Đề tài Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Ngày nay, vấn đề môi trường đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển của loài người đang được các quốc gia và cộng đồng trên thế giới quan tâm. Bởi lẽ ô nhiễm môi trường, sự suy thoái và những sự cố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trước mắt mà còn ảnh hưởng về lâu dài cho các thế hệ mai sau. Toàn thế giới đều đã nhận thức được rằng: phải bảo vệ môi trường, làm cho môi trường phát triển và ngày thêm bền vững. Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng. Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành. Theo niên giám thống kê năm 2007 có 956 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng. Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất thải bệnh viện. Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trường dân cư xung quanh, gây dư luận trong cộng đồng. Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Hóc Môn (ĐKKVHM) đã được hình thành và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước. Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng đó mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân. Bên cạnh những thành quả đạt được thì, hiện nay, vấn đề nhức nhối tại bệnh viện là tình trạng Chất Thải Rắn Y Tế (CTRYT) thải ra với khối lượng khá lớn, đa phần là chất thải nguy hại mà hệ thống quản lý CTRYT thì còn thiếu sót. Xuất phát từ những mối nguy hại trực tiếp hoặc tiềm ẩn của chất thải y tế gây ra đối với môi trường và con người, cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ đó, nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý cụ thể hơn là CTRYT tại bệnh viện ĐKKVHM, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và giảm rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế. Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý rác thải y tế tại bệnh viện nói riêng và tại các phòng khám tư nhân, các trung tâm y tế nói chung hỗ trợ tốt hơn cho hệ thống quản lý chất thải hiện nay của huyện. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKKVHM, Tp.HCM” được lựa chọn. 1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI Mục tiêu chính của luận văn là bước đầu tìm hiểu mức độ ô nhiễm môi trường chung và hiện trạng quản lý CTRYT của bệnh viện ĐKKVHM, kết hợp với việc nhận xét, đánh giá những mặt thuận lợi và tồn tại trong công tác quản lý hiện tại của bệnh viện, nhằm đưa ra những biện pháp để góp phần cải thiện và hạn chế ô nhiễm môi trường của bệnh viện. Cụ thể luận văn sẽ tập trung giải quyết các mục tiêu sau: § Đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm môi trường chung và công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKKVHM. § Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp trong hoạt động bảo vệ môi trường bệnh viện. 1.3 NỘI DUNG THỰC HIỆN TRONG ĐỀ TÀI Để đạt được các mục tiêu đề ra, đề tài cần thực hiện các nội dung sau : § Tìm hiểu thông tin về tình hình khám chữa bệnh của bệnh viện ĐKKVHM. § Tìm hiểu công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện thông qua tài liệu liên quan hiện có và khảo sát, đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường chung tại bệnh viện. § So sánh các yêu cầu của qui định (từ Bộ Y tế và Bệnh viện) và hiện trạng hiện nay nhằm tìm ra các vấn đề quản lý còn bất cập. § Đề xuất biện pháp quản lý CTRYT đối với bệnh viện dựa trên các vấn đề bất cập đã phân tích ở trên. 1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.4.1 Phương pháp luận Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn bệnh viện góp phần bảo vệ môi trường là nghiên cứu tương quan giữa các yếu tố “khái niệm, thành phần, nguyên nhân, tác hại của CTRYT – công tác quản lý và đề xuất giải pháp quản lý CTRYT của công ty Môi trường Đô thị nói chung Bệnh viện ĐKKVHM nói riêng – sự hiểu biết, nhận thức về CTRYT của cán bộ công nhân viên trong toàn bệnh viện, đặc biệt là các bộ phận làm việc trực tiếp với CTRYT. “Từ đó rút ra kết luận và đề xuất giải pháp quản lý CTRYT đạt hiệu quả”. Toàn bộ quá trình nghiên cứu của đề tài được trình bày trong hình 1.1. 1.4.2 Phương pháp thực tế Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau : a) Khảo cứu tài liệu Tham khảo các tài liệu liên quan như : - Quy chế quản lý chất thải y tế số 2575/BYT của Bộ y tế ban hành ngày 12/05/2003 v/v tăng cường quản lý CTRYT. - Chỉ thị 09/2003/CT_UB của Ủy ban nhân dân Tp. Hồ Chí Minh ngày 12/05/2003 v/v tăng cường quản lý CTRYT. b) Khảo sát thực địa Khảo sát, thu thập các hình ảnh, số liệu ở bệnh viện ĐKKV Hóc Môn. c) Phương pháp thống kê Phương pháp thống kê nhằm thu thập và xử lý số liệu một cách tổng quan về tình hình quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKKVHM. Tp. Hồ Chí Minh. So sánh, xác định độ tin cậy của số liệu, xử lý và tổng hợp số liệu. 1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu của đề tài được xác định là bệnh viện ĐKKVHM, Tp. Hồ Chí Minh. 1.6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỒ ÁN 1.6.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài Báo cáo cung cấp số liệu điều tra thực tế về tình hình quản lý rác thải y tế tại bệnh viện, thực trạng về hệ thống quản lý CTRYT trong khu vực bệnh viện. Trên cơ sở đó phân tích những ưu và nhược điểm của hệ thống quản lý CTRYT, đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp giúp cho các nhà quản lý có cơ sở khoa học để quản lý tốt hơn vấn đề CTRYT. 1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đồ án Đề tài cung cấp những dữ liệu liên quan đến hiện trạng quản lý môi trường và các giải pháp như là một cơ sở để so sánh giữa các phòng khám đa khoa ở các khu vực khác với nhau. 1.7 PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI 1.7.1 Về thời gian Từ tháng 30/05/2011 đến 21/08/2011. 1.7.2 Về phạm vi Luận văn được giới hạn ở phạm vi như sau: Phạm vi : Thị trấn Hóc Môn, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Lĩnh vực đề cập: thông tin về CTRYT 1.7.3 Về nội dung Đề tài tập trung tìm hiểu về hiện trạng quản lý chất thải y tế hiện nay tại bệnh viện ĐKKVHM. Từ đó, đề xuất các biện pháp để nâng cao chất lượng công tác quản lý môi trường cho bệnh viện. 1.7.4 Về số liệu Các số liệu được sử dụng trong đề tài giới hạn trong khoảng thời gian khảo sát tình hình quản lý chất thải y tế của bệnh viện và các tài liệu thu thập được từ tư liệu của bệnh viện, sách báo, internet trong thời gian thực hiện luận văn. 1.8 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI Bố cục gồm có sáu chương: Chương 1: trình bày các vấn đề rủi ro liên quan đến CTRYT tại bệnh viện, mục tiêu mà đề tài hướng tới, phạm vi và đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2: giới thiệu về CTRYT, tác hại của nó đối với môi trường và sức khỏe con người. Kế hoạch quản lý CTRYT cũng như tình hình quản lý CTRYT tại Việt Nam nói riêng và Thế giới nói chung. Chương 3: đồ án trình bày tổng quan về bệnh viện ĐKKVHM, nguồn phát sinh CTRYT và công tác bảo vệ môi trường tại bệnh viện. Chương 4: đi sâu khảo sát thực tế, thu thập thông tin, số liệu, hình ảnh để đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường cũng như đánh giá rủi ro, sự cố các mặt kỹ thuật trong công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện. Nêu lên những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý. Chương 5: đề ra các biện pháp khắc phục phù hợp để nâng cao chất lượng công tác quản lý CTRYT tại Bệnh viện ĐKKVHM. Chương 6: đưa ra kết luận và kiến nghị nhằm thúc đẩy công tác bảo vệ môi trường tại Bệnh viện ĐKKVHM đạt hiệu quả.

docx77 trang | Chia sẻ: banmai | Ngày: 02/05/2013 | Lượt xem: 937 | Lượt tải: 6download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i công tác kiểm soát chất lượng môi trường thì bệnh viện ĐKKVHM đã có biện pháp quản lý tốt, ngăn ngừa những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe bệnh nhân, nhân viên y tế, bảo đảm môi trường lao động và làm việc an toàn. Điều đó cho thấy bệnh viện đã thực hiện công tác vệ sinh môi trường chung rất tốt, cụ thể những việc bệnh viện đã làm như sau: Trồng cây xanh bóng mát, có công viên sinh hoạt, sân chơi thể thao cho bệnh nhân, nhân viên y tế. Trang bị đầy đủ thùng rác cho mục đích chứa rác sinh hoạt chung trong khu vực ngoài bệnh viện. Hệ thống thoát nước cống rãnh thường thoáng không phát sinh mùi hôi, không có rác hay vật thể nào làm nghẹt cống. Trật tự vệ sinh khoa và buồng bệnh được lau dọn thường xuyên, không ẩm ướt, tường hành lang buồng bệnh không có vết bẩn tạo không gian thoải mái cho người bệnh nhanh chóng hồi phục sức khỏe. Tường quét vôi màu sáng để tăng phản chiếu ánh sáng khu vực đi lại. Có nội quy trật tự vệ sinh buồng bệnh, hướng dẫn bệnh nhân và người nhà thăm nuôi thực hiện. Bệnh viện còn nghiêm cấm nhân viên y tế không được để chậu cây cảnh trang trí trong phòng tiêm, phòng phẫu thuật vì trong đất có chứa vi khuẩn sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân. Mặc dù nhân viên hộ lý đã có nhắc nhở nhiều đến người thăm nuôi về việc thải rác đúng nơi quy định nhưng dọc theo hành lang vẫn còn tình trạng vứt rác bừa bãi, tại các phòng bệnh vẫn còn tình trạng người dân ý thức chưa cao vứt rác xuống khu vực thoát nước. 4.2 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CTRYT TẠI BỆNH VIỆN Xã hội ngày càng phát triển, việc bảo vệ môi trường ngày càng được quan tâm, quản lý chất thải bệnh viện là một trong những khâu quan trọng trong việc bảo vệ môi trường bệnh viện vì lượng chất thải y tế bệnh viện phát sinh hàng ngày rất lớn và chứa nhiều thành phần nguy hại. Do đó, đòi hỏi phương thức quản lý bao gồm hệ thống phân loại, thu gom phải đảm bảo ô nhiễm không gia tăng và không gây ô nhiễm môi trường. Chất thải rắn bệnh viện phát sinh ngoài hoạt động khám và chữa bệnh, còn các hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người bệnh, người thăm nuôi và nhân viên y tế. Bệnh viện trang bị thùng rác sinh hoạt tại mỗi phòng khoa và buồng bệnh. Công tác quét dọn rác tại các phòng bệnh luôn làm tốt, nhìn chung luôn sạch sẽ. Toàn khuôn viên bệnh viện không hề phát sinh mùi hôi hay xuất hiện rùi nhặng làm ảnh hưởng sức khỏe của toàn thể mọi người trong bệnh viện. 4.2.1 Đánh giá công tác quản lý hành chính đối với CTRYT Hệ thống quản lý hành chính trong công tác quản lý chất thải tại bệnh viện bao gồm sự phối hợp của ban lãnh đạo,các phòng ban, tổ chống nhiễm khuẩn và tất cả các khoa tại bệnh viện. Trong đó, tổ chống nhiễm khuẩn chịu trách nhiệm chính trong việc giám sát, nhắc nhở việc thực hiện quy chế quản lý chất thải và giữ vệ sinh môi trường bệnh viện. Cách thức quản lý bao gồm hệ thống phân loại thu gom phải đảm bảo ô nhiễm không gia tăng và không gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Việc quản lý chất thải rắn về mặt hành chính tốt là đảm bảo hai vấn đề sau: Kiểm tra, giám sát và chỉ đạo toàn thể nhân viên thực hiện đúng các quy trình kỹ thuật về quản lý chất thải rắn theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ y tế ban hành. Đảm bảo sự an toàn trong công tác quản lý chất thải, khắc phục sự cố và tránh ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên và bệnh nhân cũng như người thăm nuôi, hạn chế bệnh nghề nghiệp. 4.2.1.1 Kiểm tra, giám sát và chỉ đạo công tác quản lý CTRYT Khi quy chế quản lý chất thải y tế được Bộ Y tế ban hành, vấn đề đào tạo, giám sát và chỉ đạo công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện đã thực hiện và đạt được một số thành quả sau: Bệnh viện đã nhanh chóng phổ biến kiến thức, quy trình việc phân loại thu gom rác đến toàn thể nhân viên y tế trong bệnh viện. Tại các khoa phòng đã thực hiện khá tốt quy định chung từ phân loại, lưu giữ và thu gom chất thải. Tại bệnh viện chưa có xuất hiện hiện tượng người dân vào bới rác hay ghi nhận vi phạm nào về việc nhân viên y tế lấy rác thải đem ra ngoài bán, tái sử dụng trái phép. Hàng tuần tổ chống nhiễm khuẩn đều luân phiên đến các khoa phòng để kiểm tra nhắc nhở nhân viên y tế thực hiện đúng việc phân loại rác thải theo quy định của Bộ y tế. Bệnh viện đã áp dụng một số biện pháp mạnh đối với nhân viên y tế phải thực hiện đúng quy định, nếu vi phạm, hình thức kỷ luật có thể buộc thôi việc. Tuy nhiên, tổ chống nhiễm khuẩn chỉ quan tâm đến việc nhân viên y tế phân loại chất thải và quá trình bàn giao chất thải cho công ty Môi trường đô thị vận chuyển xử lý, nhưng còn vấn đề số lượng thải tại mỗi khoa cũng như quá trình thu gom vận chuyển về nhà lưu giữ thì chưa có sự quan tâm chặt chẽ. Do đó, cần hoàn thiện hơn công tác kiểm tra, giám sát tất cả các khâu của quá trình quản lý chất thải tại bệnh viện. 4.2.1.2 Đảm bảo an toàn trong công tác quản lý CTRYT Sự nguy hại đến sức khỏe của nhân viên y tế, bệnh nhân, người thăm nuôi luôn là mối quan tâm hàng đầu tại bệnh viện. Sự ảnh hưởng do độc tính còn tồn tại trong các chất thải y tế liên quan đến bất cứ sự tiếp xúc có thể xảy ra trong quá trình khám và chữa bệnh, quá trình thải bỏ lưu giữ tại mỗi khoa phòng, quá trình thu gom vận chuyển và xử lý. Việc sử dụng các trang thiết bị bảo hộ cá nhân giúp người làm việc an tâm và phòng tránh được các nguy cơ có thể xảy ra đối với chất thải lây nhiễm cao. Vì vậy, để đảm bảo tính an toàn cho nhân viên y tế, bệnh viện đã trang bị đầy đủ găng tay cao su, khẩu trang, xà phòng rửa sát trùng cho nhân viên khi có nhu cầu sử dụng. Tất cả nhân viên khi làm việc đều phải chấp hành quy định, trang bị đầy đủ bảo hộ cá nhân, nếu phát hiện bệnh viện sẽ kiểm điểm làm gương, xử phạt nghiêm khắc tránh việc tái phạm lần sau. Bệnh viện đã đưa ra những hướng dẫn về việc sử dụng các bảo hộ cá nhân như sau: Khi ra vào các khoa phải thay trang phục y tế, cởi bỏ các trang thiết bị đã sử dụng trước khi rời khỏi khu vực làm việc và sau khi chúng đã nhiễm bẩn. Để các trang thiết bị bảo hộ cá nhân đã qua sử dụng vào đúng vị trí thải bỏ quy định như thùng rác, các vật dụng lưu giữ để giặt, khử trùng và tái sử dụng hoặc hủy bỏ. Mang các loại găng tay thích hợp khi tiếp xúc với các chất thải có khả năng lây nhiễm khác nhau. Nếu găng bị rách, bong, thủng hay nghiễm bẩn phải lập tức thay thế bằng một cái khác hoàn toàn nguyên vẹn. Đối với các loại găng tay có thể sử dụng nhiều lần thì có thế khử trùng trước khi tái sử dụng, còn về găng tay chỉ được sử dụng một lần nghiêm cấm các hành vi đem đi tái sử dụng lại, nếu vi phạm sẽ bị xử phạt nghiêm khắc. 4.2.2 Đánh giá các mặt kỹ thuật trong việc quản lý CTRYT Quy trình quản lý CTRYT theo đúng trình tự các khâu như sau: phân loại chất thải tại nguồn, lưu giữ tại khoa phòng, thu gom vận chuyển về nhà lưu giữ chung của bệnh viện và giai đoạn xử lý cuối cùng. Công tác quản lý lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện Hiện nay, bệnh viện đang đầu tư cơ sở vật chất, trang bị nhiều thiết bị y tế để tăng năng lực khám và chữa bệnh. Là một bệnh viện lớn của huyện nên bên cạnh những thế mạnh trong công tác khám và chữa bệnh của bệnh viện thì hiện nay một vấn đề nhức nhối là tình trạng chất thải y tế thải ra với khối lượng khá lớn. Tại bệnh viện có lượng rác thải trung bình một ngày hiện nay là khoảng 1200 kg rác thải, trong đó rác y tế khoảng 130 kg chiếm khoảng 10.83%, còn lại là rác sinh hoạt. Bên cạnh đó, số lượng bơm kim tiêm sử dụng là khoảng 480 – 500 kim tiêm/ngày. Số lượng thùng rác hiện tại cho việc chứa rác thì bệnh viện trang bị cho mỗi khoa 4 thùng loại lớn dung tích 120 lít, với 2 thùng rác màu cam chứa rác y tế và 2 thùng rác màu xanh chứa rác sinh hoạt cho việc lưu giữ và vận chuyển. Do đó, tổng số thùng rác cung cấp cho các khoa là 26 thùng rác y tế và 26 thùng rác sinh hoạt. Riêng thùng đựng vật sắc nhọn, bệnh viện mua số lượng lớn theo từng quý tức là 3 tháng/lần, thùng đựng chỉ được vận chuyển về nhà lưu giữ khi số lượng bơm kim tiêm đầy. Theo số liệu thống kê của tổ chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện năm 2011, lượng CTRYT tại bệnh viện từ năm 2007 đến 7 tháng đầu năm 2011 được thể hiện ở bảng 4.1 sau đây: Bảng 4.1: Lượng CTR từ năm 2007 → 7 tháng đầu năm 2011 tại bệnh viện Năm Số giường thực kê (giường) Tổng số bệnh nhân nhập viện (người) Lượng chất thải rắn sinh hoạt (tấn/năm) Lượng CTRYT (tấn/năm) 2007 450 27.600 372.9 35.6 2008 462 28.036 384.3 37.1 2009 480 29.450 391.4 38.9 2010 520 31.894 423.7 42.9 7th - 2011 520 22.384 250.8 27.0 (Nguồn: Bệnh viện ĐKKVHM, 2011) Nếu ước tính tổng số bệnh nhân nhập viện, lượng chất thải rắn phát sinh tại bệnh viện năm 2011 như sau: Số bệnh nhân nhập viện năm 2011 là 38.370 người. Lượng chất thải rắn sinh hoạt khoảng 429.9 tấn/năm và lượng CTRYT khoảng 46.28 tấn/năm. Bảng 4.2: Lượng CTR bình quân từ năm 2007 – 2011 tại bệnh viện Năm Chất thải sinh hoạt (kg/giường bệnh/ngày) CTRYT (kg/giường bệnh/ngày) Chất thải rắn chung (kg/giường bệnh/ngày) 2007 2,27 0,22 2,49 2008 2,28 0,22 2,50 2009 2,23 0,22 2,45 2010 2,23 0,23 2,46 2011 2,26 0,24 2,50 ( Nguồn: Bệnh viện ĐKKVHM, 2011) Dựa theo lượng chất thải rắn của bệnh viện phát sinh ta vẽ được biểu đồ phát sinh chất thải rắn tại bệnh viện qua 5 năm gần đây, 2007-2011. Hình 4.1: Biểu đồ thể hiện lượng CTR tại bệnh viện từ năm 2007 - 2011 Nhìn vào biểu đồ hình 4.1 trên ta thấy lượng chất thải rắn từ năm 2007 đến năm 2011 có chiều hướng gia tăng. Tuy nhiên theo theo bảng 4.2 nếu tính theo kg/giường bệnh/ngày thì lượng chất thải này hoàn toàn không gia tăng, mà có xu hướng hơi giảm trong năm 2008 – 2009. Như vậy có thể nói lượng chất thải phát sinh và gia tăng tại bệnh viện có thể giải thích là do số lượng bệnh nhân nhập viện gia tăng chứ lượng chất thải phát sinh theo số giường bệnh thực kê tại bệnh viện lại không thay đổi nhiều. Ngoài ra, theo quy hoạch phát triển mạng lưới bệnh viện giai đoạn 2007 -2011, bệnh viện đang xin quyết định phê duyệt của Bộ y tế về việc thành lập thêm một số chuyên khoa mới và sẽ có quy mô tăng thêm giường bệnh vào năm 2012. Theo ước tính của bệnh viện, lượng rác thải phát sinh trong bệnh viện có thể lên đến khoảng 2100 kg/ngày đêm, trong đó lượng rác thải y tế chiếm khoảng 10% lượng rác thải bệnh viện tức là 210 kg/ngày đêm. Tuy nhiên, hiện tại việc quản lý số lượng chất thải phát sinh ở bệnh viện chỉ được tổ chống nhiễm khuẩn ghi nhận tại nhà lưu giữ khi công ty Môi trường Đô thị đến vận chuyển về lò đốt Bình Hưng Hòa để xử lý. Mỗi lần kho lưu giữ cung cấp lượng dụng cụ y tế đến từng khoa đều có ký tên xác nhận nhưng quá trình sử dụng và thải bỏ tại mỗi khoa lại không có ghi nhận cụ thể lượng thải hằng ngày là bao nhiêu. Như vậy, có thể xảy ra tình trạng thất thoát lượng chất thải mà bệnh viện khó có thể kiểm soát được. Do đó, cần hoàn thiện việc quản lý dữ liệu một cách khoa học để hạn chế những thiệt hại có thể xảy ra về sau trong việc mất khối lượng rác thải, gây ảnh hưởng cho môi trường và sức khỏe người dân bệnh viện. Đây chính là giải pháp cần làm rõ ở chương tiếp theo. 4.2.2.2 Công tác phân loại và thu gom chất thải rắn tại nguồn phát sinh Muốn đảm bảo cho quá trình thu gom tốt thì chất thải phải được phân loại ngay tại nguồn phát sinh. Quy trình phân loại CTRYT tại bệnh viện ĐKKVHM được thực hiện khá tốt. Quá trình phân loại chất thải sinh hoạt và chất thải y tế được thực hiện ngay tại nguồn phát sinh theo đúng quy định của Bộ Y tế. Chất thải sau khi phân loại sẽ được cho vào các túi nylon đúng màu sắc quy định, không để lẫn chất thải y tế nguy hại vào với chất thải sinh hoạt. Việc phân loại được thực hiện như sau: Tại mỗi khoa phòng đều trang bị các túi nylon với màu sắc theo quy định của Bộ Y tế, trên mỗi thùng rác bệnh viện đều dán dòng chữ là " Rác y tế" hoặc "Rác sinh hoạt", có chân đạp và luôn được cọ rửa thường xuyên. Rác thải y tế độc hại được phân làm hai loại, đối với rác thải không sắc nhọn như bông băng, lọ thuốc… cho vào túi màu vàng bên ngoài có in biểu tượng nguy hại, vật cứng sắc nhọn thì cho vào thùng mũ đựng tách biệt, có nắp đậy, bên ngoài có dán biểu tượng nguy hại sinh học. Trên các túi cũng có vạch ghi dòng chữ rõ ràng "Không đựng quá vạch này" ở mức 2/3 túi và có dán biểu tượng nguy hại nếu là chất thải nguy hại. Riêng đối với chất thải thông thường thì hiện tại vẫn bỏ chung vào túi màu xanh, không phân loại trước khi đem đi xử lý. Các hóa chất nguy hại thì cho vào túi màu đen. Các thùng chứa chất thải y tế được đặt hợp lý tại các khoa phòng. Xuyên suốt quá trình khám bệnh, trên xe tiêm và xe thủ thuật đều trang bị các túi nylon màu xanh, màu vàng và thùng đựng vật sắc nhọn và được phân loại trực tiếp. Hình 4.2: Phân loại CTRYT phát sinh trực tiếp trong quá trình khám chữa bệnh (Nguồn: Tác giả. 2011) Thời gian tổ chức thu gom vận chuyển được quy định rõ ràng là 2 lần/ngày: sáng khoảng 7h30, chiều khoảng 1h. Trong trường hợp rác quá nhiều sẽ tiến hành thu gom trái giờ quy định. Mỗi khoa phòng tự bảo quản lượng chất thải cho đến khi có nhân viên hộ lý đến thu gom. Khi đến giờ quy định vận chuyển, nhân viên hộ lý chịu trách nhiệm lấy rác tại mỗi khoa sẽ tiến hành chất rác từ thùng rác cố định lên xe đẩy, buột kín miệng túi nylon, thu gom chất thải về nhà lưu giữ. Có thể thấy việc phân loại cũng như thu gom chất thải tại bệnh viện được thực hiện đúng theo quy định của Bộ y tế, không ứ đọng và không bốc mùi, không ảnh hưởng sức khỏe của toàn thể nhân viên, bệnh nhân và người thăm nuôi trong bệnh viện. Hình 4.3: Vật liệu sử dụng chứa chất thải của bệnh viện ( Nguồn: Tác giả, 2011) Tuy nhiên, quá trình thu gom vẫn còn vài hạn chế : Tuy đã được lấy ba lần trong ngày nhưng rác vẫn còn ứ đọng lại nhiều tại các khoa. Do diện tích hạn chế, các khu gom rác tại các khoa phòng không cách xa khu vực bệnh nhân và nơi làm việc. Thực tế hiện nay là nhiều khi nhân viên thu gom chưa ý thức cao trong việc mang bảo hộ lao động, không chịu mang khẩu trang, thiết bị bảo hộ lao động do họ cảm thấy vướng víu, khó thở khi thao tác thu gom. 4.2.2.3 Công tác vận chuyển CTRYT Lối vận chuyển chất thải y tế từ các khoa phòng trong bệnh viện sẽ theo lối đi riêng, không đi qua khu vực chăm sóc bệnh nhân và các khu vực sạch khác, chất thải trong suốt quá trình vận chuyển đến nhà lưu giữ phải đảm bảo được cột chặt trong túi màu, không phát sinh mùi và được đưa về nhà lưu giữ chung. Hình 4.4: Lối vận chuyển CTRYT tại bệnh viện ( Nguồn: Tác giả, 2011) Sử dụng phương tiện vận chuyển là xe đẩy tay, thùng đẩy màu xanh để vận chuyển chất thải sinh hoạt và màu cam để vận chuyển chất thải y tế, tuyệt đối không dùng vào mục đích khác và được vệ sinh sau mỗi lần vận chuyển. Hình 4.5: Phương tiện vận chuyển CTRYT tại bệnh viện ( Nguồn: Tác giả, 2011) Công tác thu gom vận chuyển CTRYT của bệnh viện nhìn chung luôn tuân thủ theo quy định như sau: Hàng ngày rác đều được thu gom vận chuyển đúng giờ quy định. Nhân viên hộ lý chịu trách nhiệm thu gom và vận chuyển rác. Khi rác đầy ở mỗi thùng rác, nhân viên hộ lý đều cột túi và tập trung về vị trí cố định tại mỗi khoa phòng sau khi đầy đủ sẽ bắt đầu vận chuyển. Rác luôn thải bỏ dưới mứt 2/3 của túi theo quy định. Quá trình vận chuyển rác từ các khoa không hề ảnh hưởng đến sinh hoạt, khám và chữa bệnh. Tuy nhiên,quá trình truyền đạt quy định của Bộ Y tế là thế thì quá trình thực hiện tại bệnh viện cũng còn thiếu sót, nhân viên hộ lý trong quá trình chuyển rác về nhà lưu giữ, vẫn còn tình trạng lượng rác được chất quá đầy, cao hơn nắp đậy của xe, điều này có thể xảy ra tình trạng rác rơi vãi dọc theo lối đi, ảnh hưởng đến mỹ quan bệnh viện, lan truyền bệnh do không khí hay do dẫm đạp. Nhà lưu giữ CTRYT Chất thải y tế sau khi được phân loại, thu gom và vận chuyển đến nơi lưu giữ tại vị trí quy định được gọi là nhà phân loại rác. Quá trình lưu giữ cũng được tách riêng chất thải nguy hại và chất thải sinh hoạt. Thời gian lưu giữ chất thải tại bệnh viện tối đa là 48 giờ, sau đó sẽ được đem đi xử lý. Địa điểm lưu giữ chất thải tại bệnh viện cũng đảm bảo các yêu cầu sau: Nhà chứa rác được bố trí ở khu xử lý chất thải của bệnh viện, xa khu vực các phòng khám và điều trị trung tâm. Có đường dành cho xe chuyên chở từ bên ngoài đến. Có mái che chắn và máy làm lạnh. Khu vực nhà chứa rác của bệnh viện được chia làm 2 phần : phần chứa rác sinh hoạt và phần chứa rác y tế. Bố trí 01 máy làm lạnh để duy trì nhiệt độ thấp trong toàn bộ khu vực nhà chứa rác y tế. Hình 4.6: Nhà lưu giữ CTRYT tại bệnh viện ( Nguồn: Tác giả, 2011) Nhưng do nhà lưu giữ được xây dựng khá lâu từ khi bệnh viện mới thành lập, cho đến bây giờ chưa được nâng cấp sữa chữa, diện tích không đủ để chứa khối lượng chất thải ngày càng tăng. Rác y tế vẫn cho vào nhà kín giữ lạnh nhưng riêng đối với rác thải sinh hoạt vì buồng lưu giữ quá nhỏ nên được đổ đóng phía ngoài nhà lưu giữ. Tình trạng rác sinh hoạt tập trung ngoài trời gây ô nhiễm, xuất hiện mùi hôi và côn trùng gây bệnh. Ngoài ra, bên trong nhà lưu giữ, rác vẫn còn rơi vãi dưới sàn nhà như găng tay y tế, khẩu trang… Nền nhà ẩm ướt, xung quanh nhà lưu giữ không có hệ thống hàng rào che chắn, bảo vệ. Vấn đề cấp bách hiện tại là bệnh viện cần quan tâm hơn nữa trong việc xây dựng lại nhà lưu giữ rác, khắc phục những khuyết điểm còn tồn tại để hoàn thiện hơn công tác bảo quản chất thải phát sinh trước khi xử lý để đảm bảo sức khỏe cho mọi người và hoàn thiện việc bảo vệ môi trường bệnh viện. Xử lý CTRYT Rác thải y tế là nguồn lây lan bệnh và ô nhiễm môi trường, nên luôn được bệnh viện kiểm soát nghiêm ngặt là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu tại bệnh viện. Những rác lây nhiễm cao, bệnh viện luôn theo quy định xử lý giai đọan đầu trước khi thải bỏ vào túi và thùng rác. Đối với các chất thải y tế nguy hiểm có nguy cơ lây nhiễm cao từ phòng xét nghiệm, phòng điều trị người bệnh truyền nhiễm (găng tay, lam kính, ống nghiệm sau khi xét nghiệm, đờm tại khoa của bệnh nhân lao …), bệnh viện đều thực hiện xử lý ban đầu bằng hóa chất hay bằng autoclave (nồi hấp) trước khi thu gom đến nơi tập trung chất thải. Đặc biệt, chất thải phóng xạ phải được thu gom và xử lý theo đúng pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ theo các quy định hiện hành của nhà nước. Hiện nay bệnh viện đã ngưng hoạt động lò đốt rác y tế, tất cả rác y tế đều được vận chuyển về Bình Hưng Hòa để đốt. Quá trình xử lý chất thải sơ bộ trước khi về nhà lưu giữ không hề phát sinh bất kỳ tác hại nào bất lợi cho hoạt động khám và chữa bệnh tại bệnh viện. Trang thiết bị lưu giữ, thu gom và vận chuyển CTRYT Bên cạnh đó những thành quả đạt được trong quá trình phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải, bệnh viện cũng còn một số hạn chế trong việc trang bị phương tiện chứa chất thải. Về màu sắc của thùng chứa rác cho lưu giữ và vận chuyển, bệnh viện chỉ sử dụng những thùng chứa rác bình thường dùng trong sinh hoạt hàng ngày, không đúng theo màu sắc quy định của Bộ Y tế. Thùng đựng vật sắc nhọn chưa đảm bảo an toàn, vẫn có khả năng gây xuyên thủng trong quá trình thải bỏ và vận chuyển về nhà lưu giữ do va đập vì chỉ là thùng mũ bình thường. Việc chuẩn hóa trang thiết bị cần được bệnh viện nhanh chóng triển khai đầu tư để khắc phục những hạn chế và cải thiện công tác quản lý môi trường bệnh viện. 4.3 PHÂN TÍCH SỰ KHÔNG PHÙ HỢP THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ Y TẾ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT TẠI BỆNH VIỆN ĐKKVHM Để thúc đẩy công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện phát triển song song với quy chế của Bộ Y tế ban hành, trước hết là tìm ra các vấn đề quản lý còn bất cập. Sau đây là bảng tổng hợp các vấn đề liên quan đến quản lý CTRYT theo quy định của Bộ Y tế mà bệnh viện còn nhiều thiếu sót. Bảng 4.3: So sánh các yêu cầu của quy định từ Bộ Y tế và Bệnh viện STT Yêu cầu theo qui định Hiện trạng Vấn đề cần cải thiện/ nâng cấp 1 A Công tác quản lý hành chính đối với CTRYT ● Kiểm tra, giám sát và chỉ đạo toàn thể nhân viên thực hiện đúng quy trình kỹ thuật về quản lý CTRYT. ● Chưa được quan tâm chặt chẽ. Sự phối hợp của ban lãnh đạo, các phòng ban, tổ chống nhiễm khuẩn và các khoa tại bệnh viện chưa đồng bộ. ● Công tác kiểm tra, giám sát và chỉ đạo bệnh viện vẫn còn nhiều tồn tại. Số lượng chất thải tại mỗi khoa cũng như quá trình thu gom vận chuyển về nhà lưu giữ chưa có sự quan tâm chặt chẽ. 2 B C D E F Công tác kỹ thuật trong việc quản lý CTRYT ● Giảm thiểu chất thải tại nguồn. ● Vận chuyển CTRYT phải đóng gói trong thùng và đậy kín nắp, không chất quá cao. ● Nhà lưu giữ CTRYT phải có hàng rào bảo vệ, diện tích phù hợp, có hệ thống cống thoát nước, tường và nền chống thấm, có dụng cụ hóa chất làm vệ sinh. ● Sử dụng trang thiết bị, phương tiện, thùng đựng chất thải theo đúng tiêu chuẩn qui định. ● Lò đốt rác phải bảo đảm đạt tiêu chuẩn môi trường, khuyến khích áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường. ● CTR thải ra khối lượng khá lớn. ● Nhân viên, hộ lý trong quá trình vận chuyển rác về nhà lưu giữ lượng rác chất quá đầy, cao hơn nấp đậy của xe. ● Diện tích nhỏ, không có hàng rào bảo vệ, ẩm thấp. ● Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ. Màu sắc thùng chứa rác cho lưu giữ và vận chuyển vài nơi còn chưa đúng quy định. ● Lò đốt rác đã ngưng hoạt động khá lâu. ● Thất thoát lượng chất thải mà bệnh viện khó có thể kiểm soát. ● Rác rơi vãi dọc theo lối đi. ● Rác sinh hoạt tập trung đổ đóng ngoài trời gây ô nhiễm, xuất hiện mùi hôi và côn trùng gây bệnh. ● Thùng đựng vật sắt nhọn chưa đảm bảo an toàn, có khả năng gây thủng, nguy cơ trầy xướt, lây nhiễm cao do bệnh nghề nghiệp đối với nhân viên, hộ lý y tế. ● Hiện chưa có hệ thống xử lý CTRYT nên bị động trong việc xử lý rác y tế của bệnh viện. Sáu vấn đề còn tồn tại trong bảng 4.3 sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lý ở chương 5. CHƯƠNG 5 ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC VÀ NÂNG CAO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT TẠI BVĐKKV HÓC MÔN Trong quá trình hoạt động, việc thải ra CTRYT bao gồm CTR thông thường và CTR nguy hại là điều không tránh khỏi. Qua kết quả đánh giá hiện trạng môi trường chung cũng như quá trình kiểm soát và quản lý CTRYT tại bệnh viện ĐKKVHM vẫn còn tồn tại một số khuyết điểm cần phải được bổ sung và cải thiện nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm do CTRYT gây ra, ảnh hưởng đến môi trường cũng như công tác khám và chữa bệnh tại bệnh viện. Vấn đề cấp thiết hiện tại là phải đề ra được các giải pháp nhằm nâng cấp và hoàn thiện công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện, để hạn chế được một phần nào tình trạng ô nhiễm, giảm thiểu lượng chất thải rắn phát sinh ngay tại bệnh viện. Các giải pháp luận văn đề xuất được dựa trên các nguyên tắc quy định về pháp luật, nghị định, tiêu chuẩn Việt Nam do Bộ y tế quy định. 5.1 XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN 5.1.1 Cơ cấu tổ chức KHỐI PHÒNG CHỨC NĂNG BAN BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG GIÁM ĐỐC KHỐI LÂM SÀNG KHỐI CẬN LÂM SÀNG Hình 5.1: Hệ thống quản lý bảo vệ môi trường 5.1.2 Nhiệm vụ của Ban môi trường Giám đốc: Là Trưởng Ban môi trường chỉ đạo và chịu trách nhiệm cao nhất về hệ thống quản lý môi trường, đề ra chính sách môi trường và cam kết thực hiện chính sách đó. Thành viên Ban môi trường: Là các trưởng khoa, phó khoa trong bệnh viện Chịu sự phân công của Trưởng Ban môi trường lập kế hoạch phụ trách cụ thể công tác quản lý môi trường trong đó bao gồm quản lý chất thải, nước thải, khí thải, nhiễm khuẩn bệnh viện, bệnh nghề nghiệp, vệ sinh môi trường tại các khoa trong bệnh viện như công tác thu gom, vận chuyển và lưu chứa chất thải… Dự trừ kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường. Tổ chức huấn luyện cho nhân viên nhận thức về công tác bảo vệ môi trường. Tổ chức kiểm tra đánh giá định kỳ hàng quý hoặc hàng năm và đề xuất khen thưởng đối với tập thể đơn vị hoàn thành tốt. 5.2 NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI BỆNH VIỆN Chương trình quản lý môi trường là một kế hoạch hành động để đạt được các mục tiêu về môi trường nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và thân thiện với môi trường hơn. Do đó đòi hỏi tổ chức chịu trách nhiệm về vấn đề môi trường bệnh viện giao trách nhiệm thực hiện cho các khoa phòng, theo dõi và đánh giá kết quả chặt chẽ nghiêm khắc để có thể rút được kinh nghiệm và sau đó có kế hoạch hành động, thay đổi cho phù hợp với mục tiêu của việc bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng phục vụ của ngành y tế, công tác khám và chữa bệnh cũng như công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bảo vệ môi trường tại bệnh viện. 5.2.1 Hệ thống quản lý hành chánh (giải quyết vấn đề A, bảng 4.3) 5.2.1.1 Hoàn thiện công tác quản lý hành chính đối với chất thải Trước tiên, bệnh viện cần quản lý chặt chẽ hơn đội ngũ thu gom rác, cụ thể như sau: Chuyên nghiệp hóa bộ phận thu gom rác, như không được ém rác, chất rác quá cao. Giám sát kỹ việc vận chuyển, phải đảm bảo lượng rác vừa đủ trong xe để đậy nắp kín trong quá trình vận chuyển. Nếu lượng rác thải quá nhiều có thể tăng thêm số lần lấy rác trong ngày và suy xét việc nâng cao mức thu nhập cho nhân viên vận chuyển để khuyến khích họ thực hiện tốt hơn. Thứ hai là vấn đề giám sát lượng rác thải y tế phát sinh tại mỗi khoa. Hiện nay có nhiều người sống bằng nghề thu lượm các loại chất thải có khả năng tái chế để bán cho cơ sở thu mua và tái chế chất thải. Với xu thế phát triển hiện nay, nhiều vật dụng dùng một lần trong y tế được sử dụng với số lượng, chủng loại ngày càng tăng. Các vật liệu dùng một lần, đặc biệt là chất nhựa là mặt hàng rất hấp dẫn đối với những người thu gom chất thải vì các chất nhựa này là những loại nhựa tốt, có giá trị cao khi tái sinh, tái chế. Việc quản lý chất thải bệnh viện nếu thiếu kiểm soát chặt chẽ sẽ có hiện tượng thất thoát. Vì thế, mỗi khoa nên có một nhân viên chịu trách nhiệm giám sát lượng chất thải đã qua sử dụng, lượng rác thải chưa sử dụng hết tại khoa và ghi nhận cụ thể rõ ràng để so sánh đối chiếu với kho lưu giữ và nhà chứa rác sau mỗi tháng một lần. Như vậy sẽ đảm bảo tốt khối lượng dụng cụ y tế mà kho lưu giữ đã bàn giao đến từng khoa và tránh được tình trạng thất thoát rác không mong muốn trong bệnh viện. 5.2.1.2 Kiểm soát ô nhiễm do chất thải Khoa Chống Nhiễm Khuẩn thực hiện việc giám sát các hoạt động như: Công tác phân loại rác tại nguồn ở các khoa. Phương thức quản lý (phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu trữ, xử lý và thải bỏ) được tiến hàmh chặt chẽ trong bệnh viện. 5.2.1.3 Tăng cường pháp chế đối với các trường hợp vi phạm Ban Môi trường áp dụng hình thức khiển trách, trừ điểm thi đua Trưởng khoa và các hình thức chế tài như phạt tiền theo mức độ vi phạm của từng vụ việc đối với các Trưởng khoa không hướng dẫn nhân viên tuân thủ theo quy định về công tác xử lý chất thải, công tác vệ sinh môi trường bệnh viện do Ban môi trường đề ra. Trong khoa nhân viên vi phạm sẽ bị khiển trách và có hình thức xử phạt theo cấp và mức độ tại khoa. 5.2.2 Cải thiện vệ sinh môi trường bệnh viện Việc nâng cao chất lượng cho công tác vệ sinh môi trường bệnh viện phải được mọi người đồng tình và cùng tham gia thực hiện và phải chi tiết cụ thể, được xây dựng trên cơ sở kiểm tra giám sát từ thực tế thông qua việc ghi nhận lại những vấn đề đang diễn ra hằng ngày và phải mang tính khách quan. Ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của bệnh nhân và thân nhân cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Hiện tại, tình trạng người nuôi bệnh vứt rác thải vào khu vực thoát nước dọc lang cang tại các dãy phòng của bệnh viện là rất phổ biến tuy đã có nhân viên hộ lý nhắc nhở thường xuyên. Vì vậy Tổ Chống nhiễm khuẩn cần có chương trình tuyên truyền cụ thể và biện pháp xử phạt tài chính thích đáng để họ nhận thức đúng đắn hơn hành vi sai phạm của mình trong việc giữ gìn vệ sinh chung cho bệnh viện. 5.2.3 Nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường CTRYT bao gồm một lượng lớn chất thải nói chung và một lượng nhỏ hơn các chất thải có tính nguy cơ cao. CTRYT có thể tạo nên những mối nguy cơ cho sức khỏe con người. Việc tiếp xúc các CTRYT có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương. Đó là do trong CTRYT có thể chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, chất độc hại, các loại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất thải phóng xạ, các vật sắc nhọn… Vì thế, việc nâng cao công tác bảo vệ môi trường nói chung, cũng như nhận thức về tác hại của CTRYT nói riêng giúp mọi người ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường bệnh viện. Phòng tổ chức bệnh viện có kế hoạch đưa ra các chương trình giáo dục tuyên truyền cho tất cả mọi người ra vào bệnh viện ý thức hơn trong việc giữ vệ sinh chung và bảo vệ môi trường bệnh viện. Đây là mục tiêu quan trọng nhằm trang bị những kiến thức cơ bản về bảo vệ môi trường, những tác động hay ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường gây ra giúp cho tất cả mọi người ý thức về vai trò trách nhiệm của bản thân để giúp cho việc bảo vệ môi trường bệnh viện được tốt hơn, trong lành tạo không gian khám và chữa bệnh hiệu quả hơn. Các biện pháp có thể sử dụng như sau đây. 5.2.3.1 Giáo dục cộng đồng Có kế hoạch đưa các chương trình giáo dục, tuyên truyền dành cho tất cả mọi người ra vào bệnh viện, bao gồm nhân viên y tế, bệnh nhân và người thăm nuôi ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường bệnh viện. Việc thực hiện tốt vệ sinh môi trường, phân loại rác đã sử dụng để ngăn ngừa ô nhiễm. Làm tốt việc này sẽ nâng cao chất lượng điều trị và tiết kiệm chi phí trong vấn đề thải bỏ, xử lý và khắc phục hậu quả về sau. Cách thức có thể thực hiện như sau: Tổ chức các khóa giáo dục, tập huấn hội nghị chuyên đề về công tác bảo vệ môi trường cho các cấp quản lý nồng cốt, cán bộ bệnh viện tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường thông qua các cuộc thi, biểu dương, khen thưởng. Triển khai công tác tuyên truyền, vận động đến từng người ra vào bệnh viện, hướng dẫn tất cả mọi người thực hiện các yêu cầu về phân loại rác tại nguồn, giữ gìn vệ sinh chung trong toàn bệnh viện. Tuyên truyền thông qua sử dụng những hệ thống thông tin, biểu ngữ, băng rôn trong bệnh viện. Nội dung tuyên truyền cần thực hiện nổi bật các khía cạnh: Tính bức xúc liên quan đến chất thải rắn tại bệnh viện. Những tác động đến môi trường và xã hội của chất thải rắn. Các biện pháp nhằm ngăn ngừa và giảm nhẹ các tác động xấu. Các thành phần chất thải có thể tái sinh, tái chế. Có thể đưa ra một số khẩu hiệu như sau " Thực hiện công tác tự đánh giá bệnh viện để cải tiến và nâng cao chất lượng phục vụ " hay " Giữ gìn vệ sinh vì sức khỏe bạn và gia đình bạn" hoặc " Không xả rác nơi công cộng và hành lang cang bệnh viện", "Bảo vệ cây xanh hoa kiểng là bảo vệ chính bản thân mình"… In ấn tài liệu học tập, tờ bướm, hình ảnh… về việc phân loại rác hay công tác bảo vệ môi trường. Tổ chức thông tin nhanh và sinh hoạt định kỳ về công tác phòng chống ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Thông qua giáo dục cộng đồng, ý thức bản thân của mỗi cá nhân được nâng cao, việc đó phải được được thiết lập ngay từ cấp lãnh đạo đến nhân viên bệnh viện cũng như từ người nhà bệnh nhân đến bệnh nhân trong công tác bảo vệ môi trường. Hạn chế được thói quen cũ trong sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng dân cư, năng lực chuyên môn của cấp độ quản lý được nâng cao. Các chương trình phải tổ chức có tính bền vững lâu dài chứ không phải là hoạt động trên cơ sở đối phó, mang tính phong trào, chung chung chưa đi sâu vào nguyên nhân và hậu quả của hành vi gây ô nhiễm môi trường sống. 5.2.3.2 Nâng cao năng lực tổ chức Nâng cao năng lực tổ chức trước hết phải tăng cường hơn sự hiểu biết của người quản lý về vai trò trách nhiệm của mình để đưa ra những giải pháp phù hợp. Kế tiếp tiến hành cải tiến việc thực hiện chương trình quản lý môi trường, báo cáo kết quả triển khai hoạt động cũng như tiến độ thực hiện thông qua quá trình thu thập các số liệu, thông tin có liên quan trong vấn đề vệ sinh môi trường bệnh viện. Sau đó phân tích các thuận lợi và khó khăn khi thực hiện mục tiêu đề ra. Cụ thể như sau: Tăng cường hơn công tác giám sát không chỉ riêng tại các khoa phòng trong vấn đề phân loại rác, mà kết hợp thêm việc theo dõi quá trình thu gom, vận chuyển, nhà lưu giữ rác hay công tác vệ sinh cho khuôn viên xung quanh bệnh viện. Nghiêm cấm người nhà bệnh nhân nấu ăn tại hành lang, ngoài vườn hay trong buồng bệnh, vứt bất cứ thứ gì xuống khu thoát nước lang cang bệnh viện. Tổ chống nhiễm khuẩn tăng cường thiết lập hệ thống thông tin liên lạc với các khoa trong bệnh viện bằng các văn bản hướng dẫn, diễn thoại…với nội dung chỉ đạo công tác chuyên môn, chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường, giữ cho hệ thống quản lý vận hành tốt. Rà soát những tài liệu phù hợp với hệ thống quản lý môi trường, cập nhật thường xuyên các quy định, văn bản pháp luật mới trong quy chế quản lý bệnh viện. Có thể đưa ra các tiêu chí để cải tiến công tác quản lý như nâng cao năng lực khám chữa bệnh, giám sát tỉ lệ ô nhiễm, lên lịch công tác thực hiện bao nhiêu lần trong tuần… Tăng cường pháp chế đối với các trường hợp vi phạm: đơn vị chịu trách nhiệm về môi trường trong bệnh viện có thể áp dụng hình thức khiển trách, trừ điểm thi đua của mỗi khoa nếu vi phạm hay hình thức chế tài như phạt tiền theo mức độ vi phạm của từng vụ việc đối với việc không tuân thủ theo quy định về công tác xử lý chất thải, công tác vệ sinh môi trường bệnh viện. Trực tiếp vận hành chương trình, định kỳ tiến hành công tác đánh giá tổng kết hiệu quả triển khai thực hiện chương trình. 5.3 CẢI THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTR TẠI BỆNH VIỆN Mặc dù Tổ chống nhiễm khuẩn đã hướng dẫn kỷ về trình tự phân loại rác, thu gom cho đến vận chuyển đến từng khoa phòng nhưng nhìn chung việc thực hiện vẫn còn sơ suất. Do đó, bệnh viện cần nâng cao nhiều hơn công tác quản lý CTRYT để khắc phục và hoàn hiện hơn công tác quản lý hiện nay. 5.3.1 Giảm thiểu chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn(giải quyết vấn đề B, bảng 4.3) Chất thải rắn sinh hoạt tại bệnh viện hiện nay chỉ được thu gom và vận chuyển chung trong túi màu xanh về nhà lưu giữ và đem vận chuyển đến bãi chôn lấp của thành phố để xử lý bằng phương pháp chôn lấp. Chất thải rắn sinh hoạt trong quá trình thu gom không hề được phân loại tại nguồn (phân loại sơ cấp) như là CTRYT, sau đó chất thải rắn sinh hoạt sẽ được phân loại thứ cấp lần thứ nhất trong quá trình thu gom của công ty chịu trách nhiệm và phân loại lần thứ hai tại bãi chôn lấp do công ty trúng thầu mua phế liệu thực hiện. Do đó, có thể gây khó khăn cho công tác thu gom và vận chuyển của thành phố và không tận dụng triệt để nguồn chất thải rắn có thể tái chế và tái sử dụng lại. Vì vậy, việc tận dụng rác sinh hoạt là việc làm cần thiết, tiết kiệm chi phí xử lý rác cũng như nguyên vật liệu đựng chất thải để hoàn thiện hơn công tác quản lý chất thải phát sinh tại bệnh viện. Mục tiêu là hình thành hệ thống phân loại rác tại nguồn phát sinh đối với chất thải rắn sinh hoạt và nâng cao nhận thức của tất cả mọi người ra vào bệnh viện. Yêu cầu của chương trình phân loại và tận dụng chất thải sinh hoạt tại nguồn là: Sự đồng tình tham gia của nhân viên bệnh viện, bệnh nhân, người thăm nuôi hay những người ra vào bệnh viện. Nâng cao hơn nhận thức của mọi người trong bệnh viện trong việc tận dụng rác và bảo vệ môi trường. Tập huấn, tuyên truyền về cách phân loại chất thải cho nhân viên chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển. Trang bị thêm thùng rác tại các khoa phòng, buồng bệnh cho sự phân loại rác sinh hoạt. Có thể lên kế hoạch thực hiện trước tại một khoa tiêu biểu, sau đó sẽ áp dụng cho toàn bệnh viện. Theo dõi, kiểm tra và ghi nhận kết quả triển khai thực hiện. Rác sinh hoạt bao gồm nhiều thứ như giấy các loại (như giấy văn phòng, bao bì, carton, giấy vệ sinh…), nilon, giẻ lau, thực phẩm, vỏ trái cây, lá cây, kim loại ( vỏ đồ hợp, vỏ thùng đựng…). Có rất nhiều thứ có thể tận dụng được, đem bán cho các công ty tái chế được phép tái sử dụng lại. Rác thải được phân loại thành hai nhóm tận dụng được (rác tái chế) và không tận dụng được. Đối với nhóm tận dụng được: giấy, vỏ, đồ hộp, túi nylon, linh kiện máy móc…thì bệnh viện tận dụng cho vào túi màu trắng theo phân loại chất thải y tế được tái chế. Đối với nhóm không tận dụng được: thực phẩm, lá cây,…thì vẫn cho vào túi màu xanh và đem về nhà lưu giữ chất thải của bệnh viện. 5.3.2 Hoàn thiện hệ thống trang thiết bị lưu giữ, thu gom và vận chuyển CTRYT (giải quyết vấn đề C, E, bảng 4.3) Về công tác lưu giữ và thu gom chất thải, cần thực hiện một số khắc phục như sau: Cải thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác thu gom tại khoa bằng cách sắp xếp thùng chứa rác y tế đúng màu quy định của Bộ y tế trong quy chế quản lý chất thải y tế tại mỗi khoa phòng. Trang bị thùng đựng vật sắc nhọn cứng, không có khả năng gây thủng. Thay thế kịp thời các thùng rác bị hư hỏng. Về công tác vận chuyển rác bệnh viện cần nhanh chóng thực hiện một số việc như sau: Tăng cường các loại xe chuyên dụng sử dụng cho việc thu gom vận chuyển rác y tế. Quá trình vận chuyển phải kín tức là rác bỏ vào thùng vừa đủ và phải đậy nắp lại an toàn. Với quy mô giường bệnh và bệnh nhân vào khám và chữa bệnh nên suy xét việc tăng thêm số lần lấy rác trong ngày. Hiện tại thùng rác mà bệnh viện sử dụng cho mục đích sinh hoạt chung bố trí tại khu vực bên ngoài hay lưu giữ tại các khoa phòng cũng như vận chuyển về nhà lưu giữ đều là những thùng dung tích 120 lít có nắp đậy và bánh xe, chưa có thùng chứa dành riêng cho rác tái chế. Vì thế, có thể sử dụng loại thùng rác có cùng kích thước bằng với thùng rác hiện tại của bệnh viện nhưng có 3 ngăn để phân loại vật liệu tái chế, màu sắc khác biệt, trên mỗi thùng cần phải có ghi chú cụ thể là thùng nào chứa rác tái chế và thùng nào chứa rác không tận dụng được. Vị trí bổ sung thùng rác cho mục đích tái chế sẽ được đặt sát bên các thùng rác hiện tại, cụ thể các nơi như sau: tại các lối cầu thang đi lên các khu vực khám và chữa bệnh, căn tin, phía ra vào công viên trong bệnh viện, tại phía cổng hướng vào khu siêu âm chẩn đoán hình ảnh xét nghiệm, hướng các khoa và phòng tổ chức của bệnh viện, khu vực thể thao, trước cửa nhà vệ sinh… Bệnh viện có 13 khoa, mỗi khoa đều trang bị 2 thùng rác màu cam và 2 thùng rác màu xanh cho việc lưu giữ chất thải tại khoa và cho quá trình vận chuyển rác về nhà lưu giữ. Theo như biện pháp đề xuất, bệnh viện cần thay thế thùng rác hiện tại bằng thùng rác đúng chuẩn, cụ thể là trang bị tại mỗi khoa 2 thùng rác màu vàng cho việc phân loại, lưu giữ và vận chuyến CTRYT theo hình minh họa 5.1 sau đây. Riêng loại thùng sử dụng để chứa vật sắc nhọn, bệnh viện có thể thay thế thùng mũ hiện tại không đúng chuẩn bằng loại vật liệu đúng chuẩn chất lượng, màu vàng theo quy định cũng như biểu tượng nguy hại sinh học rõ ràng. Hiện tại trên thị trường có hai dạng hộp an toàn đựng vật sắc nhọn, loại bằng mũ và loại bằng bìa carton cứng theo hình 5.2 minh họa bên dưới. Do đó, việc trang bị loại hộp đựng vật sắc nhọn tùy theo giá cả, quyết định của ban lãnh đạo cũng như kinh phí của bệnh viện. Hình 5.2: Thùng chứa rác y tế tại khoa phòng và vận chuyển về nhà chứa rác (Nguồn: Công ty cổ phần vật tư thiết bị môi trường) Hình 5.3: Thùng đựng vật sắc nhọn trong bệnh viện (Nguồn: Công ty cổ phần vật tư thiết bị môi trường) 5.3.3 Xây dựng lại nhà chứa rác (giải quyết vấn đề D) Xây dựng lại nhà chứa rác với quy mô khối lượng chất thải phát sinh tại bệnh viện. Hiện tại lượng rác sinh hoạt gấp hơn nhiều lần lượng rác y tế. Vì vậy khu vực chứa rác sinh hoạt và y tế cần xây dựng diện tích đủ lớn để đảm bảo sức chứa và thời gian lưu giữ tối đa trước khi Công ty Môi trường đô thị vận chuyển đem xử lý là việc cần thiết. Bên ngoài nhà chứa rác có hàng rào bảo vệ kiên cố không để cho súc vật, các loài gậm nhấm và côn trùng xâm nhập tự do. Nền nhà bên trong khu vực lưu giữ nên xây có độ dốc để dễ thoát nước vào ống thoát nước, hạn chế ẩm ướt. Khu đất phải được quy hoạch nơi đất cao hoặc phải đôn nền cao sao cho không bị ngập nước. Nhà chứa rác phân ra hai khu vực riêng biệt là rác y tế và rác sinh hoạt. Bên dưới các khu vực chứa rác cũng như nhà rửa dụng cụ đều lắp đặt sàn cống thoát nước để thuận tiện cho việc vệ sinh sau mỗi lần vận chuyển rác đem đi xử lý và cho lần chứa rác kế tiếp luôn sạch sẽ, lượng nước thải sẽ theo hệ thống cống về hầm chứa nước thải xử lý của bệnh viện. Ngoài ra, hệ thống điện phải lắp đặt an toàn để tránh trường hợp chập mạch, gây cháy nổ. Mô hình nhà lưu giữ rác cho bệnh viện được đề xuất như sau: Khu vực chứa rác y tế Khu vực chứa rác sinh hoạt Lối ra Phân loại Nhà điều hành và sàn cân Khu vực rửa dụng cụ Lối vào Hình 5.4: Mô hình nhà lưu giữ rác của bệnh viện Tính toán: Khối lượng rác tính theo tấn được liệt kê theo bảng 5.1 sau: Bảng 5.1: Lượng CTR bình quân tại bệnh viện tính theo tấn Loại (Tấn) Chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn y tế Năm 429.9 46.28 Tháng 35.83 3.85 Ngày 1.1778 0.128 Ca 0.589 0.0634 Dự trù cho 1 ngày dự trữ rác: Khối lượng rác sinh hoạt: 1177.8 kg/ngày Khối lượng rác y tế: 128 kg/ngày Chọn loại thùng 120L: Kích thước (mm): 505* 555* 1005 Sức chứa: 48 kg → Số thùng chứa rác cần: Rác sinh hoạt: 1177.8/ 48 = 25 (thùng) Rác y tế: 128/ 48 = 3 (thùng) → Diện tích cần: Rác sinh hoạt: 25* (0.505* 0.555) = 7 (m2) Rác y tế: 3* (0.505* 0.555) = 0.48 (m2) Dựa vào diện tích thực tế của bệnh viện và nhu cầu mở rộng bệnh viện trong tương lai, ta chọn kích thước nhà chứa rác tính thêm đường đi có kích thước như sau: Khu vực chứa rác y tế Khu vực chứa rác sinh hoạt 3m 1.5 m 4m Thuyết minh nguyên tắc hoạt động (hình 5.3) Thùng rác vận chuyển chất thải từ các khoa phòng trong bệnh viện theo lối đi riêng về nhà lưu giữ, chất thải được cân tại nhà cân ở lối vào. Tất cả các số liệu sẽ được vi tính hóa bằng hệ thống vi tính trong nhà cân. Nhà cân cũng là nơi giao nhận các các chứng từ chất thải để quản lý chặt chẽ số lượng và chủng loại rác ra vào nhà lưu giữ chất thải, để tránh tình trạng đem rác y tế ra ngoài bán cho các cơ sở tái chế trái phép. Đối với chất thải y tế, bên trong khu vực chứa rác y tế cần phải lắp đặt máy lạnh với nhiệt độ luôn được giữ ở mức 2-100C nhằm hạn chế tối đa sự phát triển của các loại vi khuẩn gây bệnh. Ngoài hệ thống đèn chiếu sáng, cần lắp đặt thêm đèn tia cực tím để sát trùng môi trường, kết hợp việc thông khí tốt để đảm bảo khu vực chứa rác luôn khô ráo và sạch sẽ. Đối với chất thải sinh hoạt, sau khi phân loại tại nguồn phát sinh, về nhà lưu giữ sẽ được nhân viên phân loại lại bằng tay và cho các loại khác nhau vào bao màu khác nhau, rồi đưa đến vị trí lưu giữ trong khu vực chứa rác sinh hoạt, chờ vận chuyển đem đi xử lý. Rác sau khi đưa vào từng khu vực chứa riêng, thùng vận chuyển sẽ được rửa sạch sẽ trước khi vận chuyển đợt rác tiếp theo tại nhà rửa dụng cụ. 5.4 GIẢI PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN (giải quyết vấn đề F, bảng 4,3) Hiện tại toàn bộ rác y tế của bệnh viện ĐKKVHM được Công ty Môi trường Đô Thị Thành phố Hồ Chí Minh thu gom và xử lý an toàn tại lò thiêu Bình Hưng Hòa. Nhìn chung, công tác xử lý rác y tế của bệnh viện đang được thực hiện tốt, không ảnh hưởng đến môi trường không khí. Bệnh viện chỉ quan tâm khâu thu gom, lưu chứa mà không phải tiến hành xử lý. Trong những năm tới việc chủ động xử lý rác y tế của bệnh viện cần phải được đặt ra, đặc biệt khi khối lượng rác nguy hại của các bệnh viện thành phố sẽ tăng cao những năm tới, dẫn đến khả năng quá tải của lò thiêu Bình Hưng Hòa hoặc trong trường hợp lò thiêu gặp sự cố không hoạt động được. Vì vậy, theo tác giả, ngay từ bây giờ bệnh viện nên phối hợp với các bệnh viện khác trong quận (Ví dụ: Bệnh viện Đại học Y Dược, bệnh viện Nguyễn Tri Phương, bệnh viện Hùng Vương, bệnh viện Pham Ngọc Thạch, Trung Tâm Y tế quận 5, … ) xây dựng một hệ thống lò đốt rác để chủ động hơn trong việc xử lý CTRYT. Rác y tế phát sinh trong các bệnh viện quận có những thành phần và tính chất giống nhau nên rất thuận lợi trong quá trình xử lý rác theo hình thức xử lý tập trung. Vấn đề đầu tư vốn xây dựng của các bệnh viện sẽ dựa vào tỷ lệ khối lượng rác thải ra của các bệnh viện trong quận. Bên cạnh đó, giải pháp trên phải được sự quản lý chặt chẽ của Bộ Y tế. Đối với bệnh viện ĐKKVHM, ngoài thực hiện giải pháp trên bệnh viện còn phối hợp phân loại rác thải tại nguồn theo đúng quy định của Bộ Y tế và kết hợp tái chế rác thải “sạch” không bị nhiễm khuẩn. Tập hợp rác thải “sạch” để tái chế đem lại lợi ích cho bệnh viện mà không ảnh hưởng đến Luật Bảo vệ Môi trường. 5.5 GIẢI PHÁP CHO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BỆNH VIỆN Ngoài ra, trong điều kiện nguồn kinh phí còn eo hẹp, tình trạng xử lý chất thải bệnh viện vẫn sẽ rất khó khăn nếu không có được sự hỗ trợ,  đầu tư của Nhà nước cũng như sự phối hợp của toàn xã hội. Trong những năm tới, do sự gia tăng dân số, mức sống của người dân được nâng cao, bệnh viện  đang phát triển và mở rộng... lượng rác thải bệnh viện sẽ tiếp tục tăng. 5.5.1 Quản lý tốt nội vi Đây là nhóm giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm dễ thực hiện nhất nhằm nâng cao hiệu quả công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện. Dựa vào các tiêu chí sau: Ý thức trách nhiệm của hầu hết nhân viên làm việc trong bệnh viện. Cải tiến và hợp lý hóa hoạt động chuyên môn tại bệnh viện. Tăng cường công tác bảo vệ môi trường bệnh viện. 5.5.2 Giải pháp kinh tế Hiện tại BVĐKKVHM không có kinh phí hàng năm cho công tác bảo vệ môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm, giảm tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện, an toàn cho nhân viên y tế. Tất cả các hoạt động phục vụ bệnh nhân trong bệnh viện đều phải chờ kinh phí từ Bộ Y tế để sữa chữa cơ sở vật chất hay mua sắm dụng cụ, máy móc, trang thiết bị. Do thường xuyên thiếu kinh phí, các yêu cầu cấp bách đặt ra luôn bị chậm trễ, khó thực hiện thành công. Vì vậy, nhà nước cần ưu tiên nguồn kinh phí cho ngân sách sự nghiệp môi trường. 5.5.3 Giải pháp kêu gọi đầu tư Tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới. Tích cực nghiên cứu khoa học, đúc kết và rút kinh nghiệm lâm sàng, áp dụng có hiệu quả các phương pháp điều trị tiên tiến trên thế giới vào bệnh viện, tranh thủ sự giúp đỡ của các đối tác, thiết lập nhiều mối quan hệ cho các dự án đầu tư về cơ sở hạ tầng trang thiết bị, công tác bảo vệ môi trường bệnh viện, ngăn ngừa ô nhiễm, công tác chống nhiễm khuẩn, an toàn cho nhân viên y tế. CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN Sau thời gian ba tháng làm đồ án tốt nghiệp tôi đã thu thập số liệu, điều tra, khảo sát thực tế tình hình quản lý CTRYT tại BVĐKKV Hóc Môn và đã đạt được một số kết quả nhất định như sau: Thứ nhất: đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm môi trường chung và công tác quản lý CTRYT tại BVĐKKV Hóc Môn: Có thể nói công tác kiểm soát chất lượng môi trường tại bệnh viện đã có biện pháp quản lý nhưng công tác kiểm tra, giám sát chưa được quan tâm chặc chẽ. Sự kết hợp giữa Trưởng ban quản lý với các khoa, phòng trong việc giải quyết chất thải bệnh viện chưa đồng bộ. Chất thải y tế thải ra khối lượng khá lớn xảy ra tình trạng thất thoát chất thải mà bệnh viện khó có thể kiểm soát. Hệ thống trang thiết bị lưu giữ, thu gom và vận chuyển CTR còn thiếu, chưa đồng bộ theo đúng quy định của Bộ Y tế. Nhà lưu giữ CTRYT xuống cấp, diện tích nhỏ không đủ chứa khối lượng chất thải ngày càng gia tăng, nên rác sinh hoạt được đổ đóng phía ngoài nhà lưu giữ. Thứ hai: khi thực hiện đề tài này tôi mong muốn hoàn thiện hơn và khắc phục những bất cập nhằm hạn chế ô nhiễm giúp hệ thống quản lý môi trường bệnh viện phù hợp: Đẩy mạnh sự hợp tác, đồng bộ giữa Trưởng ban quản lý với các phòng, khoa, đồng thời nâng cao các hoạt động tuyên truyền, tập huấn, nâng cao nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ môi trường cho cộng đồng, tăng cường công tác thanh kiểm tra, xử lý nghiêm các đối tượng không chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường. Cần xây dựng hệ thống quản lý CTRYT có tính chuyên nghiệp, hiện đại, đồng thời khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ trống trong một số lĩnh vực quản lý, có sự phân công hợp lý và phối hợp chặt chẽ giữa các phòng, ban trong tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường. Quản lý tốt các nguồn CTRYT phát sinh trong quá trình hoạt động của bệnh viện. Hệ thống hóa các trang thiết bị thu gom, vận chuyển, lưu trữ một cách đồng bộ, đảm bảo an toàn trong công tác quản lý CTRYT theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. KIẾN NGHỊ Để hoàn thiện hơn trong công tác quản lý CTRYT bệnh viện cần nhanh chóng khắc phục một số khuyết điểm còn tồn tại, khống chế tình hình ô nhiễm môi trường do chất thải gây ra làm mất vẻ mỹ quan sinh hoạt, ảnh hưởng đến năng suất khám và chữa bệnh cũng như sức khỏe của bệnh nhân trong thời gian điều trị. Do đó, trước tiên bệnh viện cần phải thực hiện một số việc sau: Cần nhanh chóng chuẩn hóa trang thiết bị chứa chất thải theo đúng màu sắc quy định của Bộ y tế trong vấn đề quản lý chất thải y tế. Cần trang bị thêm các dụng cụ thu gom, vận chuyển rác y tế. Tiếp theo nhanh chóng xây dựng và mở rộng nhà lưu giữ chất thải với diện tích phù hợp với lượng rác thải y tế và sinh hoạt tại bệnh viện, khắc phục tình trạng rác sinh hoạt để phía ngoài nhà lưu giữ gây mất mỹ quan và phát sinh mùi hôi côn trùng gây bệnh. Cần có cán bộ chuyên trách cho lĩnh vực môi trường tại bệnh viện để quản lý chuyên sâu trong vấn đề bảo vệ môi trường bệnh viện tốt hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO Bộ KHCN&MT, Cục môi trường, năm 1998, Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải, Nhà xuất bản xây dựng Hà Nội. Bộ Y tế. Quy chế quản lý chất thải y tế, Bộ y tế, Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT, Hà Nội, 2007. Bộ Y tế - Tổ chức Y tế Thế giới, tháng 3 năm 2005, Hội nghị đánh giá thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế, chống nhiễm khuẩn bệnh viện. Bộ Y tế, năm 1998, Quy chế bệnh viện, Nhà xuất bản Y học Hà Nội. Bùi Thanh Tâm, năm 2002, Quản lý vệ sinh môi trường bệnh viện, Hội thảo về quản lý môi trường trong ngành y tế. Lê Thị Hồng Tân, tháng 2 năm 2005, Nghiên cứu- đề xuất các giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các bệnh viện gây ô nhiễm nghiêm trọng. Lê Thị Vy. Nghiên cứu mức độ ô nhiễm môi trường tại bệnh viện Chợ Rẫy và đề xuất hệ thống quản lý môi trường phù hợp. Luận văn Thạc sỹ Quản lý môi trường. Viện Môi trường – Đại Học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, 2007. Trịnh Thi Thanh. Sức khỏe môi trường. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2002. Phạm Văn Kiên. Thiết kế lò đốt rác thải y tế nguy hại cho bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên. Luận văn Đại học. Kỹ thuật - Công nghệ & Quản lý môi trường, Viện khoa học và Công nghệ Môi trường- Đại Học Bách Khoa Hà Nội, 2002. Trang web. www.cpv.org.VN

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxbài làm_.docx
  • docPHLC~1.DOC
  • docBM Trang bia DA, KLTN.doc
  • docMCLC~1.DOC
  • docPHIEU GIAO DO AN.doc
Tài liệu liên quan