Đề tài Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, thực trạng và giải pháp

Qua những gì đã phân tích ở trên, ta có thể đưa ra nhưng kết luận sau: Một là, môi trường đầu tư tại Việt Nam là rất tốt, kể cả còn nhiều khó khăn và nhu cầu cần phải cải cách ở nhiều khâu nhưng có thể khẳng định rằng nhiều cải tiến trong những năm qua về môi trường đầu tư vào Việt Nam đã được các nhà đầu tư công nhận và đánh giá đạt yêu cầu. Những mặt mạnh nổi bật là sự ổn định an ninh chính trị, chất lượng lao động cao - điểm được đánh giá rất cao, chi phí sản xuất thấp. Bên cạnh đó là thị trường đầy tiềm năng và một nền kinh tế năng động. Việt Nam vốn nhiều nhà đầu tư nước ngoài thì khai thác thị trường là lý do chủ yếu còn việc chuyển dịch sản xuất thì đang dần được quan tâm. gần đây Việt Nam được biết đến như là một nơi thích hợp để sản xuất xuất khẩu. Điềunày cũng được minh chứng qua sự hài lòng của các nhà đầu tư. Việt Nam đáng là địa điểm để các nhà đầu tư cân nhắc.

doc30 trang | Chia sẻ: aloso | Lượt xem: 1489 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
bài viết gồm 2 phần: Phần 1: Lý luận chung Phần 2: Thực trạng và giải pháp Phần 1: lý luận chung 1. Khái niệm về đầu tư Đầu tư là một hoạt động kinh tế, là một bộ phận của sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng tiềm lực của nền kinh tế nói chung của từng doanh nghiệp nói riêng, là động lực để thúc đẩy xã hội đi lên. Do vậy, trước hết cần tìm hiểu khái quát về đầu tư. Khái niệm: Đầu tư là sự bỏ ra, sự hy sinh những nguồn lực ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ…) nhằm đạt được những kết quả có lợi cho chủ đầu tư trong tương lai. Về mặt địa lý, có hai loại hoạt động đầu tư: - Hoạt động đầu tư trong nước - Hoạt động đầu tư nước ngoài. 2. Đầu tư nước ngoài a. Khái niệm Đầu tư nước ngoài là phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất kinh doanh, dịch vụ với mục đích kiếm lợi nhuận và những mục tiêu kinh tế xã hội nhất định. b. Bản chất và hình thức đầu tư nước ngoài Xét về bản chất, đầu tư nước ngoài là những hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn xuất khẩu hàng hoá. Tuy nhiên, hai hình thức xuất khẩu này lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ và bổ sung nhau trong chiến lược xâm nhập, chiếm lĩnh thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài. Hoạt động buôn bán hàng hoá ở nước sở tại là bước đi tìm kiếm thị trường, tìm hiểu luật lệ để có cơ sở ra quyết định đầu tư. Ngược lại, hoạt động đầu tư tại các nước sở tại là điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài xuất khẩu máy móc, vật tư, nguyên liệu và khai thác tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra dưới hai hình thức: - Đầu tư trực tiếp (Foreign Direct Investment: FDI) - Đầu tư gián tiếp (Portgalio Investment: OI). Trong đó đầu tư trực tiếp là hình thức chủ yếu còn đầu tư gián tiếp là “bước đệm”, tiền đề để tiến hành đầu tư trực tiếp. Đầu tư trực tiếp là một hình thức đầu tư nước ngoài trong đó chủ đầu tư đầu tư toàn bộ hay một phần đủ lớn vốn đầu tư vào các dự án nhằm dành quyền điều hành hoặc tham gia điều hành các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc thương mại. c. Đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài: Thứ nhất, đây là hình thức đầu tư mà các chủ đầu tư được tự mình ra quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ, lãi. Hình thức đầu tư này mang tính khả thi và có hiệu quả cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho nền kinh tế. Thứ hai, chủ đầu tư nước ngoài điều hành toàn bộ hoặc một phần công việc của dự án. Thứ ba, chủ nhà tiếp cận được công nghệ kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý hiện đại,… của nước ngoài. Thứ tư, nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu mà còn có thể được bổ sung, mở rộng từ nguồn lợi nhuận thu được từ chủ đầu tư nước ngoài. 3. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo xu hướng thế giới hiện nay, hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra chủ yếu dưới các hình thức: - Hợp đồng hợp tác kinh doanh - Doanh nghiệp liên doanh - Doanh nghiepẹ 100% vốn nước ngoài - Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT) - Hợp đồng ký theo các hiệp định của chính phủ - Hợp đồng phân chia lợi nhuận, sản phẩm… Theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được diễn ra dưới ba hình thức: Một là, đầu tư thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên, gọi là các bên hợp doanh, quy định phân chia trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân. Hai là, doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký kết giữa chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam, hoặc doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Ba là, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam. Ngoài ra, các hình thức và môi trường thu hút vốn đầu tư là: khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao… 4. Tính tất yếu khách quan của hoạt động đầu tư nước ngoài a. Tính tất yếu khách quan của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới, nhiều quốc gia đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của mình. Những quốc gia này đã có sự đầu tư rất lớn vào sản xuất và khai thác các dạng tài nguyên thiên nhiên. Khi trình độ phát triển kinh tế đạt đến mức cao, nhu cầu về vốn ở trạng thái bão hoà, dư thừa, cơ hội đầu tư ít, chi phí cao thì khi đó các quốc gia có nhu cầu đầu tư vào các quốc gia khác trên thế giới nhằm tận dụng những lợi thế về lao động, tài nguyên thiên nhiên, thị trường,,, của những nước đó. Mặt khác, các quốc gia có những lợi thế đó thì nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế rất bức xúc. Vì vậy, họ đã có nhiều chính sách để thu hút những nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào. có nhu cầu vốn, có nguồn cung cấp từ đó làm xuất hiện những dòng vốn qua lại giữa các quốc gia. Các dòng vốn di chuyển tuân theo đúng quy luật từ nơi nhiều đến nơi ít một cách khách quan, do vậy hoạt động đầu tư ra nước ngoài mang tính tất yếu khách quan. Ngày nay, hoạt động đầu tư nước ngoài diễn ra một cách sôi nổi và rộng khắp trên toàn cầu. Các luồng vốn đầu tư không chỉ di chuyển từ các nước phát triển, nơi nhiều vốn sang các nước đang phát triển, nơi ít vốn, mà còn có sự giao lưu giữa các quốc gia phát triển với nhau. Hiện tượng này xuất phát từ những nguyên nhân sau: Trước hết, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế đang diễn ra nhanh chóng với quy mô và tốc độ ngày càng lớn tạo nên một nền kinh tế thị trường toàn cầu trong đó tính phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế mỗi quốc gia ngày càng tăng. Quá trình này diễn ra nhanh chóng và sau thời kỳ chiến tranh đã chi phối thế giới trong nửa thể kỷ, làm cho các nền kinh tế của từng quocó gia đều theo xu hướng mở cửa và theo quỹ đạo của kinh tế thị trường, bằng chứng là phần lớn các quốc gia đã nhập Tổ chức thương mại Thế giới (WTO), chấp nhận xu hướng tự do hoá thương mại và đầu tư. Trong điều kiện trình độ phát triển sản xuất, khả năng về vốn và công nghệ, nguồn tài nguyên thiên nhiên, mức độ chi phí sản xuất… ở các nước khác nhau thì nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ tuân theo những quy luật của thị trường vốn là chảy từ nơi nhiều đến nơi thiếu vốn với mục tiêu lợi nhuận. Mặt khác, cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã tạo nên sự biến đổi nhanh chóng và kỳ diệu của sản xuất. Thời gian từ khâu nghiên cứu đến ứng dụng và sản xuất rất ngắn, chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng ngắn lại, sản phẩm hàng hoá phong phú và đa dạng hơn. Đối với doanh nghiệp, nghiên cứu và đổi mới thiết bị có ý nghĩa sống còn cho sự tồn tại và phát triển. Còn đối với các quocó gia thì việc làm chủ và đi đầu trong khoa học- công nghệ sẽ quyết định vị trí lãnh đạo chi phối hay phụ thuộc vào các nước khác trong tương lai. Chính vì vậy, cuộc đua giữa các quốc gia đặc biệt là các nước phát triển bên thềm thế kỷ XXI diễn ra ngày càng quyết liệt. Bên cạnh đó, sự phát triển một cách nhanh chóng của cách mạng thông tin, bưu chính viễn thông, phương tiện giao thông vận tải đã khắc phụ sự xa cách về không gian, giúp các chủ đầu tư thu thập xử lý thông tin kịp thời, đưa ra những quyết định đầu tư, điều hành sản xuất kinh doanh đúng đắn mặc dù ở xa hàng vạn km. Những điều này đã tạo nên một sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia, mở rộng quy mô để chuyển vốn giữa các quốc gia, mở rộng quy mô để chuyển vốn trên toàn cầu đến các địa chỉ đầu tư hấp dẫn. Tại các nước công nghiệp phát triển, khi trình độ kinh tế phát triển ở mức cao đã góp phần nâng cao mức sống và khả năng tích luỹ vốn của các nước này. Điều đó, một mặt dẫn đến hiện tượng “thừa” tương đối vốn ở trong nước, mặt khác làm cho chi phí tiền lương cao, nguồn tài nguyên thu hẹp và chi phí khai thác tăng dẫn đến giá thành sản phẩm tăng, tỷ suất lợi nhuận giảm dần, sức cạnh tranh trên thị trường yếu. chính vì lẽ đó, các nhà đầu tư trong nước tìm kiếm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để giảm chi phí sản xuất, tìm kiếm thị trường mới, nguồn nguyên liệu mới nhằm thu lợi nhuận cao. Hiện nay, trình độ phát triển kinh tế giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển ngày càng giãn cách nhưng sự phát triển của một nền kinh tế toàn cầu đang đòi hỏi phải kết hợp chúng lại. Các nước phát triển không chỉ tìm thấy ở các nước đang phát triển những cơ hội đầu tư hấp dẫn do chi sản xuất giảm, lợi nhuận cao, thuận lợi trong việc dịch chuyển thiết bị, công nghệ lạc hậu mà còn thấy rằng sự thịnh vượng của các nước này sẽ nâng cao sức mua và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Ngược lại, các nước đang phát triển cũng đang trông chờ và mong muốn thu hút được vốn đầu tư, công nghệ của các nước phát triển để thực hiện công nghiệp hoá, khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. b. Tính tất yếu khách quan phải thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Ngày nay xu hướng quốc tế hoá toàn cầu đang diễn ra một cách mạnh mẽ trên thế giới. Các nền kinh tế tác động, bổ sung và phụ thuộc lẫn nhau. Các quốc gia bị cuốn vào vòng xoáy của quá trình hội nhập kinh tế chuyên môn hoá, hợp tác hoá nhằm tận dụng vốn, công nghệ và trình độ quản lý của nhau. Xuất phát điểm của nước ta là một nước nông nghiệp lạc hâu. Hơn 70% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp: năng suất lao động thấp, trình độ kỹ thuật thấp, tích lũy nội bộ thấp, sử dụng viện trợ nước ngoài không có hiệu quả. Ngoài ra, nước ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc nên những tàn dư mà ta chưa khắc phục được còn nhiều: cơ sở hạ tầng thấp kém, đời sống nhân dân còn khó khăn, chính sách chưa đồng bộ… Vì vậy, nhiệm vụ cấp bách của chúng ta hiện nay là phải phát triển kinh tế, nâng cao mức sống của nhân dân, xây dựng cơ sở hạ tầng. Để thực hienẹ điều đó thì chúng ta cần một lượng vốn rất lớn. Trong điều kiện khả năng đáp ứng của nền kinh tế là có hạn thì chúng ta không còn con đường nào khác là thu hút sự hợp tác đầu tư của nước ngoài. Để thực hiện điều đó, tại Đại hội VI (12/1986), Đảng và Nhà nước đã chủ trương mở cửa nền kinh tế, đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại nhằm tận dụng “những khả năng to lớn của nền kinh tế thế giới về di chuyển vốn, mở rộng thị trường, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm để bổ sung và phát triển có hiệu quả các lợi thế và nguồn lực trong nước”. Đảng chủ trương “đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại” với quan điểm “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Tại đại hội VIII, Đảng chủ trương “Vốn trong nước là chính, vốn nước ngoài cũng quan trọng”. Tất cả những tư tưởng đổi mới của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung, hoạt động đầu tư nước ngoài nói riêng. Như vậy, quá trình thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là một xu thế tất yếu phù hợp với xu thế của thế giới và yêu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam. 5. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các nước đang phát triển Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động không nhỏ đối với các nước nhận đầu tư, đặc biệt các nước phát triển trên cả hai mặt: tích cực và tiêu cực. a. Tác động tích cực Thứ nhất, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã bổ xung một nguồn quan trọng. Bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu tư cho phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển. Thứ hai, đầu tư trực tiếp đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Để tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài đòi hỏi mỗi quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế của mình cho phù hợp. Mặt khác, sự gia tăng của hoạt động đầu tư nước ngoài làm xuất hiện nhiều ngành mới, lĩnh vực mới. Góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng trình độ kỹ thuật – công nghệ của nhiều ngành kinh tế thúc đẩy sự gia tăng năng suất lao động ở các ngành này và tăng tỷ phần của nó trong nền kinh tế. Nhiều ngành được kích thích phát triển còn nhiều ngành bị mai một và đi đến xoá sổ. Thứ ba, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đòi hỏi nguồn lao động có chất lượng cao do đó sự gia tăng các dự án đầu tư nước ngoài đã đặt ở các nước sở tại trước yêu cầu khách quan là phải nâng cao chất lượng, trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ ngoại ngữ… cho người lao động. Thứ tư, hoạt động của các dự án đầu tư nước ngoài đã góp phần tăng tỷ trọng xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Thứ năm, đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia này. Tận dụng, tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển đã sử dụng để thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế nhằm đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, thoát khỏi vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói. b. Tác động tiêu cực Bên cạnh những ưu điểm , hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế. Một là, đầu tư nước ngoài đã tạo ra một cơ cấu bất hợp lý, Mục đích của các nhà đầu tư nước ngoài là tìm kiếm lợi nhuận ngày càng nhiều do đó họ chủ yếu đầu tư và các ngành công nghiệp, dịch vụ nơi có mức tỷ suất lợi nhuận cao. Hai là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại hiện tượng “chảy máu chất xám”. Các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo điều kiện thuận lợi vè thu nhập, việc làm do đó đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ cán bộ khoa học, nhà nghiên cứu, công nhân lành nghề của nước ta về làm việc cho họ. Ba là, chuyển giao công nghệ lạc hậu. Dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, quá trình nghiên cứu – ứng dụng ngày càng được rút ngắn, máy móc thiết bị nhanh chóng trở nên lạc hâu. Để loại bỏ chúng, nhiều nhà đầu tư đã cho chuyển giao sang các nước nhận đầu tư như một phần vốn góp. Việc làm đó đã làm cho trình độ công nghệ của các nước nhận đầu tư ngày càng lạc hậu. Bốn là, chi phí để tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn. Các nước nhận đầu tư đã phải áp dụng nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài như: giảm thuế, miễn thuế, giảm tiền thuê đất, nhà xưởng… Năm là, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra sự cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước. Với ưu thế về vốn, công nghệ, các dự án đầu tư nước ngoài đã đặt các doanh nghiệp trong nước vào vòng xoáy cạnh tranh khốc liệt về thị trường, lao động và các nguồn lực khác. Sáu là, các tác động tiêu cực khác. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn có thể gây ra những bất ổn về chính trị, mang theo nhiều tệ nạn xã hội mới xâm nhập vào nước ta. 6. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư nước ngoài là một hoạt động kinh tế có vai trò rất lớn đối với các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Tuy thế, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan. a. Luật đầu tư Nhân tố này sẽ kìm hãm hoặc thúc đẩy sự gia tăng của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua cơ chế, chính sách, thủ tục, ưu đãi, được quy định trong luật. b. Sự ổn định chính trị Đây là nhan tố không thể xem thường bởi vì rủi ro chính trị có thể gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài. c. Cơ sở hạ tầng Việc xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông, vận tải, thông tin liên lạc, điện nước… sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. d. Đặc điểm thị trường của nước nhận vốn Đây có thể nói là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nó được thể hiện ở quy mô, dung lượng của thị trường, sức mua của các tầng lớp dân cư trong nước, khả năng mở rộng quy mô đầu tư…, đặc biệt là sự hoạt động của thị trường nhân lực. Mặt khác, với giá nhân công rẻ sẽ là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là với những dự án đầu tư vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Ngoài ra trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình độ học vấn, khả năng quản lý… cũng có ý nghĩa nhất định. Bởi vậy, lợi thế về thị trường sẽ có sức hút rất lớn đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. e. Khả năng hồi hương của vốn Mặt khác, khả năng hồi của vốn cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài nếu vốn và lợi nhuận được tự do hoá qua lại biên giới. g. Chính sách tiền tệ Mức độ ổn định của chính sách tiền tệ và mức độ rủi ro của tiền tệ ở nước nhận vốn đầu tư là một nhân tố góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư. Tỷ giá hối đoái cao hay thấp đều ảnh hưởng tới hoạt động xuất nhập khẩu. Mức độ lạm phát của nền kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, lợi nhuận thu được của các dự án có tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm cao. h. Các chính sách kinh tế vĩ mô Các chính sách này mà ổn định sẽ góp phần thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư nước ngoài. Không có những biện pháp tích cực chống lạm phát có thể làm các nhà đầu tư nản lòng khi đầu tư vào các nước này. Một chính sách thương mại hợp lý với mức thuế quan, hạn ngạch và các hàng rào thương mại sẽ kích thích hoặc hạn chế đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Ngoài ra, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau: hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu… Vì vậy, để hoạt dodọng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra một cách thuận lợi thì chúng ta cần xem xét, đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố trên trong mối quan hệ biện chứng nhằm tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước. Phần 2: thực trạng và giải pháp Năm 2005 đã khép lại bằng những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội đáng khích lệ của đất nước trong đó hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là một điểm sáng. 1. Dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tăng mạnh Với sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ và sự nỗ lực của các Bộ, ngành, địa phương nhằm cải thiện môi trường đầu tư, trong năm 2005, tổng vốn đăng ký mới và tăng vốn đăng ký mới và tăng vốn đạt khoảng 6 tỷ USD, tăng 42% so với năm trước, vượt gần 33% so với mục tiêu đề ra và đạt mức cao nhất từ sau khủng hoảng tài chính khu vực đến nay. Trong năm 2005 đã cóp 771 dự án mới từ 42 quốc gia và vùng lãnh thổ được cấp Giấy phép đầu tư với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 4 tỷ USD bằng 98% về số dự án và tăng 63% về vốn đăng ký cấp mới so với năm 2004. Đồng thời đã có 509 lượt dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất với số vốn đăng ký tăng thêm gần 2 tỷ USD. Trong đó có những dự án tăng vốn lớn như: Công ty TNHH Canon vốn đầu tư tăng thêm 60 triệu USD; công ty liên doanh Larkhanil (Vietnam) vốn đầu tư tăng thêm 70,2 triệu USD, công ty Honda Việt Nam, vốn đầu tư tăng thêm 58 triệu USD, Công ty Tôt Việt Nam, vốn đầu tư tăng thêm 52 triệu USD… Tién độ giải ngân vốn ĐTNN trong năm 2005 đã được đẩy nhanh nhất là đối với dự án tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất. Tổng vốn ĐTNN thực hiện trong cả năm ước đạt 3,3 tỷ USD tăng 5,3% so với năm trước và đây là mức cao nhất kể từ khi ban hành luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (năm 1987 đến nay). 2. Hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả khả quan Hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đạt kết quả khả quan hơn mức dự báo. Trong năm qua, đã có thêm 200 doanh nghiệp có vốn ĐTNN đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần làm gia tăng năng lực sản xuất và xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN. Riêng doanh thu xuất khẩu không kể dầu thô) của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đạt 10,8 tủ USD, tăng 23% so với năm 2004, và nếu tính cả xuất khẩu dầu thô đạt gần 17 tỷ USD chiếm 53% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nộp ngân sách của khu vực DTNN tăng mạnh đạt 1,29 tỷ USD tăng 41% so với năm 2004. Đây là dự án đầu tiên kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài đến nay đóng góp cho ngân sách của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN (không kể thu từ dầu khí) vượt ngưỡng 1 tỷ USD. Với tốc độ tăng trưởng cả về sản xuất, xuất khẩu và nộp ngân sách của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN đều cao hơn mức bình quân chung của cả nước. ĐTNN đã thực sự đóng vai trò động lực thúc đẩy và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta trong năm qua. 3. Để có được những kết quả đáng khích lệ của hoạt động ĐTNN trong thời gian qua là bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân Thứ nhất, việc thực hiện nhất quán đường lối đổi mới, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở cửa thu hút ĐTNN đặc biệt là các hoạt động ngoại giao của Lãnh đạo các cấp cao Đảng và Nhà nước, việc chủ động đẩy nhanh quá trình đàm pháp gia nhập tổ chức thương mại Thế giới (WTO) gắn với việc hoàn chỉnh hệ thống luật pháp chính sách trong nước, việc thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế,… đã củng cố lòng tin của các nhà đầu tư. Thứ, nền kinh tế nước ta duy trì tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập và mức sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện đã góp phần mở rộng thị trường trong nước, việc thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do ASEAN việc tiếp tục khai thông thị trường Hoa Kỳ thông qua thực hiện Hiệp định Thương Mại Việt Nam – Hoa Kỳ, cũng như việc tăng cường quan hệ thương mại với Trung Quốc, Nhật Bản, EU và các nước khác, đã trực tiếp tháo gỡ rào cản về thị trường cho các doanh nghiệp, trong đó có các doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Thứ ba, sự ổn định về chính trị – xã hội cùng với sự đảm bảo về an ninh đã làm cho nước ta được cộng đồng các nhà đầu tư quốc tế đánh giá là địa bàn đầu tư an toàn . Thứ tư, hệ thống luật pháp chính sách về ĐTNN đã được hoàn chỉnh hơn tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, rõ ràng và thông thoáng hơn cho hoạt động ĐTNN. Trong năm qua chúng ta đã tiếp tục chỉnh sửa nhiều chính sách liên quan đến đầu tư, đồng thời hoàn tất lộ trình áp dụng cơ chế một giá, hỗ trợ nhà đầu tư giảm chi phí sản xuất. Thứ năm, hoạt động xúc tiến đầu tư đã được triển khai tích cực ở nhiều ngành, nhiều cấp, ở cả trong nước và nước ngoài dưới nhiều hình thức đa dạng, nhằm vào các địa bàn trọng điểm, dự án quan trọng. Đặc biệt tổ chức thành công diễn đàn hợp tác, đầu tư và Triển lãm ĐTNN (Việt Nam Forinvest 2005) đã thu hút mối quan tâm của hàng trăm tập đoàn công ty lớn của nước ngoài, góp phần quảng bá hoạt động ĐTNN tại Việt Nam. Ngoài ra, việc tăng cường cơ chế đối thoại giữa Chính phủ với các nhà đầu tư đã được cộng đồng các nhà đầu tư đánh giá tích cực, tạo điều kiện để các nhà đầu tư trực tiếp đối thoại với các cơ quan Chính phủ qua đó phát hiện và xử lý kịp thời hơn các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư. 4. Những mặt hạn chế Những kết quả đạt được là rất đáng khích lệ, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thu hút ĐTNN giữa các nước trong khu vực diễn ra hết sức gay gắt hiện nay. Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng, trong hoạt động ĐTNN tại nước ta năm 2005 vẫn còn hạn chế cần khắc phục. Một là, kết quả thu hút vốn ĐTNN vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của nước ta cũng như với nhu cầu huy động vốn nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, mặc dù tiến độ giải ngân đã được đẩy nhanh so với các năm trước nhưng vốn thực hiện vẫn còn thấp hơn đáng kể so với vốn đăng ký. Hai là, tỷ lệ các dự án lớn gắn với chuyển giao công nghệ nguồn của các công ty xuyên quốc gia còn thấp, dòng vốn đầu tư chủ yếu vẫn từ các nước châu á, đầu tư từ EU, Hoa kỳ tăng chậm. Ba là, ĐTNN vẫn tập trung chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm với những lợi thế về kết cấu hạ tầng và thị trường tiêu thụ: đầu tư vào các địa phương khác chưa có dấu hiệu khởi sắc. Điều này cho thấy các chính sách khuyến khích đầu tư vào các tỉnh miền nút, vùng sâu, vùng xa chưa mang lại kết quả mong muốn và đòi hỏi trong thời gian tới cần có những giải pháp hữu hiệu hơn nữa nhằm hạn chế tình trạng mất cân đối về ĐTNN giữa các vùng kinh tế, qua đó góp phần hạn chế khoảng cách về phát triển giữa các vùng. Bốn là, sự gắn kết giữa khu vực kinh tế có vốn ĐTNN về kinh tế trong nước vẫn còn hạn chế, ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển và chưa đáp ứng được yêu cầu về cung cấp nguyên liệu, phụ tùng cho các nhà lắp ráp lớn. Điều này vừa hạn chế tác động lan toả (tác động tràn) của ĐTNN đối với nền kinh tế, vừa làm giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ta. Có thể nói, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế nói trên là những bất cập về cơ chế, chính sách. Nguồn kinh phí cho công tác xúc tiến đầu tư còn quá hạn hẹp, danh mục các dự án kêu gọi ĐTNN chưa được cập nhật bổ sung, chính sách ưu đãi đối với các dự án công nghệ cao và đầu tư vào các vùng kinh tế – xã hội khó khăn còn chưa hợp lý, việc nghiên cứu, ban hành quy hoạch và cơ chế chính sách khuyến khích phát triển ngành công nghiệp phụ trợ còn chậm… 5. Triển vọng năm 2006 Năm 2006, hoạt động ĐTNN tại nước ta sẽ chịu tác động mạnh mẽ của nhiều yếu tố mới, vừa thuận lợi, vừa khó khăn. Thứ nhất, năm 2006 sẽ là năm có sự thay đổi lớn trong hệ thống luật pháp về đầu tư nước ngoài. Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp vừa được quốc hội thông qua và có hiệu lực từ 1/7/2006 sẽ tạo ra một mặt bằng pháp lý chung cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước. Thứ hai, tiến trình hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động ĐTNN tại Việt Nam. Cùng với việc đẩy nhanh đàm phán gia nhập WTO, việc thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định tự do hoá và xúc tiến đầu tư với Nhật Bản, các Hiệp định song và đa phương sẽ thúc đẩy quá trình hoàn thiện luật pháp chính sách của nước ta để đáp ứng yêu cầu hội nhập. Mặt khác, quá trình này sẽ đòi hỏi phải mở cửa thị trường dịch vụ theo lộ trình cam kết, trong khi năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ nước ta còn yếu kém. Điều này sẽ đặt ra những thách thức mới hết sức gay gắt. Thứ ba, lượng vốn ĐTNN toàn cầu sẽ tiếp tục có xu hướng gia tăng nhưng cạnh tranh thu hút ĐTNN trong khu vực cũng sẽ diễn ra gay gắt đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao hơn nữa sức cạnh tranh của môi trường đầu tư để tận dụng được cơ hội và thời cơ mới. Thứ tư, những kết quả tích cực đạt được trong năm 2005, nhất là kinh tế tăng trưởng nhanh, môi trường đầu tư được cải thiện uy tín của nước ta đối với các nhà đầu tư được nâng cao, kinh nghiệp có được trong vận động xúc tiến đầu tư theo hình thức mới cũng như hoạt động kinh doanh có hiệu quả của nhiều doanh nghiệp có vốn ĐTNN thời gian qua sẽ tạo đà cho sự gia tăngdòng vốn ĐTNN vào nước ta. Tuy nhiên, vấn đề lớn đang được đặt ra là phải đảm bảo các cân đối về kết cấu hạ tầng nhất là về cng cấp diện, nước, dịch vụ viễn thông, cảng biển, bảo vệ môi trường…. để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao một cách bên vững, cũng như tăng cường thu hút ĐTNN với quy mô lớn hơn. Trên cơ sở đánh giá tiềm năng của đất nước cũng như những nhân tố mới có tác động đến dòng vốn ĐTNNm có thể dự báo rằng, nếu những vấn đề mới đặt ra được giải quyết tốt, dòng vốn ĐTNN vào Việt Nam sẽ tiếp tục có xu hướng gia tăng. Vốn cấp mới trong năm 2006 có thể đạt hoặc vượt mức năm 2005, đặc biệt vốn thực hiện sẽ tăng với tốc độ cao hơn năm trước đạt trên 3,6 tỷ USD. Để tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả hơn nữa nguồn vốn ĐTNN, đòi hỏi phải tiếp tục cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư, làm cho Việt Nam thực sự là một trong những địa bàn đầu tư hấp dẫn hàng đầu trong khu vực Đông Nam á. Về môi trường pháp lý cần soạn thảo các văn bản hướng dẫn Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp và ban hành sớm các văn bản này để các nhà đầu tư cũng như các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương có thời gian tìm hiểu và chuẩn bị cho việc áp dụng. Trong quá trình này cần đặc biệt chú trọng việc đảm bảo cho gần 6.000 dự án ĐTNN đã được cấp giấy phép chuyển sang hoạt động theo các luật mới một cách thuận lợi. Đồng thời tiến hành rà soát các chính sách liên quan để kịp thời chỉnh sửa, hoàn chỉnh đảm bảo sự thống nhất của cả hệ thống luật pháp chính sách về đầu tư khẩn trương rà soát các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường để thực hiện theo đúng lộ trình. Về thủ tục hành chính, tậ trung sức can thiệp cơ chế “một cửa ở các cơ quan cấp phép và quản lý đầu tư, tăng cường phân cấp mạnh hơn nữa quản lý đầu tư đi đôi với tăng cường cơ chế phối hợp, giám sát và kiểm tra: giải quyết kịp thời các thủ tục về đất đai, xuất nhập khẩu, hải quan… Về kết cấu hạ tầng, tiếp tục huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước trong đó có việc ban hành quy chế khuyến khích tư nhân đầu tư nâng cấp các công trình giao thông, cảng biển, dịch vụ viễn thông, cung cấp điện nước, phấn đấu không để xảy ra tình trạng thiếu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Để phát huy lợi thế về nguồn nhân lực, cần tăng cường mạnh mẽ công tác đào tạo, nhất là đào tạo nghề với sự tham gia của các tổ chức trong nước và ngoài nước nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu lao động kỹ thuật cao của nhà đầu tư. Về xúc tiến đầu tư, trong năm tới cần triển khai xây dựng các đầu mối xúc tiến đầu tư ở một số địa bàn trọng điểm, đổi mới phương thức xúc tiến đầu tư, nhất là chuyển mạnh sang hình thức vận động đầu tư theo dự án và đối tác trọng điểm. Kinh nghiệm cũng cho thấy cần duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, các Bộ ngành với các nhà đầu tư nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc của các dự án đang hoạt động, đảm bảo các dự án hoạt động có hiệu quả, đúng tiến độ. Một vấn đề khác không kém phần quan trọng là phải khẩn trương ban hành các chính sách hợp lý nhằm phát triển nhanh ngành công nghiệp phụ trợ, đảm bảo giải quyết tốt hơn việc cung cấp nguyên liệu, phụ thùng, linh kiện cho các nhà lắp ráp. trong quá trình đó, cần đặc biệt chú trọng sự liên kết giữa khu vực kinh tế trong nước và nước ngoài, tăng cường tác động lan toả của ĐTNN đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Cuối cùng cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình hành động Dáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn II cũng như chương trình kết nối kinh tế Việt Nam – Singapore nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của nước ta. Mặc dù sẽ phải đối mặt với không ít thách thức, nhưng hoạt dodọng ĐTNN tại Việt Nam đang đứng trước những cơ hội mới. Điều này đòi hỏi phải có sự nỗ lực và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Trung ương và địa phương trong việc cải thiện môi trường đầu tư, nắm bắt cơ hội mới để tạo nên một làn sóng đầu tư nước ngoài mới có hiệu quả, góp phần thực hiện thành công mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. phần 3: đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và nhiệm vụ đặt ra 1. Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Nhìn lại chặng đường 18 năm qua, dù trải qua những bước thăng trầm, nhưng khu vực kinh tế có vốn FDI đã không ngừng mở rộng và phát triển, trở thành bộ phận hữu cơ ngày càng quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới. Thể hiện trên một số mặt chính sau đây: Thứ nhất, dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng, góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triên. Tính từ năm 1988 đến nay, tại Việt Nam có đã có hơn 5.800 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 50 tỷ USD. Vốn thực hiện đạt 34,7 tỷ USD, chiếm trên 20% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội giai đoạn 2001 – 2005. Sau thời kỳ suy giảm do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực diễn ra vào năm 1997, dòng vốn FDI vào Việt Nam trong những năm gần đây đã từng bước phục hồi. Năm 2002 vốn đăng ký mới đạt 2,8 tỷ USD, năm 2003 đạt 3,1 tỷ USD, năm 2004 đã tăng lên 4,4 tỷ USD và năm nay dự kiến sẽ vượt 5 tỷ USD. Tính chung trong 5 năm (2001 – 2005), Việt Nam đã thu hút thêm 18,5 tỷ USD vốn đăng ký mới. Đến nay, đã có trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó trên 100 tập đoàn lớn thuộc danh sách 500 công ty đa quốc gia lớn nhất thế giới do Tạp chí Fortune bình chọn, có đầu tư tại Việt Nam, chjủ yếu phần quan trọngd dến từ các nước trong khu vực châu á. 10 nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam lần lượt là Đài Loan, Singaore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, quần đảo Virgin thuộc Anh, Pháp, Hà Lan, Thái Lan và Malấyi. Thứ hai, quá trình thu hút đầu tư nước ngoài đồng hành với công cuộc đổi mới của Việt Nam và đã có những đóng góp tích cực vào thành công của công cuộc đổi mới trong 20 năm qua. Công cuộc đổi mới được bắt đầu năm 1986 và một năm sau đó, Luật đầu tư nước ngoài được ban hành. Sau 18 năm, đến nay, đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận hữu cơ, năng động của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế Việt Nam. Giá trị kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn FDI tính cả xuất khẩu dầu thô cũng đã liên tục gia tăng từ 6,8 tỷ USD năm 2004 lên 14,5 tỷ USD năm 2004, chiế, 55% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Năm nay kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn FDI ước đạt 17,8 tỷ USD, tăng 23% so với năm 2004. Đóng góp của khu vực kinh tế có vốn FDI vào nền kinh tế gia tăng đáng kể. Năm 2005 đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 15,5% GDP, đóng góp vào ngân sách dự kiến vượt 1 tỷ USD trong năm nay. Đến nay, khu vực kinh tế có vốn FDI tuyển dụng hơn 865 nghìn lao động trực tiếp và trên 2 triệu lao động gián tiếp. Đầu tư nước ngoài cũng tác động tích cực đến các biến vĩ mô như cân đối ngân sách cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán thông qua chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp. Thứ ba, đầu tư nước ngoài đã góp phần tích cực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Về cơ cấu ngành, khu vực kinh tế có vốn FDI chiếm 37% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp quan trọng khác như công nghiệp dầu khí, công nghệ thông tin, hoá chất, lắp ráp ô tô, xe máy, sản xuất thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giầy, dệt may. Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ cũng đã kích thích ngành dịch vụ Việt Nam phát triển nhanh hơn, nhất là trong các ngành viễn thông, du lịch, kinh doanh bất động sản, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng, khu đô thị mới; hầu hết các khách sạn 3 – 5 sao là các khách sạn của doanh nghiệp FDI. Về cơ cấu vùng, đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm đã góp phần làm cho các vùng này thực sự là vùng kinh tế động lực để lôi kép sự phát triển kinh tế chung và các vùng phụ cận. Điều này cũng làm thay đổi bộ mặt và chuyển dịch cơ cáu kinh tế của một loạt địa phương, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới 86% giá trị sản xuất công nghiệp của Bà Rịa Vũng Tàu, 70% của Đồng Nai, 65% của Bình Dương, 46% của Hải Phòng, 35% của Hà Nội và 27% của Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy vậy, tác động của đầu tư nước ngoài đến các địa phương khác còn những hạn chế nhất định nên cần tiếp tục có chính sách ưu đãi, khuyến khích hơn đầu tư nước ngoài vào các vùng khó khăn. Thứ tư, đầu tư nước ngoài là cầu nối quan trọng giữa nền kinh tế Việt Nam và nền kinh tế thế giới, thúc đẩy phát triển thương mại du lịch và tạo điều kiện để Việt Nam hội nhập ngày càng chủ động và sâu sắc hơn vào nền kinh tế thế giới. Các nhà đầu tư đã có mặt ở Việt Nam trước khi Hoa Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam và chính các nhà đầu tư cũng là những người tích cực ủng hộ bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ và việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam. Việc ký kết của các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, Hiệp định đầu tư song phương, Hiệp định Thương mại song phương, đàm phán WTO liên quan đến đầu tư và việc thực hiện các cam kết của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện mở cửa thị trường dịch vụ của Việt Nam cho các nhà đầu tư nước ngoài. Thứ năm, đầu tư nước ngoài có những tác động đến kinh tế trong nước, thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức kinh doanh. Thông qua đầu tư nước ngoài, nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, lợi thế địa lý kinh tế, tài nguyên và tạo điều kiện phân bổ nguồn lực hợp lý. Qua đầu tư nước ngoài doanh nghiệp trong nước có thể học tập mô hình quản lý kinh doanh hiện đại, mở rộng mối liên kết kinh doanh với doanh nghiệp trong nước, phát triển công nghiệp phụ trợ, phụ liệu. Khu vực đầu tư nước ngoài cũng tạo sức ép cạnh tranh qua đó, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước cạnh tranh vươn lên, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện làm quen với phương thức làm ăn theo tiêu chuẩn quốc tế. Khu vực kinh tế có vốn FDI cũng góp phần thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, cải cách doanh nghiệp nhà nước, cải cách hành chính. Các thành quả kể trên đạt được trước hết do đường lối đổi mới đúng đắn của Việt Nam theo hướng chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập quốc tế, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài. Thực hiện nhất quán đường lối đổi mới đó, Chính phủ Việt Nam đã không ngừng cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh. Hệ thống luật pháp, chính sách đầu tư đã không ngừng được hoàn thiện theo hướng ngày càng minh bạch, thông thoáng và thuận lợi hơn cho nhà đầu tư. Chính phủ cũng đã nỗ lực huy động các nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là các hệ thống giao thông, cảng biển, cung cấp năng lượng…Chất lượng nguồn nhân lực cũng đã từng bước được nâng cao thông qua việc đầu tư cho lĩnh vực đào tạo, kể cả cấp trung học và dạy nghề. Một số chi phí đầu vào đã được cắt giảm (như cước phí viễn thông, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, thuế thu nhập cá nhân…). Cơ chế một giá cơ bản đã được áp dụng chung cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài. Một số quy định về sở hữu trí tuệ, nhãn hiệu hàng hoá, chuyển giao công nghệ đã được sửa đổi. Pháp luật mới về đất đai được ban hành đã loại bỏ nhiều thủ tục phiền hà phức tạp, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hỗ trợ nhà đầu tư giải quyết các thủ tục về đất. Hệ thống quy hoạch ngành được rà soát, cập nhật và bổ sung tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Pháp luật cạnh tranh được ban hành đã tạo dựng khuôn khổ pháp lý thúc đẩy hoạt động cạnh tranh lành mạnh. Với sự phát triển năng động của nền kinh tế, sức mua của thị trường trong nước với trên 80 triệu dân đã không ngừng gia tăng. Đồng thời, việc thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và các thoả thuận kinh tế song phương và đa phương khác như Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản, Đề án kết nối hai nền kinh tế Việt Nam - Singapore… đã tạo điều kiện mở rộng thị trường xuất khẩu, giúp các doanh nghiệp khắc phục trở ngại về thị trường tiêu thụ Việt Nam cũng đã tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư và cải tiến về nội dung và hình thức vận động đầu tư. Chính phủ Việt Nam đã duy trì cơ chế đối thoại với các nhà đầu tư nhằm phát hiện các khó khăn, vướng mắc và lắng nghe các ý kiến đề xuất của doanh nghiệp nhằm hoàn thiện chính sách về đầu tư. Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam được định kỳ tổ chức 1 năm 2 lần bên thềm Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ, nơi các doanh nghiệp cả trong và ngoài nước có thể trực tiếp gặp gỡ, trao đổi với lãnh đạo các Bộ, ngành. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã tổ chức nhiều Hội nghị về đầu tư nước ngoài với sự tham gia của Bộ ngành và địa phương để tìm các giải pháp nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài và các giải pháp nằhm thúc đẩy đầu tư nước ngoài và thực hiện các cam kết của Chính phủ. Gần đây trên cơ sở phân tích, đánh giá về môi trường đầu tư cũng như những thuận lợi và thách thức mới, Thủ tướng, chính phủ đã ban hành chỉ thị số 13/2005/CT-TTg ngày 8/4/2005 về một số giải pháp nhằm tạo chuyển biến mới trong công tác thu hút và nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trong đó nêu rõ quan điểm, định hướng thu hút đầu tư nước ngoài và phân công các Bộ, ngành và uỷ ban nhân dân các địa phương khẩn trương thực hiện các công việc cụ thể nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách, quy hoạch, giảm thiểu thủ tục hành chính, và nâng cao chất lượng xúc tiến đầu tư… Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong năm qua vẫn còn những mặt hạn chế cần khắc phục: - Vốn đầu tư đăng ký tuy tăng nhưng vẫn còn ở mức thấp. Năm 2003, vốn đăng ký mới đạt 3,1 tỷ USD chỉ bằng khoảng 40% của năm 1996, năm 2004 bằng 50%, năm 2005 đạt khoảng 65 - 70% của năm 1996. Vốn FDI thực hiện tăng chậm hơn so với đầu tư của các thành phần kinh tế khác. Tỷ trọng vốn FDI thực hiện trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội lại có xu hướng giảm dần vì vốn FDI thực hiện tăng chậm hơn so với đầu tư toàn xã hội giảm từ khoảng 30% trong 5 năm 1991 - 1995 xuống 24% trong giai đoạn 1996 - 2000 và 17% trong năm 2001 - 2005. - Cơ cấu vốn đầu tư nước ngoài có một số bất hợp lý. Trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp mặc dù đã có những chính sách ưu đãi nhất định, nhưng đầu tư nước ngoài còn quá thấp và tỷ trọng vốn FDI đăng ký liên tục giảm. ĐTNN tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi, trong khi có tác động rất hạn chế đến khu vực miền núi phía Bắc, một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và Đồng Bằng sông Cửu Long. - Đầu tư từ các nước phát triển có thế mạnh về công nghệ nguồn như Nhật, EU, Mỹ tăng chậm, những năm gần đây chưa có sự chuyển biến đáng kể. Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã thúc đẩy gia tăng mạnh mẽ kim ngạch buôn bán giữa hai nước nhưng đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam chưa có chuyển biến đáng kể. - Việc cung cấp nguyên liệu, phụ tùng của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp FDI còn hạn chế, làm giảm khả năng tham gia vào chương trình nội địa hoá và xuất khẩu qua các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Nhìn chung, sự liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài và kinh tế trong nước còn lỏng lẻo. - Đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghệ cao còn hạn chế. Việc chậm triển khai các khu vực công nghệ cao đã làm giảm khả năng thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực này. - Khả năng góp vốn của bên Việt Nam còn hạn chế. Bên Việt Nam trong các liên doanh hầu hết là các doanh nghiệp Nhà nước (chiếm 98% tổng vốn đầu tư và 92% tổng số dự án liên doanh) chủ yếu là góp vốn bằng giá trị sử dụng đất nên tỷ lệ góp vốn của Việt Nam không đáng kể. Cho đến nay vẫn còn thiếu cơ chế huy động các nguồn lực khác nhau để góp vốn liên doanh với nước ngoài. 2. Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài Trong giai đoạn 2006 - 2010, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam sẽ được đặt trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Tiến trình đàm phán gia nhập WTO đang được đẩy nhanh để Việt Nam có thể gia nhập WTO vào thời gian sớm nhất; việc thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ trong những năm tới sẽ từng bước mở cửa rộng hơn cho các nhà đầu tư với Nhật Bản và hàng loạt các hiệp định song phương và đa phương khác đang và sẽ được thực hiện sẽ tác động trực tiếp tới hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Trong 5 năm tới, hệ thống luật pháp chính sách về đầu tư nước ngoài cũng sẽ được hoàn chỉnh, đổi mới một cách cơ bản với việc ban hành và thực hiện Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp áp dụng chung cho các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế và các văn bản hướng dẫn theo hướng tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, thuận lợi đối với các nhà đầu tư. Dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới đang có xu hướng tập trung vào lĩnh vực dịch vụ, cùng với việc thực hiện lộ trình mở cửa thị trường trong lĩnh vực này, Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực còn nhiều tiềm năng này. Mặt khác, cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài trong khu vực và giữa các nước đang phát triển trở nên ngày càng găy gắt đang đặt Việt Nam trước những nhu cầu bức thiết phải nâng cao hơn nữa sức cạnh tranh của môi trường đầu tư để tận dụng được cơ hội và thời cơ mới. Trên cơ sở đánh giá tác động của tiến trình hội nhập và căn cứ tiềm năng của đất nước, trong những năm tới Việt Nam sẽ khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới, sản xuất sản phẩm công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin; nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thuỷ sản; sản xuất giống nhân tạo, giống cây và giống con mới; sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh học nghiên cứu, phát triển và ươm tạo công nghệ cao; xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng và các dự án công nghiệp quan trọng; phát triển các ngành dịch vụ, nhất là du lịch, giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục, thể thao; phát triển ngành nghề truyền thống; tiếp tục khuyến khích các dự án sử dụng nhiều lao động. Trong 5 năm tới, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư nước ngoài cũng sẽ được hoàn chỉnh, đổi mới một cách cơ bản về việc ban hành và thực hiện Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp áp dụng chung cho các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế và các văn bản hướng dẫn. Trong giai đoạn tới, nước ta phải tiếp tục đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế nhằm sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển. Nhằm thực hiện mục tiêu đó đòi hỏi phải phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, kể cả nguồn lực trong nước và nước ngoài. Việc tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế đất nước. Nghị quyết Trung ương khoá 9 đã xác định nhiệm vụ tăng cường thu hút nguồn vốn FDI theo hướng “Tạo chuyển biến cơ bản trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, nhất là của các tập đoàn xuyên quốc gia, hướng mạnh hơn nữa vào những ngành, lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn. Mở rộng các lĩnh vực đầu tư và đa dạng hoá các hình thức đầu tư nước ngoài phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế”. Hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt nam sẽ được đặt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Việt Nam sẽ là thành viên của WTO; việc thực hiện Hiệp định quốc tế song phương và đa phương của Việt Nam sẽ từng bước mở cửa rộng hơn cho các nhà đầu tư theo llộ trình cam kết; đồng thời, hệ thống luật pháp chính sách về đầu tư nước ngoài sẽ được hoàn chỉnh, đổi mới một cách cơ bản với việc ban hành và thực hiện Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp áp dụng chung cho các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế và các văn bản hướng dẫn theo hướng tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, thuận lợi với các nhà đầu tư. Bên cạnh đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới đang có xu hướng tập trung vào lĩnh vực dịch vụ cùng với việc thực hiện lộ trình mở cửa thị trường trong lĩnh vực này, Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực còn nhiều tiềm năng này. Mặt khác, cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài trong khu vực và giữa các nước đang phát triển ngày càng gay gắt đang đặt Việt Nam trước những nhu cầu bức thiết phải nâng cao hơn nữa sức cạnh tranh của môi trường đầu tư - kinh doanh để tận dụng được cơ hội và thời cơ mới. Song với những lợi thế của Việt Nam trong con mắt cộng đồng doanh nghiệp quốc tế: Việt Nam có nguồn lực trẻ, được giáo dục tốt, chịu khó và dễ thích nghi với những điều mới mẻ, chúng ta hoàn toàn tin vào sự hiện thực của mục tiêu mà Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu là “đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000. Nâng cao rõ rệt, hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế; đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô; cán cấn thanh toán quốc tế lành mạnh và tăng dự trữ ngoại tệ…”. Để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng trên, ước tính nhu cầu các nguồn vốn cho đầu tư phát triển 5 năm tới (2006 - 2010) dự báo trên 2.200 nghìn tỷ đồng tương đương 139,4 tỷ USD. Bên cạnh việc huy động vốn nguồn vốn trong nước ở mức tương đối cao, nguồn vốn huy động từ bên ngoài, gồm cả vốn FDI, viện trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn đầu tư gián tiếp và kiều hối, khoảng 48,8 tỷ USD chiếm khoảng 35%. Vấn đề đặt ra trong 5 năm tới phải tăng cường huy động vốn FDI thực hiện để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu không chỉ của Đảng, Chính phủ mà còn của toàn ngành Kế hoạch và Đầu tư. Kết luận Qua những gì đã phân tích ở trên, ta có thể đưa ra nhưng kết luận sau: Một là, môi trường đầu tư tại Việt Nam là rất tốt, kể cả còn nhiều khó khăn và nhu cầu cần phải cải cách ở nhiều khâu nhưng có thể khẳng định rằng nhiều cải tiến trong những năm qua về môi trường đầu tư vào Việt Nam đã được các nhà đầu tư công nhận và đánh giá đạt yêu cầu. Những mặt mạnh nổi bật là sự ổn định an ninh chính trị, chất lượng lao động cao - điểm được đánh giá rất cao, chi phí sản xuất thấp. Bên cạnh đó là thị trường đầy tiềm năng và một nền kinh tế năng động. Việt Nam vốn nhiều nhà đầu tư nước ngoài thì khai thác thị trường là lý do chủ yếu còn việc chuyển dịch sản xuất thì đang dần được quan tâm. gần đây Việt Nam được biết đến như là một nơi thích hợp để sản xuất xuất khẩu. Điềunày cũng được minh chứng qua sự hài lòng của các nhà đầu tư. Việt Nam đáng là địa điểm để các nhà đầu tư cân nhắc. Hai là, Chính phủ Việt Nam nhận thức được tầm quan trọng của công việc xúc tiến đầu tư trực tiếp. Chính phủ đã đưa ra chiến lược xây dựng một kế hoạch tổng thể cho vấn đề này Nghị quyết 01/2004/NQ-CP của Chính phủ đã một lần nữa nhấn mạnh: “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong đó cải thiện môi trường đầu tư là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu”. Bên cạnh việc việc cải thiện môi trường đầu tư thì các chiến dịch nhằm quảng bá cho thương hiệu việt Nam cũng đã và đang tiến hành. Cùng với đó, vai trò của các tổ chức xúc tiến đầu tư cũng rất được coi trọng. Đó như là những nhịp cầu nối giữa Việt Nam và quốc tế lại gần nhau hơn. Trên đây là toàn bộ nội dung đề tài “FDI của nước ngoài vào Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”. Do thời gian chuẩn bị và hoàn thiện đề tài còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong có được những nhận xét, góp ý của thầy cô và các bạn để đề tài đầy đủ, hoàn thiện nhất. Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 4 năm 2006 Sinh viên Nguyễn Văn Hoài Danh mục tài liệu tham khảo 1. Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 322 tháng 03 năm 2005 2. Website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư www.mpi.gov.vn 3. Trang thông tin điện tử www.Tuoitre.com.vn hoặc www.tienphongonline.com.vn 4. Tạp chí Kinh tế dự báo số 12/2005. Mục lục Trang

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc32670.doc