Đề tài Đánh giá tình hình thu hút FDI ở Hà Nội

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 2 Chương I: Những thuận lợi và khó khăn trong việc thu hút FDI vào Hà Nội 3 1. Điều kiện tự nhiên 3 2. Môi trường pháp lý 4 2.1. Thuận lợi 4 2.2. Khó khăn 5 3. Cơ sở hạ tầng 6 3.1. Thuận lợi 6 3.2. Khó khăn 8 4. Những thuận lợi, khó khăn về nguồn nhân lực 8 4.1. Thuận lợi: 8 4.2. Khó khăn 9 Chương II:Thực trạng thu hút FDI vào Hà Nội trong những năm qua 11 1. Tổng quan tình hình thu hút FDI vào Hà Nội trong thời gian qua 11 1.1. Quy mô vốn 11 1.2. Các hình thức thu hút FDI 15 1.3. Các lĩnh vực thu hút FDI 16 2. Đánh giá tình hình thu hút FDI vào Hà Nội 18 2.1. Thành tựu 18 2.2. Hạn chế: 22 Chương III: Giải pháp tăng cường thu hút FDI vào Hà Nội trong những năm tới 25 1. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính 25 2. Tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng 28 3. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư 28 4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 29 PHẦN KẾT 30 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

doc31 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 21/06/2013 | Lượt xem: 1081 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Đánh giá tình hình thu hút FDI ở Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
USD + Đường biển: 700 USD Bên cạnh đó, Hà Nội có hệ thống các trường Đại học, Viện nghiên cứu, các trường Cao đẳng và công nhân kỹ thuật hàng năm đào tạo hàng chục vạn cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề, là Trung tâm đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho cả nước. Ngoài ra, Hà Nội có cơ cấu kinh tế năng động với nhiều ngành công nghiệp công nghệ cao và các ngành dịch vụ chất lượng cao. Quy hoạch không gian của Hà Nội tạo thuận lợi cho các KCN tập trung như KCN Bắc Thăng Long, KCN Nam Thăng Long, KCN Sài Đồng A, KCN Sài Đồng B, KCN Sóc Sơn và hàng chục KCN khác, tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật - kinh tế - xã hội cho hoạt động của các doanh nghiệp, trước hết là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Với vai trò đặc biệt của Hà Nội trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trong vùng Thủ đô, các hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và hành lang Quảng Đông - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, Hà Nội là giao điểm của những hoạt động giao lưu kinh tế quốc gia và quốc tế, sẽ là thị trường năng động và có sức lan tỏa và sức mua lớn, tạo sức hút ngày càng mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, trước hết là các nhà đầu tư từ các quốc gia ASEAN. Rõ ràng cơ sở hạ tầng phát triển đã góp một phần không nhỏ, thu hút một lượng lớn đầu tư nước ngoài vào Hà Nội. 3.2. Khó khăn Hệ thống cơ sở hạ tầng đang xuống cấp nghiêm trọng. Có thể kể đến sự mất cân đối giữa đầu tư vào cơ sở hạ tầng với quy mô đô thị hóa, điều này đã và đang gây cho HN những hậu quả đáng lo ngại như nạn ùn tắc giao thông, úng ngập nước mưa kéo dài và trên diện rộng, thiếu nước máy, tồn đọng nhiều rác thải, ô nhiễm không khí quá mức cho phép. Giá đất tại HN đang hiện ở mức cao, dẫn tới tăng chi phí đầu tư, làm gia tăng mức độ dè dặt của các nhà đầu tư khi đầu tư tại HN. Nhiều công trình trọng điểm chưa được triển khai do thiếu địa điểm hoặc địa điểm chưa được chuẩn bị, chưa đủ điều kiện. Theo một số DN ngành GTVT, ngoài việc Việt Nam chưa có một chính sách mạnh mẽ kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực này, phần nhiều các nhà đầu tư nước ngoài rất ngại đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng do các thủ tục rất phức tạp và thời gian đầu tư thường kéo dài, GPMB khó khăn, không thể tính được tiến độ thi công dự án và do đó khó tính toán được bài toán kinh tế. 4. Những thuận lợi, khó khăn về nguồn nhân lực 4.1. Thuận lợi: Hà Nội là trung tâm kinh tế xã hội của cả nước, là nơi tập trung nguồn lao động dồi dào, không chỉ có lao động của thành phố mà còn có nguồn lao động di chuyển từ các tỉnh lân cận đến. Số người trong độ tuổi lao động là 1.6 triệu người, chiếm 58% tổng số dân của thành phố và số người đến độ tuổi lao động hàng năm khoảng 40,000 người. Bên cạnh số lượng lao động dồi dào, chất lượng lao động cũng tương đối cao: gần 90% số người tốt nghiệp từ trung học cơ sở trở lên, tốt nghiệp trung học phổ thông chiếm hơn 45%. Số người có trình độ chuyên môn khá cao so với các địa phương khác đó là Hà Nội chiếm 63.8 % số tiến sĩ và 75.9 % số tiến sĩ khoa học, 82.6% số giáo sư, phó giáo sư của cả nước; hơn 100 nghìn cán bộ trình độ trên đại học; hơn 200 nghìn cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng; hơn 100 nghìn cán bộ có tốt nghiệp trung cấp. Đặc biệt, với truyền thống của thủ đô ngàn năm văn hiến, người Hà Nội nổi tiếng thanh lịch, có nhiều ngành nghề truyền thống. Nói đến Hà Nội, chúng ta không thể không biết đến làng tranh Đông Hồ, gốm sứ Bát Tràng… và các ngành nghề khác. Với vị thế của một thủ đô, lượng vốn đổ vào đầu tư nơi dây ngày càng nhiều. Người Hà Nội được sớm tiếp thu những công nghệ hiện đại nên họ khá nhanh nhạy trong việc tiếp thu cái mới, có khả năng sáng tạo ra những giá trị kinh tế và văn hoá tinh thần cao. Hà Nội tập trung hệ thống các viện nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và các trường dạy nghề hàng đầu Việt Nam, với 43 trường đại học, cao đẳng, 34 trường trung học chuyên nghiệp, 41 trường dạy nghề, gần 100 viện nghiên cứu khoa học. Đây là cơ sở cho việc phát triển nguồn nhân lực có trình độ khoa học công nghệ cao. 4.2. Khó khăn Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, nguồn nhân lực Hà Nội còn có những hạn chế nhất định đó là chất lượng nguồn lao động chưa cao về mọi mặt: nhiều trường hợp lao động được đào tạo không phù hợp nhu cầu, khiến các doanh nghiệp phải mở các lớp đào tạo lại, tốn kém thời gian và chi phí. Hơn nữa, vóc dáng của người Việt Nam nhỏ bé, chưa đáp ứng nhu cầu trong một số công việc đòi hỏi có sức khỏe, chiều cao. Nước ta xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nên người lao động chưa có tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động chưa cao, giờ giấc lao động chưa hợp lý, tinh thần sáng tạo tỏng lao động chưa cao. Bên cạnh đó, nguồn lao động phân bố chưa hợp lý và sử dụng chưa hiệu quả: có tới 65,6% số cán bộ khoa học - kỹ thuật (trong đó có 72% đại học, 66% trung học chuyên nghiệp) làm việc trong khu vực phi sản xuất vật chất; 77% số lao động nông nghiệp không có chuyên môn kỹ thuật (tính riêng cho lao động nữ nông nghiệp là 85%. Với lượng lao động di cư từ các nơi khác khá đông đảo khiến tỷ lệ thất nghiệp của Hà Nội cao nhất cả nước, hình thành các chợ lao động, loa động ở đây chủ yếu là lao động ngoại tỉnh, trình độ thấp, thường làm các công việc mang tính nhất thời, thời vụ.Vấn đề giải quyết việc làm cho lượng lao động này cũng là điều đáng quan tâm hiện nay. Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, Chính phủ đã ra quyết định mở rộng địa phận hành chính của thành phố, bao gồn cả tỉnh Hà Tây và một số xã của tỉnh Vĩnh Phúc, điều này làm lực lượng lao động của thành phố tang lên đáng kể, đây là điểm thuận lợi của thủ đo khi các khu công nghiệp, các danh nghiệp ngyaf càng nhiều.Tuy nhiên, bên cạnh đó còn nhiều mặt phải khắc phục, nhằm tạo nguồn lao động có chất lượng cho phát triển kinh tế của thủ đô. Chương II:Thực trạng thu hút FDI vào Hà Nội trong những năm qua 1. Tổng quan tình hình thu hút FDI vào Hà Nội trong thời gian qua 1.1. Quy mô vốn Kể từ khi Việt Nam mở cửa thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN), Hà Nội luôn là địa chỉ tiếp nhận ở mức cao nguồn vốn quan trọng này và luôn khẳng định vị thế đứng hàng đầu về ĐTNN cùng một số tỉnh, thành bạn. Tính chung, đến nay Hà Nội đã thu hút được gần 14,6 tỷ USD vốn ĐTNN, đứng thứ hai trong cả nước, chỉ sau TP  Hồ Chí Minh. Vốn đầu tư đã thực hiện trên địa bàn đạt khoảng 5 tỷ USD. Với vị trí là trung tâm đồng bằng sông Hồng, đầu tàu kinh tế của cả nước nói chung và vùng phát triển kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Hà Nội ngày càng trở nên hấp dẫn hơn nhờ những chính sách, cơ chế hợp lý và quyết tâm mời gọi nhà ĐTNN trên cơ sở phát huy tất cả tiềm năng và kết quả đã đạt được trong những năm qua... Đứng thứ hai trong cả nước về kết quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, năm 2006, Hà Nội đã thu hút được 250 dự án FDI trong đó có 210 dự án cấp mới với tổng số vốn đầu tư ước tính 1,4 tỷ USD và 40 dự án bổ xung tăng vốn tổng cộng 100 triệu USD. Trong năm 2006, nguồn vồn FDI vào Hà Nội đứng thứ tư cả nước (sau TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương) đạt con số khả quan: 194 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 1,1 tỷ USD (cả vốn cấp mới và tăng vốn). Trong số đó, dự án cấp mới là 148 với tổng số vốn đầu tư đăng ký là 609,4 triệu USD, ở vị trí thứ 6 về thu hút mới, còn lại là dự án và vốn bổ xung. Trong đó, 3 dự án cấp mới có tổng vốn đầu tư lớn là: Khu Đô thị Tây Hồ Tây 314 triệu USD, Công ty TNHH Panasonic Communications Việt Nam 76 triệu USD, Công ty TNHH Panasonic Electronic Devices 50 triệu USD. Như vậy năm 2006, khối đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 15% tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn, đóng góp khoảng 16% GDP, 38% tổng kim ngạch xuất khẩu, tạo 10% tổng thu ngân sách cho thành phố và thu hút trên 60.000 lao động. Theo thống kê của Phòng đầu tư nước ngoài - Sở Kế hoạch và đầu tư Hà Nội, trong quý I và quý II năm 2007, Hà Nội thu hút được 125 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký khoảng 930 triệu USD trong đó có một số dự án lớn như xây dựng và phát triển khu đô thị mới Thạch Bàn của công ty TNHH Berjaya – Handico 12 với tổng vồn là 50 triệu USD, dự án xây khách sạn 5 sao của tập đoàn Charmvit với tổng vốn 80 triệu USD, dự án Tổ hợp khách sạn – thương mại – văn phòng – căn hộ công viên Thiên Niên Kỷ Keangnam Hà Nội với số vốn 500 triệu USD. Cuối tháng 9 năm 2007, 26 dự án đã tăng thêm vốn đầu tư với tổng số vốn đăng ký là 188 triệu USD. So với cùng kỳ năm ngoái, số dự án đã tăng 80% (236 so với 131 dự án) và tổng số vốn đầu tư tăng 40% (1.128 triệu USD so với 801 triệu USD. Với những con số này, Hà Nội đã vượt 12% số dự án và 87% số vốn đầu tư so với mục tiêu hàng năm. Với đà tăng trưởng như vậy, tính đến hết tháng 3 năm 2008, Hà Nội đã thu hút được 72 dự án đầu tư nước ngoài cả cấp mới và tăng vốn với tổng vốn đăng ký là 574,8 triệu USD trong đó có 67 dự án cấp mới với vốn đầu tư đăng ký là 542 triệu USD. So với cùng kỳ năm trước, tổng số vốn đầu tư nước ngoài vào thủ đô tăng gấp 2,6 lần. Trong số 67 dự án cấp mới, có một số dự án đầu tư lớn như: Công ty đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghệ sinh học Hà Nội 250 triệu USD (Ireleand), Công ty TNHH khách sạn 5 sao Hoa Sen 250 triệu USD, Công ty TNHH Honda Trading Việt Nam 5 triệu USD. Trong 5 dự án tăng vốn với vốn đầu tư đăng ký 32,8 triệu USD, cso 3 dựu án tăng vốn nhiều nhất là Công ty cổ phần Vina Power (tăng 15,6 triệu USD), Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prevoir Việt Nam (tăng 13 triệu USD), Công ty TNHH dịch vụ xây dựng và phát triển phần mềm Okada Harmony (tăng 4 triệu USD). Ước tính cả năm 2008, Hà Nội sẽ thu hút được khoảng 300 dự án, với vốn đầu tư đăng ký từ 2 đến 3 tỷ USD, trong đó cấp mới 260 dự án với vốn đầu tư ước tính 1,5 đến 2,5 tỷ USD, bổ xung tăng vốn 40 dự án với khoảng 0,5 tỷ USD. Bảng: Vốn FDI vào Hà Nội qua các năm 2004 – 3/2008 Năm Số dự án Vốn đăng ký (triệu USD) Tổng số Chia ra Vốn cấp mới Vốn tăng thêm 2004 106 290,5 140,4 149,6 2005 159 1562,7 2006 194 1120 609,4 510,6 2007 250 1500 1400 100 3/2008 72 574,8 542 32,8 Những dấu hiệu đáng mừng về hàng loạt dự án đầu tư điều chỉnh tăng vốn cho thấy sự tin tưởng của nhà đầu tư vào tương lai hoạt động của Hà Nội. Hầu hết các dự án FDI trên địa bàn Hà Nội làm ăn hiệu quả và không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh. Năm 2007, một số dự án với quy mô lớn sẽ hoàn chỉnh hồ sơ để cấp phép hoạt động như: dự án Cổng Tây Hà Nội (liên doanh của Tổng công ty Vigracera và đối tác Nhật Bản) với tổng số vốn 233 triệu USD, khách sạn 5 sao Riviera (500 triệu USD), dự án Công Viên Yên Sở của Tập đoàn Gamuda Land (Malaysia), dự án Khu công nghệ cao … Nếu các dự án lớn trên đi vào thực hiện, Hà Nội sẽ hoàn thành vượt mức kế hoạch đầu thu hút vốn đầu tư trong năm 2007. Hà nội là trung tâm kinh tế lớn thứ hai của cả nước, do đó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn FDI của nước ta. Bảng: Vốn đầu tư vào một số địa phương trong 4 tháng đầu năm 2006 và 2007 STT 1/1-22/4/2006 1/1-22/4/2007 Tỉnh, thành Vốn (triệu USD) Tỉnh, thành Vốn (triệu USD) 1 TP HCM 632 Vũng Tàu 694,6 2 Hà Nội 477,5 Huế 277,1 3 Vũng Tàu 310,9 Quảng Ngãi 260 4 Hải Dương 118,5 Bình Dương 239,7 5 Đồng Nai 73,1 TP HCM 208,2 Các dự án đầu tư vào Hà Nội tập trung vào những lĩnh vực: công nghiệp, công nghệ cao, viễn thông và bất động sản. Trong đó có các dự án lớn như: hợp tác kinh doanh mạng điện thoại CDMA có vốn đầu tư 656 triệu USD và xây dựng tòa nhà 65 tầng của Công ty TNHH Coralis Việt Nam có vốn đầu tư 114,6 triệu USD. Năm 2007, Hà Nội đã cấp phép cho 61 dự án đầu tư vào các khu công nghiệp với tổng vốn 245 triệu USD, vượt kế hoạch 22% và cấp điều chỉnh bổ xung tăng vốn cho 30 dự án đang hoạt động với 61,48 triệu USD. Doanh thu của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp và chế suất đạt 2,1 tỷ USD, mỗi năm tăng 24% và đóng góp gần 40 triệu USD cho ngân sách nhà nước. Dự kiến trong năm 2008 này, các khu công nghiệp và chế suất của Hà Nội thu hút 180 triệu USD. Sau đây là 10 dự án công nghiệp trọng điểm năm 2008: Bảng: Các dự án đầu tư vào thành phố Hà Nội Đơn vị: USD Tên dự án Sản phẩm Vốn đầu tư Chính sách ưu đãi Xây dựng khu công nghệ phần mềm Hà nội tại Khu Công nghệ Cao Hoà Lạc Khu Công nghệ Cao Hoà Lạc (55 ha) 70.000.000 Có Xây dựng khu nghiên cứu và phát triển nông nghiệp bằng phương pháp công nghệ cao 136 Hồ Tùng Mậu - Từ Liêm, Hà Nội 50.000.000 Có Xây dựng công viên nông nghiệp công nghệ cao Hà Nội Phủ Đồng và Trung Mầu (Gia Lâm) 50.000.000 Có Xây dựng khu nông nghiệp sinh thái phía Tây thành phố Hà Nội Phú Diễn, Từ Liêm 50.000.000 Có Xây dựng khu nông nghiệp sinh thái Bắc Hà Đông Anh 50.000.000 Có Xây dựng khu sản xuất nông nghiệp chất lượng cao Tam Thiên Mẫu Thuận Thành, Hà Bắc 50.000.000 Có Xây dựng hạ tầng khu du lịch sinh thái rừng Sóc Sơn Sóc Sơn, Hà Nội 50.000.000 Có Xây dựng khu công nghiệp CNTT tại khu công nghệ cao Nam Thăng Long Khu Công nghệ cao Nam Thăng Long (30 ha) 30.000.000 Có Xây dựng cơ sở hạ tầng KCN cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Dương Quang, Gia Lâm (100 ha) 30.000.000 Có Cum Công nghiệp thực phẩm Hapro Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội Có Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nguồn lực lớn cho sự phát triển kinh tế của Hà Nội Tổng vốn FDI vào Hà Nội trong 9 tháng đầu năm 2008 lên tới 4,427 tỷ USD, tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm 2007. Trong đó, 4,03 tỷ USD là số vốn đầu tư của 236 dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới. Một số dự án lớn tiêu biểu tại Hà Nội là dự án 1,8 tỷ USD của Công ty CP Viễn thông di động toàn cầu GTEL Mobile, dự án quy mô vốn 212 triệu USD của Công ty Dongriwon Development... Tuy nhiên, trên thực tế, con số giải ngân mới đạt 8,1 tỷ USD. Mặc dù tăng mạnh so với giai đoạn trước nhưng Hà Nội không nằm trong top các địa phương đứng đầu cả nước về thu hút FDI. Kể từ sau khi để mất vị trí dẫn đầu cho thành phố HCM từ năm 2006, Hà Nội liên tiếp tụt hạng trong bảng đánh giá thu hút FDI giữa các địa phương trong cả nước Một vài nguyên nhân có thể dẫn ra là do thời gian này, thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được nhiều dự án lớn, trong đó có dự án Intel với vốn đầu tư 605 triệu USD. Môi trường đầu tư của TP Hồ Chí Minh cũng được đánh giá là cải thiện rất nhiều so với năm 2005. Trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 2006 (PCI 2006) mới công bố, TP Hồ Chí Minh là một trong những địa phương có bước tiến mạnh mẽ nhất từ vị trí 17 năm 2005 lến vị trí thứ 7 năm 2006. Nhiều chỉ số của TP Hồ Chí Minh đã được cải thiện và được đánh giá cao như: chi phí gia nhập thị trường, chính sách phát triển kinh tế tư nhân và đào tạo lao động... Một số dự án quy mô khổng lồ vào cỡ 6 - 10 tỷ USD/dự án đã đưa các tỉnh miền Trung và miền Nam đứng đầu cả nước như Ninh Thuận đứng thứ nhất do có dự án liên doanh sản xuất thép giữa Tập đoàn Lion Malaysia với Vinashin tổng vốn đăng ký 9,79 tỷ USD, kế đến là Bà Rịa-Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Phú Yên, Kiên Giang, Đồng Nai. 1.2. Các hình thức thu hút FDI Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đa dạng, với các hình thức chủ yếu là: công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh và các hình thức khác. Trong đó hình thức công ty 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ lệ cao nhất, hơn 50%, tiếp đến là công ty liên doanh và các hình thức khác. Thành lập doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư trong nước hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài; Thành lập theo hình thức liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BTO, hợp đồng BOT, hợp đồng BT; Đầu tư phát triển kinh doanh; Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. 1.3. Các lĩnh vực thu hút FDI Hiện nay, Hà Nội đang chủ trương kêu gọi các dự án FDI tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp, điện tử - tin học, thiết bị điện, phần mềm, vật liệu xây dựng cao cấp, dược phẩm, cơ kim khí và những dịch vụ tiến tiến như ngân hàng, tài chính, siêu thị, khách sạn cao cấp, nhà ở khu đô thị mới. Những lĩnh vực, ngành kinh tế trên đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn, đòi hỏi công nghệ cao, trình độ quản lý hiện đại nhằm gia tăng hiệu quả kinh tế, mang lại giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế thủ đô. Trong xu thế hội nhập hiện nay, tại Hà Nội nhu cầu thuê văn phòng, khách sạn cao cấp tăng nhanh, các nhà đầu tư nước ngoài đã nhìn thấy được tiềm năng và một hướng đầu tư đầy hứa hẹn và đang tập trung đổ nhiều vốn vào lĩnh vực này. Trong mấy tháng đầu năm 2007, nhiều nhà đầu tư Nhật Bản và Hàn Quốc đang đua tranh quyết liệt để được đầu tư vào các khu đất tại Hà Nội để xây dựng khách sạn 5 sao, xây dựng tổ hợp văn phòng - nhà ở cao cấp, tổ hợp sân golf- khu vui chơi giải trí với tổng số vốn lên tới hàng tỷ USD trong giai đoạn từ 2007-2010. Một số các lĩnh vực Thành phố ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài bao gồm: Phát triển các ngành công nghiệp điện tử-tin học-thiết bị điện, cơ kim khí, vật liệu xây dựng cao cấp, trang phục thời trang, thể thao, dược phẩm, mỹ phẩm, chế biến thịt gia súc-gia cầm; Phát triển trung tâm tài chính ngân hàng; Đầu tư phát triển các khu đô thị mới Bắc sông Hồng; Phát triển trung tâm văn phòng-thương mại-triển lãm, trung tâm đào tạo-nghiên cứu-phát triển tại Bắc sông Hồng; Đầu tư và hợp tác phát triển khu công nghệ cao tại Hà Nội,… Bên cạnh đó, Hà Nội cũng khuyến khích các nhà đầu tư vào các lĩnh vực bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống như dự án xây dựng Công Viên Yên Sở … Theo thống kê của Sở Kế hoạch & Ðầu tư, trong số 40 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Hà Nội, các nước châu Á có số vốn đầu tư lớn nhất. Chỉ riêng 3 nước: Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc đã chiếm tới hơn 61% tổng vốn ÐTNN đăng ký vào Hà Nội. Trong tổng vốn đầu tư đăng ký của các nhà ÐTNN, lĩnh vực xây dựng đô thị mới tuy chỉ chiếm 0,7% về số dự án nhưng chiếm tới 32,7% về số vốn đầu tư đăng ký, tiếp đến là các ngành bưu chính viễn thông, khách sạn. Bên cạnh đó, các dự án sản xuất trong các khu công nghiệp cũng đang phát huy hiệu quả trong phát triển kinh tế, tạo việc làm. Tuy chỉ chiếm 17% cả về số lượng dự án và vốn đầu tư đăng ký nhưng đã đóng góp 91% kim ngạch xuát khẩu và tạo ra 38% tổng số việc làm trong khu vực đầu tư nước ngoài. Cũng theo những số liệu thống kê này cho thấy, tổng vốn ÐTNN đăng ký cả giai đoạn từ 2001 đến nay tăng trung bình 74%/năm và đạt khoảng 2,8 tỷ USD, tổng vốn ÐTNN thực hiện có thể sẽ vượt con số 1,1 tỷ USD. Với sự tăng trưởng mạnh của dòng vốn ÐTNN, kim ngạch xuất khẩu của thành phố tăng bình quân 5 năm gần đây gần 22%, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu lên hơn 11 tỷ USD. Bảng: Dự án đầu tư theo ngành nghề Dự án đầu tư theo ngành nghề Ngành nghề Số dự án Tổng vốn (USD) PT đô thị - hạ tầng kỹ thuật 4 2.601.356.000 Khu công nghiệp 72 1.018.875.610 Bưu chính viễn thông 12 738.934.588 Văn phòng 24 596.328.756 Khách sạn 22 472.490.576 May mặc 22 367.667.036 Căn hộ 15 355.687.086 Vui chơi giải trí 13 303.607.358 Ô tô, xe máy 18 207.040.276 Tư vấn xây dựng 43 182.190.860 Văn xã 42 155.433.584 Ngân hàng 11 147.000.000 Dịch vụ công nghiệp 54 140.423.668 Cơ khí hóa chất 28 82.358.594 Vật liệu xây dựng 27 71.504.943 CN thực phẩm 17 62.165.670 Giao thông vận tải 12 35.534.493 Siêu thị, nhà hàng 4 34.420.383 Nông lâm 10 33.842.175 Công nghệ tin học 33 23.357.700 Điện, điện tử, điện lạnh 11 22.855.882 Mỹ nghệ, vàng bạc 16 19.988.000 BH-TV-TC-GĐ 13 9.130.500 2. Đánh giá tình hình thu hút FDI vào Hà Nội 2.1. Thành tựu Tình hình thu hút FDI có nhiều bước phát triển nhanh chóng cả về quy mô và tốc độ. Theo đánh giá của các nhà đầu tư, ngoài các yếu tố hấp dẫn về thị trường, nhân lực, hạ tầng, trong thời gian gần đây, Hà Nội đã có một bước chuyển biến mạnh mẽ về thủ tục đầu tư, nhất là thủ tục đất đai, kết nối hạ tầng với các tỉnh miền Bắc đang được hoàn chỉnh. Nguồn vốn đầu tư vào Hà Nội dự kiến sẽ tiếp tục tăng lên, hiện đang có rất nhiều nhà đầu tư lớn đang trình dự án đầu tư tại Hà Nội. Trong những năm vừa qua, tình hình thu hút FDI của Hà Nội có nhiều bước phát triển nhanh chóng. Từ năm 1989 – 1996, thu hút FDI của Hà Nội có xu hướng tăng cao. Từ năm 1997 đến 2003, vốn FDI vào Hà Nội có xu hướng giảm dần từ 913 triệu USD (1997) xuống 100 triệu USD (2000), sau đó tăng nhưng vẫn còn thấp hơn năm 1997. Từ năm 2004 đến nay, dòng FDI vào Hà Nội tăng nhanh … Tổng cộng từ năm 1989 đến hết 31/3/2005, Hà Nội có 539 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 8,27 tỷ USD, trong đó hình thức liên doanh chiếm 56,1% với 212 đơn vị, hình thức 100% vốn nước ngoài chiếm 39,3% với 302 đơn vị và hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 4,6% với 25 hợp đồng. Đỉnh cao nhất trong thu hút FDI là năm 1996 với vốn đăng ký đạt 2,641 tỷ USD và năm 1997 đạt cao nhất về vốn thực hiện với 913 triệu USD. Hiện nay có tới hơn 40 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Hà Nội, trong đó Singapore, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm tổng cộng 60% tổng vốn FDI đăng ký vào Hà Nội. Năm 2004, các dự án FDI chiếm 21% tổng xuất khẩu Hà Nội, 35% giá trị sản xuất Công nghiệp, 12% GDP, 17% tổng đầu tư xã hội và tạo ra khoảng 45.000 việc làm. Năm 2004, số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có lãi là 29%, bị lỗ là 11%, còn lại hoạt động cầm chừng, hoà hoặc chưa rõ kết quả. Đặc biệt các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong các khu công nghiệp và khu chế xuất trên địa bàn Hà Nội chiếm 16% tổng số dự án, 18% tổng vốn đăng ký, song đã chiếm tới 43% doanh thu, 88% tổng kim ngạch xuất khẩu, 18% tổng nộp ngân sách nhà nước và 35% số việc làm mà các dự án FDI tạo ra tính đến thời điểm ngày 10/3/2005. Các doanh nghiệp FDI đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong một số lĩnh vực, đẩy nhanh tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội. Tính từ năm 1989 đến hết năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 5.937 triệu USD. Tỷ trọng của khu vực có vốn FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu thành phố cũng tăng đáng kể từ năm 13% năm 2000 lên 31,8% năm 2005, 37,5% năm 2006 và ước đạt 38,8% năm 2007. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn góp phần tăng nhanh số lượng, chất lượng các sản phẩm xuất khẩu của thành phố, trong đó đa số là các sản phẩm mới, công nghệ kỹ thuật cao. Sản phẩm xuất khẩu chủ lực của khối doanh nghiệp FDI là hệ thống điện xe ô tô, linh kiện máy ảnh, phần mền, ô tô, ti vi màu màn phẳng, xe máy, linh kiện… Các doanh nghiệp nước ngoài đẩy mạnh đầu tư vào Hà Nội đã thu hút một lực lượng đông đảo lao động đồng thời giúp đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ sư có điều kiện nâng cao trình độ tay nghề và năng lực quản lý. Một trong những mục tiêu chiến lược của việc tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài là phải tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Tính đến cuối năm 2006 các dự án FDI ở Hà Nội đã thu hút được khoảng 78 ngàn lao động và đến cuối năm 2007 ước gần 90 ngàn lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI. Đa số họ được đào tạo và tiếp cận với trình độ kỹ thuật và quản lý tiên tiến. Do vậy, khu vực này không chỉ giải quyết được việc làm đối với một phần đáng kể lực lượng lao động có kỹ thuật mà còn từng bước hình thành nên một đội ngũ lao động quản lý, kỹ thuật có đủ năng lực , trình độ, kỷ luật công nghiệp để điều hành, quản lý kinh doanh theo cơ chế thị trường và đáp ứng được những yêu cầu mới trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt, 9 tháng năm 2007, Hà Nội thu hút được 236 dự án FDI với tổng vốn đăng ký là 1.128 triệu USD (chưa kể các kết quả thu hút FDI trong các khu công nghiệp và khu chế xuất do Ban quản lý các khu công nghiệp và khu chế xuẩt thành phố Hà Nội phụ trách), trong đó: cấp mới 210 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 940 triệu USD, bổ xung tăng vốn là 26 dự án với vốn đầu tư đăng ký là 188 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2006, số dự án đã tăng 80% (236/131 dự án), số vốn đầu tư tăng 40% (1.128/801,24 triệu USD). So với kế hoạch định hướng cả năm 2007 đã giao theo quyết định 233/2006/QĐ – UB của UBND TP.Hà Nội( vốn đầu tư đăng ký 1300 triệu USD với 210 dự án, trong đó cấp mới là 800 triệu USD với 145 dự án, bổ xung tăng vốn là 500 triệu USD với 65 dự án; vốn đầu tư thực hiện 400 triệu USD; doanh thu 2.900 triệu USD), số dự án đã vượt kế hoạch cả năm là 12% (236/210), còn về tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 87% (1.128/1.300 triệu USD). Hiện một số dự án đầu tư lớn trên địa bàn Hà Nội đang tiếp tục hoàn chỉnh hồ sơ cấp giấy chứng nhận đầu tư hợc tăng vốn trong các tháng cuối năm 2007, đầu 2008 như: Dự án Cổng Tây Hà Nội – LD của Vigracera với Nhật Bản (233 triệu USD), dự án Khách sạn 5 sao Keangnam – Hàn Quốc tăng vốn 300 triệu USD, công viên Yên Sở - Tập đoàn Gamuda, Malaysia (711 triệu USD), khu công nghệ cao sinh học – Pacific Land Limited Irland (1 tỷ USD). Có thể nói năm 2007, Hà Nội cũng như Việt Nam trở thành điểm đến đầy hứa hẹn của các nhà đầu tư nước ngoài (đứng thứ 6 thế giới về sự hấp dẫn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ thông tin theo xếp hạng của một cuộc nghiên cứu của Ấn Độ. Lĩnh vực đầu tư ngày càng đa dạng. Các lĩnh vực tập trung thu hút đầu tư nhất là các dự án đầu tư vào nhà đất, khách sạn cao cấp tăng nhanh. Với nhu cầu phòng khách sạn cao cấp tăng nhanh, các nhà đầu tư nước ngoài đã nhìn thấy hướng đầu tư đầy hứa hẹn và đang đổ vốn vào lĩnh vực này. Trong những tháng tiếp theo của năm 2007, nhiều dự án của các nhà đầu tư khách cũng đang chuẩn bị đổ vào Hà Nội. Đó là, Dự án cải tạo Công viên Yên Sở thành khu vui chơi giải trí hiện đại với khách sạn và trung tâm thương mại do Tập đoàn Gamuda Land (Maylaysia) làm chủ đầu tư, với số vốn đầu tư ban đầu dự kiến 1 tỷ USD. Trong đó đáng chú ý nhất là dự án đầu tư xây dựng khách sạn 5 sao tại vị trí X2 – Khu công viên văn hoá - thể thao Tây Nam Mễ Trì, UBND thành phố Hà Nội đã chấp thuận cho tập đoàn Riviera (Nhật Bản) đầu tư với số vốn 500 triệu USD. Đây là vị trí giáp với Trung tâm Hội nghị Quốc gia, một trong những địa điểm hấp dẫn nhất của Hà Nội trong tương lai. Năm 2008, UBND Thành phố Hà Nội đã đồng ý thêm 3 dự án khách sạn cao cấp cùng với các dự án khách sạn đẳng cấp thế giới mới được cấp phép. Theo Sở Du lịch Hà Nội, 3 dự án này là Khách sạn Marriot gần Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình, do Công ty Bitexco làm chủ đầu tư; tổ hợp villa, văn phòng ở Đội Cấn, quận Ba Đình và dự án khách sạn, văn phòng ở Trấn Vũ, quận Tây Hồ của Tổng cục du lịch. Sở Du lịch cũng cho biết thêm một số dự án lớn khác, Khách sạn Thượng Thanh ở Long Biên, Sân golf Tả Thanh Oai ở Thanh Trì và Sân golf Phù Đổng ở Gia Lâm. Hơn nữa, trong xu thế sôi động của thị trường bất động sản hiện nay, thì việc hứa hẹn một hiệu quả đầu tư cao đang thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài tăng cường đầu tư vào thị trường béo bở này. Các doanh nghiệp FDI đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong một số lĩnh vực, đẩy nhanh tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Hà Nội. Thông qua việc thu hút và triển khai sản xuất của các dự án ĐTNN, Hà Nội đã hình thành và khẳng định thương hiệu một số sản phẩm công nghiệp có hàm lượng chất xám, giá trị cao và góp phần xứng đáng vào kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn. Cũng qua những dự án ĐTNN, đội ngũ người lao động và cán bộ quản lý đã trưởng thành hơn nhờ sự giao lưu học hỏi, tiếp cận với trình độ hiện đại của thế giới.  Những kết quả nói trên là hiệu quả tất yếu và xuất hiện sau những chuyến đi xúc tiến đầu tư của UBND thành phố trong nhiều năm trước tại những khu vực trọng điểm như Anh, Hoa Kỳ, EU, Bắc Âu... với những danh mục cụ thể mời gọi đầu tư trên các lĩnh vực. Ông Triệu Đình Phúc, Giám đốc Sở Kế hoạch & Đầu tư cho biết, sau những động thái đó, các nhà đầu tư đã có những phản ứng rất tích cực, nhiều đoàn đã và xây dựng kế hoạch đến Hà Nội để tìm hiểu khả năng đầu tư cụ thể, đối tác đầu tư cũng ngày càng đa dạng hơn, trong đó có nhiều tập đoàn đa quốc gia hoặc doanh nghiệp thuộc các nước có tiềm năng kinh tế mạnh. Bên cạnh cơ sở hạ tầng hiện đại, giao thông thuận lợi thì Hà Nội còn là một điểm hấp dẫn FDI vì có những chính sách thông thoáng, cởi mở trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 3835/QĐ-UB Về việc thành lập Tổ công tác đầu tư nước ngoài thực hiện thí điểm cơ chế “một cửa” trong quản lý Nhà nước với h oạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn Hà Nội. Nhằm nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài đối với thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố đã thành lập Tổ công tác gồm: đại diện các sở, ngành chức năng có liên quan đến đầu tư nước ngoài như: Sở Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính, Quy hoạch - Kiến trúc... Nhiệm vụ của Tổ công tác là trực tiếp kiểm tra hoặc báo cáo Chủ tịch UBND thành phố, Thường trực Thành ủy cho phép đầu tư đối với các dự án quy mô từ 20 triệu USD trở lên; giải quyết khó khăn vướng mắc cho dự án đầu tư nước ngoài; đôn đốc triển khai và giám sát thực hiện giải quyết các thủ tục đối với dự án đầu tư nước ngoài, thực hiện chế độ báo cáo thường xuyên với Chủ tịch UBND thành phố. Để làm tốt nhiệm vụ trên, các thành viên của tổ sẽ phối hợp làm việc, trực tiếp gặp, trao đổi và giải quyết những gì thuộc chức năng của từng Sở liên quan. Hôm 2/1/2007, Hà Nội bắt đầu triển khai cơ chế "một cửa liên thông" về thủ tục thành lập doanh nghiệp, do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội, Công an Hà Nội và Cục Thuế Hà Nội kết hợp thực hiện. Các nhà đầu tư sẽ tiết kiệm được thời gian, chỉ việc gửi yêu cầu, giấy tờ vào “một cửa” và được hẹn trả lời bằng văn bản “một cửa”... tại Phòng Đầu tư nước ngoài thuộc Sở Kế hoạch - Đầu tư, số 17 Trần Nguyên Hãn, Hà Nội. Đây là một quyết định quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư của Hà Nội, và cũng là bước khởi đầu đột phá trong công tác cải cách hành chính của thành phố ngay từ những ngày đầu năm 2007. Các nhà đầu tư nước ngoài rất mong chờ quyết định trên của thành phố, coi đó là biện pháp tích cực để khơi dòng vốn nước ngoài “đổ” vào Hà Nội. Từ đầu năm 2006 đến nay Hà Nội đã cấp phép cho 71 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn 518.489.000USD đứng thứ hai trong cả nước sau thành phố Hồ Chí Minh về thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, Hà Nội còn thu hút FDI bởi chế độ ưu đãi các nhà đầu tư ngày càng hấp dẫn. Hiện tại, thời gian cấp giấy phép đã được rút ngắn từ 60 xuống còn 25 ngày. Với các dự án khuyến khích thì phía đối tác chỉ mất 20 thay vì 45 ngày chờ đợi; trường hợp đặc biệt có thể được cấp trong 2-3 ngày. Thành phố sẽ tiếp tục đơn giản hóa thủ tục cấp phép với 5 tiêu chí thẩm định dự án, thay vì 26 tiêu chí như hiện nay. Ngoài ra, một cơ chế miễn giảm tiền thuê đất, thuế thu nhập cũng sẽ được đề ra nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tập trung vốn. Bên cạnh đó, thành phố còn chủ động giải tỏa trước một số khu vực dự định đón đầu tư, sau đó mời các chủ dự án tham gia. 2.2. Hạn chế: Bên cạnh những kết quả đáng mừng nêu trên thì thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài còn nhiều bất cập, việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn chưa tương xứng tiềm năng, vị thế của Hà Nội; và còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước. Hà Nội là địa phương đứng thứ 2 cả nước về kết quả thu hút FDI. Tuy nhiên, từ năm 1997 đến nay dòng vốn FDI vào Hà Nội có xu hướng giảm dần (trừ năm 2001). Năm 1997 đạt 913 triệu USD, Năm 1998 đạt 673 triệu USD; năm 1999 đạt 345 triệu USD; năm 2002 đạt 55 triệu USD; năm 2003 đạt 52 triệu USD. Nguyên nhân là tình hình suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính, tiền tệ của các nước Châu Á, đặc biệt là các nước khu vực ASEAN. Luật Đầu tư nước ngoài mới sửa đổi làm cho các chủ đầu tư nước ngoài phải nghiên cứu và cân nhắc kỹ càng hơn trong việc đầu tư vốn. Sự cạnh tranh và điều tiết của thị trường nội địa giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam làm cho các chủ đầu tư nước ngoài phần nào mất cơ hội đầu tư và cân nhắc rất kỹ việc lựa chọn mục tiêu đầu tư, nhất là các lĩnh vực đầu tư đạt lợi nhuận cao như: khách sạn, văn phòng, căn hộ, cho thuê. Ở trong nước, đã và đang hình thành rõ nét các thị trường cạnh tranh mạnh mẽ về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo nên sự phân định mất tập trung và lôi kéo dòng vốn đầu tư vào những thị trường có sức hấp dẫn lớn (đặc biệt là giá đất, chính sách thuế, giá lao động, các thủ tục cấp giấy phép...). Một số qui định chưa mang tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài như chương trình nội địa hoá đối với sản phẩm của các dự án công nghiệp nặng điểm xuất phát phải đạt 25%, qui định xuất khẩu trên 80% sản phẩm đối với lĩnh vực đầu tư vào Việt Nam. Một số đối tác nước ngoài triển khai dự án chậm, bị mất cơ hội đầu tư, phải tìm cách chuyển mục tiêu của dự án để phù hợp với thị trường, tự ý thay đổi thiết kế xây dựng, thi công sai phép, bị đình chỉ. Sự thay đổi về quy hoạch và kiến trúc (nhất là xung quanh hồ Hoàn Kiếm và các khu vực nội đô) làm cho nhiều dự án cao tầng không còn khả năng thực hiện như: Toà nhà thông minh, Tháp cao ốc Intimex, Toà nhà Tràng Thi.. Một số dự án khác gặp khó khăn rất nhiều như: Khách sạn Hà Nội Vàng, Tháp Vietcombank, Toà nhà giai đoạn II của BigTungshing... Việc phân cấp trong công tác xúc tiến và quản lý các dự án FDI tại Hà Nội chưa triệt để. Sở Kế hoạch - Đầu tư Hà Nội được giao nhiệm vụ là cơ quan đầu mối trong việc tiếp nhận và quản lý các dự án FDI của thành phố nhưng hiệu lực các chế tài chưa đủ mạnh nên gặp nhiều trở ngại trong việc hướng dẫn nhà đầu tư tiến hành thiết lập dự án đầu tư cũng như triển khai các dự án trên địa bàn, đặc biệt là các vấn đề liên quan tới giới thiệu địa điểm, giải phóng mặt bằng, thủ tục thuê đất, xây dựng. Ngoài ra, trên địa bàn thành phố còn có 1 cơ quan quản lý các dự án FDI là Ban quản lý các Khu Công nghiệp và Chế xuất Hà Nội. Hai cơ quan trên không có sự phối hợp chặt chẽ, đặc biệt trong các khâu xúc tiến kêu gọi và cấp phép đầu tư các dự án FDI nên có lúc gây ra sự cạnh tranh trong tiếp nhận các nhà đầu tư tới Hà Nội. Trong mấy năm gần đây (mặc dù năm 2004 đã có dấu hiệu khôi phục, nhưng vẫn còn rất thấp so với thời kỳ 1994-1998), số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hà Nội, kể cả về số vốn đăng ký và thực hiện giảm rõ rệt, tỷ trọng số vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hà Nội so với cả nước cũng có phần giảm đi. Năm 2003 so với cả nước, Hà Nội chiếm 8,2% GDP, 10% giá trị sản xuất công nghiệp, 10% doanh thu dịch vụ, nhưng về thu hút đầu tư nước ngoài, chỉ chiếm 5,3% tổng số vốn đăng ký. Ngoài nguyên nhân khách quan, do tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động, còn có những nguyên nhân mang tính chủ quan dẫn đến việc thu hút đầu tư nước ngoài ở Hà Nội trong thời gian qua bị giảm sút. Ðáng chú ý là, do cơ chế, chính sách, điều hành của Hà Nội như: Chi phí đầu tư còn rất cao; môi trường đầu tư không còn hấp dẫn như trước đây; chưa có giải pháp mạnh để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; sự phối hợp, phân công phạm vi trách nhiệm giữa các bộ, ngành Trung ương với Hà Nội về thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn cũng chưa được rõ ràng; thủ tục hành chính còn phiền hà. Vừa qua, một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội đã liên tiếp phản ánh về những vướng mắc trong quá trình thực hiện, triển khai dự án. Một trong những khó khăn mà các nhà đầu tư tại Hà Nội đang gặp phải là giá thuê đất khá cao: 4-12 USD/m2/năm. Công tác giải phóng mặt bằng lại thường bị vướng mắc. Hơn thế, về cơ chế vốn, họ vẫn phải góp vốn thực bằng tiền, chứ không được lấy giá trị sử dụng đất để thế chấp... Hơn nữa, sự chênh lệch về trình độ và văn hóa hợp tác của cán bộ quản lý dự án Việt Nam so với đối tác cũng là điểm bất lợi. Điều đó dẫn đến tình trạng vốn đăng ký lớn nhưng thực hiện giải ngân vốn còn chậm, gây lãng phí vốn. Mặt khác, việc chạy theo lợi nhuận của các nhà đầu tư làm cho cơ cấu đầu tư không cân đối, các nhà đầu tư tập trung vào các lĩnh vực đem lại hiệu quả kinh tế cao như nhà đất, địa ốc, xây dựng văn phòng, căn hộ cho thuê cao cấp… mà không chú trọng vào các dự án về môi trường, các dự án về nông nghiệp, phúc lợi xã hội… Chính vì thế, UBND thành phố đã tăng cường thu hút FDI vào những khu vực này, thông qua nhiều chính sách ưu đãi đầu tư. Chương III: Giải pháp tăng cường thu hút FDI vào Hà Nội trong những năm tới 1. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính Đối với bất kì một nhà đầu tư nước ngoài nào khi quyết định đầu tư vào Việt Nam, điều làm họ băn khoăn lo ngại nhất có lẽ là vấn đề thủ tục hành chính. Phải thừa nhận rằng chính những thủ tục rườm rà đó là một trong những nguyên nhân làm giảm lượng vốn đầu tư chảy vào Việt Nam trong thời gian qua. Mặc dù luật đầu tư 2005, về mặt nguyên tắc được đánh giá là không phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài nhưng trên thực tế, trong khâu triến khai thực hiện vẫn còn tồn tại một số vấn đề gây khó khăn cho nhà đầu tư nước ngoài cân khắc phục. Sau đây chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp FDI: Thứ nhất, đổi mới quan điểm về thủ tục hành chính. Các cơ quan nhà nước cần có tư duy sát thực hơn về hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng trước hết đây vừa là lợi ích, vừa là trách nhiệm của họ. Cơ quan quản lý nhà nước phải nhận thức, quán triệt quan điểm phục vụ trong chỉ đạo thực hiện cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trung tâm theo hướng nhận khó khăn về phía mình để tìm cách đơn giản hoá thủ tục hành chính tới mức cao nhất, đem lại thuận lợi nhất cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, mọi thủ tục hành chính cần hướng vào việc tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần được thiết kế theo hướng để khi doanh nghiệp thực hiện với thời gian ngắn nhất và chi phí thấp nhất. Từ điều này sẽ tìm ra nhiều cách sáng tạo thực hiện. Thứ hai, tiếp tục đơn giản hoá các thủ thục hành chính trong việc thẩm định và cấp phép. Cải tiến mạnh mẽ thủ tục cấp giấy phép đầu tư, đơn giản hoá các thủ tục hành chính thực sự theo nguyên tắc liên thông "một cửa", "một đầu mối". UBND thành phố nên uỷ quyền cho Sở Kế hoạch - Đầu tư là cơ quan đầu mối phụ trách các vấn đề hợp tác và đầu tư của thành phố, đồng thời là cơ quan duy nhất tiếp cận hồ sơ giải quyết các công việc tiếp theo, thay mặt nhà đầu tư đi liên hệ với các cơ quan hữu quan rồi trả lời cho các nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho họ khi đăng ký. Các cơ quan chức năng phải thông báo công khai các loại giấy tờ cần có về hồ sơ đăng ký cấp giấy phép đầu tư. Cần sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung theo hướng giảm bớt các danh mục phải báo cáo đánh giá tác động tới môi trường và quy định cụ thể các dự án được miễn lập các loại báo cáo này. Với các dự án phải lập báo cáo, cơ quan thẩm định phải tiến hành khẩn trương và bảo đảm độ chính xác cao, để vừa rút ngắn thời gian đăng ký, vừa hạn chế được các công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Thu thập các thông tin về công nghệ tiên tiến của thế giới phải trở thành việc làm thường xuyên của các cơ quan này. Thứ ba, tạo điều kiện cho các dự án có vốn đầu tư nước ngoài sau khi được cấp phép triểnkhai nhanh và sớm đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc triển khai thực hiện dự án bao gồm các thủ tục về cấp đất, giải toả đền bù đất đai, xây dựng công trình, nhập khẩu vật tư thiết bị, đánh giá tác động môi trường... cần đơn giản theo hướng các cơ quan chức năng hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện đúng những quy định của luật pháp có liên quan, theo dõi quá trình xây dựng doanh nghiệp; trong trường hợp phát hiện vi phạm pháp luật thì trước hết hướng dẫn doanh nghiệp khắc phục tình trạng đó, chỉ áp dụng việc xử phạt đối với trường hợp nghiêm trọng hoặc ngoan cố không chịu sửa chữa theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước. Theo đó, UBND thành phố cần nhanh chóng giải quyết một số vấn đề sau: Giao Sở Tài nguyên và Môi trường và Nhà đất tiến hành đo đạc, lập bản đồ địa chính một lần và đơn giản hoá mọi thủ tục khác về giao đất, cho thuê đất; đồng thời đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan hữu quan soạn thảo ngay các quy định về giải phóng mặt bằng, cũng như quy định về chuyển quyền sử dụng đất (đối với các dự án nằm ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất). Tiến hành nhanh chóng công tác đền bù, giải phóng mặt bằng để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án FDI đã cấp giấy phép; hoãn hoặc miễn tiền thuê đất đối với các dự án xin dừng hoặc giãn tiến độ thực hiện do khó khăn; cấp giấy chứng nhận lại cho các doanh nghiệp thuê lại đất trong các khu công nghiệp để đẩy nhanh tiến độ lấp đầy khu công nghiệp. Về thủ tục quản lý xây dựng cơ bản theo thiết kế đã đăng ký, cần được tổ chức chặt chẽ nhưng không được can thiệp quá sâu; cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng cơ bản cần thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền của mình, đồng thời cải tiến các thủ tục theo hướng gọn nhẹ và hiệu quả; coi trọng công tác kiểm tra, giám sát thực hiện tiến độ đầu tư theo đúng quy định, khi cần có thể điều chỉnh ngay, tránh gây phiền hà, lãng phí, cũng như hiện tượng "giữ chỗ". Thứ tư, việc thực hiện hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được bắt đầu bằng thủ tục đăng ký với cơ quan nhà nước để nộp thuế, hoạt động xuất nhập khẩu, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy. Khi cần thiết các cơ quan này có thể tiến hành kiểm tra để đánh giá doanh nghiệp đã có đủ điều kiện, trang thiết bị phù hợp với quy định của pháp luật; hướng dẫn và yêu cầu bổ sung để bảo đảm đủ điều kiện kinh doanh. Cần áp dụng các phương thức tiến bộ về nghiệp vụ như doanh nghiệp tự tính và nộp thuế, cuối kỳ sẽ đối chiếu để nộp bổ sung hoặc được thoái thuế; đăng ký kế hoạch xuất nhập khẩu cả năm và áp dụng biện pháp trừ dần khi thực hiện. Bên cạnh đó, thành phố Hà Nội cần thường xuyên phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động FDI và các địa phương khác trong cả nước, các bộ ngành hữu quan định kỳ gặp gỡ, đối thoại về luật pháp chính sách, giải quyết kịp thời các kiến nghị của doanh nghiệp, tháo gỡ các ách tắc, điều chỉnh, bổ sung các chính sách biện pháp tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Thứ năm, trong thời gian tới, thành phố cần nhanh chóng rà soát, phân loại và đánh giá tình hình thực hiện của tất cả dự án trên địa bàn để có biện pháp xử lý, hỗ trợ cho phù hợp. Tập trung chỉ đạo điều hành xử lý nghiêm hành vi vi phạm của các nhà đầu tư nước ngoài, cũng như giải quyết nhanh các vấn đề khó khăn phát sinh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này vượt qua. Thứ sáu, ban hành quy chế về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Trong đó, cần quy định cụ thể chế độ kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước để chấm dứt sự kiểm tra tuỳ tiện, tránh hình sự hoá các quan hệ kinh tế của doanh nghiệp, nhưng vẫn bảo đảm được sự giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước và áp dụng các chế tài đối với những vi phạm pháp luật của các doanh nghiệp. Hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp là cần thiết, nhưng trước hết phải hướng vào mục đích làm cho các doanh nghiệp tự giác tôn trọng pháp luật, tránh tình trạng lợi dụng thanh tra, kiểm tra để gây khó khăn cho hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Việc xử lý các hành vi phạm pháp cần thực hiện đúng trình tự và hình phạt đã được quy định. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thanh tra, kiểm tra và áp dụng các phương thức tiến bộ để vừa bảo đảm thực hiện nghiêm minh luật pháp, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh của doanh nghiệp. 2. Tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng Triển khai xây dựng một số khu công nghiệp tập trung bằng nguồn vốn trong nước để thu hút các dự án FDI. Cải thiện hệ thống giao thông đô thị: xây dựng các trục đường xuyên tâm, mở rộng và xây mới các tuyến đường… Sửa chữa, nâng cấp hệ thống cấp điện nước. Phải tiếp tục tập trung sức nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, trước mắt giải quyết tốt vấn đề nhu cầu năng lượng cho các nhà đầu tư, bảo đảm trong mọi trường hợp không để xảy ra tình trạng thiếu điện đối với cơ sở sản xuất. Ưu tiên tối đa cho các dự án phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội. Trong thời gian vừa qua, với sự đổi mới trong tư duy, chúng ta đã nhận ra vai trò quan trọng của hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội với khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp FDI. Tuy nhiên phần lớn vốn đầu tư vào lĩnh vực này chỉ xuất phát từ vốn NSNN và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA. Mà khả năng huy động các nguồn vốn này lại có hạn. Cho nên bên cạnh việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng bằng vốn chính phủ, cần có cơ chế khuyến khích tư nhân đầu tư phát triển các công trình kết cấu hạ tầng, trong đó có các nhà máy điện độc lập, các công trình giao thôn, cảng biển... 3. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư Trước hết phải đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá về môi trường, tiềm năng đầu tư, thương mại, du lịch, định hướng phát triển, tạo dựng và đề cao hình ảnh Hà Nội với thế giới. Thường xuyên tổ chức các diễn đàn, hội thảo giới thiệu tiềm năng, thế mạnh của Hà Nội nhằm kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước. Thành lập trung tâm xúc tiến đầu tư để giải quyết các công việc liên quan đến đầu tư, bảo đảm nhanh gọn, chính xác, thuận lợi cho nhà đầu tư. Triển khai mở văn phòng đại diện kinh tế của Hà Nội ở nước ngoài, như Mỹ, Nhật, Tây Âu. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục đầu tư theo hướng thông thoáng và tập trung một đầu mối. Ðơn giản các tiêu chí xem xét, thẩm định dự án, rút ngắn thời gian xét duyệt, thẩm định, cấp giấy phép đầu tư. Ðịnh kỳ tổ chức đối thoại, thiết lập "đường dây nóng" giữa lãnh đạo thành phố với các doanh nghiệp FDI để kịp thời giải quyết vướng mắc cho DN. Bên cạnh đó, thành phố cần công bố danh mục dự án kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn tiếp theo và chuẩn bị các tài liệu đầu tư làm cơ sở tiến hành vận động đầu tư theo các phương thức mới, nhằm vào các tập đoàn lớn và các dự án trọng điểm. Chủ động tiếp cận và hỗ trợ các nhà đầu tư tiềm năng có nhu cầu đầu tư vào Hà Nội, chuẩn bị để sớm đặt thêm các văn phòng đại diện xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm ở nước ngoài 4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Xác lập các yêu cầu mới về chuẩn tri thức, kỹ năng và hành vi của giáo dục phổ thông và đào tạo nghề. Có thể nói chất lượng nguồn nhân lực là một trong số các vấn đề đáng lo ngại nhất không chỉ với riêng địa phương nào mà là đối với cả đất nước. Mặc dù Hà Nội được đánh giá là có nguồn nhân lực trình độ cao hơn các địa phương khác, tuy nhiên, cùng với thời gian, sự gia tăng cơ giới làm cho chất lượng nguồn nhân lực của địa phương này không được đồng đều. Do đó, việc chuẩn hóa tri thức, kỹ năng và hành vi đối với người lao động được đặt lên hàng đầu đối với lĩnh vực giáo dục phổ thong và đào tạo nghề. Làm tốt công tác này đồng nghĩa với việc chúng ta đã tạo ra được một đội ngũ lao động lành nghề, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đáp ứng yêu cầu của thời đại mới, và là đồng thời tạo ra lực hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, vì họ có thể giảm bớt được khâu đào tạo và đào tạo lại khi đầu tư vào Việt Nam Phát triển nhanh đội ngũ giáo viên và các nhà quản lý giáo dục theo yêu cầu của thời kỳ sau 2010. Đối với chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đội ngũ giáo viên và các nhà quản lý giáo dục đóng vai trò vô cùng quan trọng. Chất lượng của đội ngũ giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực của xã hội. Vì thế phát triển đội ngũ giáo viên cũng là một nhân tố thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực Nhiệm vụ này có thể được cụ thể hóa như: Triển khai chương trình đào tạo đổi mới phương pháp giảng dạy cho gần 1 triệu giáo viên phổ thông từ 2007 - 2010; Triển khai chương trình đào tạo 20.000 tiến sĩ làm giảng viên cho ĐH, CĐ từ 2007 - 2020, trong đó 10.000 tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài; Bồi dưỡng tất cả các hiệu trưởng các trường phổ thông và ĐH - CĐ theo chương trình chuẩn về quản lý giáo dục từ 2007 - 2010; Tăng lương cho tất cả các nhà giáo, cải thiện điều kiện làm việc của nhà giáo. Triển khai mạnh mẽ đào tạo theo nhu cầu xã hội. Việc đào tạo theo nhu cầu xã hội thể hiện sự linh hoạt trong công tác quản lý. Điều này đòi hỏi các nhà quản lý phải có tầm nhìn chiến lược để nắm bắt các xu hướng vận động của dòng FDI, vào ngành, vào lĩnh vực nào để có thể tạo ra đội ngũ lao động phù hợp yêu cầu PHẦN KẾT Kể từ khi những dòng FDI đầu tiên chảy vào Việt Nam, Hà Nội đã trở thành một trong những địa phương thu hút được lượng FDI cao nhất cả nước. Và trên thực tế, những kết quả thu được sau gần 20 năm qua đã khẳng định Hà Nội vẫn là một thành phố có tiềm năng trong hoạt động thu hút FDI cho đầu tư phát triển. Nhìn vào dòng FDI ngày càng phong phú gia tăng cả về quy mô và tốc độ có thể nhận thấy những thành tựu mà Hà Nội đã đạt được trong thời gian qua là rất đáng khích lệ. Và không thể phủ nhận những cải cách, đổi mới, hoàn thiện về môi trường đầu tư mà Hà Nội đã nỗ lực thực hiện nhằm khuyến khích các nguồn vồn đầu tư nói chung và nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng. Theo đánh giá của các nhà phân tích kinh tế, trong giai đoạn tiếp theo Hà Nội vẫn tiếp tục là một điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng không thể không kể đến những mặt hạn chế đã góp phần tạo ra rào cản đối với việc thu hút FDI vào Hà Nội. Môi trường đầu tư chưa thực sự thông thoáng và cụ thể là về các thủ tục hành chính, về sự yếu kém tồn tại trong việc hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật đã và đang là những băn khoăn trở ngại đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định đổ vốn vào địa phương này. Và nếu như trong giai đoạn tiếp theo, những hạn chế này không được nỗ lực khắc phục thì vị trí của Hà Nội trong bảng xếp hạng thu hút đầu tư sẽ còn tiếp tuc suy giảm. Cho nên nkhi quyết định nghiên cứu đề tài này, nhóm chúng tôi hy vọng tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp về các giải pháp đẻ nâng cao khả năng thu hút vốn FDI vào Hà Nội trong giai đoạn tiếp theo sao cho tương xứng với tiềm năng vốn có của địa phương này. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Bài giảng Đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ - TS. Đinh Đào Ánh Thủy Tạp chí Kinh tế phát triển Tạp chí cộng sản Thời báo kinh tế Sài Gòn: SaigonTimes, TheSaigontimes Tạp chí Phân tích và dự bào Kinh tế www.gso.gov.vn www.hapi.gov.vn www.mpi.gov.vn www.vneconomic.com www.vietbao.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA9025.DOC
Tài liệu liên quan