác có phần mát mẻ, dễ chịu. Song nhận thức của người dân ở đây về giữ gìn và bảo vệ môi trường còn thấp chưa thật sự quan tâm, chưa để ý đến sức khoẻ của của bản thân, gia đình và cộng đồng, từ công tác vệ sinh nhà cửa, đến vệ sinh cá nhân chưa được thường xuyên, hệ thống nước thải từ các công trình vệ sinh, nhà chăn nuôi, hố xí thải thẳng ngay ra vườn sau nhà gây bốc mùi xú uế, phân bã và nước tiểu trâu, bò bừa bãi dưới gầm sàn nhà ở, thùng chậu đựng nước ăn và sinh hoạt hầu như không có nắp đạy, quanh nhà cây cối, cỏ rả um tùm không được phát quang để cho ruồi, muỗi trú ngụ sinh đẻ và gây mầm bệnh cho con người Bệnh đường ruột gây lên chủ yếu là do các loại vi khuẩn có trong nước, như vi khuẩn đại tràng, thương hàn, lỵ, tả ... Ngoài ra nước tự nhiên và nước sinh hoạt còn có các loại vi khuẩn gây bệnh ỉa chảy ở trẻ em, ỉa chảy là loại bệnh lây lan chủ yếu ở phân người. Bên cạnh đó thức ăn, nước uống bị ô nhiễm có thể cũng là nguyên nhân gây ra bệnh ỉa chảy. Thực tế ở đây đa số các hộ dân đều đùng hố xí tạm bợ, đào một cái hố ở ngay sau vườn đặt hai cái cây ngang qua là xong, nhiều hộ không cần hố xí mà đi thẳng ra vườn bón cây một thể II.2: Nguyên nhân ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ cua người dân + Nước sinh hoạt : Trong tổng số 243 người được hỏi câu “ Nguồn nước ăn và sinh hoạt hàng ngày của gia đình ta lấy từ nguồn nước nào, nước khe, nước giếng khoan, nước mưa, nước suối, nước giếng đào, nước máy, nước ao hồ. Kết quả cho thấy có 119 người trả lời lấy từ khe suối chiếm 49%, có hai hộ trả lời dùng nước giếng khoan chiếm 0,8%, có 4 hộ trả lời dùng nước mưa chiếm 1,6%, có 9 hộ trả lời dùng nước giếng đào chiếm 3,7%, có 57 hộ trả lời dùng nước máy chưa qua xử lý chiếm 22,4%, có 34 hộ trả lời dùng nước khác chiếm 13,4% Như vậy khẳng định rằng qua kết quả điều tra cho thấy có tới 49% số hộ dân ở đây chu yếu dùng nước khe suối để ăn, uống và sinh hoạt hàng ngày Bảng 3 : Nguồn nước sinh hoạt hàng ngày của người dân xã Tân Lập Nguồn nước Tỷ lệ % Nước khe suối 49% Giếng khoan 0,8% Nước mưa 1,6% Nước suối 9,8% Giếng đào 3,7% Nước máy 22,4% Nước ao hồ 0 Nguồn nước khác 13,4% Tổng 100% Qua khảo sát thực tế cho thấy nguồn nước sinh hoạt hàng ngày của người dân ở đây được lấy từ khe suối dẫn theo đường ống nhựa về nhà và thiết kế một khoá đầu ống khi nào sử dụng thì vặn ra và mỗi hộ phải có từ 3 đến 5 cái thùng phi để chứa nước ăn và sinh hoạt, đa số các thùng phi bằng sắt đã qua sử dụng và đều không có nắp đạy, qua quan sát mỗi thùng phi đựng nước cho thấy bên trong có rất nhiều bọ gậy. Từ nguồn nước sinh hoạt chưa được qua xử lý chắt lọc, lại đựng vào thùng phi sắt, lưu cữu nhiều ngày không được thay rửa , đây cũng phần nào thấy được nguồn nước sinh hoạt ở đây chưa đảm bảo vệ sinh môi trường. Theo một số phân tích môi trường thì nguồn nước khe suối tương đối độc hại do nhiều chất mục nát như rễ, lá cây, xác chết thực vật ngấm vào lòng đất, đặc biệt những nơi có rừng Lim nguồn nước rất độc hại. Một thực tế nữa là khi đoàn chúng em lên đây công tác đang trong thời điểm mùa mưa mà nguồn nước sinh hoạt rất ít nhiều hôm không có để tắm giặt, không chỉ thiếu nước sinh hoạt mà ngay cả nước sản xuất cũng thiếu, nhiều hộ phải chuyển từ diện tích đất cấy sang trồng màu. Khi được hỏi khó khăn chính của gia đình mình trong sản xuất hiện nay là vấn đề gì thì có tới 80% số hộ trả lời là thiếu nước sản xuất, từ quan sát và tìm hiểu người dân cho thấy thì hầu như ở đây hệ thống kênh mương dẫn nước là không có, nhiều khi nguồn nước suối khô cạn chỉ còn trông chờ vào thiên nhiên. Qua phỏng vấn Anh Hà Văn Tế 37 tuổi nghề nghiệp, làm nông nghiệp trình độ học vấn lớp 5 có vợ và 2 con Anh Tế cho biết, nguồn nước nguồn nước sinh hoạt cũng như nguồn nước sản xuất ở đây nhứng năm trước đây cũng tha hồ nước, song mấy năm gần đây tình trạng thiếu nước luôn tục xảy ra, nước sinh hoạt có lúc phải dùng tiết kiệm lắm, giặt giũ phải mang ra ao giặt đấy nhiều hộ dùng nước máy mua của xã mỗi khối nước là 2500 đồng / m3, mỗi tháng phải trả một khoản từ tiền điện, tiền nước thu nhập thì không có nên nhiều hộ dùng nước sinh hoạt hàng ngày rất tiết kiệ, trước đây rừng còn rậm nguôn nước tha hồ mà sinh hoạt, sản xuất, bây giờ người đông, đất không có sản xuất nhiều hộ đã tự ý đốt nương, làm rẫy trồng ngô, trồng đậu gieo lúa cộng thêm tệ nạn chặt phá rừng lấy gỗ làm nhà nên đã ảnh hưởng rất lớn tới nguồn nước ngầm Nước là tài nguyên vô tận, con người sống mà thiếu nước, không đủ nước để sinh hoạt hàng ngày sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của con người Từ việc sử dụng nguồn nước sinh hoạt lấy từ khe suối lại chưa được qua xử lý chắt lọc và sử dụng không được thoải mái tiết kiệm, thiếu thốn đã phần nào nói lên môi trường nước nơi đây có ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, tuy chưa có số liệu nào khẳng định là nguồn nước ở đây ô nhiếm nhưng cũng không thể tránh khỏi + Nguồn nước thải : Dân cư ở đây sống chủ yếu là sản xuất nông nghiệp. Nghề truyền thống và phát triển tiểu thủ công nghiệp ở đây hầu như không có nên nguồn nước thải từ hoá chất là không có, nhưng không chỉ quan tâm đến nguồng nước thải công nghiệp mà bỏ qua nguồn nước thải từ sinh hoạt và chăn nuôi hàng ngày thải ra, nếu không có nơi chứa đựng, kênh rãnh tiêu thoát nước luôn ứ đọng ngay trong nhà đây cũng là nhứng vấn đề ảnh hưởng rất lớn tới môi trường và sức khoẻ của con người Dưới đây là kết quả thu được từ cuộc điều tra bằng bảng hỏi với 245 mẫu tại xã Tân Lập – huyện Mộc Châu – Tỉnh Sơn La hồi tháng 5/ 2007 cho thấy nguồn nước thải từ các công trình vệ sinh của các hộ gia đình đã thải thẳng ra vườn một cách bừa bãi gây bốc mùi xú uế Bảng 4: Nước thải từ nhà tắm, nơi nấu ăn, chuồng trại chăn nuôi, hố xí thải ra Nước thải ra Số hộ Tỷ lệ % Thẳng ra vườn 224 91,4 Chảy ra ao 12 4,9 Ra cống rãnh 5 2,0 Nơi khác 4 1,6 Tổng 245 100% Qua quan sát cho thấy nhiều hộ đã đào một cái hố khoảng chừng 15 m2 ngay sau vườn để chứa nước thải từ nhà tắm và nơi nấu ăn, qua tìm hiểu thì họ vừa để chứa nước thải và để lấy nước cho trâu đằm Từ kết quả điều tra trên cho thấy có tới 91% số hộ thải các loại nước thải thẳng ra vườn gây ứ đọng bốc mùi xú uế, làm cho không khí trong gia đình luôn ở trạng có mùi hôi thối khó chịu, làm cho ruồi, muỗi, ký sinh trùng sinh sôi phát triển và gây bệnh cho con người, tuy thời tiết ở đây mát mẻ dẽ chụi hơn so với nhứng nơi khác. Song việc giứ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường chưa được người dân quan tâm, để ý, đây cũng là do nhận thức của người dân về môi trường chưa cao và cũng từ những thực tế này là nguyên nhân ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe của người dân + Hệ thống vệ sinh : Hệ thống vệ sinh chung của bản, qua quan sát cho thấy hầu hết các thôn bản trong xã đều không có kênh rãnh thoát nước và khu quy định chứa đựng rác thải, trên dọc các tuyến đường đi trong bản xuất hiện nhiều đống rác thải, túi bóng, ni lông....đổ bừa bãi ra ven đường. Qua phỏng vấn sâu chi Nguyễn Thị Tuyết 38 tuổi trình độ học vấn 12/12 nghề nghiệp y sỹ trạm y tế xã có chồng và 2 con, chị Tuyết cho biết, công tác vệ sinh chung của xã ở đây khó khăn lắm, nhiều lần trạm y tế xã kiến nghị với lãnh đạo địa phương thành lập đội vệ sinh chung của xã song cũng không được thực hiện do điều kiện kinh phí, mặt khác các đoàn thể ở đây hoạt động cũng trầm lắm như đoàn thanh niên cả năm không thấy tổ chức quét dọn vệ sinh trong bản lấy một lần, các chất thải từ trong gia đình các hộ phải tự thu gom xử lý, cũng có hộ rất ý thức trong việc này nhưng cũng rất nhiều hộ không có trách nhiệm mà vứt rác bừa bãi trong nhà ngoài đường đi, trạm xá xã cũng tuyên truyền nhắc nhở họ phải thu gom rác thải và xử lý theo quy định, song việc thực hiện của người dân chưa cao vài hôm đâu lại vào đó Hệ thống vệ sinh trong gia đình : là một xã vùng núi còn khá khó khăn về kinh tế, nên các công trình vệ sinh của các gia đình ở đây còn sơ sài chưa đảm bảo hợp vệ sinh, hầu như các hộ gia đình đều không có kênh rãnh thoát nước từ các công trình vệ sinh mà ở chỗ nào thì thải ngay ra chỗ đó, ít hộ đã có mống giếng nước để tắm giặt, rửa gọn gàng sạch sẽ chỉ vài mảnh bìa gỗ đặt ra là xong, chuồng trại chăn nuôi trâu, bò thì nhốt vào gầm sàn nhà ở còn lợn thì quây mấy tấm gỗ lợp ít lá ở trên là xong Trong tổng số 254 người được hỏi “ gia đình ông bà có những loại nhà hố xí nào, hố xí tự hoại, hố xí 2 ngăn, hố xí một ngăn, hố xí tạm bợ, không có hố xí, kết quả cho thấy có tới 70% hộ có hố xí tạm bợ “ hố xí tạm bợ là hố xí được đào một cái hố ở trong vườn và đặt hai cái cây ngang qua và quây mấy bao tải xung quanh là xong’’, 4,7% hộ có hố xí tự hoại Bảng 5 : Gia đình ông ( bà ) có loại hố xí nào Loại hố xí Số hộ có Tỷ lệ % Tự hoại 12 4,7 Loại 2 ngăn 3 1,2 Loại 1 ngăn 63 24,8 Loại tạm bợ 176 69,3 Không có hố xí 0 0 Tổng 253 100% Từ kết quả điều tra trên có thể thấy được người dân ở đây chưa thật sự quan tâm đến những công trình vệ sinh trong gia đình, mà trong khi đó hiện nay người ta đang đặc biệt quan tâm đến các công trình vệ sinh trong đó nhà xí được quan tâm hàng đầu, thì thực tế ở đây những loại cồng trình này chỉ được coi là có không cần biết nó có đảm bảo vệ sinh hay không, qua số liệu trên thì chỉ có tới 4,7% số hộ có hố xí đảm bảo hợp vệ sinh, còn lại đa số các hộ dùng loại hố xí tạm bợ, những loại hố xí 1 hay 2 ngăn cũng chỉ như hố xí tạm bợ mà thôi đều không có nắp đạy nhà che mưa thì chảy nước ra vườn nắng thì bốc mùi hôi thối, đây cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và sức khoẻ của con người mà mỗi người mỗi nhà cần phải quan tâm Một thực tế nữa là ngôi nhà mà người dân đang ở hàng ngày đựơc sử dụng vào 3 việc thứ nhất là để ở, thứ 2 là để đun bếp nấu ăn ở một góc nhà, thứ 3 lá dưới gầm sàn nhà để nhốt trâu bò, hầu như gia đình nào nuôi trâu bò đều nhốt dưới gầm sàn nhà ở Để thẩm tra kết quả, nguyên nhân tại sao mà người dân ở đây lại chỉ có nhốt trâu bò ở dưới gầm sàn nhà ở em đã phỏng vấn sâu Cô Hà Thị Biến 46 tuổi nghề nghiệp làm nông nghiệp trình độ học vấn lớp 5 có chồng và 4 con, Cô Biến cho biết do thói quen xưa nay nên ở đây hầu hết các hộ nuôi trâu bò đều nhốt ở dưới gầm sàn nhà ở, mùi phân và nước tiểu trâu bò lâu nó đã quen nên cũng chẳng thấy nó có vẫn đề gì, nếu ai không quen mùi thì cũng cảm thấy khó chịu đấy, còn phân trâu bò thì vài hôm cũng được dọn đi đem đổ ra vườn Như vậy khẳng định rằng việc nhốt trâu bò dưới gầm sàn nhà ở là do thói quen xưa nay của người dân nơi đây vẫn duy trì như vậy chứ không có lý do nào khác đặc biệt hơn, đây cũng là nguyên nhân dẫn tới ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ của người dân. Đặc biệt ở đây hầu hết không có hộ nào có sân gach hay đá xi măng nào kể cả những hộ khá giả, toàn bộ là nhà sàn sân đất mưa xuống thì lầy mà nắng lên thì bụi, người dân ở đây chủ yếu ngủ phệt xuống sàn nhà, quanh năm đắp chăn và rải đệm làm lấy bằng bông lau chăn màn có vị mùi hôi hôi và bọ chó nếu ai không quen thì khó mà ngủ được. Qua phỏng vấn sâu chị Nguyễn Thị Tuyết cán bộ ý tế xã cho biết nhận thức của người dân ở đây về giữ gìn vệ sinh môi trường còn hạn chế lắm, hàng năm trạm y tế xã thường tổ chức đợt phun thuốc và tẩy màn chống muỗi cho bà con xong việc thực hiện của bà con còn ít lắm, có những lần tổ chức khám bệnh miễn phí cho bà con mà có nhiều người cũng chẳng đi, lý do là không có bệnh và khi nào có bệnh mới đi khám bây giờ còn phải đi làm nương, cũng thương xuyên nhắc nhở bà con cọ rửa thùng vại đựng nước và quét dọn nhà cửa, phát quang bụi rậm, làm nhà vệ sinh xa nhà ở, làm riêng khu nhốt trâu bò ra ngoài không nhốt dưới gầm sàn nhà nhưng thói nào tật ấy khó mà thay đổi một sớm một chiều những thói quen xưa nay đã in hằn trong ý thức của họ Một kết quả điều tra bằng bảng hỏi “ gia đình ông ( bà ) đựng nước ăn và nước sinh hoạt vào nhứng dung cụ nào, thì có tới 76% số hộ trả lời sử dụng thùng phi để chứa nước sinh hoạt 24% dùng bể két Như vậy khẳng định rằng gay cả đồ dùng đựng nước sinh hoạt của bà con cũng chưa đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường dễ gây ảnh hưởg đến sức khoẻ của con người + Về môi trường khí hậu : khí hậu ở đây ngày có 4 mùa tương đối mát mẻ và dễ chịu. Song ở đây có một nhược điểm là khi có vài hạt mưa là trời đất mù mịt, từ nhà này sang nhà kia khoảng một trăm mét là không nhìn thấy nhau đến khi mây mù tan hết thì trời mới quang trở lại “ dân ở đây thường gọi là mưa mù ” không chỉ có mưa mù mà sương mù buổi sáng sớm cũng xuất hiện khá dày đặc bao phủ lên không gian Cảnh sương sớm xã Tân Lập – Mộc Châu – Sơn La Theo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội của UBND xã Tân Lập, có năm sương muối và rét đậm kéo dài gây ảnh hưởng đến năng xuất mùa vụ và gây bênh thương hàn ở gia súc, gây bệnh ở người. Đặc biệt năm 2006 do lượng sương dày đặc và rét đậm kéo dài gây dịch bệnh ở gia súc, gia cầm làm chết 4 con trâu và 6 con bò ở Bản Nà Pháy, Bản Co Phay, Bản Dọi và làm chết hàng trăm con lợn lớn nhỏ, gia cầm cũng chết hàng loạt, nắng hạn và mưa đá gió lốc đã tàn phá gây thiệt hại hàng trăm ha cây hoa màu của nhân dân. Qua phỏng vấn sâu chị Nguyễn Thị Tuyết cán bộ y tế xã cho biết, trong những năm gần đây dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn xã luôn xảy ra có năm dịch 2, 3 lần đặc biệt chủ yếu là bệnh thương hàn thường mắc phải ở gia súc và gia cầm, ở người thì thường mắc phải bệnh tiêu chảy ở trẻ em, bệnh đau mắt, bệnh nhiễm khủân cũng vậy. Tuy chưa có kết luận gì về khí hậu ở đây độc hại nhưng theo bản thân sống và làm việc ở đây lâu năm rồi cũng thấy là hiện tượng sương mù, mưa mù, rét đậm hàng năm kéo dài và độc hại, những vấn đề này phần nào cũng nói lên ảnh hưởng của môi trường này tới sức khoẻ của con người Về môi trường địa lý Tân Lập là một xã vùng hai của huyện Mộc Châu có diện tích đất tự nhiên là 1421,20ha ở vào vị thế đồi núi nhấp nhô cả xã có 14 Bản và 4 Tiểu Khu, các Bản ở theo sườn núi, Bản nọ cách Bản kia chừng 4 đến 5 cây số, có Bản xa nhất là 18 đến 20 cây số như Bản Nậm Khao ....,giao thông ở đây còn khá khó khăn, năm 2000 được dự án dân tái định cư thuỷ Điện Sơn La đầu tư kinh phí xây dựng tuyến đường nhựa từ UBND xã vào Bản Dọi tầm 6 cây số, tuy là đường nhựa nhưng đường lên dốc và quanh co gấp khúc đương này chỉ có đi bộ và đi phương tiện động cơ còn xe đạp là không thể đi được vì đương quá dốc, ai mà không quen đi bộ mà đi bộ ở đây thì khá vấ vả “ nhiều bạn sinh viên nữ nói đùa nhau cho mình ở đây thì không đẻ được mất” Đặc biệt ở đây sông suối hầu như không có, nguồn nước sinh hoạt, nước sản xuất của người dân chủ yếu lấy từ khe suối dẫn ra, nhiều khi nước khe suối khô cạn dẫn tới không đủ nước sinh hoạt, còn sản xuất nhiều diện tích phải chuyển từ cấy lúa sang trồng màu, đồi núi tuy không cao lắm nhưng trơ trọi do thiếu đất nên nhiều hộ đã tự ý khai hoang đốt nương để trồng ngô, trồng sắn, đậu Ảnh 2: Quang cảnh đồi núi xã Tân Lập bị khai hoang làm rẫy Ở đây đa số các hộ đi làm nương xa cách nhà tầm 2,5 đến 3 cây số, nên mỗi khi đi làm nương họ thường phải đem theo cơm năm, sáng đi chiều tối mới về. Anh Hà Văn Tế ở Bản Hoa I là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp cho biết, trước đây không phải đi làm xa như bây giờ, lúc đó đất tốt và diện tích gieo trồng thoải mái, đến nay mỗi ngày người một đông đất một xấu diện tích thu hẹp dần do xói mòn, người đông ra có những diện tích không còn trồng và cấy được nữa nên bà con phải đi đốt nương xa để lấy đất gieo trồng Qua quan sát một số khu rừng quanh xã hầu như các loại cây to, cây lấy gỗ không còn, màu xanh của những vạt rừng thay vào đó là màu đỏ của đất Ông Hà Văn Phóng phó chủ tịch UBND xã cho biết, những diện cây to quanh đây không còn mà phải đi sâu vào tầm 30 đến 35 cây số mới có, những vạt rừng quanh xã trong mấy năm trước, đời sống của nhân dân trong xã vô cùng khó khăn, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp không đủ ăn, có hộ thiếu ăn 7 đến 8 tháng trên 1 năm, nhiều hộ đã đốn củi, lấy gỗ về bán chạy ngày ăn bữa cộng với tệ khái thác gỗ làm nhà đã làm cho các diện tích đồng rừng ở đây bị tàn phá nặng nề dẫn tới nhiều hậu quả xấu cho thiên nhiên. Chính quyền địa phương cũng đưa ra các biện pháp ngăn ngừa nhưng cũng chỉ phần nào. Năm 2006 ban kiểm lâm của huyện Mộc Châu cùng với chính quyền địa phương đã tiến hành khám và thu giữ trên 140 m3 gỗ của một số hộ dân ở Bản Nà Tân, tình trạng khai thác gỗ trái phép hiện nay đã giảm hơn nhiều so với trước kia, hiện nay chỉ có nhứng hộ khai thác trộm đem về làm nhà, đặc biệt là nhà ở của người dân ở đây chu yếu làm toàn bộ bằng gỗ không pha trộn một chút gì khác. Anh Lò Văn Cứu ở Bản Hoa I vừa làm xong ngôi nhà sàn ở với diện tích khoảng trên 100 m2 theo ành Cứu cho biết thì một ngôi nhà như vây hết khoảng 37 m3 gỗ từ khung đến ván thưng và sàn nhà, với số lượng gỗ ngôi nhà lớn như vậy vợ chồng anh phải mất tới 3 năm tích cóp mới làm được Từ việc phá rừng khai thác lấy gỗ làm nhà, lấy đất sản xuất làm cho các diện tích đất rừng quanh xã không còn màu xanh bao phủ, gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, môi trường tự nhiên ở địa phương, những diện cây xanh bị chặt phá, đồng đất bị khai hoang đốt nương làm rấy, trong khi đó cây xanh là yếu tố đặc biệt quan trọng để duy trì, ổn định quá trình chu chuyển sinh, hoá, địa của thiên nhiên. Cây xanh hấp thụ khí Co2, hấp thụ bức xạ nhiệt, khí o xy, hấp thụ các chất độc hại, bụi, tiếng ồn, bổ xung nguồn nước mưa cho nước ngầm giảm bơt xói lở đất Theo báo cáo của UBND xã Tân Lập trình tại kỳ họp thứ 6 HĐND xã khoá 17 nhiệm kỳ 2004- 2009 họp ngày 26 /12 /2006 cho thấy. Năm 2006 do thiên tai lũ quét và nắng hạn kéo dài, nước ngầm khô cạn đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của nhân dân trong xã, nhiều diện tích cấy lúa không có nước bà con phải chuyển sang trồng màu, nhiền diện tích hoa màu bị lũ quét trôi, dịch bênh gia súc, gia cầm xảy ra trên diện rộng làm chết cả trâu, bò của bà con trong bản có hộ chết tới 2 con bò vài chục con gia cầm, thiệt hại từ thiên tai, dịch bệnh làm cho đời sống của nhân dân trong xã gặp nhiều khó khăn nhiều hộ thiếu ăn tới 6, 7 tháng / năm Từ những vấn đề nêu trên phần nào phản ánh lên sự ảnh hưởng từ những tác hại do con người tác động vào thiên nhiên như chặt phá rừng lấy gỗ, đốt nương làm rẫy gây ảnh hưởng đến sự suy thoái của tự nhiên làm đồi núi trơ trọi, dẫn tới hiện tượng xói mòn, lũ quét, không lưu giữ được nguồn nước gầm, gây ra hạn hán dẫn tới mất mùa làm cho đồi sống của nhân dân đói ăn thiếu thốn, ốm đau không có điều kiện để chữa bệnh, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ III.1/ KẾT LUẬN Từ thực tiễn nghiên cứu có thể rút ra một số kết luận sau Thứ nhất: Về thực trạng môi trường tại địa bàn nghiên cứu, qua phỏng vấn bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu cá nhân và quan sát cho thấy, thực trạng môi trường ở đây tuy chưa có một kết luận nào cho là bị ô nhiễm, song với những thực trạng sinh hoạt, ăn ở, đi lại ngủ nghỉ của người dân nơi đây phần nào cũng thấy được sự ảnh hưởng của nó tới sức khoẻ của con người, như việc nhốt trâu, bò dưới gầm sàn nhà ở phân và nước tiểu bốc mùi xú uế ảnh hưởng đến môi trường và làm cho ruồi muỗi sinh đẻ gây bệnh cho con người, hay việc xả nước thải từ trong nhà xí, chuồng trại chăn nuôi, nhà tắm, nơi nấu ăn đều thải ra vườn ngay khu nhà ở gây bốc mùi hôi thối khó chịu, chuồng trại chăn nuôi, nhà vệ sinh bố trí chưa hợp vệ sinh, hố xí chủ yếu là tạm bợ, có hộ không cần hố xí mà đi ngay ra vườn và những hình thức khác về thói quen trong ăn uống xưa nay vẫn còn duy trì như ăn gỏi cá, gỏi thịt, những nơi ăn, ngủ cũng chưa được xắp xếp ngọn gàng sạch sẽ, đa số các hộ ngủ phệt xuống sàn nhà, việc vệ sinh nhà cửa, vệ sinh cá nhân chưa được thường xuyên, do nguồn nước sinh hoạt phải mua 2300đ / 1m3 nên nhiền gia đình sử dụng rất tiết kiệm, thậm chí tắm giặt phải mang ra ao ( Nước sinh hoạt của người dân ở đây chủ yếu là nguồn nước khe suối do xã xây một cái bể và bắt nước từ khe suối vào phân theo đường ống về các hộ nên các hộ dùng phải trả tiền 2300đ /1m3).Từ những khó khăn về kinh tế dẫn tới dẫn tới một số hành vi gây xâm hại tới môi trường như chặt phá rừng, đốt rừng làm rẫy, và đặc bịêt nữa là trình độ nhận thức của người dân ở đây chưa cao, chưa ý thực được việc vệ sinh môi trường và giữ gìn sức khoẻ và những thói quen xưa nay chưa được thay đổi đã tác động đến môi trường gây ảnh hưởng cho sức khoẻ của người dân, tuy môi trường ở đây chưa đến mức nghiêm trọng. Song đây cũng là một vấn đề môi trường cần được quan tâm, cần có những chính sách, biện pháp đưa ra để giúp người dân nông thôn vùng núi nói chung, người dân xã Tân Lập nói riêng nhận ra được những vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng của môi trường đến sức khoẻ của người dân, giúp họ ý thức được việc giữ gìn vệ sinh và thay đổi những thói quen, hành vi xưa nay không đảm bảo vệ sinh môi trường III.2/ KHUYẾN NGHỊ. Từ những phân tích trên xin đưa ra một số khuyến nghị để được xem xét thực hiện Cần nâng cao nhân thức về môi trường từ trong gia đình đến các cấp chính quyền địa phương để mọi người nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong sự nghiệp chung bảo vệ môi trường Tuyên truyền trong nhân dân về độc hại ô nhiễm mội trường ảnh hưởng của nó tới sức khoẻ của con người, tuyên truyền thông qua giáo dục ở trường, lớp học, các hội họp thôn bản, các buổi chiếu phim và đưa vào thành các tiêu chẩn để đánh giá các gia đình văn hoá Nâng cao trình độ nhận thức hiểu biết cho nhân dân trong việc ăn, ở, sinh hoạt sử dụng các công trình vệ sinh như nhà xí, chuồng trại chăn nuôi sao cho hợp lý tránh gây ô nhiễm nước, đất, không khí Tổ chức phát động các phong trào thu gom rác thải, phong trào 3 sạch, ăn sạch, ở sạch và uống sạch Đẩy mạnh vai trò hoạt động của hệ thống thông tin đại chúng trong lĩnh vực vệ sinh môi trường, đồng thời khuấy động các tổ chức quần chúng như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ tham gia vệ sinh hàng tuần, tháng trên địa bàn thôn bản và vận động gia đình, nhân dân thực hiện chế độ vệ sinh từ trong gia đình thường xuyên quét dọn thu gon rác thải đặc biệt là xử lý các nguồn phân thải Phát động nhân dân đào, xây rãnh thoát nứơc thải xã khu nhà ở, thương xuyên phát quang bịu rậm, cọ rửa thùng chậu chứa nước sinh hoạt làm các công trình vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi xa khu nhà ở, không nhốt trâu, bò dưới gầm sàn nhà, thay đổi các hành vi thói quen ăn ở không đảm bảo vệ sinh Tăng cường công tác kiểm tra của lãnh đạo và cán bộ y tế thôn bản đối với việc thực hiện vệ sinh cũng như ăn, ở của bà con thôn bản Cương quyết xử lý nghiêm minh những trường hợp chặt phá rừng, đẩy mạnh việc trồng rừng để chồng xói mòn lũ quét và bổ xung nguồn nước ngầm Giao cho cán bộ ý tế bản và các ngành đoàn thể dưới bản theo dõi và vận động bà con thường xuyên giữ gìn vệ sinh từ trong gia đình và thay đổi các thói quen không tốt cho sức khoẻ Nâng cao năng lực tham gia công tác bảo vệ môi trường của cộng đồng, tuyên truyền, thúc đẩy các điều kiện cần thiết để người dân tham gia vào vịêc xây dựng và thực hiện quy chế bảo vệ môi trường cho cộng đồng nơi sinh sống của mình Hằng năm tổ chức đánh giá và rút kinh nghiệm việc thực hiện bảo vệ, vệ sinh môi trường ở từng hộ, từng bản và toàn xã, tuyên dương và phê bình những hộ làm tốt và những hộ chưa đạt tiêu chuẩn, đồng thời rút ra những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp để thực hiện tiếp theo./. TÀI LIỆU THAM KHẢO Gioi tinh * Do suc khoe Crosstab Count Do suc khoe Total Co Khong Gioi tinh nu 2 31 33 nam 0 60 60 Total 2 91 93 So nguoi trong ho Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid 2 6 2.4 2.4 2.4 3 27 10.6 10.7 13.0 4 90 35.4 35.6 48.6 5 59 23.2 23.3 71.9 6 39 15.4 15.4 87.4 7 17 6.7 6.7 94.1 8 11 4.3 4.3 98.4 9 1 .4 .4 98.8 10 3 1.2 1.2 100.0 Total 253 99.6 100.0 Missing System 1 .4 Total 254 100.0 So the he trong gia dinh Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid 1 the he 4 1.6 1.6 1.6 2 the he 172 67.7 68.3 69.8 3 the he 76 29.9 30.2 100.0 Total 252 99.2 100.0 Missing System 2 .8 Total 254 100.0 Suc khoe khong dam bao Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Khong 12 4.7 100.0 100.0 Missing System 242 95.3 Total 254 100.0 Sinh de thay doi Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid Co 98 38.6 40.5 40.5 Khong 144 56.7 59.5 100.0 Total 242 95.3 100.0 Missing System 12 4.7 Total 254 100.0 Tổng chi phí cho khám chữa bệnh Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent Valid 200 nghin tro xuong 84 33.1 33.1 33.1 200-400 nghin 47 18.5 18.5 51.6 400-720 nghin 60 23.6 23.6 75.2 720 nghin tro len 63 24.8 24.8 100.0 Total 254 100.0 100.0

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMT (16).doc
Tài liệu liên quan