Đề tài Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến người nông dân bị mất đất

1. Lý do chọn đề tài: Bắt đầu từ nửa sau thế kỉ 20, quá trình phát triển của nhân loại đã chuyển biến theo hướng mới, tạo cơ hội cho các quốc gia đang phát triển, nhất là các quốc gia châu Á đã có những bước phát triển mang tính nhảy vọt. Quá trình hiện đại hóa trên cơ sở công nghiệp hóa đã làm cho quá trình đô thị hóa trở thành một xu hướng nổi bật của các quốc gia đang phát triển vào thập kỉ 50-60. Tốc độ phát triển của dân số đô thị ở các nước đang phát triển đã nhanh hơn nhiều so với các nước phát triển. Theo “Báo cáo phát triển thế giới 2003” đã dự đoán đến năm 2050, lần đầu tiên trong lịch sử, đa số người dân ở các nước đang phát triển sẽ được sống ở các đô thị và các thành phố. Nhưng người ta cũng khẳng định tính có hại của đời sống đô thị, sự suy thoái về môi trường, cạn kiệt tài nguyên, các ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của con người, Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Quá trình đô thị hóa đang diễn ra sôi động trên khắp cả nước, từ miền Bắc đến miền Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến hải đảo, không đâu là không mọc lên các khu công nghiệp, khu đô thị mới. Hệ thống acủa đất nước. Đặc biệt ở các vùng ngoại thành và ven đô Hà Nội-TP Hồ Chí Minh việc đô thị hóa diễn ra sôi động hơn bao giờ hết, điều này đang gây ra áp lực ngày càng lớn đối với đất đai. áp lực với đất đai là điều không thể tránh khỏi bởi chúng ta chỉ có thể sử dụng sao cho hợp lí nguồn của cải quốc gia chứ không thể thay đổi quỹ đất được Quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất đô thị đã tác động đến một bộ phận dân cư. Nói đến đô thị người ta thường nghĩ ngay đến mặt lợi nhiều hơn là mặt hại, trước tiên các đô thị lớn cung cấp nhiều cơ hội việc làm, lương bổng, dịch vụ xã hội, năng suất lao động cao hơn. Nó góp phần chuyển hướng phát triển kinh tế và là động lực dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở cả khu vực đô thị và nông thôn. Nhưng chúng ta cũng nên nhìn nhận cả mặt trái của quá trình đô thị hóa. Một trong số đó là quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp đã ảnh hưởng trực tiếp tới người nông dân mất đất. Việt Nam đang chứng kiến một tốc độ đô thị hoá cao chưa từng có. Lượng dân cư vào đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc và mỗi năm có khoảng 1 triệu dân cư toàn quốc tiếp tục tham gia vào “đại gia đình” đô thị. Toàn quốc hiện có trên 700 trung tâm đô thị lớn nhỏ, trong đó có 93 thành phố cấp tỉnh, thành. Riêng Hà Nội dự kiến tỉ lệ đô thị hoá đạt 30-32% vào năm 2010 và 55-62.5% trong năm 2020 và dân số đô thị đến năm 2010 là 3.9 - 4.2 triệu người, năm 2020 là 7.9-8.5 triệu người. Do vậy, đất đai sử dụng để xây nhà ở và các cơ sở hạ tầng là rất thiếu thốn. Từ nay đén năm 2010, theo kế hoạch sử dụng đất, Hà nội sẽ thực hiện thu hồi, chuyển hơn 5.200ha đất nông nghiệp để phục vụ nhu cầu phát triển đô thị (Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc thành phố Hà Nội cho biết, theo đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2025, quy mô Hà Nội sẽ được mở rộng lên mức xấp xỉ 1.975km2, rộng hơn gấp đôi so với hiện nay). Xuất phát từ thực tiễn cũng như ảnh hưởng của quá trình đô thi hóa, nhóm 2 nghiên cứu 1 phần nhỏ của quá trình đô thị hóa tác động đến người dân : “Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến người nông dân bị mất đất”. Chúng em hi vọng với đề tài này, sẽ có cách nhìn sâu hơn, thực tế hơn về tình cảnh người nông dân mất đất. 2. Đối tượng, phạm vi, thời gian, phương pháp nghiên cứu: -Đối tượng: Các vùng nông thôn có sự chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất khu đụ thị đặc biệt là các vùng ngoại thành và ven đô Hà Nội -Phương pháp nghiên cứu: Chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh, định tính, tổng hợp trên cơ sở các số liệu đã được thu thập, từ đó rút ra những kết luận, những nhận định, diễn biến xảy ra trong thực tế và xu hướng trong tương lai. - Pham vi nghiên cứu: Vùng ngoại thành ven đô thành phố Hà Nội, như các khu đô thị như Trung Hòa Nhân Chính, Định Công, Đông Anh, - Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 đến nay 3.Tài liệu tham khảo - Giáo trình “kinh tế đô thị” của GS.TS Nguyễn Đình Hương và Thạc sĩ Nguyễn Hữu Đoàn. Nhà xuất bản giáo duc 2002 - Giáo trình “quản lý đô thị” của GS.TS Nguyễn Đình Hương và Thạc s ĩ Nguyễn Hữu Đoàn. Nhà xuất bản thống kê -Trang web vietbaovietnam.vn -Trang web vn eppress.vn -Trang web bộ nông nghiệp phát triển nông thôn -Trang web bộ lao động thương binh xã hội -Trang web bộ t ài nguyên môi trường -Trang web cục thông kê -Trang web hội nông dân việt nam -Báo lao động số 218 ngày 20/9/2007 4.Kết cấu bài viêt: 1.Tính cấp thiết của đề tài 2. Đối tượng, phạm vi, thời gian,phương pháp nghiên cứu 3. Tài liệu tham khảo 4. Kết cấu bài viết 5.Câu hỏi nghiên cứu 5.1. Đô thị hóa ảnh hưởng như thế nào đến nông dân mất đất 5.2. Chính sách nào giải quyết tình trạng mất đ ất của người dân 6. Cơ sở l ý thuyết 7.Thực trạng 7.1 Thực trạng về đất nông nghiệp và người nông dân mất đất 7.2 Quá trình đô thị hóa ảnh hưởng tới người dân 7.3 Giải pháp 8. Kết luận.

doc27 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 04/06/2013 | Lượt xem: 303 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến người nông dân bị mất đất, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1. Lý do chọn đề tài: Bắt đầu từ nửa sau thế kỉ 20, quá trình phát triển của nhân loại đã chuyển biến theo hướng mới, tạo cơ hội cho các quốc gia đang phát triển, nhất là các quốc gia châu Á đã có những bước phát triển mang tính nhảy vọt. Quá trình hiện đại hóa trên cơ sở công nghiệp hóa đã làm cho quá trình đô thị hóa trở thành một xu hướng nổi bật của các quốc gia đang phát triển vào thập kỉ 50-60. Tốc độ phát triển của dân số đô thị ở các nước đang phát triển đã nhanh hơn nhiều so với các nước phát triển. Theo “Báo cáo phát triển thế giới 2003” đã dự đoán đến năm 2050, lần đầu tiên trong lịch sử, đa số người dân ở các nước đang phát triển sẽ được sống ở các đô thị và các thành phố. Nhưng người ta cũng khẳng định tính có hại của đời sống đô thị, sự suy thoái về môi trường, cạn kiệt tài nguyên, các ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của con người,… Là một nước đang phát triển, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Quá trình đô thị hóa đang diễn ra sôi động trên khắp cả nước, từ miền Bắc đến miền Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đồng bằng đến hải đảo, không đâu là không mọc lên các khu công nghiệp, khu đô thị mới. Hệ thống acủa đất nước. Đặc biệt ở các vùng ngoại thành và ven đô Hà Nội-TP Hồ Chí Minh việc đô thị hóa diễn ra sôi động hơn bao giờ hết, điều này đang gây ra áp lực ngày càng lớn đối với đất đai. áp lực với đất đai là điều không thể tránh khỏi bởi chúng ta chỉ có thể sử dụng sao cho hợp lí nguồn của cải quốc gia chứ không thể thay đổi quỹ đất được Quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất đô thị đã tác động đến một bộ phận dân cư. Nói đến đô thị người ta thường nghĩ ngay đến mặt lợi nhiều hơn là mặt hại, trước tiên các đô thị lớn cung cấp nhiều cơ hội việc làm, lương bổng, dịch vụ xã hội, năng suất lao động cao hơn. Nó góp phần chuyển hướng phát triển kinh tế và là động lực dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở cả khu vực đô thị và nông thôn. Nhưng chúng ta cũng nên nhìn nhận cả mặt trái của quá trình đô thị hóa. Một trong số đó là quá trình chuyển đổi đất nông nghiệp đã ảnh hưởng trực tiếp tới người nông dân mất đất. Việt Nam đang chứng kiến một tốc độ đô thị hoá cao chưa từng có. Lượng dân cư vào đô thị đã chiếm tới 28% tổng dân cư toàn quốc và mỗi năm có khoảng 1 triệu dân cư toàn quốc tiếp tục tham gia vào “đại gia đình” đô thị. Toàn quốc hiện có trên 700 trung tâm đô thị lớn nhỏ, trong đó có 93 thành phố cấp tỉnh, thành. Riêng Hà Nội dự kiến tỉ lệ đô thị hoá đạt 30-32% vào năm 2010 và 55-62.5% trong năm 2020 và dân số đô thị đến năm 2010 là 3.9 - 4.2 triệu người, năm 2020 là 7.9-8.5 triệu người. Do vậy, đất đai sử dụng để xây nhà ở và các cơ sở hạ tầng là rất thiếu thốn. Từ nay đén năm 2010, theo kế hoạch sử dụng đất, Hà nội sẽ thực hiện thu hồi, chuyển hơn 5.200ha đất nông nghiệp để phục vụ nhu cầu phát triển đô thị (Giám đốc Sở Quy hoạch Kiến trúc thành phố Hà Nội cho biết, theo đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2025, quy mô Hà Nội sẽ được mở rộng lên mức xấp xỉ 1.975km2, rộng hơn gấp đôi so với hiện nay). Xuất phát từ thực tiễn cũng như ảnh hưởng của quá trình đô thi hóa, nhóm 2 nghiên cứu 1 phần nhỏ của quá trình đô thị hóa tác động đến người dân : “Ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa đến người nông dân bị mất đất”. Chúng em hi vọng với đề tài này, sẽ có cách nhìn sâu hơn, thực tế hơn về tình cảnh người nông dân mất đất. 2. Đối tượng, phạm vi, thời gian, phương pháp nghiên cứu: -Đối tượng: Các vùng nông thôn có sự chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất khu đụ thị đặc biệt là các vùng ngoại thành và ven đô Hà Nội -Phương pháp nghiên cứu: Chủ yếu sử dụng phương pháp so sánh, định tính, tổng hợp trên cơ sở các số liệu đã được thu thập, từ đó rút ra những kết luận, những nhận định, diễn biến xảy ra trong thực tế và xu hướng trong tương lai. - Pham vi nghiên cứu: Vùng ngoại thành ven đô thành phố Hà Nội, như các khu đô thị như Trung Hòa Nhân Chính, Định Công, Đông Anh,….. - Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 đến nay 3.Tài liệu tham khảo - Giáo trình “kinh tế đô thị” của GS.TS Nguyễn Đình Hương và Thạc sĩ Nguyễn Hữu Đoàn. Nhà xuất bản giáo duc 2002 - Giáo trình “quản lý đô thị” của GS.TS Nguyễn Đình Hương và Thạc s ĩ Nguyễn Hữu Đoàn. Nhà xuất bản thống kê -Trang web vietbaovietnam.vn -Trang web vn eppress.vn -Trang web bộ nông nghiệp phát triển nông thôn -Trang web bộ lao động thương binh xã hội -Trang web bộ t ài nguyên môi trường -Trang web cục thông kê -Trang web hội nông dân việt nam -Báo lao động số 218 ngày 20/9/2007 4.Kết cấu bài viêt: 1.Tính cấp thiết của đề tài 2. Đối tượng, phạm vi, thời gian,phương pháp nghiên cứu 3. Tài liệu tham khảo 4. Kết cấu bài viết 5.Câu hỏi nghiên cứu 5.1. Đô thị hóa ảnh hưởng như thế nào đến nông dân mất đất 5.2. Chính sách nào giải quyết tình trạng mất đ ất của người dân 6. Cơ sở l ý thuyết 7.Thực trạng 7.1 Thực trạng về đất nông nghiệp và người nông dân mất đất 7.2 Quá trình đô thị hóa ảnh hưởng tới người dân 7.3 Giải pháp 8. Kết luận. 5. Câu hỏi nghiên cứu 5.1. Đô thị hoá ảnh hưởng như thế nào đến người dân bị mất đất? Hàng loạt khu công nghịêp, khu đô thị mọc lên như một tất yếu trong quá trình Đô thị hoá thành phố Hà Nội. Duy chỉ có điều, người nông dân, hay nói chính xác hơn là những người có diện tích đất bị thu hồi đang phải đứng ngoài quá trình này, thậm chí họ cũng bị rơi vào cảnh bần cùng hoá. Chỉ tính riêng giai đoạn từ năm 2001-2005, theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổng diện tích đất bị thu hồi cả nước đã lên tới trên 366 nghìn ha (chiếm gần 3,9% quỹ đất Nông nghiệp), tức là mỗi năm thu hồi gần 73,3 nghìn ha, trong đó Hà Nội là 7,776 nghìn ha. Và Hà Nội cũng là thành phố có số hộ bị thu hồi đất lớn nhất nước với 138.291 hộ. Qua điều tra, khảo sát, việc thu hồi đất nông nghiệp và đất ở đã ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống kinh tế, xã hội của nông dân. Ở những nơi bị thu hồi đất, có đến 67% số hộ vẫn phải quay lại nghề nông, chỉ có 13% có nghề mới ổn định. Nhưng ngặt một nỗi, những hộ dân muốn quay lại nghề cũ cùng chẳng có đất mà sản xuất, cuối cùng họ rơi vào cảnh thất nghiệp, kéo theo hàng loạt tệ nạn xã hội như rượu chè, cờ bạc… Nan giải hơn cả là điều kiện sống của người nông dân đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi chỉ có 29% số hộ có điều kiện sống tốt hơn, còn lại tới 34,5% hộ mức sống thấp hơn so với trước khi bị thu hồi đất. Sau khi bị thu hồi, 60% số hộ vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, 9% số hộ làm dịch vụ, 6% số hộ sinh kế bằng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, còn lại là các ngành nghề khác. Chỉ có 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước, trong khi có tới 53% số hộ thu nhập giảm so với trước. Bản thân nông dân là những người nghèo nhất, nhưng cùng với quá trình Đô thị hoá, họ lại bị kéo vào vòng xoáy của nghèo đói! Theo điều tra, phần lớn số tiền đền bù đất, người nông dân đều dùng vào việc mua sắm, xây dựng nhà cửa, có tiết kiệm lắm cũng chỉ được được 5-7 năm là họ tiêu hết số tiền đó và hậu quả người dân rơi vào tình trạng vô sản. Và cũng chính điều này dẫn đến số lao động dôi dư ra, nhất là độ tuổi từ 35-60 còn tồn rất nhiều. Cũng theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có một lượng lớn diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng, trong đó các khu vực kinh tế trọng điểm là nơi có diện tích chuyển đổi lớn nhất, chiếm trên 50% diện tích thu hồi. Điều đáng lưu ý là hầu hết diện tích đất bị chuyển đổi nói trên đều thuộc các vị trí thuận tiện cho canh tác, thu hoạch, vận chuyển, chế biến và tiêu thụ (những nơi gần trung tâm, các trục đường lớn) tại Hà Nội. Thực trạng trên đã ảnh hưởng lớn tới đời sống và việc làm của hàng chục vạn người dân. Theo đánh giá của các cơ quan chức năng, trung bình cứ mỗi hộ bị mất đất có khoảng 1,5 lao động bị mất việc làm, cứ mỗi ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi sẽ có 20 lao động nông nghiệp bị mất việc làm. Chỉ tính trong 3 năm (2001-2004) đã có gần 8 vạn lao động mất việc làm (bình quân 2 lao động/hộ). Không thể phủ nhận những lợi ích lớn lao, lâu dài của việc triển khai các dự án, tuy nhiên quá trình thu hồi đất của nông dân, chuyển đổi mục đích sử dụng đã có những vấn đề xã hội nảy sinh. Trước khi lấy đất, chính quyền thành phố Hà Nội và các chủ doanh nghiệp đều hứa và hơn thế còn cam kết là sẽ nhận tỷ lệ khá cao thanh niên và người lao động trên địa bàn vào làm việc tại doanh nghiệp. Nhưng phần lớn lời hứa đều "gió bay", các chủ đầu tư thường "ngoảnh mặt", không nhận lao động theo cam kết, nếu có nhận chỉ là chiếu lệ rồi lại sa thải không thương tiếc bởi cái cớ họ không có tay nghề, không đáp ứng được công nghệ mới, nên phải tuyển lao động các nơi khác đến. Vì vậy tình trạng thiếu việc làm hoặc mất việc làm của nông dân mất đất do quá trình đô thị hoá ngày càng tăng. Người nông dân mất đất tìm lối đi mới – Chuyển nghề. Nhưng thật không dễ! Sự khó khăn trong chuyển nghề, tìm việc làm mới đối với lao động không còn đất là do vấp phải những rào cản mà trước tiên là trình độ của người lao động. Thực tế chỉ có 27,23% lao động bị thu hồi đất có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học và 14% được đào tạo chuyên môn sơ cấp trở lên, cá biệt có nơi có tới hàng ngàn lao động mất việc làm nhưng chỉ có 10-20 người đã qua đào tạo, trong khi các doanh nghiệp chủ yếu tuyển dụng lao động có tay nghề trong các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật cao. Hơn nữa số lượng lao động đã quá tuổi tuyển dụng (trên 35) rất khó thích nghi với công việc mới lại chiếm trên 50%. Một nguyên nhân thường gặp nữa là nhận thức của người lao động còn ỷ lại vào chính sách hỗ trợ Nhà nước, vào tiền đền bù mà chưa tự mình tìm việc làm và việc tổ chức, chỉ đạo, tuyên truyền hướng dẫn cho người lao động còn hạn chế. Hầu hết các hộ nông dân ở Hà Nội sau khi bị thu hồi ruộng đất đời sống khó khăn do không có việc làm mà "miệng ăn núi lở". Đã xuất hiện những tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, trộm cắp, mại dâm … ở các vùng ven được "đô thị hoá". Bên cạnh đó, những vấn đề về môi trường như ô nhiễm nguồn nước, giảm diện tích cây xanh, chất thải chưa được xử lý … cũng xuất hiện tại các khu công nghiệp, đô thị mới trong thành phố 5.2 Chính sách nào giải quyết tình trạng mất đất của người dân trong quá trình đô thị hoá Để giải quyết tình trạng nông dân mất đất, lãnh đạo Bộ Lao động – Thương binh&Xã hội cho rằng, Hà Nội cần có chính sách đào tạo nghề đi trước, đón đầu khi có kế hoạch, quy hoạch phát triển, để đến khi công trình hoàn thành, các doanh nghiệp có thể tuyển dụng lao động vào làm việc ngay. Bộ đã đề ra giải pháp trong thời gian tới sưc hỗ trợ cho đào tạo dạy nghề cho người lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp. Theo đó, lập quỹ hỗ trợ đào tạo tại chỗ chuyển đổi nghề đối với lao động trên 35 tuổi với những công việc không đòi hỏi kĩ năng phức tạp. Sở Lao Động và Thương Binh Xã Hội Hà Nội dự kiến mỗi người ở độ tuổi lao động khi bị thu hồi đất nông nghiệp nếu muốn tham gia học nghề để chuyển đổi việc làm sẽ được hưởng một xuất đào tạo trị giá 1,5 triệu đồng/người. Ngoài ra, Sở đề xuất thêm đối tượng thụ hưởng chính sách ưu đãi học nghề sẽ bao gồm cả con em nông dân từ bậc học phổ thông đến học nghề, cao đẳng và đại học Giải pháp khác là đào tạo phương pháp quản lý tiếp cận thị trường cho đội ngũ kinh doanh vừa và nhỏ, tạo cơ hội mở rộng sản xuất, thu hút thêm lao động. Hà Nội cũng đã chọn xuất khẩu lao động như một hướng tích cực trong giải quyết việc làm. Nhưng việc đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động ở địa phương gặp rất nhiều khó khăn. Ngươì Hà Nội chê thị trường lao động Malayxia, Đài Loan vì lương thấp, vất vả.Họ chỉ thích sang Nhật Bản, Hàn Quốc, trong khi trình độ tay nghề lại không đáp ứng nổi.Để thu hút số người nghèo đi lao động xuất khẩu, sở Lao Động Thương binh và Xã Hội Hà Nội đề suất với Uỷ ban thành phố có chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động như thưởng 700.000-1,5 triệu đồng nếu doanh nghiệp đưa được 1 lao động đi xuất khẩu, người đi cũng được hỗ trợ 1,2 triệu đồng. Và để thúc đẩy hoạt động này,các doanh nghiệp đưa lao động đi xuất khẩu cần trú trọng tới khâu đào tạo nghề,ngoại ngữ, ý thức kỉ luật cho người lao động.Đặc biệt, sắp tới bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội sẽ đầu tư xây khoảng 20 doanh nghiệp mạnh về xuất khẩu lao động,giảm số doanh nghiệp hiện nay, thành lập hiệp hội xuất khẩu lao động để có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế,tham gia đấu thầu các dự án, công trình có sử dụng nhiều lao động nước ngoài. Còn theo bà Phan Lệ Xiêm – Phó ban Kinh tế (Trung ương Hội Nông dân Việt Nam), để người nông dân có việc làm cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp hỗ trợ sau khi hị bị thu hồi đất, nhất là dạy nghề, tạo việc làm mới. Đặc biệt, có cơ chế giám sát chặt chẽ trong việc doanh nghiệp ưu tiên nông dân và con em nông dân sau khi bị thu hồi đất được đào tạo và vào làm việc tại công ty. Theo giải pháp mà bộ Nông Nghiệp & Phát triển Nông thôn đưa ra thì ngoài chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, chính sách phát triển đô thị nông nghiệp và dịch vụ liền kề cũng cần được chú trọng. Cụ thể, áp dụng các tiến bộ mới để tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích đã tạo việc làm mới cho người nông dân bằng việc xây dựng các ki-ốt bán hàng, hệ thống phụ trợ để người nông dân vào đó làm việc. Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội nghiên cứu thành lập quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm : quỹ này được hình thành từ một phần của khoản tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nộp ngân sách nhà nước của doanh nghiệp khi sử dụng đất, tiền chênh lệch giữa giá đất đền bù với đất nông nghiệp trước khi bị thu hồi và giá đất chuyên dụng đã được chuyển đổi sau khi thu hồi. Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực, chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không chỉ sang đất công nghiệp mà còn để sản xuất dịch vụ; mở rộng đô thị; xây dựng kết cấu hạ tầng. Việc chuyển đổi này là tất yếu, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phù hợp với lao động trong quá trình Đô thị hoá Hà Nội. Tuy nhiên thời gian qua bên cạnh mặt tốt đáp ứng nhu cầu cho phát triển hạ tầng, phát triển dịch vụ … thì cũng còn tồn tại một số vấn đề đặc biệt là vấn đề giải quyết việc làm cho những người bị thu hồi đất. Phải có chính sách đền bù thoả đáng cho người bị thu hồi đất; giải quyết việc làm trên cơ sở định cư tại chỗ là chính. Ví dụ, bên cạnh khu công nghiệp, dịch vụ phải qui hoạch tái định cư, xây dựng khu dân cư tự phục vụ chính khu công nghiệp dich vụ đó. Một giải pháp nữa, không chỉ đào tạo nghề cho nhưng nơi đã đền bù giải toả mà phải chủ động có kế hoạch đào tạo đối với những vùng dự kiến chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Một giải pháp nữa, trong khâu chỉ đạo tổ chức thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng thì việc tái định cư và giải quyết việc làm cho người lao động không còn đất sản xuất phải được coi là bộ phận cấu thành quan trọng không thể thiếu trong phương án đền bù giải toả thu hồi đất. Hội đồng giải phóng mặt bằng ở địa phương nên có ngành Lao động xã hội tham gia, đối với những khu vực giải toả đất của nông dân nên có Hội nông dân tham gia để họ được nói lên tiếng nói của họ. Thứ trưởng Nguyễn Lương Trào cho biết, hầu hết các địa phương đều yêu cầu hoặc khuyến khích các doanh nghiệp đóng tại địa phương, đặc biệt là doanh nghiệp sử dụng đất thu hồi ưu tiên tuyển lao động tại chỗ. Thành phố Hà Nội quy định mỗi hecta đất thu hồi phục vụ cho dự án, chủ dự án phải đào tạo tại chỗ và tuyển dụng ít nhất 10 lao động địa phương. Trong khi đó việc đào tạo nghề cho lao động bị thu hồi đất vẫn còn những bất cập. Việc đào tạo nghề vẫn còn mang tính dàn trải, ồ ạt, không dựa trên cơ sở đánh giá nhu cầu của thị trường lao động, chủ yếu dạy nghề mà các trung tâm dạy nghề có chứ không phải cái doanh nghiệp cần. Hệ quả là chất lượng đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Có nơi hỗ trợ tiền mặt cho việc học nghề nhưng không được người dân sử dụng vì họ không biết và không được định hướng chuyển đổi nghề gì cho hiệu quả. Khi thu hồi đất chưa gắn với quy hoạch tái định cư và kế hoạch cụ thể về hỗ trợ tay nghề, việc làm cho người lao động bị thu hồi đất, việc thông tin, tuyên truyền đến người dân về kế hoạch, quy hoạch chuyển đổi đất thực hiện chậm trễ, chưa đầy đủ khiến người lao động bị động; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành trong việc nâng cao nhận thức và định hướng cho người dân học nghề chuyển đổi nghề phù hợp sau khi bị thu hồi đất. Một giải pháp được đề ra dựa trên cách làm của 1 số nước là dùng phần lớn tiền giải phóng mặt bằng của nông dân góp cổ phần vào các doanh nghiệp trên mảnh đất nông dân bị thu hồi. Thành phố dự kiến dùng tiền hỗ trợ đất bị thu hồi để mua trái phiếu cho người dân và nông dân sẽ sống bằng lãi suất ngân hàng. Từ nay đến năm 2010,dự kiến Hà Nội sẽ có thêm 90.000 nông dân phải ly nông. Để giải quyết bế tắc, có ý kiến đề xuất : thay tiền bằng thẻ. Cụ thể là : trong số nông dân phải ly nông có khoảng 18.000 người có nhu cầu chuyển đổi nghề với định mức 25.000 đồng/m2, đất bị thu hồi để chuyển đổi nghề có tổng kinh phí đào tạo khoảng 10,4 tỷ đồng. Thay vì việc hỗ trợ bằng tiền mặt sẽ hỗ trợ bằng thẻ ưu đãi học nghề. Với tấm thẻ này người dân có thể học một nghề nào đó tại bất kỳ trung tâm dậy nghề nào ở Hà Nội. Không những thế, sức ỳ tâm lý, thói quen, tác phong lao động của người nông dân cũng là một trở ngại. Mặc dù có tiền đền bù, hỗ trợ đào tạo nghề song không phải ai cũng biết đầu tư để tạo việc làm và có thu nhập ổn định. Phần lớn các hộ nông dân đã sử dụng tiền để xây dựng nhà cửa, mua sắm trang thiết bị phục vụ sinh hoạt mà không quan tâm tới học nghề, chuyển nghề. Điều quan trọng là các chính sách trên phải được xây dựng đồng bộ ngay từ khi quy hoạch chứ không để đến khi thu hồi đất mới đề ra chính sách giải quyết. Nhà nước đã ban hành nhiều chủ chương, chính sách giúp thực hiện quá trình thu hồi đất và giải quyết việc làm cho các hộ gia đình bị thu hồi đất. Các địa phương đã ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách cụ thể đối với người dân thông qua thực hiện các văn bản chỉ đạo của Chính Phủ như: Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP về bồi dưỡng,hỗ trợ và tái định cư khi Nhà Nước thu hồi đất; Nghị quyết số 01/2004/NĐ-CP củ Chính Phủ về 1 số giả pháp chủ yếu tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện ngân sách nhà nước năm 2004,....Giải pháp thì đã có, việc thực hiện các giả pháp này trên thực tế đang gặp nhiều khó khăn và người nông dân không có hoặc thiếu đất canh tác vẫn đang phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo và tụt hậu. 6.Cơ sở lí thuyết: 6.1.Đô thị hoá. Một trong những khuynh hướng định cư lâu đời của loài người là đô thị hoá. Quá trình đô thị hoá ra đời vào lúc nền canh tác nông nghiệp đã ở trình độ khá cao như đã có thuỷ lợi, thành lập kho tàng lưu trữ và phân bố lương thực …tức là vào khoảng những năm 2.000 trước công nguyên. Các khu vực đô thị lúc đầu thường mọc lên ở dọc các bờ sông thuận tiện giao thông, nguồn nước. Sự hình thành các đô thị gia tăng mạnh mẽ nhờ tiến bộ về công nghiệp của thế kỷ trước và hiện nay. Các đô thị là thị trường lao động rộng lớn của dân cư có mức sống cao với điều kiện giao thông và dịch vụ thuận lợi. Tiền đề cơ bản của đô thị là sự phát triển của công nghiệp hay đô thị hoá. Đô thị hoá trên thế giới từ cách mạng thủ công nghiệp ( tượng trưng là cái xa quay) . Sau đó là cách mạng công nghiệp ( tượng trưng là máy hơi nước) đã thay thế lao động thủ công bằng lao động máy móc với năng suất lao động cao hơn và đã làm thay đổi cơ cấu lao động xã hội trên cơ sở phân công lao động xã hội. Đồng thời, cách mạng công nghệp đã tập trung hoá lực lượng sản xuất ở mức độ cao dẫn đến hình thành các khu đô thị mới, mở rộng quy mô đô thị cũ. Ngay nay, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật với đặc trưng của nó là cỗ máy vi tính, với những siêu xa lộ thông tin và điện thoại di động thì sự phát triển của đô thị hoá đã và sẽ mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Mỗi nền văn minh đều tạo nên một phong cách sống, làm việc thích hợp, một hình thái phân bố dân cư, một cấu trúc đô thị thích hợp. Đô thị hoá là một quá trình lịch sử sản xuất hàng hoá hiện đại không ngừng phát triển, dân số không ngừng tập trung, mối quan hệ giữa kinh tế đô thị và kinh tế khu vực ngày càng chặt chẽ, tác dụng động lực xã hội của đô tị ngày càng tăng cường. Đô thị hoá chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, vì vậy có thể nêu lên khái niệm dưới nhiều góc độ. Trên quan điểm một vùng : đô thị hoá là một quá trình hình thành , phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị . Trên quan điểm kinh tế quốc dân : Đô thị hoá là sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất , bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị. Đô thị hoá là sự quá độ từ hình thức sống nông thôn lên hình thức sống đô thị. Khi kết thúc thời kỳ quá độ thì các điều kiện tác động đến đô thị cũng thay đổi và xã hội sẽ phát triển trong điều kiện mới … đặc biệt là thay đổi cơ cấu dân cư. Đô thị hóa mang tính xã hội và lịch sử và là sự phát triển về quy mô, số lượng, nâng cao vai trò của đô thị trong khu vực và hình thành các chùm đô thị. Đô thị hoá gắn liền với sự biến đổi sâu sắc về kinh tế – xã hội của đô thị và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ. Do vậy đô thị hoá không thể tách rời một chế độ kinh tế – xã hội. Phương hướng và điều kiện phát triển của quá trình đô thị hoá phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Ở các nước phát triển, đô thị hoá đặc trưng cho các yếu tố phát triển chiều sâu ( điều tiết và khai thác tối đa các ích lợi , hạn chế bất lợi của quá trình đô thị hoá ). Đô thị hoá nâng cao điều kiện sống và làm việc..công bằng xã hội, xoá bỏ khoảng cách thành thị và nông thôn. Ở các nước đang phát triển, như Việt Nam, đô thị hoá đặc trưng cho sự bùng nổ về dân số, còn sự phát triển của công nghiệp tỏ ra yếu kém. Sự gia tăng dân số không dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và phát triển kinh tế. Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn trở nên sâu sắc do sự mất cân đối, do độc quyền trong kinh tế. Ở Việt Nam, quá trình đô thị hoá lại diễn ra nhiều năm trước quá trình công nghiệp hoá , khiến mô hình và tư duy đô thị gặp khủng hoảng. Nghịch lý này có thể bắt nguồn từ nguyên nhân do sức ép nhà sau chiến tranh và trình trạng đầu cơ đất. Sự phát triển ngược trên khi hệ thống đô thị ở Việt Nam. 6.2. Các khái niệm khác: -Mức độ đô thị hóa: là tỷ lệ phần trăm giữa dân đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực. -Tốc độ tăng đô thị:là tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố dân số đô thị hay diện tích đô thị theo thời gian. -Sự tăng trưởng của đô thị: được tính trên cơ sở sự gia tăng của đô thị so với kích thước ( về dân số và diện tích ) ban đầu của đô thị. Do đó sự tăng trưởng của đô thị khác tốc độ đô thị hoá ( vốn là chỉ số sự gia tăng theo các giai đoạn thời gian xác định như 1 năm hay 5 năm). 7.Thực trạng 7.1. Thực trạng về đất nông nghiệp và người nông dân mất đất ở Hà Nội: Theo số liệu thu thập được năm 2005: Hà Nội chỉ còn khoảng 40 xã còn vùng đất nông nghiệp ổn định .Tuy nhiên cho đên nay con số đã bị thu hẹp hơn. Trung bình mối một khẩu có khoảng 505 m2 đất nông nghiệp. Và diên tích này cang ngày càng giảm dần. Vùng ven đô so với các vùng khác có diện tích nhỏ hơn nhưng lại là vùng có nguy cơ thu hồi đất lớn nhất cho các dự án phát triển. Bảng số liệu của năm 2004 sẽ thấy rõ hơn về tình trạng này. Bảng III-14. Quy mô ruộng đất và lao động bq/hộ ở các vùng năm 2004 Chỉ tiêu Vùng ven đô Vùng đa dạng hoá Vùng thuần lúa Vùng thuỷ sản ven biển Tổng diện tích đất/hộ (m2) 2.546,0 3.258,0 3.262,5 4.164,1 Đất nông nghiệp bq/hộ (m2) 2.240,0 2.850,8 2.976,2 2.967,6 Đất nông nghiệp bq/khẩu (m2) 504,6 732,6 677,2 777,8 DT canh tác bq/hộ (m2) 1.653,6 2.381,4 2.941,2 2.173,7 Số khẩu bq/hộ (người) 4,3 4,0 4,6 4,0 Lao động bq/hộ (LĐ) 3,0 2,7 2,6 3,1 Nguồn: Điều tra thực địa, 2005 Theo hội nông dân Viêt Nam: Quá trình xây dựng các khu đô thị, cơ sở hạ tầng, mỗi năm cả nước có gần 200000 ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng. Tương ứng với mỗi hộ gia đình có khoảng 1,5 lao động mất việc. Tại Hà Nội việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp tăng liên tục tỷ lệ với số dự án đầu tư được phê duyệt. Trong đó diện tích đất bị thu hồi hầu hết là đất canh tác tốt. Có xã có tới 70% - 80% diện tích đất canh tác bị thu hồi. Bảng số liệu và biểu đồ diện tích đất bị thu hồi và số lao động bị mất việc tương ứng từ năm 2001 đến năm 2004 Năm S đất bị thu hồi(ha) Số lao động bị mất việc(người) 2001 733 7330 2002 1003 10030 2003 1424 14240 2004 1980 19800 Theo số liệu Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn tại hội thảo “nông dân mất đất thực trạng và giải pháp” cho biết Hà Nội năm 2001-2005 chuyển đổi ảnh hưởng tới 138291 hộ dân, đứng đầu cả nước v à 7776 ha bị thu hồi 7.2.Quá trình đô thị hoá ảnh hưởng tới người dân Hà Nôị: Đô thị hoá là xu hướng toàn cầu, không chỉ đang diễn ra ở một quốc gia phát triển mà nó đã trở thành xu thế mạnh mẽ ở tất cả quốc gia không kể giàu nghèo, nước phát triển hay nước đang phát triển, ở châu Âu hay châu Á. Quá trình đô thị hoá thấy rõ nhất là tại các thành phố của bất kì quốc gia nào.Hà Nội của chúng ta cũng không ngoai lệ. Sự thay đổi diễn ra từng ngày từng giờ đem dến cho Hà Nội cơ hội để trở thành một thành phố phồn vinh. Quá trình mở rộng thành phố cho khu công nghiệp hay khu đô thị mới đã khiến thủ đô có một diện mạo mới, những cũng ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận người nông dân nằm trong diện quy hoạch.Họ đã hi sinh mảnh đất cha ông để lại gắn bó với họ bao năm tháng qua để cho sự phát triển của thành phố. Và cái họ nhận được là gì? * Thuận lợi: Thứ nhất, họ nhận được một khoản tiền đền bù không nhỏ so với thu nhập hàng ngày của họ khi làm công việc nghề nông vất vả. Theo số liệu thống kê thì thu nhập trung bình của một người nông dân là 18 triệu/ha.Trung bình một nông dân của khu vực miền Bắc có trung bình là 0,25ha đất nông nghiệp. Bình quân thu nhập trung bình của nông dân là 4 triệu. Khi được đền bù những người nông dân mất đất có thể được nhận từ hàng chục đến hàng trăm triệu đồng. Nếu biết sử dụng số tiền đó hiệu quả thì họ có thể thay đổi cuộc sống mình. Bằng cách học nghề mới, kinh doanh nhỏ hoặc cỏ thể xuất khẩu lao động,… Tất cả nằm ở sự quyết định của họ, nếu họ biết nắm giữ họ có thể khiến cuộc sống khá hơn nhưng cũng có thể dẫn họ tới ngõ cụt. Thứ hai, cũng như tất cả người dân khác những người nông dân cũng nhận được trợ cấp xã hội nhiều hơn. Một khi thành phố phát triển, ngân sách của thành phố cũng nhiều hơn, thì các dịch vụ y tế, giáo dục, an ninh cũng được cải thiện hơn.Theo số liệu thống kê của tổng cục thống kê Hà Nôi, số trạm y tế, trường học của năm nay cao hơn năm sau. Sự đô thị hoá cũng kéo theo đó là làng xã trở nên nhộn nhịp hơn bởi các dịch vụ đã về tận đây để đáp ứng nhu cầu của người dân. Moị dịch vụ trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn với nguời dân. Khoảng cách giàu nghèo dường như thu hẹp đi. Trước kia, tuy chỉ cách thành phố không đến 15 cây số nhưng huyện Đông Anh thật sự khác biệt so với nội thành Hà Nội, nhưng khoảng cách ấy giờ đây đã được san bớt dần khi có sự ra đời của khu công nghiệp Đông Anh, thu hút được một bộ phận lao động và đóng góp phần lớn cho ngân sách của huyện. Những con đường mới, những ngôi nhà nhiều tầng đã không còn quá hiếm với người dân nơi đây. Bên cạnh những thuận lợi mà quá trình đô thị hoá đem đến với người nông dân thì vẫn còn rất nhiều tồn tại của quá trình đô thị hoá xuất phát từ việc nông dân bị mất đất. Sau đây là một vài ý kiến của nhóm Ảnh hưởng trước tiên mà có lẽ theo nhóm em là bất cập nhất là việc nông dân mất đất kéo theo mất cả việc làm do không còn đất để canh tác. Trung bình mỗi hecta đất bị thu hồi ảnh hửơng tới việc làm cho tận 10 lao động nông nghiệp. Theo số liệu từ năm 1/1/2005 đến 30/6/2007, Hà Nội thu hồi 1700 ha đất. Số hộ bị thu hồi trên 30% đất nông nghiệp là 3500 hộ. Số hộ phải giải quyết việc làm do thu hồi đất là 70000. Theo tạp chí kinh tế phát triển, lao động bị ảnh hửơng từ quá trình đô thị hoá tập chung ở lứa tuổi 35. Trước khi bị mất đất những lao động này chủ yếu làm nghề nông. Đây là độ tuổi sung sức lao động vậy mà lại rơi vào tình trạng thất nghhiệp. Những lao động này do tuổi tác cũng như trình độ học vấn nên khó có thể chuyển đổi nghề, lại khó có thể tìm được việc trong các nghành nghề đòi hỏi kĩ năng hay tay nghề được đào tạo như công nghiệp may, giày da,…. Ngay như trong lĩnh vực xây dựng ít đòi hỏi tay nghề nhưng đòi hỏi thể lực tốt họ cũng ít có cỏ hội. Không đáp ứng được điều kiện công việc trên hơn nữa múc thu nhập cũng thấp (bình quân 20000 đến 50000 đồng/ngày) Công việc nặng nhọc lại không thừong xuyên nên không thu hút được người lao động ở các vùng chịu ảnh hưởng của đô thi hoá. Do thiếu trình độ nên sau khi bị thu hồi đất sản xuất thì có tới 67% nông dân vẫn giữ nghề cũ (sản xuất nông nghiệp), 13% chuyển sang nghề mới, 20% không có việc hay công việc tạm thời không ổn định. Nhìn vào số liệu trên nhận ra bất cập việc làm của nông dân sau khi mất đất, đó là khi đất bị thu hồi nhưng có một bộ phận lớn chưa chuyển đổi việc làm nông trong khi không còn đất.Với số liệu này, nhà nước phải tìm giải pháp .cho 80% số nông dân chưa có việc làm hoặc có việc làm không ổn định Qua thống kê, phân tích có thể thấy rằng những người nông dân sau khi mất dất vẫn không thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo. Số tiền họ được nhận đền bù chưa được sử dụng đúng cách. Như phân tích ở phần thuận lợi, việc sử dụng đồng tiền đền bù sao có hiệu quả có thể làm cải thiện cuộc sống hiện tại của họ nhưng thực tế cho thấy họ chưa sự dụng đồng tiền này hiệu quả. Việc không có việc làm kéo theo nhiều vấn nạn cho xã hội. Trước hết, những người thất nghiệp này sẽ trở thành gánh nặng cho xã hội, họ sẽ là những thành phần ăn bám xã hội. Thứ hai, “nhàn cư vi bất thiện”, khi mà cuộc sống quá khó khăn, khi quanh họ đầy những cám đỗ họ rất có khả năng sa ngã. Người nông dân vốn dĩ bản chất thật thà, nên họ sẽ rất bị lôi kéo tham gia vào những việc sai trái. Hẳn chúng ta không quên vụ án nông dân mang đơn đi kiện cáo ầm ĩ vì cho rằng không được đền bù thoả dáng. Không dám bàn luận ai đúng ai sai trong chuyện này chỉ muốn nhấn mạnh rằng nông dân rất dễ bị lôi kéo. Nếu không có người nói thế này thế khác thì làm gì có chuyện hàng trăm người nông dân rồng rắn đi kiện gây nên dư luận không nhỏ lúc bây giờ. Thứ ba, người nông dân trước đây là nông dân thuần tuý thu nhập không cao mức sống thấp, nay bị thu hồi đất được đền bù một khoản không nhỏ bỗng chốc trở thành “tư sản”, họ không biết làm gì với số tiền “trời cho” ấy. Khi có một nắm tiền trong tay họ sẽ nghĩ ngay xây nhà, mua xe, săm sửa, mà không nghĩ rằng hết tiền thì họ cũng trắng tay.Họ lai rơi vào tình trạng vô sản mà có thể khẳng đinh rằng lần này họ còn nghèo hơn cả khi không co tiền đền bù. Khi không có tiền thì ít ra họ còn mảnh đất để canh tác nay đất không còn thi tiêu hết thì là hết sạch. Từ bảng trên thấy rất rõ tỷ lệ tiền vào các hoạt động chi tiêu như mua sắm, nhà cửa, hay cho vay chiếm tỉ lệ lớn. Trong khi đầu tư vào học nghề chỉ có 2,4%, đầu tư mở mang nghề là 7,9%.Điều đó cho thấy những nguời nông dân sử dụng đồng tiền không có hiệu quả nên chỉ sau thời gian “giàu tức thời” đã trở thành ‘vô sản’ nhanh chóng. Vấn đề đặt ra, không trách người nông dân khi cuộc sống của họ thiếu thốn nay có tiền thi họ sẽ thoả mãn ước mong chốc lát ấy mà không nghĩ lâu dài, trách nhiệm cũng đặt cho những người có trách nhiệm không hướng dẫn họ sử dụng, đầu tư sao có hiệu quả. Thứ ba, hậu quả gia tăng tệ nạn xã hội: Khi mà người nông dân có tiền, và khi các dịch vụ đã được đáp ứng ngay tại nơi họ sống cũng là lúc tệ nạn xã hội len lỏi vào từng ngõ ngách của làng xóm. Khi mà những quán karaoke trá hình hình thành thì đó cũng là lúc đánh dấu sự xuống cấp đạo đức ở một bộ phận nông dân. Khi mà một bộ phận nông dân khác thi tiêu khiển bằng cách rượu chè, cờ bạc, số đề.Rồi từ những lúc men rượu mà gây rối gây mất trật tự an ninh xã hội, nặng thì đánh nhau. Trước kia, khi còn khổ thì cơm lành canh ngọt, nay khi gia đình có chút tiền thì gia dình nhiều nhà lại lục đục, đánh con chửi vợ. Từ cái sự giàu lên tức thời áy mà rất nhiều nhà tan cửa nát nhà. Khi mà gia dình không hạnh phúc thì những đứa con sẽ phải chịu hậu quả đầu tiên. Sẽ là một cái nhìn tiêu cực từ con trẻ, rồi khi bất lực trước gia đình nơi chỗ dựa tinh thần thì chúng rất dễ trượt dài. Có rất nhiều em nhỏ trở thành trẻ em lang thang. Các em có thể kiếm sống bằng đủ nghề,bị bóc lột hoặc cúng có khi trở thành kẻ trấn lột. Chưa có số liệu chính thức về những em nhỏ co hoàn cảnh như thế nhưng con số này chắc không nhỏ chút nào. Thứ tư, mất làng nghề truyền thống: Một số làng nghề truyền thống đã có nguy cơ xoá sổ khỏi bản đồ Hà Nội. Điển hình là làng nghề nổi tiếng “Đào Nhật Tân”. Phát triển đô thị ở phường Nhật Tân dẫn đến diện tích trồng đào bị giảm xuống. Nghề trồng đào dường như không còn ở Nhật Tân nữa , giờ ở Nhật Tân thay thế những cây đào tết là những khu nhà nủa Âu nửa Á.. Như vậy bên cạnh những thuận lợi mà ta không thể phủ nhận do quá trình đô thị hoá đem lại thì vẫn còn những bất cập cần giải quyết. 7.3.Giải pháp cho Hà Nội Vấn đề bất cập nhất của quá trình đô thị hóa là nông dân bị mất đất mất việc, biện pháp thích hợp nhất đó là đào tạo nghề cho nông dân. Trước hết, chúng ta cần phân lớp cho những nông dân mất việc. Đối với những người còn trẻ nhà nước có chính sách đào tạo nghề cho những người này. Với chính sách ấy cho nông dân, kết hợp với cam kết của các nhà máy doanh nghiệp sẽ tuyển dụng nhân công tại địa phương vừa có lợi cho doanh nghiệp và nông dân. Nhưng vấn đề đặt ra là trình độ của những người này? Giải pháp chúng tôi đưa ra là ngay từ khi quy hoạch đất, doanh nghiệp sẽ cho địa phương biết cần những nhân công trong nghành gì, trình độ ra sao để địa phương và doanh nghiệp có kế hoạch đào tạo nghề đáp ứng cho chính doanh nghiệp đó. Với những đối tượng là phụ nữ hoặc những người không thể học nghề, giải pháp cho họ là chuyển sang làm nghề thủ công hoặc phát triển nghề truyền thống hay dịch vụ. Công việc này không đồi hỏi trình độ và tốn nhiều sức lực mà vẫn đóng góp cho xã hội. Những người có trách nhiệm cần tư vấn cho ngừoi dân để họ hiểu và dùng tiền đền bù đúng mục đích. Một khó khăn nữa được giải quyết là việc mất đi nghành nghề thủ công. Chuyển những nông dân là phụ nữ và những người không có khả năng học nghề sang phát triển nghề thủ công, truyền thống. Có rất nhiều sự lựa chọn tuỳ theo sở thích cũng như ưu điểm từng người. Nếu có được người hướng dẫn thì không những nghề thủ công hay truyền thống không bị mất đi mà ngày một phát triển hơn.Tất nhiên, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ như định hướng, phương pháp, hay đầu ra cho sản phẩm. Với sự khéo léo, cần cù vốn có cộng với hỗ trợ nhà nước nông dân mất đất sẽ tìm ra lối đi riêng của mình. Bên cạnh đô thị hóa thì việc không kém phần quan trọng là xác lập và thực hiện quy hoạch kiến trúc không gian đô thị hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Giữ gìn một số làng nghề cổ, khu du lịch văn hóa, xây dựng làng sinh thái phát triển du lịch mạnh mẽ và nhiều tiềm năng. Giải pháp này Hà Nội đã thực hiện thành công ở phường Nhật Tân, làm xóa nguy cơ mất làng nghề truyền thống trồng đào. Đó là việc xuất hiện vườn đào Nhật Tân mới bên song Hồng thuộc quận Tây Hồ. Phường Nhật Tân này với diện tích là 8,5 ha do 300 hộ gia đình trồng. Đây là dự án được triển khai theo quy hoạch của thành phố nhằm bảo tồn vườn đào Nhật Tân, bảo vệ làng nghề, và tạo khu du lịch vườn đào chẳng khác gì trước kia. Một biện pháp khác là lập quỹ hỗ trợ cho người nông dân mất đất. Hỗ trợ họ trong việc học nghề. Hà Nội có thể học tập phương pháp này từ một vài địa phương khác như Hải Dương, thành phố Hồ Chí Minh,…..Hiện nay, phương án này đã được thông qua nhưng ở mỗi một địa phương lại có tên khác. Ðể giải quyết tình trạng nông dân sử dụng tiền đền bù không hiểu quả và không có việc làm là xuất khẩu lao động, giải quyết cả 2 vấn đề này. Nhưng vấn đề đặt ra nông dân ta vơi trình độ có hạn, không có tay nghề chỉ có thể sang các nước Malaisya, Đài Loan, làm lao động phổ thông, còn các nước phát triển hơn thì trình độ lại không đáp ứng được. Ngoài ra, để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của nông dân thì chúng ta có thể sử dụng lập các quỹ tín dụng dành riêng cho hộ nông dân thuộc diện này. Sẽ có nhưng ưu đãi cho nông dân khi cần huy động vốn, ngoài ra quỹ cũng hướng dẫn nông dân cách làm giàu, tạo lập nghề mới. Ở một số nơi đưa ra phương án là dùng tiền đền bù để mua cổ phần tại chính doanh nghiệp sử dụng trên mảnh đất cũ. Theo chủ quan thì chúng tôi cho rằng phương pháp này không khả thi. Vì người nông dân không biết tình hình hoạt động của doanh nghiệp, dầu tư như vậy mạo hiểm. Thứ hai, không nhất thiết cứ phải đầu tư vào doanh nghiệp đó, có nhiều phương án và lựa chon cho doanh nghiệp khác. Nhà nước chỉ hướng dẫn không thể áp đặt cho nông dân. Trên dây chúng tôi đưa ra những phướng án giải quyết đã và đang được thực hiện . Việc thực hiện các phướng án đó vẫn chưa mang lại kết quả như mong muốn. Theo số liệu thu thập được thì chỉ có 13% hộ nông dân có cuộc sống khá hơn trước còn 53% thi rơi vào tình trạng nghèo khó hơn. Chúng ta mới chỉ giải quyết được một phần rất ít của hậu quả sau quy hoạch. Một bộ phận lớn vẫn chưa có đựoc cuộc sống ổn định. Các nhà hoạch định ngoài những chính sách hiệu quả thì cũng cần đưa ra biện pháp để thực hiện hiểu quả hơn. 8. Kết luận: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đi đôi với quá trình đô thị hoá thực sự là cần thiết cho mỗi quốc gia. Không chi ở các nước đang phát triển mà ở bất kể nước nào trên thế giới. đặc biệt hơn nữa là đối với VN, đang đổi mình nhanh chóng từ hàng loạt các sự kiện trong những năm gần đây. đô thị hoá là bước đi quan trong mà chúng ta cần thực hiện hơn hết để xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị nhằm thu hút đầu tư phát triển cũng như cải thiện cuộc sống của người dân trong nước. Song bất kể điều gì cũng có tính hai mặt của nó. Và sự ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến người nông dân bị mất đất thực sự là một bài toán khó cho những nhà quy hoạch đô thị. Chúng ta cần phát triển đô thị nhưng không có nghĩa là chúng ta gây ra sự mất cân bằng giữa bên trong và ven đô thị. Thực trạng mà chúng em đưa ra hẳn chỉ là một khía cạnh nhỏ của vấn đề chứ chưa thể thể hiện hết được những bất cập mà người dân bị mất đất gặp phải. những giảI pháp mà chính phủ VN đã đưa ra cũng khá nhiều nhưng việc thực hiện nó thì chưa đúng mức. Giải pháp thì có nhưng cho tới hiện nay hậu quả của quá trình đô thị hoá chưa giải quyết hết được. đây cũng là thách thức lớn cho chúng ta và những giải pháp mới mang tính khả thi luôn được chính phủ mong đợi. Qua bài nghiên cứu này, chúng ta đã thấy được sự cần thiết chung sức góp phần cải thiện hậu quả mà đô thị hoá gây ra của mỗi người dân, đặc biệt là những người dân thuộc diện bị thu hồi đất. Qua sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy giáo, em đã hoàn thành bài nghiên cứu của mình vậy em mong sự đóng góp thêm của thầy cũng như các bạn để bài nghiên cứu được đầy đủ hơn. Cuối cùng em xin cảm ơn vì sự hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình của thầy trong suốt quá trình nghiên cứu. Em xin trân trọng cảm ơn!

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • dochap dan.doc
Tài liệu liên quan