Đề tài Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư, giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ, TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 3 I. Đầu tư và phân loại đầu tư.3 1. Khái niệm về đầu tư.3 2. Phân loại đầu tư.4 II. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế.7 III. Khái niệm về phát triển kinh tế.8 CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THÔNG QUA CÁC LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ ĐẦU TƯ10 I. CÁC LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ 10 1. Số nhân đầu tư. 10 2. Gia tốc đầu tư. 11 3. Quỹ nội bộ của đầu tư. 15 4. Lí thuyết tân cổ điển. 16 5. Mô hình Harrod - Domar. 19 II. PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 20 1. Đầu tư kích thích tổng cầu nền kinh tế:.20 1.1. Vai trò của đầu tư với tổng cầu thông qua mô hình số nhân của Keynes:20 1.2. Vai trò của đầu tư thông qua các chính sách kinh tế:. 21 2. Đầu tư là cú huých bên ngoài thoát khỏi vòng luẩn quẩn:21 3.Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.22 4. Đầu tư phát triển tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 23 5. Tác động của đầu tư phát triển đến khoa học và công nghệ. 25 CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM.27 I. Đánh giá chung về tác động của đầu tư tới tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam27 II. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư,thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế Việt Nam .34 1. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư:34 2. Đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng. 35 3. Nâng cao hiệu quả quản lí của Nhà Nước, cải thiện môi trường pháp lí, đơn giản hóa thủ tục hành chính. 35 4. Khuyến khích đầu tư hiệu quả trên tất cả lĩnh vực. 36 5. Chú trọng đầu tư nguồn nhân lực. 37 6. Tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư. 38 CHƯƠNG 4: XU HƯỚNG ĐẦU TƯ,TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY ĐẾN NĂM 2020.39 I. Xu hướng đầu tư Việt Nam hiện nay đến năm 2020. 39 1. Lĩnh vực đầu tư. 39 2. Đầu tư vào vùng lãnh thổ. 40 3. Cơ cấu đầu tư của các thành phần kinh tế. 41 II. Xu hướng tăng trưởng và phát triển kinh tế Viêt Nam hiện nay đến năm 202043 1. Đối với tăng trưởng kinh tế. 43 2. Đối với thương mại46 3. Đối với các ngành kinh tế. 47 KẾT LUẬN 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI MỞ ĐẦU Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986, một trong những mục tiêu chiến lược xuyên suốt được Đảng và Nhà Nước đặc biệt quan chú trọng là vai trò của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Kể từ khi luật đầu tư được ban hành đã thu hút được rất nhiều các dự án, đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển, ổn định nền kinh tế vĩ mô, năng cao năng lực và trình độ của nền kinh tế, góp phần chuyển dịch nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách, tạo công ăn việc làm mới, góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập của Việt Nam trong khu vực và Quốc tế . Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày một phát triển sâu rộng như hiện nay thì đầu tư đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các nước. Đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, trình độ sản xuất còn yếu kém. Bởi vậy đối với Việt Nam đầu tư lại càng có tầm quan trọng đặc biệt. Tuy nhiên trong vài năm gần đây tình hình thu hút và thực hiện đầu tư ở nước ta còn chưa cao, hiệu quả đầu tư còn thấp do một số nguyên nhân khách quan như: Sự sụt dốc của nền kinh tế toàn cầu, hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ của khu vực. cạnh tranh tu hút đầu tư trên thế giới diễn ra gay gắt, đặc biệt là giữa các nước đang phát triển trong đó có Trung Quốc. Đáng lo ngại hơn là có một số nguyên nhân chủ quan: Quan điểm, nhận thức về thu hút, thực hiện đầu tư chưa thống nhất, nhu cầu thị trường nội địa thấp, chi phí kinh doanh cao, thủ tục hành chính phức tạp, hệ thống kết cấu hạ tầng yếu kém, môi trường pháp lý còn nhiều hạn chế Ngoài ra các dự án đầu tư vào nước ta chưa thực sự phát huy tác dụng, hiệu quả đối với nền kinh tế và sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Từ thực tế này, từ trước đến này đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu kinh tế đã nghiên cứu bản chất, nguyên nhân để tìm ra các giải pháp tích cực để đầu tư có hiệu quả, đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội và qua đó giải thích được tác động của đầu tư đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Chúng ta có thể vận dụng các mô hình kinh tế này để phân tích ảnh hưởng của đầu tư đối với nền kinh tế qua môt số lý thuyết và mô hình tiêu biểu như lý thuyết số nhân đầu tư, lý thuyết gia tốc đầu tư, lý thuyết quĩ nội bộ đầu tư, lý thuyết tân cổ điển, mô hình Harod-Domar hay mô hình của Solow. 51

doc45 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 04/06/2013 | Lượt xem: 275 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư, giải thích vai trò của đầu tư với tăng trưởng và phát triển kinh tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hách đến Việt Nam. Vốn ODA đổ về Việt Nam cũng là một lượng rất lớn. Năm 2006 là 4,45 tỷ USD, năm 2007 là 5,4 tỷ USD, theo báo cáo của bộ kế hoạch và đầu tư tài trợ vốn ODA năm 2008 đạt trên 1,281 tỷ USD trong đó vốn vay đạt 1,216 tỷ và vốn viện trợ đạt 65 triệu USD và theo sự báo nguồn vốn này sẽ khả quan hơn trong những tháng cuối năm. Đáng chú ý là bên cạnh nguồn vốn đầu tư của các dự án mới thì còn có sự bổ xung của các dự án cũ của những năm trước. Nguồn vốn này đã giúp chúng ta rất nhiều trong việc điều hành sản xuất, cải thiện môi trường đầu tư, xoá đói giảm nghèo... Tuy nhiên chúng ta đang phát triển mạnh và sẽ dần mất đi khoản tiền từ nguồn vốn ODA này. Sau 20 năm thực hiện chính sách mở cửa, nguồn vốn FDI đã góp phần bổ xung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, tăng cường tiềm lực khai thác và nâng cao hiệu quả sự dụng các nguồn lực trong nước như thuỷ điện, dầu mỏ.... Theo bộ kế hoạch và đầu tư năm 2007 cả nước đã thu hút được hơn 9.500 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỉ USD (gồm cả vốn cấp mới và vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động hoặc giải thể trước thời hạn, hiện còn khoảng 8.590 dự án còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 83,1 tỉ USD. Trong số này, đã có khoảng 50% số dự án triển khai góp vốn thực hiện đạt hơn 43 tỉ USD, chiếm 52,3% tổng vốn đăng ký. Hiện khu vực có vốn ĐTNN đã đóng góp trên 17% GDP, chiếm 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đạt giá trị doanh thu trong 2 năm 2006-2007: 69 tỉ USD, trong đó giá trị XK (trừ dầu thô) đạt 28,6 tỉ USD, chiếm 41% tổng doanh thu. Với cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài thường tập trung vào các nghành công nghiệp dịch vụ và xây dựng. Các dự án đầu tư chủ yếu tập trung vào các tỉnh thành phía nam như TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai và các tỉnh trọng điểm phát triển ở phía bắc là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. 2.2 Những vấn đề còn tồn tại. Do nhà nước chúng ta mới bước vào nền kinh tế thị trường nên luật về đầu tư còn chưa được hoàn chỉnh. Thủ tục đăng ký còn rườm rà, mất thời gian. Chính vì thế đã làm cho các doanh nghiệp ngại trong việc đầu tư, đồng thời khi có thể đầu tư thì doanh nghiệp còn có thể bị mất cơ hội do thời gian thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư quá dài dòng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng bị ảnh hưởng bởi thủ tục hành chính này, số lượng các nhà đầu tư nước ngoài cũng giảm do quá trình xin giấy phép đầu tư tại Việt Nam tương đối rắc rối. Việc sử dụng vốn đầu tư ở Việt Nam còn kém hiệu quả dẫn tới lãng phí nguồn vốn và còn ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn viện trợ vốn ODA. Hiện nay Việt Nam để có tăng trưởng 1% GDP cần đến 4,86% vốn, đấy là một tỷ lệ rất là cao. Như ta đã thấy để có một tốc độ phát triển cao cần phải có một lượng vốn lớn nên khi chúng ta ngày cang phát triển thì càng cần một lượng vốn rất lớn. Việc tăng trưởng dựa vào vốn là không tốt cho việc phát triển lâu dài. Ngoài ra, việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất ở Việt Nam còn yếu kém nên dẫn đến việc tăng hiệu quả sử dụng vốn càng thêm khó đặc biệt cho các công ty trong nước còn các công ty nước ngoài thì khi đầu tư vào họ sẽ mang công nghệ mới đến nên năng suất rất cao. Ngoài ra nguồn vốn của Việt Nam còn được sử dụng quá nhiều vào bất động sản, đầu tư vào vàng những hoạt động không tạo ra thêm của cải cho xã hội. Qua những số liệu ở trên ta thấy Việt Nam đang đi trên con đường phát triển của mình. Và chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Tuy nhiên con đường để chúng ta trở thành một nước công nghiệp còn rất chông gai. Tiêu biểu là sự cắt giảm dần nguồn vốn ODA và trong tương lai Việt Nam sẽ không còn được viện trợ ODA nữa. Nhưng bù vào đó là Việt Nam đang càng ngày càng thu hút một lượng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ngày càng lớn. Với phương châm sử dụng vốn của Việt Nam là nguồn vốn trong nước là chủ đạo còn vốn từ nước ngoài là bổ xung quan trọng thì nguồn vốn này gia tăng sẽ rất có lợi cho Việt Nam. Nhưng chúng ta không thể chấp nhận đầu tư bằng bất cứ giá nào. Cần phải có sự thẩm định rõ rang của các ngành các cấp xem dự án đầu tư đó có ảnh hưởng tiêu cực nhiều đến các nhân tố khác hay không (vd: môi trường…). Tuy nguồn vốn này trong những năm gần đây đã gia tăng nhiều nhưng chúng ta vẫn cần phải cải thiện các chính sách nhiều để thu hút them FDI trong thời gian tới. II/ Phân tích và đánh giá vai trò của đầu tư đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam 1. Đánh giá chung về tác động của đầu tư tới tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam Để tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững thì một trong những điều kiện cực kỳ quan trọng đối với mọi quốc gia là phải mở rộng đầu tư. Người ta hay nói đến một trong những nguyên nhân chính làm cho kinh tế của 5 con rồng Châu Á tăng trưởng nhanh trong một thời gian dài là do vốn đầu tư phát triển tăng liên tục và thường chiếm khoảng 30% trong GDP. Năm 2007 so với năm 2006, tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội của Việt Nam là 15,8%, chiếm 40,4% trong GDP. Chia theo thành phần kinh tế thì tốc độ tăng trưởng đầu tư của các khu vực như sau: - Vốn khu vực Nhà nước 200 nghìn tỷ đồng, chiếm 43,3% tổng vốn và tăng 8,1%. - Vốn khu vực ngoài Nhà nước 187,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,7% và tăng 24,8% - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 74,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 16% và tăng 17,1%. Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997. Năm 1998, tăng trưởng GDP giảm xuống 4% do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997, sau đó lại tăng lên đến 4,8% năm 1999. Trong những năm 2000 - 2003, tăng trưởng GDP tăng từ 6% đến 7% trong khi tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái. Từ năm 2003, tăng trưởng kinh tế đã có sự phục hồi, tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2003 - 2007 đạt 8,04%. So sánh với các nước trong khu vực, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam đứng thứ 2 sau Trung Quốc, cao hơn các nước ASEAN khác như Inđônêsia, Thái Lan, Malaysia và Philipin. Mặc dù đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng trong giai đoạn 1990 - 2007, nhưng tăng trưởng của Việt Nam những năm qua chủ yếu dựa vào những nhân tố theo chiều rộng. Chất lượng tăng trưởng đã được cải thiện thể hiện qua sự tăng lên của năng suất của các yếu tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng GDP hàng năm, từ 14,8% (1992 - 1997) lên 22,6% (1998 - 2002) và 28,2% (2003 đến nay), tuy nhiên tăng trưởng do yếu tố vốn chiếm tới 52,73% và do yếu tố lao động chiếm 19,07%. Tỷ lệ đóng góp của các yếu tố tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam cho thấy vốn vẫn là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế. Bảng 1: Đóng góp của các yếu tố đầu vào trong tăng trưởng GDP Việt Nam Đơn vị: % 1993 - 1997 1998 - 2002 2003 - 2006 Vốn 69,3 57,4 52,73 Lao động 15,9 20 19,07 TFP 14,8% 22,6% 28,2% Nguồn: Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế TW và Thời báo kinh tế Việt Nam Xem xét tốc độ tăng GDP và sự biến đông của đầu tư trong GDP cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Việt Nam gắn liền với sự gia tăng mạnh mẽ của đầu tư trong GDP. Nếu như trong thời kỳ 1986 - 1990 đầu tư chỉ là 12,6% thì tốc độ tăng trưởng cũng chỉ đạt 4,3%. Trong khi đó, giai đoạn 1991 - 1995 tỷ lệ đầu tư lên tới 22,3% thì tốc độ tăng GDP lên tới 8,2%. Trong giai đoạn 1996 - 2000 tỷ lệ đầu tư trong GDP đạt 33,2% tốc độ tăng GDP giảm nhẹ xuống còn gần 7%. Đặc biệt trong giai đoạn 2001 - 2007, tỷ lệ đầu tư tăng mạnh lên 38,8% thì tốc độ tăng GDP là 7,62%. Sự sụt giảm của tốc độ tăng trưởng thời kỳ 1998 - 2003 một phần là do khủng hoảng tài chính trong khu vực và do cơ chế chính sách ngày càng không theo kịp với tình hình mới làm cho hiệu quả của vốn đầu tư giảm sút nhanh, dẫn tới tỷ lệ đầu tư trong GDP tăng nhanh trong khi tốc độ tăng GDP vẫn chưa được phục hồi so với trước khi khủng hoảng. Giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ vận động và chuyển hoá. Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng thường theo chiều thuận, nghĩa là đầu tư lớn thì tăng trưởng cao. Tuy nhiên cũng có những trường hợp diễn biến theo chiều ngược lại, đầu tư lớn mà không hiệu quả, hoặc lỗ nhiều. Có những trường hợp đầu tư chưa đem lại hiệu quả ngay như đầu tư vào các dự án trung và dài hạn, đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Vốn đầu tư phát triển được đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau, độ trễ về thời gian phát huy tác dụng để tăng trưởng kinh tế cũng rất khác nhau. Chẳng hạn, nếu đầu tư cho sản xuất thì có những lĩnh vực phát huy tác dụng ngay trong năm như vốn mua sắm phương tiện vận tải, vốn đầu tư xây dựng khách sạn, nhà hàng, ... Song nếu đầu tư cho việc trồng cây lâu năm như cao su, trồng quế, ... thì phải từ 7 đến 10 năm sau mới có kết quả. Còn nếu như đầu tư cho giáo dục - đào tạo, đầu tư cho nghiên cứu khoa học thì thời gian của độ trễ còn dài hơn so với đầu tư cho sản xuất. Chính do độ trễ và sự chuyển dịch trong cơ cấu đầu tư làm cho tốc độ tăng trưởng GDP không hoàn toàn tỷ lệ thuận theo một hằng số với vốn đầu tư phát triển. * Nghiên cứu xu hướng vận động của vốn đầu tư phát triển theo thành phần kinh tế: Bảng 2: Cơ cấu GDP chia theo thành phần kinh tế tính theo giá hiện hành Đơn vị: % 2000 2002 2004 2006 2007 Khu vực kinh tế Nhà nước 59,1 57,3 48,1 45,7 39,9 Khu vực kinh tế tư nhân 22,9 25,3 37,7 38,1 35,3 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư NN 18 17,4 14,2 16,2 24,8 Nguồn: Tổng cục thống kê Do nhịp độ tăng trưởng vốn đầu tư phát triển của các khu vực kinh tế rất khác nhau qua các năm đã dẫn đến sự thay đổi tỷ trọng vốn đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế. Khu vực kinh tế tư nhân trong những năm qua có sự khuyến khích đầu tư nhờ có Luật đầu tư trong nước, Luật doanh nghiệp, bãi bỏ nhiều rào cản để cải tạo đà thu hút vốn đầu tư cho sản xuất, xây dựng nhà ở,... nên đã tăng nhanh về tốc độ. Dựa vào bảng số liệu ta thấy, năm 2007 vốn đầu tư phát triển trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển mạnh mẽ. Việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên WTO và những quy định phân cấp quản lý đầu t ư về cho các địa phương đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nhanh chóng vào Việt Nam. Tuy nhi ên, ngược với thành tích “gọi tiền”, khả năng “tiêu tiền” - hấp thụ vốn của môi trường đầu tư đã không theo kịp tốc độ phát triển. Vốn FDI kéo về rất cao 20,3 tỷ USD nhưng vốn thực hiện được lại rất khiêm tốn chỉ 4,5 tỷ USD. Có 2 vấn đề chính làm cản ngại giải ngân, đó là hạ tầng cơ sở còn yếu kém, và hai là nguồn nhân lực, thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập. Giám đốc Trung tâm xúc tiến đầu tư (XTĐT) Bến Tre cho rằng, công tác XTĐT có 6 điểm yếu: thẩm quyền của cơ quan XTĐT mờ nhạt chưa đặt đúng vị trí nên phải đi lòng vòng bên ngoài; nguồn nhân lực chưa chuyên nghiệp và kỹ năng ngôn ngữ hạn chế nên giới hạn phạm vi tiếp xúc trực tiếp; kinh phí thiếu; thông tin quảng bá đơn điệu, chậm cập nhật; sự phối hợp giữa cơ quan XTĐT với các sở, ngành còn khó khăn do vai trò của cơ quan XTĐT chưa được coi trọng; cơ quan XTĐT thiếu tính chủ động, lẽ ra phải đi tìm kiếm nhà đầu tư thì vẫn còn ngồi chờ họ tìm đến. Bộ KH - ĐT cho rằng, hoạt động XTĐT chưa có sự phối hợp giữa địa phương với các bộ, ngành trung ương từ việc xây dựng chương trình XTĐT, danh mục kêu gọi dự án đầu tư, tổ chức sự kiện… Ngành công nghiệp phụ trợ ở VN còn quá yếu, gây khó khăn trong việc vận động các dự án công nghiệp và cũng khiến dự án khó triển khai. Tình trạng thiếu nhân sự quản lý, thiếu lao động lành nghề, lao động có trình độ cao, biết ngoại ngữ… khiến nhà đầu tư khó khăn trong việc thực hiện dự án. Theo đại diện Sở Kế hoạch - Đầu tư TP.HCM, trở ngại hiện nay là chưa có quy định ngành nghề rõ ràng, chưa phù hợp các thông lệ quốc tế. Do đó khi hướng dẫn và thẩm tra cấp giấy chứng nhận đầu tư, cơ quan quản lý đều phải sử dụng hệ thống phân ngành của Liên hiệp quốc mà Việt Nam tham gia ký kết trong cam kết WTO.  * Nghiên cứu xu hướng vận động của vốn đầu tư phát triển theo nhóm ngành kinh tế: Chủ trương phát triển của Đảng và Nhà nước có sự điều chỉnh trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể cho phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước. Để có được sự điều chỉnh cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải có sự điều chỉnh về cơ cấu đầu tư. Bảng 3: Vốn đầu tư theo giá thực tế phân theo ngành kinh tế Đơn vị: % 2000 2002 2004 2006 2007 Nông, lâm, thuỷ sản 13,85 8,76 7,89 7,43 6,5 Công nghiệp, xây dựng 39,23 42,34 42,75 42,24 43,49 Dịch vụ 46,92 48,9 49,36 50,33 50,01 Nguồn: Tổng cục thống kê Nhìn chung xu hướng vận động của tỷ trọng vốn đầu tư phát triển theo nhóm ngành kinh tế diễn ra chậm chạp. Vốn đầu tư của khu vực I có suy giảm nhẹ; khu vực II và khu vực III tăng lên nhưng chậm rãi. Nền kinh tế Việt Nam đang diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, t ỷ trọng đóng góp trong GDP của khu vực nông nghiệp đã giảm từ 21,7% năm 2004 xuống 19% năm 2005 trong khi khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng từ 40,1% năm 2004 lên 41% và khu vực dịch vụ tăng từ 38,2% lên 39%. Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2003 - 2007 đạt 8,04%. Tốc độ tăng trưởng của chúng ta trong năm 2007 trong khu vực chỉ đứng sau Trung Quốc (theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á – ADB). Trong năm 2007 cả ba khu vực nông - lâm nghiệp - thủy sản, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ đều nỗ lực vượt qua khó khăn để đóng góp vào tăng trưởng chung của cả nền kinh tế. Trong đó, dịch vụ được xem là điểm sáng nhất. Nếu như năm 2006, khu vực này tăng trưởng với mức 8,29% thì năm nay đạt 8,68%. Cơ cấu đóng góp trong GDP cũng nâng từ mức 38,08% năm ngoái, lên 38,14%. Tỷ trọng đóng góp của công nghiệp và xây dựng trong GDP cũng cải thiện hơn năm 2006, chiếm 41,61% (so với con số 41,52% năm ngoái). Tốc độ tăng trưởng của khu vực này năm 2007 đạt 10,6% (tăng nhẹ so với mức 10,37% cùng kỳ). Khu vực nông nghiệp gặp khó khăn do thiên tai và dịch bệnh, song không sa sút so với năm 2006, đạt tốc độ tăng trưởng 3,41% (kết quả của năm ngoái là 3,4%). Tuy nhiên, tỷ trọng đóng góp trong GDP giảm từ mức 20,40% năm ngoái xuống 20,25% trong năm 2007. Từ thực tế trên cho thấy: để đảm bảo tăng trưởng GDP một cách bền vững cần phải tăng cường đầu tư phát triển và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư đó. Đồng thời phải mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu đầu tư có kết quả là thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 2. Đầu tư tác động tới tổng cung, tổng cầu của nền kinh tế Đầu tư tác động lên t ăng trưởng kinh tế ở cả 2 mặt: tổng cung và tổng cầu. Về mặt cầu : Yếu tố đầu tư là một nhân tố của hàm tổng cầu có dạng: Y = C + I + G + X - M Trong kinh tế vĩ mô cũng như trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) Y là GDP; C là tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình; I là đầu tư; G là chi tiêu dùng của nhà nước; X là xuất khẩu và M là nhập khẩu. Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ tổng cầu của nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24% đến 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn. Xét theo mô hình kinh tế vĩ mô, đầu tư là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu. Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư làm cho tổng cầu tăng (trong điều kiện các yếu tố khác không đổi). Tại Việt Nam, đầu tư ngày càng được mở rộng và chiếm vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cầu của các yếu tố liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp nâng cao đời sống người lao động, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng kinh tế. Việt Nam là đất có dân số đông, đất nông nghiệp ngày càng giảm cả về số lượng và chất lượng. Từ thực tế đó, Việt Nam đã đầu tư sang công nghiệp và dịch vụ nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Vốn đầu tư trong ngành nông nghiệp đã giảm từ 13,85% năm 2000 xuống còn 6,5% năm 2007, còn trong ngành công nghiệp tăng từ 39,23% (2000) lên 43,49% (2007) và vốn đầu tư trong ngành dịch vụ tăng từ 46,2% (2000) lên 50,01% (2007). Theo thống kê ở Việt Nam từ năm 1990-2007 hộ gia đình tíết kiệm được 10,3% và đầu tư 4,2%, thặng dư 6,1%. Từ đó ta thấy nguồn vốn trong dân của chúng ta cũng đóng vai trò rất quan trọng. Năm 2004 nguồn vốn trong dân cư đạt 69,5 nghìn tỷ đồng. Trong những năm qua, Nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ đầu tư cho các ngành, các vùng. Đồng thời tạo môi trường đầu tư thông thoáng, chế độ pháp lý ngày càng hoàn thiện nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nhờ đó, nền kinh tế tăng trưởng và phát triển không ngừng. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư vào các ngành, các vùng chưa cao. Khả năng giải ngân vốn FDI còn thấp, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp biểu hiện ở hệ số ICOR trong thời kỳ 1991 - 2000 khá cao trung bình khoảng 4,86%. Về mặt cung : tổng cung của nền kinh tế gồm hai nguồn chính là cung trong nước và cung nước ngoài. Bộ phận chủ yếu, cung trong nước là một hàm của các yếu tố sản xuất: Q = F (K, L, T, R…) Trong đó: K: Vốn đầu tư L : lao động T: Công nghệ R: Nguồn tài nguyên Sau giai đoạn thực hiện đầu tư là giai đoạn vận hành kết quả đầu tư. Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động làm cho tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng. Sản lượng tăng làm giá giảm dẫn tới tiêu dùng tăng. Từ đó, kích thích phát triển kinh tế. Tại Việt Nam, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, máy móc kỹ thuật ngày càng mở rộng làm cho nền sản xuất ngày càng hiện đại, nâng cao năng suất. Việt Nam đang chú trọng đầu tư cho khoa học công nghệ. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Giáo dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách  hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Tăng qui mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế, nếu các yếu tố khác không đổi. Đồng thời, tác động của vốn đầu tư còn được thực hiện thông qua hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ…Do đó, đầu tư gián tiếp làm tăng tổng cung của nên kinh tế. Hiện nay, đầu tư để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nghiên cứu khoa học công nghệ ngày càng được chú trọng. Hàng năm nguồn vốn đầu tư cho khoa học công nghệ chiếm khoảng 2% ngân sách Nhà nước và tiếp tục tăng đầu tư, huy động các nguồn lực khác cho khoa học công nghệ. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu hợp tác công nghệ, thực hiện các chính sách bảo hộ trí tuệ. Có chính sách đãi ngộ đặc biệt với các nhà khoa học có công trình nghiên cứu xuất sắc. Vì thế đã thu được 1 số thành tựu đáng kể, nền kinh tế ngày càng chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tuy nhiên, hoạt động của khoa học công nghệ nước ta còn nhiều bất cập, trình độ lao động còn thấp, chưa theo kịp được các nước trong khu vực và thế giới. Các dự án công nghệ đạt hiệu quả thấp, cán bộ khoa học có trình độ cao còn ít và chưa được sử dụng hợp lý. 3. Vai trò của đầu tư nước ngoài trong việc thúc đẩy nền kinh tế Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài trong những năm gần đây liên tục tăng nhanh qua từng năm. Năm 2007 là năm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vượt xa mọi kỳ vọng, đạt 20,3 tỷ USD. Trong 7 tháng đầu năm 2008, ước tính các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã góp vốn thực hiện dạt 6 tỷ USD, tăng 42,9% so với cùng kỳ năm trước. Khối doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thu hút thêm khoảng 16000 lao động, đưa tổng số lao động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tính đến thời điểm này là 1,38 triệu lao động, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước, góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ, trình độ quản lý, mở rộng thị trường. Cơ cấu thu hút vốn đầu tư nước ngoài ngày càng phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta. Dòng vốn vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng nhưng đang có xu hướng chuyển từ lượng sang chất. Năm 2007 đã cấp phép cho nhiều dự án nghiêng về công nghệ cao và các lĩnh vực then chốt như điện, điện tử, linh kiện, các dự án IT, máy tính xách tay…Trong lĩnh vực dịch vụ cũng có nhiều khởi sắc do ta mở rộng các điều kiện đầu tư theo cam kết hội nhập. Nhiều tổ hợp bất động sản lớn ra đời, những khu văn phòng, khách sạn chất lượng 5 sao đang tăng lên nhanh chóng, trong đó có nhiều dự án có chất lượng công nghệ cao như tổ hợp bất động sản Kangnam… Trong 7 tháng đầu năm 2008, Đài Loan tiếp tục đứng đầu trong số 35 quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam (82 dự án, vốn đầu tư 8,4 tỷ USD, chiếm 18,9% tổng vốn đăng ký). Ở các vị trí tiếp theo lần lượt theo thứ tự là Nhật Bản (65 dự án, vốn đầu tư 7,2 tỷ USD, chiếm 16,2%); Malaysia (28 dự án, vốn đầu tư 5,07 tỷ USD, chiếm 11,3%); Brunei (14 dự án, vốn đầu tư 4,3 tỷ USD, chiếm 9,8%); Canada(9,5%); Singapore (9%); Thái Lan (8,9%)… Với vai trò của đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng đã thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hoá ở nước ta. Tại diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam tổ chức tại Hà Nội ngày 2/6/2008, đại diện các nhà đầu tư Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản đều phát biểu mặc dù nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với những thách thức lớn nhưng các nhà đầu tư đều nhìn nhận Việt Nam vẫn có sức hút lớn đối với các nhà đầu tư trong thời gian tới. Có được những thành tựu trên là do Chính phủ đã nỗ lực tạo môi trường đầu tư - kinh doanh hấp dẫn hơn, cởi mở và minh bạch. Các Bộ, ngành và địa phương thực hiện các biện pháp chỉ đạo hữu hiệu của Thủ tướng Chính phủ về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên do cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực không theo kịp tốc độ phát triển. Cơ sở vật chất và nhân lực phục vụ công tác thông tin còn thiếu và yếu so với nhu cầu. Nên đầu tư nước ngoài ở Việt Nam vẫn tồn tại 1 số bất cập. - Theo đánh giá của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) ngày 18/6/2008 lần đầu tiên công bố Bảng xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ có môi trườn thuận lợi vơi thương mại quốc tế năm 2008, Hồng Kông và Singapore giành vị trí thứ nhất và nhì trong 118 nền kinh tế do có “môi trường thân thiện” với thương mại quốc tế. Trong khi đó, Việt Nam ở hạng 91 do chỉ số tiếp cận thị trường chỉ đạt 112/118, còn về chỉ số hàng rào thuế quan đứng ở vị trí 114/118 (thấp nhất trong các nước ASEAN) tuy có 1 số chỉ số xếp hạng khả quan như hiệu quả trong dịch vụ bưu điện (33), khả năng tiếp thu công nghệ (43), an ninh vật chất (45), chỉ số về an ninh (46), dịch vụ vận tải (48). - Theo đánh giá điều tra doanh nghiệp mới đây, thì chi phí thuê văn phòng ở Hà Nội hiện đang đứng thứ 5 trong khu vực Châu Á; chi phí vận chuyển đường biển đến và đi ở Đà Nẵng cao nhất trong khu vực; chi phí thuê nhà ở của người nước ngoài ở Thành Phố Hồ Chí Minh hiện cũng ở mức rất cao trong khu vực (xấp xỉ Singapore và gấp đôi tại Seoul). Chi phí đầu tư cao là thách thức lớn cho thu hút và giải ngân vốn FDI trong thời gian tới. - Việc cung cấp thông tin đầu tư trực tiếp nước ngoài của các địa phương lên trung ương vừa thiếu vừa không kịp thời, khiến cho công tác chỉ đạo điều hành cũng bị động, thiếu chuẩn xác. Do vậy, công tác dự báo về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với cơ quan quản lý nhà nước cực kỳ nan giải và khó khăn. Dự thảo báo cáo nghiên cứu về “chính sách đầu tư của Việt Nam” đã phân tích xu thế dòng vốn đầu tư nước ngoài, môi trường đầu tư của Việt Nam và từ đó, đưa ra những gợi ý chính sách nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Phần lớn đầu tư của Việt Nam thời gian vừa qua tập trung vào lĩnh vực sản xuất hướng xuất khẩu. Đã đến thời điểm, chúng ta phải xem xét chiến lược đầu tư mở rộng sang các lĩnh vực mới. Các khuyến nghị liên quan đến khung chính sách đầu tư để Việt Nam thực hiện tốt tiềm năng thu hút đầu tư và thu thêm được nhiều lợi ích: - Chính phủ cần chuyển từ đường lối “kiểm soát và chỉ đạo” sang “điều tiết, theo dõi và cưỡng chế tuân thủ”. Cụ thể hoá danh sách các hạn chế tiếp nhận đầu tư, xoá bỏ giới hạn về thời gian trong giấy chứng nhận đầu tư… - Thực hiện đầu tư vào 1 số lĩnh vực quan trọng, khuyến khích các dòng đầu tư mới nhằm đa dạng hoá lĩnh vực. - Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hấp thụ các kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế. - Phân biệt rõ ràng chức năng sở hữu và chức năng điều tiết của Nhà Nước. - Đơn giản hoá hệ thống thuế và hợp lý hoá cơ cấu ưu đãi thuế nhằm giúp cơ quan quản lý thuế dễ dàng thực thi. - Hấp thu và thực hiện các thay đổi của Pháp luật một cách lành mạnh. Cần có nhiều nỗ lực để trang bị thông tin, giáo dục đào tạo các thẩm phán và các nhà quản lý. 4. Vai trò của vốn đầu tư thông qua hệ số ICOR Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng được thể hiện thông qua hệ số ICOR (Incremental Capital - Output Ratio). Hệ số ICOR là tỷ lệ vốn đầu tư so với tốc độ tăng trưởng (còn gọi là hệ số đầu tư tăng trưởng). Hệ số ICOR cho biết muốn có một đồng tăng trưởng thì phải cần bao nhiều đồng vốn đầu tư. Hệ số ICOR biểu hiện mối quan hệ giữa mức tăng sản lượng đầu ra (kỳ t) và mức đầu tư của kỳ (t-1) và được tính bằng công thức: I = DK/Dy Trong đó: DK: Mức thay đổi của vốn        Dy: Mức thay đổi của sản lượng. Hệ số ICOR phụ thuộc vào nguồn dự trữ và công nghệ sản xuất. ICOR càng cao chứng tỏ đầu tư càng đắt. Hệ số ICOR ở một số nước có xu hướng tăng và ICOR ở các nước phát triển thường cao hơn ở các nước đang phát triển. Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP và tốc độ tăng GDP thì ICOR qua các thời kỳ như sau: Nếu như trước đây, vào những năm đầu ở thập kỷ 90 của thế kỷ trước chỉ số ICOR khoảng độ 0,4:1 - 0,5:1 thì  đến năm 2001 đã là 4,12:1, và năm 2003 chỉ số ICOR là 4,92:1. Như thế có nghĩa là trong vòng hơn 10 năm hệ số ICOR đã tăng lên  hơn 10 lần. Tính chung ICOR của Việt Nam trong thời kỳ 1991 - 2007 là 4,86 lần, cao hơn nhiều so với 2,7 lần của Đài Loan (trong thời kỳ 1961 - 1980), 3 lần của Hàn Quốc (trong thời kỳ 1961 - 1980), 3,7 lần của Indonesia (trong thời kỳ 1981 - 1995), 4 lần của Trung Quốc (trong thời kỳ 2001 - 2006), 4,1 lần của Thái Lan (trong thời kỳ 1981 - 1995); cũng cao hơn so với 4,6 lần của Malaysia (trong thời kỳ 1981 - 1995). Điều đó chứng tỏ hiệu quả đầu tư của Việt Nam còn thấp. GS David Dapice (Đại học Harvard Hoa Kỳ) nhận định thất thoát lãng phí từ nguồn vốn đầu tư công của Việt Nam lên đến 1 tỷ USD mỗi năm. Con số này, khó kiểm chứng, nhưng có thể nói, hiệu quả sử dụng vốn ĐT Nhà nước hiện nay thấp. Theo Tổng cục Thống kê năm 2007, khối lượng vốn ĐT toàn xã hội theo giá thực tế là 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP, trong đó khu vực Nhà nước chiếm 200 nghìn tỷ đồng. Điều đáng nói là, với cùng tỷ lệ ĐT so với GDP, Trung Quốc đạt mức tăng trưởng từ 9% - 11%, trong khi Việt Nam chỉ có thể duy trì ở mức khoảng 8%. Nghĩa là, với quy mô nền kinh tế hiện tại, hàng năm Việt Nam mất đi khoảng 1 tỷ USD. Nếu so với các nước Đông Bắc Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc thì hệ số ICOR của Việt Nam còn cao hơn rất nhiều. Thông thường, chỉ số ICOR của các nước chỉ 2 - 3, chỉ số ICOR Việt Nam xấp xỉ 5 là quá cao và là sự cảnh báo về tăng trưởng thiếu bền vững do thất thoát và lãng phí. Tiến sĩ Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia phân tích: “Khi tiền ĐT của Nhà nước không được rót vào công trình, tạo hiệu quả cho nền kinh tế thì tiền đó đi đâu? Tiền đó chạy vào túi cá nhân, vào tiêu dùng, làm cung tiền trong lưu thông tăng lên, dẫn tới lạm phát”. Ước tính, tỷ lệ thất thoát, lãng phí trong đầu tư công ước tính khoảng 30% tổng vốn ĐT. Nếu con số này là thực tế thì số tiền thất thoát, lãng phí trong ĐTC của năm 2007 lên tới 60 nghìn tỷ đồng, lớn hơn nhiều so với ước tính của GS David Dapice. Và với cung tiền đó, khi được đưa vào lưu thông mà không được kiểm soát, khó có thể giải được bài toán chống lạm phát. Có hai nguyên nhân làm cho hiệu quả đầu tư ngày càng giảm thấp. Thứ nhất, vào những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ trước, tăng trưởng kinh tế chủ yếu thiên về chiều rộng, vì thế hiệu suất sử dụng vốn đầu tư được gắn liền với chính sách đổi mới kinh tế và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, do vậy  nhu cầu về vốn đầu tư thấp mà hiệu quả vẫn cao. Còn trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đòi hỏi tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, thì nhìn chung các yếu tố về đổi mới chính sách kinh tế đã phát huy hết những tiềm năng vốn có của nó, vì thế để tăng trưởng thì đòi hỏi phải đầu tư nhiều vốn hơn. Tuy nhiên một nguyên nhân quan trọng làm giảm hiệu suất vốn đầu tư trong giai đoạn này là sự lệch lạc trong việc phân bổ vốn đầu tư, mà cụ thể chúng ta quá chú trọng vào những ngành công nghiệp được xếp vào nhóm có sức cạnh tranh thấp thu hồi vốn chậm như: mía đường sắt thép, phân bón, giấy, chưa sử dụng hợp lý và tối ưu hoá các nguồn lực của toàn xã hội. Từ đó dẫn đến tình trạng hiệu suất sử dụng vốn đầu tư không cao, gây lãng phí nguồn lực của toàn xã hội, làm chậm lại việc thực hiện các mục tiêu kinh tế đã được đề ra. Vấn đề đặt ra ở đây là phải có giải pháp cụ thể và thiết thực trên cả cấp độ vĩ mô lẫn cấp độ vi mô nhằm tối ưu hoá các nguồn lực xã hội để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, điều đó cũng có nghĩa là đòi hỏi chúng ta phải đầu tư đúng hướng và nâng cao hiệu suất sử dụng vốn đầu tư. Cùng một đơn vị vốn có thể tạo ra những mức sản lượng rất khác nhau, phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn. Hiệu suất của một đơn vị vốn có thể giảm nếu việc quản lý lực lượng làm việc không hiệu quả hoặc không bảo đảm đủ nguyên vật liệu cho sản xuất, đồng thời cũng bị những ràng buộc về lực lượng lao động. Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế, không chỉ được đặt ra đối với nền kinh tế của một quốc gia mà còn phải đặt ra cho từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế và từng đơn vị kinh tế. Việc đầu tư vào đâu, đầu tư bao nhiêu và đầu tư vào thời điểm nào để đạt được hiệu qủa kinh tế cao là những vấn đề mà các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách, xây dựng dự án đầu tư phải nghiên cứu kỹ. Đầu tư và tăng trưởng đang trở thành vấn đề kinh tế quan trọng hiện nay của đất nước. Tăng thêm vốn đầu tư và đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Đầu tư và tăng trưởng sẽ mang lại hiệu quả nếu có những giải pháp thích hợp. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ, THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ I. Xu hướng đầu tư và tăng trưởng phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020 1.Xu hướng phát triển kinh tế 1.1. Đối với tăng trưởng kinh tế Theo dự báo của cơ quan tình báo kinh tế Anh(EUI), tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 đạt 7% so với mức bình quân thế giới là 4%. Tuy nhiên, trong giai đoạn 2011 - 2020 nếu không có những chính sách kinh tế mang tính đột phá thì tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình Việt Nam được dự báo sẽ sụt giảm đáng kể, chỉ đạt 4,6%.Do đó tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2006-2020 chỉ đạt mức 5,4 % mặc dù cao hơn mức trung bình của Châu Á nhưng vẫn thấp hơn Ấn Độ, Pakixtan, Trung Quốc. Trong giai đoạn 2008-2020, mặc dù còn nhiều khó khăn cho cả nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế Việt Nam nhưng với những chính sách phát triển nền kinh tế nội tại, đạt được những kết quả đáng kể và có được vị thế quan trọng nhất định trong tương lai gần. Cũng theo EUI, tốc độ tăng GDP, GDP bình quân đầu người giai đoạn 2006-2020 của một số nước trên thế giới như sau: Dự báo tốc độ tăng GDP, GDP bình quân đầu người giai đoạn 2006-2020 Đơn vị: % Nước/Khu vực Tốc độ tăng GDP Tốc độ tăng GDP bình quân đầu người 2006-2010 2011-2020 2006-2020 2006-2010 2011-2020 2006-2020 Thế giới 4,0 3,3 3,5 2,7 2,4 2,5 EU25 2,2 2,0 2,1 2,0 2,0 2,0 EU15 2,0 2,0 2,0 1,7 1,9 1,8 Châu Á 5,5 4,5 4,9 4,5 3,6 3,9 Châu Mỹ Latinh 3,6 3,0 3,2 2,4 2,1 2,2 Trung Đông và Bắc Phi 4,4 3,8 4,0 2,7 2,4 2,5 Cận Xahara 3,5 2,5 2,8 2,0 1,2 1,4 Mỹ 3,0 2,8 2,9 2,0 1,8 1,9 Pháp 2,0 1,8 1,9 1,6 1,6 1,6 Đức 1,8 1,9 1,9 1,7 2,0 1,9 Italia 1,5 0,8 1,0 1,5 1,0 1,2 Thổ Nhĩ Kỳ 4,9 4,1 4,4 3,6 3,3 3,4 Anh 2,1 2,4 2,3 1,7 2,0 1,9 Cộng hoà Séc 4,1 2,4 3,0 4,2 2,6 3,1 Hungary 3,3 3,1 3,2 3,6 3,4 3,5 Ba Lan 4,1 3,0 3,3 4,2 3,0 3,4 Rumani 4,5 3,3 3,7 4,7 3,5 3,9 Nga 4,7 2,6 3,3 5,1 3,0 3,7 Xlôvakia 5,3 3,5 4,1 5,1 3,4 4,0 Ucraina 5,7 3,5 4,2 6,3 3,9 4,7 Nhật Bản 1,1 0,5 0,7 1,2 0,8 0,9 Trung Quốc 7,8 5,1 6,0 7,2 4,5 5,4 Ấn Độ 6,6 5,5 5,9 5,2 4,3 4,6 Inđônêxia 5,6 5,0 5,2 4,2 3,9 4,0 Malaixia 5,3 4,8 5,0 3,4 3,1 3,2 Pakixtan 5,9 5,3 5,5 4,0 3,6 3,7 Philipin 5,2 4,7 4,9 3,4 3,1 3,2 Xingapo 4,5 4,0 4,1 3,6 3,4 3,5 Hàn Quốc 4,0 3,9 4,0 3,6 3,6 3,6 Đài Loan (TQ) 4,5 3,4 3,8 4,2 3,0 3,4 Thái Lan 4,5 4,7 4,7 3,8 4,2 4,1 Việt Nam 7,0 4,6 5,4 5,7 3,4 4,2 Áchentina 3,8 3,4 3,6 2,7 2,7 2,7 Braxin 3,9 2,9 3,2 2,6 2,1 2,3 Côlômbia 3,7 2,8 3,1 2,1 1,6 1,8 Chilê 5,2 4,3 4,6 4,0 3,5 3,7 Mêhicô 2,8 3,0 2,9 1,6 1,9 1,8 Nguồn: Cơ quan tình báo kinh tế Anh (EIU). 1.2. Đối với thương mại Trong giai đoạn 2011 - 2020, nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế từng quốc gia phát triển nói riêng là cơ hội tốt cho xuất khẩu Việt Nam do cầu đối với hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam ngày càng cao. Bên cạnh đó, thị trường tiềm năng hàng xuất khẩu Việt Nam sẽ rất lớn.Tuy nhiên xuất khẩu Việt Nam sẽ gặp sức ép cạnh tranh không nhỏ từ các nước ASEAN và các nước láng giềng Châu Á. Trong điều kiện năng lực cạnh tranh còn thấp, việc mất thị trường sân nhà là hoàn toàn có thể xảy ra, đặc biệt là đối với những hàng hóa có hàm lượng kĩ thuật công nghệ cao, Việt Nam là nước đi sau nên sẽ có nhiều khó khăn thách thức. Trong khuôn khổ WTO, là nước bị coi là có nền kinh tế phi thị trường sau 12 năm gia nhập (2007-2019),Việt Nam chắc chắn sẽ gặp những khó khăn hơn các nước trong cạnh tranh thương mại giải quyết theo luật định của WTO. Do vậy trong tương lai Việt Nam cần chú ý kết hợp hài hòa giữa hợp tác song phương, đa phương, và hợp tác quốc tế, cần chọn những giải pháp, những đối sách cụ thể đúng đắn thích hợp với sự phát triển của các đối tác. 1.3. Đối với các ngành kinh tế - Công nghiệp: Tỉ lệ ngành công nghiệp chế tác sẽ tăng lên. Bên cạnh đó xu hướng dịch vụ ngoại biên chuyển công nghệ ra ngoài cũng tác động tích cực đến công nghệ Việt Nam, biến Việt Nam thành cơ sở sản xuất, lắp ráp cho các nước phát triển. Do đó việc chọn lựa và ưu tiên phát triển những ngành công nghiệp trọng điểm là rất cần thiết: Việt Nam cần tập trung nguồn lực phát triển một số ngành, lĩnh vực trọng điểm để có thể tạo ra bước phát triển nhảy vọt, phát huy tối đa lợi thế của Việt Nam trong phát triển kinh tế. Các ngành trọng điểm cần là những ngành có thế mạnh, có điều kiện phát triển ở Việt Nam, có khả năng thu hút nhiều lao động, tạo ra giá trị gia tăng cao, áp dụng quy trình công nghệ tiên tiến, hướng ra xuất khẩu. Ngoài ra, việc đánh giá, lựa chọn những ngành, lĩnh vực ưu tiên, mũi nhọn cần tiến hành trên cơ sở áp dụng các phương pháp định lượng, mang tính đo lường cụ thể - Dịch vụ: Sẽ có thêm nhiều loại hình dịch vụ mới trong các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, bảo hiểm. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ tham gia rất nhiều vào các lĩnh vực này, do đó, ngành dịch vụ Việt Nam sẽ phát triển rất mạnh, đa dạng về sản phẩm, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020. Đặc biệt VIệt Nam đang tích cực nỗ lực cho một nền kinh tế tri thức: Cùng với xu thế chung của thế giới, Việt Nam đang hướng tới việc phát triển kinh tế tri thức. Nhiều nước phát triển trên thế giới hiện nay đã đạt đến trình độ phát triển cao, trong đó tri thức, công nghệ trở thành động lực phát triển kinh tế chính, tạo ra sức sản xuất, năng suất lao động vượt trội. Để có thể phát triển nhanh, bền vững và bắt kịp với những nước đó, Việt Nam tất yếu phải phát triển những ngành, lĩnh vực dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ cao. - Nông nghiệp và phát triển nông thôn: tập trung vào các sản phẩm: + Đối với trồng trọt tập trung vào lúa gạo đảm bảo an ninh lương thực, mở rộng diện tích trồng cao su + Chăn nuôi tập trung vào con lợn, gia cầm, bò thịt; +Lâm nghiệp tập trung vào công tác khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng kinh tế + Đối với ngành nuôi trồng thuỷ sản tập trung vào nuôi nước lợ, trong đó chủ yếu vẫn là con tôm sú, nuôi nước ngọt chủ yếu là cá tra và ba sa. + Đối với ngành khai thác thuỷ sản tập trung khai thác xa 2. Xu hướng đầu tư trong thời gian tới 2.1 Lĩnh vực đầu tư Từ đầu thập kỉ 90 cho đến những năm 2005-2006, nhờ đẩy mạnh công nghiệp hóa, Việt Nam đã tập trung tương dối thỏa đáng cho công nghiệp(35 - 41% tổng đầu tư toàn xã hội), dịch vụ (48 - 50%), nông nghiệp(8,5 - 15%). Cùng với những xu hướng chung của toàn thế giới và những điều kiện riêng, cụ thể của nước ta, các lĩnh vực đầu tư đang cónhững thay đổi theo chiều hướng tốt. Các nhà đầu đã tư đầu tư vào các ngành dịch vụ, đặc biệt là các khu vui chơi giải trí, các công trình bất động sản đã tăng mạnh. Có thể lí giải điều này là do tốc đọ tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt mức cao và ổn định trong thời gian qua, vì vậy các nhà đầu tư sau khi điều tra thực tế đã thấy một hướng đầu tư đầy hứa hẹn nên đã cam kết đưa vốn đầu tư vào khu vực này. Bên cạnh đó việc đầu tư vào khu vực công nghiệp cũng có những kết quả khả quan, do vậy xu hướng đầu tư vào các ngành công nghiệp vẫn là ưu tiên của các nhà đầu tư trong tương lai, mà chủ yếu là đầu tư vào các ngành công nghiệp sử dụng lao động có hàm lượng kĩ thuật cao,như điện tử viễn thông, các phần mềm… Nhiều dự án có quy mô lớn được các địa phương cấp phép, đặc biệt là các dự án bất động sản ngày càng nhiều như xây dựng khu nghỉ dưỡng, căn hộ bán và cho thuê, xây dựng khách sạn cao cấp… Tuy nhiên đầu tư vào lĩnh vực nông-lâm-ngư nghiệp lại giảm, công nghiệp chế biến tăng nhưng không đáng kể. 2.2. Đầu tư vào vùng lãnh thổ Vốn đầu tư đã chuyển dịch từ 2 thành phố lớn trong cả nước(Hà Nội và TP Hồ Chí Minh)sang các địa bàn lân cận do yêu cầu về quy hoạch nghành và phần diện tích lớn mà 2 thành phố không đấp ứng được. Nhiều vùng lãnh thổ được đầu tư mạnh hầu hết là nững vùng có tiềm năng về khoáng sản, du lịch, hình thành các vùng, các cụm công nghiệp mới ở các tỉnh thành phố mới nổi ở cả 3 miền Tổ Quốc. 2.3. Cơ cấu đầu tư của các thành phần kinh tế Trước cải cách kinh tế, khi nói đến đầu tư thì đó là đầu tư của Nhà Nước nhưng sau đổi mới đã xuất hiện các thành phần kinh tế khác như: Tư nhân, nước ngoài… Mặc dù kinh tế Nhà Nước vẫn đóng vai trò chủ đạo tuy nhiên đóng góp của tư nhân ngày càng rõ nét hơn và đầu tư của nước ngoài cũng ngày càng có nhiều đóng góp hơn vào GDP. Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng kinh tế nói chung quy mô tổng ngân sách nhà Nước không ngừng tăng thêm nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau. Đi cùng sự mở rộng NSNN mứ chi cho đầu tư phát triển từ NSNN cũng tăng đáng kể. Tuy nhiên trong những năm tiếp theo, vốn đầu tư từ NSNN có chiều hướng tăng về giá trị tuyệt đối nhưng lại có xu hướng giảm tỉ trọng trrong vốn đầu tư toàn xã hội.nguồn vốn tín dụng của Nhà Nước cũng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chính sách đầu tư của chính phủ, trong những năm tiếp, nguồn vốn này sẽ có xu hướng cải thiện về mặt chất lượng và sẽ có nhiều phương thức tài trợ hơn nhưng tỉ trọng sẽ không có sự gia tăng đáng kể, sẽ tập trung vào nững ngành nghề có hiệu quả về kinh tế hay xã hội. Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà Nước chủ yếu là đầu tư chiều sâu,mở rộng sản xuất, đỏi mới công nghệ hóa thiết bị dây chuyền công nghệ hiện đại của doanh nghiệp. Vốn ODA chuyển vào Việt Nam ngày càng nhiều, trong đó khoản viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 15 - 20% . Việc sử dụng nguồn vốn này một cách hiệu quả đang là yêu cầu cấp bách của Nhà Nước ta sau những vụ bê bối gần đây. Tuy nhiên cùng với sự nỗ lực của Chính phủ và với sự đôn đốc kiểm tra chặt chẽ của nhân dân thì nguồn vốn này ngày càng được sử dụng một cách hiệu quả, chủ yếu được sử dụng vào các ngành nghề như thủy lợi, thủy sản, nông lâm nghiệp, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, GD - ĐT, y tế…Cùng với sự kiện gia nhập WTO của Việt Nam thì sự gia tăng của FDI là một điều rất dễ thấy, càng có nhiều ngành nghề mà FDI đổ vào hơn.Tuy nhiên việc FDI đổ vào Việt Nam một cách dàn trải đang là bài toán nan giải cho các nhà lãnh đạo, việc cho phép những dự án nào hay phải từ bỏ những dự án nào cũng là những thử thách của nền kinh tế Việt Nam hiện nay và trong tương lai. II.Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư 1. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư: Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn; tiếp tục đẩy nhanh tiến độ lập quy hoạch chi tiết, lập kế hoạch cụ thể hàng năm để tổ chức tốt việc đấu giá đất, tạo vốn đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm; khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân; tiếp tục thực hiện và mở rộng cơ chế phân cấp đầu tư và hỗ trợ đầu tư đối với một số công trình hạ tầng để huy động đa dạng các nguồn vốn trong xã hội. Phân định rõ trách nhiệm trong quản lý đầu tư xây dựng; tăng cường trách nhiệm của các chủ đầu tư trong chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và thanh quyết toán công trình; qui định rõ vai trò, trách nhiệm của các cấp chính quyền, các ngành chức năng trong việc thanh tra, kiểm tra, giám sát đầu tư; đồng thời tạo điều kiện để người dân tham gia giám sát hoạt động đầu tư xây dựng.  2. Đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng Trong điều kiện kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển tài việc đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng là điều hết sức quan trọng nhất là với những vùng kinh tế mới, cơ sở hạ tầng còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu về đầu tư. Việt Nam cần ưu tiên phát triển tất cả các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước nhưng chú trọng đặc biệt vẫn là hạ tầng giao thông, cụ thể là phát triển đường bộ, đường sắt, cao tốc, tàu điện ngầm… Bên cạnh đó, cần ưu tiên phát triển cho ngành hàng không phục vụ cho đầu tư, du lịch và thương mại… 3. Nâng cao hiệu quả quản lí của Nhà Nước, cải thiện môi trường pháp lí, đơn giản hóa thủ tục hành chính - Tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách để sửa đổi, điều chỉnh hoặc loại bỏ các điều kiện không phù hợp cam kết WTO của Việt Nam và có giải pháp đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư. Theo dõi, giám sát việc thi hành pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp để kịp thời phát hiện và xử lý các vướng mắc phát sinh - Chấn chỉnh tình trạng ban hành và áp dụng các ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trái với quy định của pháp luật. Tăng cường tập huấn, phổ biến nội dung và lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam. - Nghiên cứu xây dựng, củng cố hệ thống quản lý kênh thông tin đầu tư nước ngoài , tiến đến dần kết nối các đầu mối quản lý đầu tư trong cả nước địa phương để đảm bảo tốt chính sách hậu kiểm. - Tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức, nhân sự quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài các cấp đáp ứng nhu cầu tình hình mới. Đồng thời, đẩy mạnh công tác chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí. - Tăng cường cơ chế phối hợp quản lý dự án đầu tư giữa Trung ương với địa phương và các Bộ, ngành liên quan. - Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm soát sau cấp phép nhằm hướng dẫn việc thực hiện đúng pháp luật và ngăn chặn các vi phạm pháp luật. Tiếp tục rà soát các dự án để có hình thức xử lý phù hợp, hỗ trợ dự án nhanh chóng triển khai sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Thực hiện việc thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án không triển khai đúng tiến độ cam kết để dành quỹ đất cho các dự án mới.. - Tổ chức hướng dẫn các địa phương xây dựng Đề án quy hoạch phát triển các khu công nghiệp và phối hợp với các đơn vị nghiên cứu phương án điều chỉnh Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp cả nước với biện pháp bảo vệ môi trường. - Phối hợp với các đơn vị, cơ quan theo dõi, giải quyết kịp thời các vấn đề đình công, bãi công của công nhân trong khu công nghiệp, đặc biệt là trong các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. - Tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ chế ‘liên thong - một cửa’ ở các cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý đầu tư. - Tăng cường năng lực quản lý đầu tư nước ngoài của các cơ quan chức năng và cơ chế phối hợp, giám sát và kiểm tra hoạt động đầu tư; giải quyết kịp thời các thủ tục về đất đai, thuế, xuất nhập khẩu, hải quan,... nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư nươc ngoài, qua đó tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam. 4. Khuyến khích đầu tư hiệu quả trên tất cả lĩnh vực - Tiếp tục huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, trong đó ban hành quy chế khuyến khích tư nhân, đầu tư nâng cấp các công trình giao thông, cảng biển, dịch vụ viễn thông, cung cấp điện nước, phấn đấu không để xảy ra tình trạng thiếu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh. - Tập trung thu hút vốn đầu tư vào một số dự án thuộc lĩnh vực bưu chính-viễn thông và công nghệ thông tin để phát triển các dịch vụ mới và phát triển hạ tầng mạng. - Đẩy mạnh đầu tư vào các lĩnh vực (văn hóa - y tế - giáo dục, bưu chính - viễn thông, hàng hải, hàng không) đã cam kết khi gia nhập WTO. Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu, 5. Chú trọng đầu tư nguồn nhân lực - Thực hiện các giải pháp nhằm đưa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động vào thực tế cuộc sống để ngăn ngừa tình trạng đình công bất hợp pháp, lành mạnh hóa quan hệ lao động, bao gồm: (i) Tiếp tục hoàn thiện luật pháp, chính sách về lao động, tiền lương phù hợp trong tình hình mới; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật về lao động đối với người sử dụng lao động nhằm đảm bảo điều kiện làm việc và đời sống cho người lao động; (ii) Nâng cao hiểu biết pháp luật về lao động thông qua phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật cho người lao động, người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để đảm bảo chính sách, pháp luật về lao động và tiền lương được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc. - Triển khai các chương trình, dự án hỗ trợ người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, nhất là về nhà ở và điều kiện sinh hoạt của người lao động. - Tiếp tục tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu phát triển trong giai đoạn mới, kể cả về cán bộ quản lý các cấp và cán bộ kỹ thuật. - Nghiên cứu điều chỉnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư đối với các dự án xây dựng các công trình phúc lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, đảm bảo sự tương thích với các luật pháp hiện hành 6. Về xúc tiến đầu tư: Tăng cường phối hợp hoạt động xúc tiến đầu tư giữa TW và địa phương. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư phát triển và quy hoạch phát triển ngành, địa phương. Nhanh chóng ban hành Quy chế phối hợp và triển khai các bộ phận xúc tiến đầy tư ở một số địa bàn trọng điểm. Đổi mới phương thứcấuc tiến đầu tư, chuyển mạnh sang hình thức vận động đầu tư theo dự án và đối tác trọng điểm, tiếp cận và vận động các công ty, tập đoàn lớn có thực lực về tài chính- công nghệ cao đầu tư vào Việt Nam. Tổ chức hiệu quả các hội thảoấuc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước. KẾT LUẬN Tóm lại, đầu tư và tăng trưởng phát triển kinh tế là những vấn đề kinh tế quan trọng của đất nước. Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế, không chỉ được đặt ra đối với nền kinh tế của một quốc gia mà còn phải đặt ra cho từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế và từng đơn vị kinh tế. Đầu tư trong những năm qua đã thực sự góp phần quan trọng vào tăng trưởng phát triển kinh tế và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong chính sách thúc đẩy kinh tế theo chiều rộng và sâu của Chính Phủ. Trong điều kiện mới, thời đại kinh tế quốc tế, đầu tư đạt ra những yêu cầu mới cho sự phát triển mỗi quốc gia nói chung, mỗi thành phần kinh tế nói riêng phải có những định hướng đúng cho tương lai của mình. Việc đổi mới cơ chế đầu tư thông thoáng hơn đặc biệt là sau năm 1986, đã thu được những thành tựu quan trọng, thể hiện rõ nhất là tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng lên rõ rệt, đưa nước ta từ một nước lạc hậu lên một nước công nghiệp hóa hiện đại hóa theo dự kiến vào năm 2020. Luật đầu tư và sửa đổi luật đầu tư cho phù hợp sẽ làm cho đầu tư có hiệu quả hơn, nhất là việc đầu tư vào một số ngành trọng điểm. Tuy nhiên trong công tác đầu tư những năm qua còn có nhiều vướng mắc là do nhiều nguyên nhân như cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu, thủ tục pháp lý còn rườm rà hay do cơ chế chưa minh bạch…Do đó, để thực hiện được mục tiêu tăng trưởng đã đặt ra, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm để gia tăng vốn và hiệu quả đầu tư. khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, cải cách cơ chế, minh bạch hóa đầu tư… là những việc rất cần trên con đường phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Việc phân tích đánh giá vai trò của đầu tư đối với quá trình tăng trưởng phát triển kinh tế dựa vào các lý thuyết kinh tế về đầu tư cho ta thấy được sự quan trọng của đầu tư và những phương hướng giải pháp cần có trong tương lai để đưa nước ta lên thời đại mới, văn minh, hiện đại hơn. Do khuôn khổ bài làm có hạn và kiến thức còn nhiều thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO 1/ Giáo trình kinh tế đầu tư _ NXB Đại học kinh tế quốc dân. 2/ Giáo trình kinh tế phát triển _ NXB Đại học kinh tế quốc dân. 3/ Giáo trình kinh tế vi mô _ NXB Đại học kinh tế quốc dân. 4/ Trang web Đại học kinh tế quốc dân: 5/ Trang web Bộ kế hoạch và đầu tư: 6/ Trang web tổng cục thống k ê: 7/ 8/ Hệ số đầu tư tăng trưởng _ Nguyễn Thái Hà. 9/ Một số vấn đề về vốn và đầu tư _ Bùi Bá Cường , Bùi Trinh. 10/ 11/ 12/ 13/ 14/ Tạp chí tia sáng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docdua_vao_cac_ly_thuyet_kinh_te_ve_dau_tu_giai_thich_vai_tro_cua_dau_tu_voi_tang_truong_va_phat_tr.doc
Tài liệu liên quan