Đề tài Biện pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Krông Búk

Mục lục Mục Nội dung Trang Phần I PHẦN MỞ ĐẦU I Lý do chọn đề tài 2 II Mục đích nghiên cứu 3 III Đối tượng nghiên cứu 3 IV Nhiệm vụ của đề tài 3 V Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận 4 2. Phương pháp nghiên cứu thực tiển 4 3. Các phương pháp 4 VI Phạm vi đề tài 4 Phần II NỘI DUNG C.I Cơ sở lý luận và pháp lý của công tác XHHGD 1. Bản chất của mối quan hệ giữa giáo dục với cộng đồng xã hội 5 1.2 Với gốc độ lịch sử của vấn đề XHH giáo dục ở nước ta 5 1.3 Xã hội hóa giáo dục đã được Đảng và nhà nước ta khẳng định 6 1.4 Huy động cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục là một kinh nghiệm mang tính chất phổ biến 8 1.5 Khái niệm về xã hội hóa giáo dục 9 1.6 Huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục 10 1.7 Những biện pháp thực hiện xã hội hóa giáo dục 11 1.7.1 Những lý luận rút ra từ nghiên cứu lý luận 11 1.7.2 Những biện pháp được rút ra từ thực tiễn XHHGD ở địa phương 11 C.II Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục của Huyện Krông BuK Tỉnh Đăk Lăk 2.1 Vài nét về tình hình kinh tế -xã hội của Huyện Krông Buk 12 2.2 Tình hình giáo dục trên địa bàn Huyện Krông Buk 13 2.3 Xã hội hóa giáo dục trong những năm qua và kết quả đạt được 14 2.4 Những thành tựu đã đạt được về XHHGD 17 2.5 Những tồn tại và hạn chế 18 C.III Một số biện pháp chỉ đạo nhằm đẩy mạnh công tác XHH sự nghiệp giáo dục ở huyện Krông Buk 20 Phần III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 26 1 Kết luận 26 2 Kiến nghị 27 Tài liệu tham khảo 28 PHẦN MỞ ĐẦU I.Lý do chọn đề tài Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới sự nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con người .Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc nhứng giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của yếu con người ,chủ thể của mọi sáng tạo ,mọi nguồn cuả cải vật chất và văn hóa ,mọi nền văn minh của mọi quốc gia. Xây dựng và phát triển con người có giá trị cao, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức là động lực, đồng thời là mục tiêu của xã hội. Để đạt được điều đó, Giáo dục và Đào tạo có vai trò quyết định. Để phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Giáo dục và Đào tạo có một sứ mệnh vô cùng quan trọng. Bởi lẽ con người là chủ thể của mọi sáng tạo, là nhân tố quyết định trong phát triển kinh tế xã hội. Đảng ta đã khẳng định “Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, trong đó giáo dục và đào tạo giữ vai trò quan trọng, là chủ thể quyết định sự phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển .” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định con người đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và nêu lên phương hướng ,mục tiêu đến năm 2020 .Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định : “Muốn tiến hành công nghiệp hóa ,hiện đại hóa đất nước thắng lợi phải phát triển mạnh giaó dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. Để góp phần tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển, năm 1980 Bộ giáo dục và đào tạo đã vận động “Toàn dân tham gia giáo dục” Năm 1987 mở cuộc vận động “Dân chủ hóa nhà trường” .Năm 1990 Bộ giáo dục và Công đoàn giáo dục Việt Nam tổ chức chỉ đạo “Đại hội giáo dục cấp cơ sở” Nhằm xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, huy động mọi nguồn lực để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển, huy động toàn dân vào sự nghiệp giáo dục . Đại hội Đảng bộ Huyện Krông Buk đã khẳng định: Phấn đấu thực hiện kiên cố trường lớp học trên toàn huyện, hạn chế tới mức thấp nhất phòng học tạm. Đầu tư xây dựng trường chuẩn quốc gia, phấn đấu xây dựng cơ sở vật chất cho các ngành học từ Mầm non đến THCS theo hướng chuẩn quốc gia . Huyện Krông Buk đã có chủ trương đa dạng hóa loại hình trường lớp học trong toàn Huyện, xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở 7 xã. Để đạt được chủ trương đó thì phải làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục. Chính vì vậy Huyện ủy, UBND Huyện Krông Buk đã cụ thể hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục thành Nghị quyết chỉ đạo cấp ủy và chính quyền các cấp thực hiện . Từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Biện pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk” II. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu và đề xuất biện pháp chỉ đạo đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục ở huyện Krông Buk tỉnh Đăk Lăk, nhằm góp phần phát triển công tác giáo dục đào tạo của huyện nhà . III Đối tượng nghiên cứu Biện pháp chỉ đạo nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Krông Buk IV. Nhiệm vụ nghiên cứu -Xác định cơ sở khoa học của đề tài -Thực trạng về công tác xã hội hóa giáo dục của huyện Krông Buk trong những năm vừa qua . Đề xuất một số biện pháp chỉ đạo nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục của huyện V. Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận các văn kiện của Đảng, Luật giáo dục, các chỉ thị, Nghị quyết của Chính phủ. 2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn : -Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục ở huyện Krông Buk tỉnh ĐăK Lăk -Báo cáo tổng kết công tác khuyến học ,công tác xã hội hóa giáo dục . 3. Các phương pháp Thống kê,thu thập tài liệu VI. Phạm vi đề tài Chỉ nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục trên địa bàn Huyện Krông Buk,tỉnh Đăk Lăk

doc28 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 10/06/2013 | Lượt xem: 1318 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Biện pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Krông Búk, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mục lục Mục Nội dung Trang Phần I PHẦN MỞ ĐẦU I Lý do chọn đề tài 2 II Mục đích nghiên cứu 3 III Đối tượng nghiên cứu 3 IV Nhiệm vụ của đề tài 3 V Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận 4 2. Phương pháp nghiên cứu thực tiển 4 3. Các phương pháp 4 VI Phạm vi đề tài 4 Phần II NỘI DUNG C.I Cơ sở lý luận và pháp lý của công tác XHHGD 1. Bản chất của mối quan hệ giữa giáo dục với cộng đồng xã hội 5 1.2 Với gốc độ lịch sử của vấn đề XHH giáo dục ở nước ta 5 1.3 Xã hội hóa giáo dục đã được Đảng và nhà nước ta khẳng định 6 1.4 Huy động cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục là một kinh nghiệm mang tính chất phổ biến … 8 1.5 Khái niệm về xã hội hóa giáo dục 9 1.6 Huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục 10 1.7 Những biện pháp thực hiện xã hội hóa giáo dục 11 1.7.1 Những lý luận rút ra từ nghiên cứu lý luận 11 1.7.2 Những biện pháp được rút ra từ thực tiễn XHHGD ở địa phương 11 C.II Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục của Huyện Krông BuK Tỉnh Đăk Lăk 2.1 Vài nét về tình hình kinh tế -xã hội của Huyện Krông Buk 12 2.2 Tình hình giáo dục trên địa bàn Huyện Krông Buk 13 2.3 Xã hội hóa giáo dục trong những năm qua và kết quả đạt được 14 2.4 Những thành tựu đã đạt được về XHHGD 17 2.5 Những tồn tại và hạn chế 18 C.III Một số biện pháp chỉ đạo nhằm đẩy mạnh công tác XHH sự nghiệp giáo dục ở huyện Krông Buk 20 Phần III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 26 1 Kết luận 26 2 Kiến nghị 27 Tài liệu tham khảo 28 PHẦN MỞ ĐẦU I.Lý do chọn đề tài Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới sự nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con người .Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc nhứng giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của yếu con người ,chủ thể của mọi sáng tạo ,mọi nguồn cuả cải vật chất và văn hóa ,mọi nền văn minh của mọi quốc gia. Xây dựng và phát triển con người có giá trị cao, cường tráng về thể chất, trong sáng về đạo đức là động lực, đồng thời là mục tiêu của xã hội. Để đạt được điều đó, Giáo dục và Đào tạo có vai trò quyết định. Để phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Giáo dục và Đào tạo có một sứ mệnh vô cùng quan trọng. Bởi lẽ con người là chủ thể của mọi sáng tạo, là nhân tố quyết định trong phát triển kinh tế xã hội. Đảng ta đã khẳng định “Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, trong đó giáo dục và đào tạo giữ vai trò quan trọng, là chủ thể quyết định sự phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển .” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã khẳng định con người đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và nêu lên phương hướng ,mục tiêu đến năm 2020 .Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII khẳng định : “Muốn tiến hành công nghiệp hóa ,hiện đại hóa đất nước thắng lợi phải phát triển mạnh giaó dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”. Để góp phần tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển, năm 1980 Bộ giáo dục và đào tạo đã vận động “Toàn dân tham gia giáo dục” Năm 1987 mở cuộc vận động “Dân chủ hóa nhà trường” .Năm 1990 Bộ giáo dục và Công đoàn giáo dục Việt Nam tổ chức chỉ đạo “Đại hội giáo dục cấp cơ sở” Nhằm xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, huy động mọi nguồn lực để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển, huy động toàn dân vào sự nghiệp giáo dục . Đại hội Đảng bộ Huyện Krông Buk đã khẳng định: Phấn đấu thực hiện kiên cố trường lớp học trên toàn huyện, hạn chế tới mức thấp nhất phòng học tạm. Đầu tư xây dựng trường chuẩn quốc gia, phấn đấu xây dựng cơ sở vật chất cho các ngành học từ Mầm non đến THCS theo hướng chuẩn quốc gia . Huyện Krông Buk đã có chủ trương đa dạng hóa loại hình trường lớp học trong toàn Huyện, xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở 7 xã. Để đạt được chủ trương đó thì phải làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục. Chính vì vậy Huyện ủy, UBND Huyện Krông Buk đã cụ thể hóa chủ trương xã hội hóa giáo dục thành Nghị quyết chỉ đạo cấp ủy và chính quyền các cấp thực hiện . Từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “Biện pháp đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Krông Buk, tỉnh Đăk Lăk” II. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu và đề xuất biện pháp chỉ đạo đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục ở huyện Krông Buk tỉnh Đăk Lăk, nhằm góp phần phát triển công tác giáo dục đào tạo của huyện nhà . III Đối tượng nghiên cứu Biện pháp chỉ đạo nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Krông Buk IV. Nhiệm vụ nghiên cứu -Xác định cơ sở khoa học của đề tài -Thực trạng về công tác xã hội hóa giáo dục của huyện Krông Buk trong những năm vừa qua . Đề xuất một số biện pháp chỉ đạo nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục của huyện V. Phương pháp nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận các văn kiện của Đảng, Luật giáo dục, các chỉ thị, Nghị quyết của Chính phủ. 2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn : -Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục ở huyện Krông Buk tỉnh ĐăK Lăk -Báo cáo tổng kết công tác khuyến học ,công tác xã hội hóa giáo dục . 3. Các phương pháp Thống kê,thu thập tài liệu VI. Phạm vi đề tài Chỉ nghiên cứu vấn đề xã hội hóa giáo dục trên địa bàn Huyện Krông Buk,tỉnh Đăk Lăk PHẦN THỨ HAI NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC 1.1. Bản chất của mối quan hệ giáo dục với cộng đồng xã hội Giáo dục xuất hiện cùng với đời sống xã hội của loài người. Sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển kinh tế -xã hội. Đó chính là tính chất xã hội cuả giáo dục. Xã hội loài người coi giáo dục là công cụ, phương tiện để cải tiến xã hội ‘Giáo dục được coi là động lực, vừa là mục tiêu cho sự phát triển tiếp thu của xã hội. Khi xã hội phát triển lên một mức mới, thì chính xã hội lại tạo điều kiện mới cho giáo dục phát triển và đặt hàng mới cho giáo dục nói chung, buộc giáo dục phải nâng chất lượng lên để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của xã hội. Mặt khác giáo dục phải tận dụng tốt mọi điều kiện mà xã hội tạo cho. Cứ như thế mối quan hệ giữa giáo dục và cộng đồng xã hội thường xuyên được diễn ra trong sự cân bằng động và phát triển đi lên theo đường xoáy trôn ốc cùng với quá trình phát triển của xã hội loài người. Đó chính là mối quan hệ giữa giáo dục và kinh tế -xã hội tạo ra mối quan hệ cân bằng động. Để tăng cường mối quan hệ giưã giáo dục và cộng đồng xã hội chúng ta cần đi sâu vào đặc điểm của mối quan hệ cụ thể, nghiên cứu đặc điểm cuả từng ngành học, bậc học, hoàn cảnh của từng cộng đồng, từng vùng, từng miền, từng địa phương để có biện pháp triển khai mối quan hệ này cho phù hợp và có hiệu quả. 1.2. Với góc độ lịch sử của vấn đề xã hội hóa giáo dục của nước ta : Xã hội hóa giáo dục là một khái niệm đã được phát triển lên một trình độ mới, với những điều kiện mới mà thực ra nó đã có nguồn gốc từ một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta đó là truyền thống hiếu học và truyền thống tôn sư trọng đạo. Dân tộc ta vốn rất coi trọng sự học, các bậc cha mẹ đều muốn con cái được học hành. Vì thế việc học của con em được nhân dân chăm lo. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, đó là một tư tưởng lớn chỉ đạo các đường lối, chính sách của Đảng ta từ những năm khởi đầu đấu tranh cách mạng, của những năm cách mạng tháng tám thành công, đi vào xây dựng xã hội mới. bước vào thời kì đổi mới,các mặt xã hội cũng như giáo dục đã thực hiện “Nhà nước và nhân dân cùng làm giáo dục” và dần dần đi tới phong trào “Xã hội hóa giáo dục”. 1.3. Xã hội hóa giáo dục đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định: Trong Nghị quyết TW4 khóa VII đã nêu rõ: “ Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước”. Đến Đại hội Đảng khóa VIII thì xã hội hóa trở thành một quan điểm để hoạch định một chính sách xã hội: “ Các vấn đề chính sách xã hội đều được giải quyết các tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các cá nhân và các tổ chức nước ngoài tham gia giải quyết các vấn đề xã hội” Trong lĩnh vực giáo dục, Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW khóa VIII đã cụ thể hóa “ Phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của nhà nước và của cộng đồng, từng gia đình và mỗi công dân. Kết hợp tốt giáo dục học đường với giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, người lớn làm gương cho trẻ em noi theo. Phát động phong trào rộng khắp để toàn dân học tập, người người đi học,học ở trường lớp và học suốt đời, người biết dạy người chưa biết, người biết nhiều dạy người biết ít, mỗi người phải không ngừng tự nâng cao học vấn, chuyên môn nghiệp vụ. Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức giáo dục, loại hình trường lớp phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới, với nhu cầu học tập của tuổi trẻ và toàn xã hội”. Thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, năm 1997 Chính phủ đã ra Nghị định 90/CP về phương hướng và chủ trương xã hội hóa của giáo dục, y tế, văn hóa. Năm 2005 Chính phủ có Nghị quyết 05 về “ Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục….” với sự tăng cường của quản lý nhà nước, sức khuyến khích huy động và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục. Như vậy Luật giáo dục năm 2005 đã xác định nội hàm khái niệm hóa giáo dục và vai trò chủ đạo của nhà nước đối với sự nghiệp giáo dục. Nghị quyết 04/NQ-HNTW ngày 14/01/1993 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, bản chất của xã hội hóa giáo dục được xác định rõ: “Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước”. Theo Nghị định của Chính phủ số 90/CP ngày 31/8/1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa: “ Xã hội hóa là mở rộng nguồn đầu tư, khai thác mọi tiềm năng về nhân lực, trí lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa phát triến nhanh, có chất lượng hơn, cao hơn.Là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước”. Từ đó chúng ta có thể hiểu xã hội hóa sự nghiệp giáo dục là: Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh. Đa dạng hóa các loại hình hoạt động giáo dục và đào tạo, mở rộng cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng cho các hoạt động đó. Mở rộng các nguồn đầu tư khai thác tiềm năng và nguồn nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội. Phát huy có hiệu quả các nguồn lực, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục và đào tạo phát triển nhanh, có chất lượng cao hơn. Từ những vấn đề cơ bản nêu trên, có thể hiểu một cách đơn giản đó là quá trình tạo ra một xã hội học tập và khi mọi người được hưởng thụ giáo dục thì mọi người, mọi gia đình, toàn xã hội phải có trách nhiệm về tinh thần và vật chất đối với giáo dục. * Các nội dung chủ yếu của xã hội hóa giáo dục: Xây dựng phong trào học tập trong toàn xã hội làm cho nền giáo dục của chúng ta thành một mặt của quần chúng được phát huy và đang tạo ra điển hình mới, những nhân tố mới trong giáo dục. Bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ: “Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phát triển đa dạng hóa các hình thức đào tạo, đẩy mạnh việc xây dựng các quỹ khuyến khích tài năng, các tổ chức khuyến học, bảo trợ giáo dục”. (Văn kiện Đại hội IX). Những quan điểm trên là cơ sở tiền đề cho xã hội hóa giáo dục và đây cũng là giải pháp tốt nhất cho giáo dục và đào tạo của đất nước phát triển trong thời kì công nghiệp hóa- Xã hội hóa đất nước, xã hội hóa giáo dục không chỉ xuất phát từ điều kiện kinh tế-xã hội mà cũng xuất phát từ đặc thù của Giáo dục và Đào tạo. 1.4. Huy động cộng đồng tham gia vào công tác giáo dục là một kinh nghiệm mang tính chất phổ biến của thế giới và khu vực: Ngày nay giáo dục có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội của tất cả các nước trên thế giới, các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. Vấn đề huy động nguồn lực con người làm phong phú tài nguyên trí tuệ vì những mục tiêu kinh tế, xử lý sự mất cân bằng giữa sự phát triển kinh tế và xã hội của tất cả các nước trên thế giới, các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. Vấn đề huy động nguồn lực con người làm phong phú tài nguyên trí tuệ vì những mục tiêu kinh tế, xử lý sự mất cân bằng giữa sự phát triển kinh tế và xã hội… Tất cả phải làm tốt mục tiêu giáo dục, nhất là đối với các nước muốn “Đi tắt, đón đầu” trong quá trình công nghiệp hóa – Hiện đại hóa. Chính vì thế các nước đều tập trung cho giáo dục bằng mọi nguồn lực. Mặt khác, muốn giải quyết những vấn đề vĩ mô và trực tiếp của giáo dục phải đồng thời xử lý những vấn đề vĩ mô của giáo dục, trong đó có tăng cường các nguồn lực để vượt qua mâu thuẫn giữa yêu cầu và khả năng của giáo dục đã tồn tại thường xuyên một nhân tố mang tính giải pháp, phương thức là lôi cuốn toàn xã hội vào công việc giáo dục. 1.5. Khái niệm về xã hội hóa giáo dục Điều 1 – Luật giáo dục có ghi: Mọi tổ chức, mọi gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường học tập, giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục . Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển giáo dục, thực hiện đa dạng hóa các loại hình nhà trường và các hình thức giáo dục: nền giáo dục dành cho mọi người, tạo cơ hội để cho mọi người ở mọi lứa tuổi đều có điều kiện tham gia học tập thường xuyên, học suốt đời. Xây dựng môi trường học tập lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ giáo dục trong nhà trường với giáo dục gia đình và giáo dục ngoài xã hội, tăng cường trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế xã hội, của gia đình, của từng người dân đối với sụ nghiệp giáo dục. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, các hình thức học tập trên cơ sở củng cố các loại hình công lập, lấy đó làm hệ thống nòng cốt của hệ thống giáo dục quốc dân, tích cực phát triển các loại hình ngoài công lập để tạo thêm cơ hội học tập, nâng cao trình độ cho mọi người, trước hết cho thế hệ trẻ. Tăng cường nguồn đầu tư ngân sách nhà nước và mở rộng nguồn đầu tư khác. Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội dể phát triển giáo dục. Tiếp tục cụ thể hóa, thể chế chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và xã hội hóa giáo dục. 1.6. Huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục: Huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục là: quá trình vận động (Động viên, khuyến khích, lôi kéo) và tổ chức tham gia của mọi thành viên trong cộng đồng vào việc xây dựng và phát triển giáo dục từ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, chăm lo đời sống giáo viên để tạo ra mối liên hệ giữa Nhà trường – Gia đình – Xã hội, kể cả việc tham gia quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. Việc xây dựng cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục có liên quan đến nhận thức của xã hội về giáo dục, lợi ích và trách nhiệm của nhà trường và cộng đồng gắn kiền với đầu tư của Nhà nước, Trung ương và địa phương đối với giáo dục, với chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước thông qua các văn bản pháp quy đã nêu trên, nó đã làm các ngành thể chế bằng cuộc vận động xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước thông qua các văn bản pháp quy đã nêu trên, nó đã làm các ngành thể chế hóa bằng cuộc vận động xã hội hóa giáo dục và dân chủ hóa trong nhà trường với các thông tư, chỉ thị và đưa vào điều khoản của điều lệ của nhà trường. Vì vậy đối với cán bộ quản lý giáo dục muốn triển khai tốt xã hội hóa giáo dục cần tìm hiểu kĩ các văn bản pháp quy này, nắm vững các kiến thức về mối quan hệ giữa giáo dục với cộng đồng xã hội và biến chúng thành biện pháp cụ thể trong hoạt động quản lý giáo dục. Mặt khác cần nắm chắc và có biện pháp triển khai các nội dung xã hội hóa giáo dục và huy động cộng đồng, đồng thời cần có kế hoạch triển khai có hiệu quả chủ trương dân chủ hóa trong nhà trường. 1.7. Những biện pháp thực hiện xã hội hóa giáo dục 1.7.1. Những biện pháp rút ra từ nghiên cứu lí luận Bằng mọi hình thức các nhà quản lý giáo dục phải tạo môi trường cho nhân dân thực hiện làm chủ giáo dục trên tất cả các mặt. Phải tiến hành xã hội hóa giáo dục trong mối quan hệ với dân chủ hóa trong giáo dục. Cần duy trì tính “cân bằng động” giữa giáo dục với môi trường xã hội. 1.7.2. Những biện pháp đã được rut ra rừ thực tiễn xã hội hóa giáo dục ở các địa phương: Phải kế hoạch hóa các hoạt động xã hội hóa giáo dục. Cần làm tốt công tác tuyên truyền xã hội hóa giáo dục một cách cụ thể, rộng rãi cho mọi tầng lớp nhân dân nhận thức được rằng xã hội hóa giáo dục vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mọi người. Các địa phương cần cụ thể hóa chủ trương, đường lối xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai thực hiện. Ngành có kế hoạch chủ động tiến hành xã hội hóa giáo dục, coi mình là đầu mối triển khai và tạo ra các nội dung hoạt động xã hội hóa giáo dục diễn ra. Ngành giáo dục biết tận dụng vai trò của hoạt động giáo dục của địa phương để góp phần biến các Nghị quyết của Đại hội giáo dục các cấp thành thực tế. Định hướng và giám sát việc đa dạng hóa các loại hình giáo dục, có cơ chế hợp lý việc huy động xã hội nhằm đa dạng hóa nguồn đầu tư cho giáo dục.các cấp quản lý giáo dục chỉ đạo các trường triển khai xã hội hóa giáo dục với các nội dung, phương pháp phù hợp với đặc điểm của cấp học và hoàn cảnh của từng địa phương. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC CỦA HUYỆN KRÔNG BUK, TỈNH ĐĂK LĂK 2.1. Một vài nét về tình hình kinh tế - xã hội của huyện Krông Buk Krông Buk là một huyện mới tách theo Nghị định số 07/NĐ-CP, là một huyện miền núi nằm ở phía bắc của tỉnh Đăk Lăk cách thành phố Buôn Ma Thuột 47km. Toàn huyện có 07 xã, có diện tích tự nhiên 35.867,71ha, với số dân là 55.733 người, trong đó dân tộc thiểu số chiếm 35% (chủ yếu là dân tộc Êđê). Kinh tế của huyện ngày càng phát triển, đời sống nhân dân dần được cải thiện. Krông Buk là một vùng đất trù phú, phù hợp với việc trồng cây cà phê, cây ăn quả. Tuy nhiên đây là một huyện mới nên cơ sở hạ tầng chưa phát triển, đời sống của người dân ở một số xã còn gặp khó khăn. Tình hình xã hội ở một số nơi còn diễn biến rất phức tạp. Trong những năm gần đây sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo có những bước phát triển đáng kể cả về cơ cấu, quy mô và chất lượng. Hệ thống giáo dục từ Mầm non đến THCS được củng cố và phát triển đồng bộ. Tỷ lệ huy động trẻ 06 tuổi vào lớp 1 hàng năm đều đạt 96% trở lên. Số lượng học sinh giỏi ngày càng tăng. Huyện đang chuẩn bị hồ sơ để công nhận phổ cập THCS. Huyện Krông Buk có 07 xã, có 06 trường Mầm non, các xã đều có trường tiểu học và THCS tạo điều kiện thuận lợi cho con em các dân tộc được đi lại và đi học thuận tiện. Hệ thống trường lớp phát triển nhờ công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện được đẩy mạnh. Các cấp ủy Đảng, chính quyền từ xã đến huyện rất quan tâm và chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu. Từ năm 2006 đến nay ngoài nguồn kinh phí của các dự án huyện cũng đã đầu tư hàng chục tỉ đồng để xây dựng cơ sở vật chất cho các trường học ở trong huyện làm cho cơ sở vật chất các trường ngày càng khang trang, tạo cảnh quan sư phạm tốt “Trường ra trường, lớp ra lớp”. Đó cũng là điều kiện để nâng cao chất lượng dạy và học trên địa bàn huyện. 100% số cán bộ giáo viên đều an tâm công tác. Trên địa bàn huyện có 03 xã thuộc vùng sâu vùng xa, điều kiện kinh tế còn gặp nhiều khó khăn( Xã Ea Sin, Cư Né, Cư Pơng) nên việc học tập của con em ít được quan tâm vì thế có ảnh hưởng không tốt đến giáo dục. Một số xã có địa bàn rộng làm cho việc bố trí, sử dụng giáo viên, sự quản lý giáo viên còn nhiều bất cập. Các phòng học chức năng, phòng thiết bị, phong học bộ môn còn thiếu rất nhiều. số lượng bàn ghế đúng quy cách đạt tỉ lệ thấp, ở những xã khó khăn còn có phòng học tạm ảnh hưởng ít nhiều đến giáo dục. 2.2. Tình hình giáo dục trên địa bàn huyện Krông Buk: 2.2.1. Về phát triển giáo dục: - Mầm non có 6 trường (trong đó có 01 trường mầm non và 05 trường mẫu giáo). + Tổng số lớp: 57 + Tổng số cháu: 1591 - Tiểu học có có 15 trường; 285 lớp; 7215 học sinh. - THCS có 08 trường; 146 lớp; 5763 học sinh - THPT có 02 trường; 35 lớp; 1580 học sinh. 2.2.2. Về chất lượng giáo dục: Học sinh giỏi các cấp (năm học 2008-2009): Học sinh giỏi cấp huyện: 205 em Học sinh giỏi cấp tỉnh: 115 em 2.2.3. Đội ngũ giáo viên: Tổng số giáo viên trong toàn huyện có: 758, trong đó trình độ ĐH chiếm 30%, CĐ 58%, Trung cấp 12% 2.2.4. Cơ sở vật chất: - Tổng số phòng học: 750, trong đó: + Số phòng kiên cố: 420 + Số phòng cấp bốn: 315 + Số phòng học tạm :15 - Có 04 trường đạt chuẩn Quốc gia (gồm 03 tiểu học và 01 trường THCS) 2.3. Xã hội hóa giáo dục trong những năm qua và những kết quả đạt được 2.3.1. Công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong những năm qua: - Phòng Giáo dục và Đào tạo đã tích cực tham mưu với huyện ủy, HĐND, UBND huyện triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 05 của Chính phủ về việc “Xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục”. Từ đó nhằm nâng cao nhận thức của cấp ủy Đảng, của chính quyền, nhân dân ở cơ sở về công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Krông Buk đều có nội dung chỉ đạo và tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục. - Huyện đã chỉ đạo 100% các xã đại hội cấp cơ sở. - Huyện đã tổ chức Đại hội giáo dục cấp huyện, chỉ đạo các địa phương Đại hội Hội khuyến học và xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở 07 xã. Thông qua các nội dung chỉ đạo của huyện ủy, từ các Nghị quyết của huyện ủy, Nghị quyết của hội đồng nhân dân huyện và tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn mà giáo dục của huyện đã được phát triển đáng kể. Hoạt động của các hội đồng giáo dục cấp cơ sở, các hội khuyến học, các trung tâm học tập cộng đồng đã phát huy được những kết quả nhất định phục vụ công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của huyện. - Phòng giáo dục và đào tạo huyện đã làm tốt công tác tham mưu cho ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo các xã xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục với tầm nhìn đến năm 2020. Tập trung quy hoạch đất đai, tạo điều kiện thuận nhất cho việc xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia. Các trường phải có đủ thủ tục pháp lý về quyền sử dụng đất và đủ quỹ đất để phát triển lâu dài. Để thực hiện tốt công tác phổ cập giáo dục Tiểu Học đúng độ tuổi, phổ cập THCS và tiến tới phổ cập THPT, phòng Giáo dục và Đào tạo đã tích cực tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo các xã tăng cường công tác chăm lo đến các học sinh nghèo, học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình chính sách. Chỉ đạo các lực lượng giáo dục phối hợp chặc chẽ với các nhà trường để đảm bảo duy trì số lượng và đảm bảo chất lượng giáo dục. Vận động các con em dân tộc thiểu số tham gia học tập tại các trường dân tộc nội trú. Phòng Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo chặt chẽ việc đảm bảo chất lượng giáo dục và phổ cập giáo dục vững chắc. Từ đó tạo đà của việc kiên cố hóa trường lớp học, phòng Giáo dục và Đào tạo đã chủ động tham mưu tích cực cho UBND huyện về đề án xây dựng trường chuẩn Quốc gia; đề án xây dựng cơ sở vật chất cho các trường Mầm non… Đây cũng là công việc hết sức nặng nề đòi hỏi toàn xã hội phải góp công, góp sức cho sự nghiệp giáo dục của huyện. Đối với chương trình này cần làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục thì mới có hiệu quả. Hàng năm UBND huyện đã cấp kinh phí cho các nhà trường để xây dựng cơ sở vật chất theo lộ trình trường chuẩn Quốc gia. Kết hợp với nguồn vốn của địa phương qua công tác xã hội hóa. Ngoài việc xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho các nhà trường thì việc chỉ đạo xã hội hóa trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cũng hết sức quan trọng, đó chính là uy tín của ngành. Phòng Giáo dục và Đào tạo công tác bồi dưỡng đội ngũ, bồi dưỡng chính trị thông qua việc nghiên cứu, học tập các chỉ thị, Nghị quyết của các cấp, tham gia bồi dưỡng chính trị và xây dựng tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh. Tập trung bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng chuẩn trình độ. Tổ chức giao lưu chuyên môn và tham gia tham quan học tập thực tế các đơn vị tiên tiến xuất sắc. Mời các chuyên gia giỏi về tập huấn, hướng dẫn, phát triển mô hình đổi mới phương pháp dạy học. Kết hợp tốt các môi trường giáo dục: Nhà trường – Gia đình - Xã hội để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Đặc biệt phòng Giáo dục và Đào tạo đã phối kết hợp với các ban, ngành chuyên môn của huyện để chỉ đạo các hoạt động giáo dục trên địa bàn như: Phòng chống tệ nạn ma túy, phòng tránh thương tích, phòng tránh tai nạn giao thông, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em. Do làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục nên trong nhiều năm qua phong trào giáo dục của huyện đã được duy trì và đạt kết quả khả quan. 2.3.2. Kết quả đạt được trong công tác xã hội hóa giáo dục: * Đối với ngành học mầm non: Toàn huyện có 06 trường mầm non, tỉ lệ trẻ trong độ tuổi mầm non ra lớp đạt 75%. Trong đó số trẻ 5 tuổi ra lớp đạt 95% đây là một tỉ lệ tương đối khả quan đối với một huyện miền núi. Số trẻ suy dinh dưỡng giảm xuống còn 12%. Số giáo viên có trình độ đạt chuẩn 87%. Cơ sở vật chất đã được cải thiện đáng kể, 80% các trường mầm non trong huyện có phòng học kiên cố, tuy vẫn còn có phòng học tạm, tình trạng phòng học tạm đang được khắc phục dần trong những năm học tới do nguồn vốn của ngân sách cũng như nhờ vào công tác xã hội hóa giáo dục. *Cấp Tiểu học: Nhờ làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục nên đã huy động được 96% trẻ trong độ tuổi ra học các lớp Tiểu học .Đối với các xã đã mở được các lớp xóa mù và sau xóa mù cho bà con các dân tộc trong huyện. Đa số các xã đều xây dựng được trung tâm học tập cộng đồng. Công tác phổ cập giáo dục Tiểu học được duy trì và củng cố: số người trong độ tuổi từ 15 đền 25 tuổi biết chữ chiếm tỷ lệ 96,22% ;số trẻ từ 11 đến 14 tuổi hoàn thành chương trình Tiểu học đạt 91%. 100% các trường Tiểu học trong huyện được kiên cố hóa, không có lớp học ca 3. Đối với các trường thuộc vùng khó khăn đều có nhà công vụ, có chế độ đãi ngộ xứng đáng để động viên, khuyến khích giáo viên công tác lâu dài. Số trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia là 3/15. Số học sinh học 2 buổi /ngày đạt 48%. Số giáo viên đạt chuẩn trình độ là 100% ( trong đó có 35% có trình độ trên chuẩn). *Đối với cấp THCS: Chất lượng giáo dục đối với cấp Trung học cơ sở trong những năm qua đã có nhiều khởi sắc, số học sinh giỏi ngày càng tăng, số học sinh yếu kém giảm. 100% các trường Trung học cơ sở đều có thư viện và phòng thiết bị dạy học, 100% các trường đã được trang bị máy vi tính và nối mạng trong đó có 5/8 trường có phòng học tin học. Tính đến thời điểm này huyện có một trườngđược công nhận đạt chuẩn Quốc gia. Đối với cấp Trung học cơ sở huyện Krông Buk có 100% giáo viên đạt chuẩn vê trình độ, trong đó có 43% giáo viên đạt trên chuẩn. 2.4.Những thành tựu đã đạt được về xã hội hóa giáo dục. 2.4.1. Các cấp ủy Đảng,chính quyền ở cơ sở đã thể hiện rõ trách nhiệm của mình với sự nghiệp giáo dục Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, Nghi quyết Hội đồng nhân dân qua các nhiệm kỳ đã xác định rõ nhiệm vụ chính trị của địa phương về phát triển giáo dục và Đào tạo. Đã xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển giáo dục giai đoạn 2000-2020 và hướng phát triển đến 2015, trong đó mục tiêu phổ cập THCS, phổ cập THPT, xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia, đề án xây dựng cơ sở vật chất ngành học Mầm non và chương trình XHHGD đến 2015 là những nội dung chính được chỉ đạo sâu sắc. 2.4.2. Các lực lượng giáo dục trên địa bàn: Chăm lo sự nghiệp giáo dục của huyện là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng,chính quyền và các lực lượng xã hội trên địa bàn. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư có hiệu quả nhất, do vậy từ năm 2001 đến nay có nhiều dự án đầu tư xây dựng trường Mầm non tư thục với quy mô lớn và phát triển có chất lượng, uy tín của giáo dục được nâng lên, đời sống giáo viên ổn định, cơ sở vật chất các trường học được khang trang. 2.5. Những tồn tại và hạn chế: Mặc dù đã có Nghị quyết Trung ương 2 khóa VII và Nghị quyết 05 của Chính phủ về đẩy mạnh công tác XHH lĩnh vực giáo dục… Nhưng do điều kiện của từng vùng không đồng đều, tư tưởng ỷ lại, trông chờ thời bao cấp vẫn còn một số cán bộ địa phương chưa quán triệt sâu sắc quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Ngành học Mầm non chưa được quan tâm đầy đủ, cơ sở ngành học mầm non do nhiều năm còn phụ thuộc điều kiện của kinh tế địa phương, chưa được nhà nước quan tâm nên gặp khó khăn, đời sống và chế độ lương giáo viên Mầm non còn thấp, công tác XHH gặp khó khăn do nhận thức của chính quyền cơ sở và nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của bậc học này. Sự đầu tư của Nhà nước còn hạn chế cho nên công tác XHH chưa đem lại hiệu quả cao, Hội đồng giáo dục ở nhiều nơi chưa phát huy được vai trò. *Nguyên nhân của sự tồn tại là: Do điều kiện huyện Krông Buk là một huyện miền núi, kinh tế -Xã hội phát triển không đồng đều, đặc biệt các xã thuộc vùng 135 điều kiện kinh tế khó khăn, dân trí thấp. Công tác XHH mặc dù đã được triển khai tới tất cả các xã trong huyện, do việc vận dụng của các địa phương chưa đem lại hiệu quả cao. Một số cán bộ cơ sở, cán bộ quản lý các nhà trường còn thiếu năng động, sáng tạo trong việc vận dụng chủ trương xã hội hóa vào điều kiện của địa phương mình. Trên cơ sở phân tích về tồn tại và nguyên nhân ở trên việc đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Krông Buk cần tiếp tục tập trung vào một số vấn đề cơ bản sau : -Khai thác và vận dụng có hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo,chính quyền quản lý,nhân dân làm chủ trong việc đẩy mạnh xã hội giáo dục. -Phát huy chức năng của phòng Giáo dục và Đào tạo trong công tác tham mưu và chỉ đạo công tác này. -Đổi mới công tác XHHGD đi vào chiều sâu và có hiệu quả, phổ rộng phong trào XHH trên địa bàn huyện. TT Đơn vị Kết quả đóng góp Ghi chú 1 PơngDrang 58 000 000 đồng 2 ChưKpô 69 000 000 đồng 3 CưNé 34 000 000 đồng 4 Cư pơng 56 000 000 đồng 5 EaNgai 37 000 000 đồng 6 Tân Lập 75 000 000 đồng 7 EaSin 20 000 000 đồng CHƯƠNG III MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NHẰM ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC CỦA HUYỆN KRÔNG BUK Trong quá trình thực tiễn hoạt động của công tác chỉ đạo cuộc vận động xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Krông Buk,tỉnh Đăk Lăk và từ cơ sở lý luận của khoa học quản lý giaó dục. Tôi xin đề xuất “Một số biện pháp chỉ đạo nhằm đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn huyện Krông Buk”. 3.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về giáo dục và công tác xã hội hóa giáo dục . Giáo dục và Đào tạo trong cơ hội mới và vận hội mới của đất nước khi Việt Nam gia nhập nền kinh tế toàn cầu. Vai trò của giáo dục hơn bao giờ hết đòi hỏi phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu của đất nước, giáo dục và đào tạo được nhìn nhận như một yếu tố quan trọng, có tính chất quyết định đối với sự thành công của mỗi cá nhân cũng như của cả đất nước, là phương tiện cải thiện năng suất lao động và tăng tổng sản phẩm xã hội, tạo ra cơ hội cho trẻ em sinh ra trong nghèo đói thoát khỏi khó khăn. Ngày nay giáo dục và thị trường lao động có mối quan hệ chặt chẽ qua lại với nhau. Giáo dục đóng vai trò cung cấp nguồn nhân lực cho thị trường lao động. Có một nguồn lao động có chất lượng tốt là có năng suất lao động cao. Do vậy việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài là trách nhiệm của toàn Đảng, chính quyền các cấp trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cuộc vận động phát triển giáo dục và xây dựng một xã hội học tập ở địa phương mình. Phải coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển và bền vững và hiệu quả nhất. Bằng nhiều nguồn nhân lực đầu tư cho giáo dục đó là chủ trương xã hội hoá giáo dục mà hội nghị lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương (Khóa VIII) đã chỉ rõ: “Xã hội hóa công tác giáo dục là huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc phòng dưới sự quản lý của nhà nước” Đại hội X tiếp tục khẳng định, thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục “Tuyên truyền tốt các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và nhân dân hiểu, thực hiện tốt nhiệm vụ này là trách nhiệm của toàn ngành giáo dục” . 3.2. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và sự chỉ đạo của chính quyền các cấp đối với xã hội hóa giáo dục : Từ nhận thức đúng đắn về xã hội hóa giáo dục, phòng Giáo dục và Đào tạo phải tham mưu đúng, tham mưu kịp thời và khoa học công tác xã hội hóa giáo dục trên địa bàn cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương về chương trình đề án, kế hoạch phát triển giáo dục Huyện; Kế hoạch xã hội hóa có tính cụ thể và có thời gian thích hợp trong 5 năm đến 10 năm và tầm nhìn chiến lược xa hơn … Chương trình phát triển giáo dục nói chung và công tác xã hội hóa nói riêng phải được Huyện ủy, Hội đồng nhân dân ,Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo thường xuyên cho cơ sở thực hiện, phải tăng cường kiểm tra, đánh giá tìm được nhân tố mới để động viên phong trào. Trong những năm qua phòng Giáo dục và Đào tạo đã làm tốt công tác tham mưu cho Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện nhiều chương trình và có Nghị quyết: Đề án xây dựng trường chuẩn quốc gia, đề án kiên cố hóa trường học, chương trình phổ cập tiểu học, chương trình hoạt động trung tâm giáo dục cộng đồng, triển khai chương trình xã hội hóa giáo dục. 3.3. Huy động các tổ chức chính trị, xã hội, các lực lượng xã hội tham gia phát triển giáo dục và xây dựng xã hội học tập : Dưới sự lãnh đạo cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, phòng Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các nhà trường làm tốt công tác tham mưu cho lãnh đạo Đảng, chính quyền địa phương phối kết hợp với các ban ngành, đoàn thể ở địa phương cùng tham gia công tác phát triển giáo dục ở địa phương mình. Duy trì sĩ số học sinh, huy động trẻ trong độ tuổi ra lớp, xây dựng cảnh quan sư phạm nhà trường, nề nếp học tập và các hoạt động khác… -Mặt trận tổ quốc với phong trào: Lá lành đùm lá rách, không để trẻ em nghèo thất học. -Hội phụ nữ với phong trào: Nuôi con khỏe dạy con ngoan, giỏi việc nước đảm việc nhà. -Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh với phong trào: Hướng tới một ngày mai tươi sáng hãy toàn tâm học hành, học để ngày mai lập nghiệp . -Hội khuyến học với phong trào: Gia đình hiếu học, dòng họ khuyến học, phong trào toàn dân học tập. -Hội cha mẹ học sinh với phong trào: Xây dựng môi trường học tập, trường Xanh -Sạch –Đẹp, tất cả vì con em chúng ta. Để phong trào đi vào chiều sâu và hoạt động có hiệu quả, các nhà trường phải tham mưu cho các lãnh đạo Đảng, chính quyền, hội đồng giáo dục và các đoàn thể địa phương phải có kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm cụ thể rõ ràng cho các thành viên. Phải củng cố phát triển diễn đàn giáo dục cơ sở, đây là diễn đàn quan trọng để mọi lực lượng xã hội đóng góp trí tuệ và thể hiện trách nhiệm của mình với giáo dục. Đại hội phải thông qua được chương trình hành động và cam kết trách nhiệm của mình đối với giáo dục. Phải xây dựng kế hoạch định kỳ kiểm tra, đánh giá công tác xã hội hóa giáo dục ở địa phương. Phong trào phải được tuyên truyền với toàn thể nhân dân để cùng hưởng ứng, tham gia. Đối với các nhà trường phải tăng cường công tác giáo dục truyền thống, nêu gương người tốt, việc tốt, truyền thống nhà trường đó là những đóng góp của thế hệ trước đối với quê hương, đất nước cần phải trân trọng. Qua thực tế xây dựng hội khuyến học cho thấy nhiều địa phương đã làm tốt công tác này như xã Pơng Drang, Ea Ngai, Cư Kpô, các địa phương trên đã xây dựng tốt quỹ khuyến học thưởng cho các học sinh giỏi các cấp, học sinh nghèo vượt khó, học sinh đỗ vào các trường cao đẳng, đại học và dặc biệt mua sắm quần áo, sách vở, đồ dùng sinh hoạt khác tặng cho các em vùng sâu như Ea Sin, Cư Pơng. Phong trào này từ các địa phương trên đã lan rộng ra các địa phương khác trong huyện. 3.4. Cần quy hoạch hệ thống giáo dục, đa dạng hóa các loại hình nhà trường : Phòng Giáo dục và Đào tạo đã làm tốt công tác tham mưu cho UBND huyện quy hoạch mạng lưới trường học các cấp trong toàn huyện. Căn cứ vào điều tra phát triển giáo dục trên địa bàn và quy hoạch dân cư, dự báo phát triển dân số. Phòng Giáo dục và Đào tạo trình với UBND huyện về hệ thống phát triển trường lớp của toàn huyện. Căn cứ hướng dẫn về yêu cầu tiêu chuẩn quỹ đất trong tiêu chuẩn trường chuẩn quốc gia. Phòng Giáo dục và Đào tạo tham mưu cho UBND huyện quy hoạch mạng lưới trường lớp đảm bảo theo nhu cầu học tập của con em các dân tộc, đồng thời quy hoạch các thủ tục về quyền sử dụng đất cho cho các nhà trường . Đối với các trường Mầm non ở khu trung tâm quỹ đất tối thiểu 2000m2 trung bình mỗi trẻ phải đạt 15m2 đất. Các điểm trường tối thiểu phải đạt 10m2/trẻ. Đối với các trường Tiểu học và Trung học cơ sở phải đạt trung bình 20m2/ học sinh, các trường trong diện quy hoạch trường chuẩn quốc gia phải có biển trường đúng quy cách, phải có sân chơi, bãi tập, các phòng chức năng. Tất cả các nhà trường phải xây dựng cơ sở vật chất theo hướng trường chuẩn quốc gia. Việc đầu tư không nên dàn trải cho tất cả các trường mà phải ưu tiên cho những trường trong diện quy hoạch trường đạt chuẩn quốc gia. Trong những năm vừa qua, UBND huyện đã quy hoạch tất cả quỹ đất cho tất cả các trường trong huyện, đầu tư cho các trường chất lượng cao. Để quy hoạch hệ thống trường lớp, phòng Giáo dục và Đào tạo phải xây dựng kế hoạch điều tra và quy hoạch giáo dục trên cơ sở dự báo tốt đồng thời gắn với chương trình phát triển kinh tế-Xã hội ở địa phương. 3.5. Tích cực vận động nhân dân đống góp cơ sở vật chất, đẩy mạnh công tác xây dựng cơ sở vật chất trường học: Trên cơ sở xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia và quy mô phát triển giáo dục, phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn và tham mưu cho Đảng, chính quyền huy động mọi nguồn lực đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các địa phương có khả năng huy động nguồn lực cao cho xây dựng cơ sở vật chất trường học bằng cách có cơ chế ưu tiên cụ thể, hỗ trợ thêm nguồn kinh phí để xây dựng… Bằng các hình thức đa dạng hóa trường lớp học, phòng Giáo dục và Đào tạo tham mưu cho UBND huyện động viên, khuyến khích các doanh nghiệp có khả năng đầu tư vốn để xây dựng cơ sở vật chất cho các nhà trường. Phát triển nhà trẻ tư thục, khuyến khích xây dựng trường mầm non tư thục. 3.6. Chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ trong công tác xã hội hóa ở địa phương Thực hiện xã hội hóa giáo dục trên cơ sở phải đảm bảo nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Thực hiện quy chế dân chủ cơ quan, đồng thời triển khai quyền tự chủ. Triển khai công khai hóa, minh bạch hóa các nguồn thu, chi từ xã hội hóa. Các hạng mục công trình, các cơ sở vật chất xây dựng mua sắm phải đảm bảo chất lượng, phòng Giáo dục và Đào taọ phối kết hợp chặt chẽ với các phòng chức năng như phòng Tài chính –Kế hoạch, phòng hạ tầng kinh tế, thanh tra nhà nước tăng cường công tác kiểm tra chất lượng các công trình xây dựng. Ban giám hiệu các nhà trường chịu trách nhiệm trước cấp trên về thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Hằng năm các nhà trường phải thống kê kết quả xã hội hóa để báo cáo trước Hội đồng nhân dân xã. Đồng thời phát huy quy chế dân chủ trong xã hội hóa, cần tập trung vào quản lý chất lượng hiệu quả các trang thiết bị được trang bị. Duy trì tốt phong trào xã hội hóa, không nên hiểu xã hội hóa chỉ là huy động vật chất mà còn được thể hiện ở các phong trào hoạt động của địa phương nhằm cho sự nghiệp giáo dục ở địa phương phát triển 3.7. Phòng Giáo dục và Đào tạo với công tác kiểm tra, đánh giá công tác xã hội hóa trên địa bàn huyện: Công tác xã hội hóa giáo dục muốn được đẩy mạnh và đem lại hiệu quả thì việc kiểm tra, đánh giá công tác này của phòng Giáo dục và Đào tạo đối với các cơ sở là hết sức quan trọng. Bởi lẽ, qua kiểm tra sẽ đánh giá được những mặt ưu điểm, những biện pháp hay để động viên cơ sở phát huy đồng thời qua kiểm tra cũng chấn chỉnh những đơn vị chưa làm tốt, không đúng phương hướng hoặc yếu kém. Sau kiểm tra, đánh giá sẽ tìm được cá nhân, tập thể làm tốt công tác này để nhân điển hình, phổ biến rộng rãi giúp phong trào giáo dục của huyện phát triển. Cũng trong công tác kiểm tra sẽ là động lực cho công tác xã hội hóa giáo dục phát triển đúng hướng và đem lại lại hiệu quả thiết thực hơn. Đồng thời cũng làm tốt cho công tác chỉ đạo của phòng tốt hơn. PHẦN THỨ BA KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. Kết luận: Tiểu luận đã được thực hiện trên cơ sở lý luận đã được nghiên cứu và học tập tại Học viện Quản lý giáo dục và qua thực tiễn chỉ đạo về công tác xã hội hóa giáo dục ở cơ sở. Trong công tác này tôi đã rút ra: Muốn có phong trào giáo dục phát triển và đem lại hiệu quả cao thì công tác xã hội hóa giáo dục phải được coi trọng và phải có giải pháp thiết thực. Cùng với lý luận được trang bị và thực tiễn hoạt động thì tiểu luận về công tác xã hóa giáo dục đã cơ bản đạt được mục đích đề ra. Tuy nhiên sự hiểu biết còn hạn hẹp tiểu luận của tôi chắc không tránh khỏi thiếu sót, mong sự góp ý chân thành của quý thầy cô và các đồng nghiệp. II. Kiến nghị : Giáo dục và Đào tạo phải đi trước một bước phải tạo ra nhiều nguồn lực đầu tư cho giáo dục. Để làm tốt điều đó, tôi xin kiến nghị một số nội dung sau : 1. Nhà nước cần phải tăng cường đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở hạ tầng cho giáo dục, đặc biệt là coi trọng giáo dục phổ thông. 2. Cần phải có chính sách đãi ngộ, ưu tiên mọi mặt cho đội ngủ cán bộ quản lý và giáo viên ngành giáo dục, có chính sách thỏa đáng để thu hút những nhân tài vào ngành giáo dục. 3. Nhà nước và các cơ quan chức năng cần tạo điều kiện cho các nhà đầu tư vào dịch vụ chất lượng cao và có sự quản lý chặt chẽ vào chuyên môn. 4. Cần quan tâm tới giáo dục học sinh dân tộc, đặc biệt là học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. 5. Cần chỉ đạo các địa phương tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi để công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng phát triển phong phú hơn . TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Văn kiện đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, IX 2. Nghị quyết BCH trung ương khóa IIX,IV(Nhà xuất bản chính trị quốc gia -1996) 3. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992(Nhà xuất bản khoa học-Xã hội ) 4. Luật giáo dục (Nhà xuất bản chính trị quốc gia -2005) 5. Tài liệu bồi dưỡng cán bộ quản lý, công chức nhà nước ngành giáo dục và đào tạo. 6. Đề án phát triển Giáo dục và Đào tạo Krông Buk giai đoạn 2001-2010 7. Báo cáo tổng kết năm học của ngành giáo dục năm học 2008-2009 8. Báo cáo công tác xã hội hóa giáo dục năm 2009 của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Krông Buk.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docquanpyWiephong GDkrongbuk.doc
Tài liệu liên quan