Đề tài Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu chè ở Tổng công ty chè Việt Nam đến năm 2015

Khái niệm : Đây là hình thức xuất khẩu ( thường là để trả nợ ) được ký theo nghị định thư giữa hai chính phủ.  Nội dung : Đây là một trong những hình thức xuất khẩu mà doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phí trong việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng, khả năng thanh toán chắc chắn, giá chè nhìn chung có thể chấp nhận được, doanh nghiệp chế biến không phải lo nghĩ về đầu ra cho chè mà mình sản xuất. Trên thực tế hình thức này ít được áp dụng. Nhà nước chỉ giao cho doanh nghiệp nào có khả năng về tài chính, năng lực sản xuất.Thường thì Tổng công ty chè Việt Nam được thực hiện hình thức này để trả nợ cho một số nước như Nga, Đông Âu, Iraq.

doc83 trang | Chia sẻ: Dung Lona | Ngày: 16/07/2016 | Lượt xem: 1050 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu chè ở Tổng công ty chè Việt Nam đến năm 2015, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
2010 và tăng bình quân 10,5%/năm trong giai đoạn 2011 - 2015, đạt 2,55 triệu USD vào năm 2015. Năm 2008, xuất khẩu chè của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 624 tấn, trị giá 480.049 USD. Xuất khẩu chè của cả nước sang Liên Bang Nga đạt 1.706 tấn, trị giá 2.102.961 USD. Kim ngạch xuất khẩu chè của cả nước sang thị trường UAE và Ấn Độ tuy không cao nhưng lại tăng mạnh, với sản lượng lần lượt là 4,7 nghìn tấn và 3,4 nghìn tấn, kim ngạch đạt lần lượt 7,8 triệu USD và 3,4 triệu USD. Với sản lượng và trị giá như vậy, UAE đã đạt mức tăng 81,72% về lượng và 76,14% về trị giá, còn thị trường Ấn Độ  tăng 169,65% về lượng và 126,45% về trị giá so với năm 2007. Giá trị và sản lượng chè xuất khẩu trong 10 tháng đầu năm 2008 trên một số thị trường chủ yếu như sau : Bảng 2.4 : Giá trị và sản lượng chè xuất khẩu ở một số thị trường 10 tháng đầu năm 2008 Thị trường Tháng 10/08 So tháng 10/07 10 tháng/08 So 10t/07 Lượng (tấn) Trị giá (USD) Lượng (%) KN (%) Lượng (tấn) Trị giá (USD) Lượng (%) KN (%) Đài Loan 1.338 1.835.472 3,88 18,56  15.425 18.430.053 -2,05 24,26 Nga 1.488 1.989.408 19,33 46,57  11.284 14.827.086 20,62 52,08 UAE 353    656.277 25,18 26,59     4.412  7.092.562 167,72 166,22 Trung Quốc 573    558.880 -54,20 -61,71     5.573  5.834.497 -61,58 -60,43 Đức 588 1.087.072 83,18 167,09     2.542  4.243.497 44,84 92,89 Arập Xêút 82    191.742 -68,22 -60,80     1.469  3.237.225 80,47 119,98 ấn Độ 545    578.605 1.372,97 747,77     3.090  3.144.973 167,07 135,56 Inđônêxia 416    441.249 96,23 144,11     3.034  2.759.223 -42,34 -20,81 Ba Lan 356  446.539 1,42 13,04     2.098  2.683.098 -23,46 0,03 Mỹ 319 366.570 36,32 108,68     3.149  2.442.868 5,81 23,42 Thổ Nhĩ Kỳ 104    210.694 -46,11 -24,75     1.022  2.028.478 -24,41 -2,61 Philippine 33    102.690 -49,23 -46,29        587  1.860.054 46,75 56,02 Hà Lan 127    232.190 -41,47 -6,45     1.275  1.788.946 -9,12 12,29 Anh 247    421.544 114,78 160,28        863  1.518.889 -21,55 12,46 Malaixia 282    222.210 15,57 84,03     2.266  1.447.825 1,98 22,97 Singapore 101    170.228 12,22 33,27        629  1.143.367 2,78 35,45 Ucraina 66      81.094 -44,54 -32,09        731      846.722 16,40 38,67 Nhật Bản 38      45.856 -52,50 -77,04        332      827.185 12,16 31,75 Thái Lan    29      73.854 -23,68 128,37        140      232.365 -55,13 -0,96 Canada 22      29.700 -72,15 -58,50        237      230.418 -38,60 -29,65 Nguồn : Tổng công ty chè Việt Nam 2.2.2. Đánh giá chung về sản xuất và xuất khẩu chè của Tổng công ty trong thời gian vừa qua. 2.2.2.1. Những thành tựu đã đạt được. Tổng công ty chè Việt Nam được đánh giá là một đơn vị có tiến độ cổ phần hóa nhanh và thực hiện nghiêm túc lộ trình theo qui định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tất cả các công ty thành viên của TCT khi chuyển sang cổ phần đều hoạt động theo luật doanh nghiệp. Vấn đề tài chính được sử dụng và quản lý trong sạch, vững mạnh, bộ máy quản lý được sắp xếp gọn nhẹ, linh hoạt. Một số đơn vị trước khi cổ phần hóa gặp nhiều khó khăn nhưng nay đã gắn với thị trường. Chè Việt Nam phát triển theo hướng tăng dần cả về số lượng lẫn chất lượng, đã hình thành nhiều vùng sản xuất tập trung, xây dựng những vùng chè đặc sản phục vụ cho xuất khẩu. Tổng số doanh nghiệp là 262, trong đó có 74 doanh nghiệp mới. Thị trường kinh doanh xuất khẩu càng ngày càng được mở rộng. Nhờ có sự giúp đỡ và chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các ban ngành Trung ương, sự giúp đỡ của các địa phương, TCT đã mở ra thêm được một số thị trường khá lớn (có 16 thị trường mới), đưa tổng số thị trường nhập khẩu lên 70. Số thị trường mới đã tiêu thụ gần 930 tấn với trị giá trên 1.660.000 USD, đạt đơn giá bình quân 1.791 USD/ tấn. Tổng công ty đã chủ động tìm đối tác kinh doanh, thu hút vốn đầu tư, lắp đặt các dây chuyền hiện đại, nghiên cứu đưa ra các sản phẩm phù hợp và lựa chọn các thị trường tiêu thụ thuận lợi. Mặc dù số lượng còn rất nhỏ so với toàn bộ nhu cầu đổi mới của toàn tổng công ty, các liên doanh này đã giúp cho ngành chè Việt nam càng ngày càng vững mạnh hơn trên thị trường thế giới. Công nghiệp chế biến có những chuyển biến khá mạnh, hướng dần vào việc thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng trong nước cũng như ngoài nước. Các thiết bị công nghệ dần được đổi mới nhằm đẩy mạnh khâu chế biến thành phẩm, các mẫu mã, hình thức sản phẩm cũng đã có những bước tiến đáng kể cho phù hợp với nhu cầu thị trường. 2.2.2.2. Những vấn đề còn tồn tại. Trong thời gian vừa qua, TCT chè Việt Nam đã mở rộng thêm nhiều thị trường mới, tuy nhiên chất lượng sản phẩm còn thấp, thua kém nhiều nước trên thế giới, chưa đáp ứng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, sản phẩm chưa đa dạng và chuyển biến chậm trong việc chuyển dịch cơ cấu sản phẩm. Năng suất bình quân còn thấp, lại chưa ổn định, mẫu mã bao bì đơn điệu, chưa tạo được thương hiệu trên thị trường thế giới, vì vậy chưa có bạn hàng thương mại lâu dài. Việc xuất khẩu còn qua nhiều khâu trung gian, vòng vèo dẫn đến lãi suất không cao, bên cạnh đó các doanh nghiệp phải gánh chịu nhiều chi phí mang tính xã hội. Bất chấp mọi nỗ lực của TCT chè Việt Nam để giữ vững và mở rộng thị trường, nhiều nhà xuất khẩu đã không quan tâm đến lợi ích lâu dài của người làm chè. Việc tranh mua chè trong nước cũng như việc tranh giành thị trường xuất khẩu giữa các doanh nghiệp Việt Nam dẫn đến nhiều đơn vị xuất khẩu những loại chè có chất lượng thấp, không kiểm soát được gây ảnh hưởng đến uy tín của chè Việt Nam trên thị trường quốc tế. Chè Việt Nam hầu hết còn xuất khẩu ở dạng bán thành phẩm, sơ chế... chất lượng thuôc loại trung bình trên thị trường thế giới. Mặt khác, các sản phẩm chè của Việt Nam được bán theo bao, bì, chưa có sản phẩm cụ thể. Các nước trên thế giới nhập khẩu chè của Việt Nam về sau đó đóng nhãn mác, bao bì của họ, vì vậy mà chè của chúng ta chỉ như là nguyên liệu để các nước bạn nhập khẩu và đóng gói. Chính vì vậy, chè Việt Nam trên thị trường thế giới có sức cạnh tranh thấp và bị hạn chế giá bán sản phẩm. Về lĩnh vực công nghệ : Công nghệ chậm đổi mới, thực hiện qui trình chế biến cũ, nhiều nhà máy còn sử dụng công nghệ cũ kĩ, lạc hậu. Chỉ có số ít nhà máy là xây dựng bằng công nghệ của Ấn Độ, Đài Loan...còn phần lớn là vẫn còn sử dụng các máy móc thiết bị của Liên Xô cũ trước đây đã đến lúc xuống cấp. Đồng thời cũng chưa đầu tư nhiều cho dây chuyền sản xuất chè thành phẩm, thông thường chi phí cho 1kg chè thành phẩm chỉ mất khoảng 1,4% giá thành nhưng giá bán ra lại tăng 2% so với chè bán thành phẩm. Đây là một vấn đề đặt ra cho người làm chè cũng như TCT. Về mặt nhân lực : Còn thiếu cán bộ Kĩ thuật công nghệ và lao động lành nghề. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sản xuất, chế biến và kinh doanh chè. Về mặt quản lý : Còn nhiều đơn vị quản lý mang tính cục bộ, chỉ chạy theo số lượng chủ yếu cốt hoàn thành tiến độ mà không quan tâm đến chất lượng sản phẩm làm ảnh hưởng đến TCT chè Việt Nam. Tổ chức quản lý lành nghề chưa ổn định, việc phân cấp theo ngành và theo vùng lãnh thổ còn chưa rõ ràng dẫn đến sự chồng chéo và hoặc bỏ sót trong quản lý. Kết quả là nhiều doanh nghiệp và cá nhân vi phạm các chỉ tiêu sản xuất, chỉ tiêu chất lượng cả về chè búp tươi lẫn thành phẩm, ảnh hưởng đến uy tín ngành chè Việt Nam, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính và người tiêu dùng. Sự phân tán giữa Trung ương và địa phương còn nặng nề nên những người làm chè trong cả nước chưa thực sự tập hợp lại với nhau để tạo nên sức mạnh tổng hợp. Thị trường tiêu thụ chưa được bền vững do ảnh hưởng của điều kiện chính trị và pháp luật, môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Nam còn yếu kém trong công tiếp thị, quảng bá sản phẩm, nghiên cứu thị trường, chưa chú ý tới thị trường trong nước. Hơn nữa công tác kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm còn sơ sài, không đạt hiệu quả cao. Hệ thống kênh phân phối còn rườm rà dẫn đến giá thành tăng cao. Nhiều Doanh nghiệp nhỏ lẻ lách luật bán phá giá, không thống nhất về xuất khẩu, sản phẩm chất lượng thấp ảnh hưởng uy tín TCTvà các doanh nghiệp khác. Theo đánh giá chung của các chuyên gia thì hiện nay chất lượng chè Việt Nam chỉ ở mức trung bình trên thế giới. Trong khi các nông sản xuất khẩu chủ yếu khác như cà phê, hạt điều, cao su đều có khả năng cạnh tranh cao, chứng tỏ ngành chè chưa được đầu tư đúng mức và khai thác tận dụng tiềm năng của mình. Tất cả những vấn đề trên là những mặt còn tồn tại mà bản thân ngành chè phải cố gắng khắc phục, củng cố để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. 2.2.2.3. Nguyên nhân Chủ quan. Do đầu tư thấp, thực hiện chưa đúng qui trình canh tác, vườn chè xuống cấp và phát triển không đều, có vườn tốt nhưng có vườn rất xấu. Có tình trạng vườn chè cũ không được thâm canh đầu tư, lại bị khai thác quá mạnh làm cho cây chè chóng cạn kiệt, đất đai bị rửa trôi, sói mòn là giảm độ màu mỡ nhanh chóng, rút ngắn chu kỳ kinh doanh hoặc phải thanh toán sớm. Mặt khác do giống chè còn nghèo, việc quản lý chăm sóc kém, bón phân chạy theo số lượng làm cho năng suất chè thấp, chất lượng thấp. Khi giao vườn chè cho người quản lý thì có nhiều tình trạng quản lý theo kiểu buông lỏng, khoán trắng. Khả năng canh tác của người trồng chè ở một số nơi lại còn thấp. Về giống : Giống chè còn kém chất lượng, chủ yếu ở Việt Nam là có ba giống chè chủ lực là chè Shan ở vùng cao, chè trung du, chè PH1 ở vùng trung du. Chất lượng ba giống chè này không cao, nói một cách khác là lạc hậu. Theo kinh nghiệm của các nhà sản xuất chè trên thế giới thì cơ cấu giống chè phục vụ cho một nhà máy phải trên 10 loại, mỗi loại không quá 15% sản lượng. Và mỗi lô chè nên có : 30% số giống có chất lượng cao, 30% chuẩn, thì lúc đó sản phẩm mới có chất lượng cao và ổn định. Về chế biến : phần lớn các công nghệ và thiết bị cũ kĩ, lạc hậu từ 2-3 thế hệ... dẫn đến hao phí nhiều năng lượng, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và cơ cấu mặt hàng. Tình trạng chạy theo sản phẩm, cắt xén quá trình, làm bừa, làm ẩu để xuất khẩu và tiêu thụ với bất cứ mức giá nào đã hạn chế sức cạnh tranh của sản phẩm, ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của TCT. Chế biến thủ công truyển thống chưa được chú trọng đúng mức và có biện pháp hiện đại hóa thích hợp nên sản phẩm thiếu đồng bộ. Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm mới chỉ tập trung vào các mặt phát hiện khuyết tật hơn là các giải pháp ngăn chặn sản phẩm kém mà vẫn lọt ra ngoài thị trường. TCT chưa có sự đầu tư thích đáng cho nghiên cứu khoa học và công nghệ chế biến, bảo quản nên dẫn đến tình trạng hang hóa không đảm bảo chất lượng cũng như mẫu mã. Hiện nay các mặt hàng của TCT sử dụng hệ thống thiết bị không đồng bộ, khâu bảo quản chưa bảo đảm theo tiêu chuẩn của hàng nông sản, điều kiện về kho hàng còn đơn giản, chưa có hệ thống chống ẩm, thấp... Hoạt động nghiên cứu cung cầu trong nước và ngoài nước còn yếu kém, tất cả mới chỉ dừng lại ở doanh thu bao nhiêu, vòng quay vốn, lãi...Mặt khác, định hướng chiến lược thực hiện kế hoạch lâu dài trong công ty còn sơ sài, chủ yếu hoạt động theo phương thức được chuyến nào hay chuyến ấy. Trước đây thường xuất theo kế hoạch nhà nước về xuất hàng trả nợ, về sau không còn phải xuất hang trả nợ. Nhưng vẫn phải nói rằng công tác điều tra thương nhân, lập kế hoạch trong tương lai, cho từng thị trường chưa được là bao, chính sách thương nhân và thị trường chưa ổn định, có thị trường tiêu thụ chè truyền thống lại để mất ( thị trường chè vàng ở Hồng Kông ). Đồng thời TCT cũng chưa có nhiều mối quan hệ thân thiết với các bạn hàng theo kiểu “hợp tác bền vững hai bên cùng có lợi”. Đôi khi gặp biến động giá, các bạn hàng có thể bán cho các đối tác khác và thu lợi nhuận cao hơn, khi giá thấp thì TCT lại phải mua vào bù lỗ. Nguồn vốn của TCT không phải là lơn, vốn đầu tư cho hoạt động xuất khẩu còn hạn hẹp, dẫn đến công tác thu mua gặp khó khăn. Giá chè lại phụ thuộc rất nhiều vào thời vụ thu hoạch và chất lượng chè. Cán bộ trình độ chuyên môn chưa cao, chưa chủ động trong công việc, còn thụ động trong công việc được giao. Cán bộ kinh doanh còn thiếu,nhất là khâu giao dịch đối ngoại. Việc có nhiều phòng kinh doanh để xuất khẩu chè là không hợp lý, đã nhiều lần xảy ra tình trạng tranh chấp khách hàng và thị trường ngay trong nội bộ của TCT. Mặt khác, giá chào hàng lại không thống nhất, cùng một mặt hàng nhưng lại chào giá khác nhau nên khách hàng lại lợi dụng để dìm giá. Khách quan. Không có sự quản lý đồng bộ của các cấp các ngành về sản xuất và chế biến mà ở đây cụ thể là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Thương mại. Từ đó dẫn đến tình trạng sản xuất không tập trung. Lợi ích của người dân không được đảm bảo khi hàng hóa bán được thì họ đổ xô đi trồng chè, ngược lại khi không bán được thì họ đổ xô phá đi trồng cây khác. Điều này vừa thiệt hại chung cho nền kinh tế quốc dân, vừa ảnh hưởng xấu đến hoạt động của Tổng công ty vì nguồn hàng không ổn định. Hơn nữa, công tác quản lý vĩ mô không thống nhất gây nên hiện tượng tranh nhau trong nước, tranh bán ra nước ngoài, đẩy giá hàng chè trong nước lên cao, giá xuất khẩu thấp gây không ít khó khăn cho hoạt động xuất khẩu chè của Tổng công ty. Chế độ chính sách về thuế nông nghiệp còn cao so thu nhập của người dân. Các hộ nông dân ngoài việc phải nộp thuế nông nghiệp, còn phải đóng góp cho quản lý phí, bảo vệ sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng. Cây chè và người làm thuê phải đóng góp như thế là quá nặng. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng vùng chè thua kém hơn nhiều so với các vùng sản xuất nông nghiệp khác, điều đó tăng thêm khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính sách đầu tư vốn vào chè còn ít hơn so với các cây trồng khác như cà phê và cao su. Các doanh nghiệp chè thì phải gánh chịu nhiều chi phí mang tính chất công ích, xã hội cho cả vùng như : cầu cống, bệnh viện, nhà trẻ, trường học... làm giá thành sản xuất tăng cao. Ngoài ra mặt hàng chè có tính thời vụ nên việc tiến hành thu mua bảo quản còn gặp nhiều khó khăn. Trên đây là những đánh giá tình hình xuất khẩu chè của Tổng công ty chè Việt Nam. Qua những đánh giá này cần phải có những biện pháp cụ thể để đẩy mạnh và phát huy những mặt tích cực, khắc phục những mặt yếu kém. Những biện pháp này sẽ được trình bày ở chương sau. Chương 3 Phương hướng và giải pháp chủ yếu thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty chè Việt Nam trong thời gian tới 3.1. Cơ hội và thách thức đối với TCT chè Việt Nam trong thời gian tới 3.1.1. Cơ hội Môi trường kinh doanh của tổng công ty chè Việt Nam được hình thành từ rất sớm, thương hiệu Vinatea ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trên thị trường chè trong và ngoài nước. Có được những thành quả như ngày nay bởi sự tập trung lao động sản xuất của tập thể cán bộ công nhân viên tổng công ty chè Việt Nam từ những ngày đầu bắt tay vào việc sản xuất kinh doanh chè. Vừa dựa vào những điểm mạnh của tổng công ty, vừa phát huy những điều kiện thuận lợi của môi trường kinh doanh để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh chè hiện nay. Không những vậy, Việt Nam còn có lợi thế về tự nhiên, với khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai màu mỡ, cùng với lực lượng lao động dồi dào... sẽ góp phần quan trọng cho sự phát triển của ngành chè Việt Nam. Môi trường vĩ mô cũng góp phần ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của TCT chè Việt Nam nói riêng, của ngành chè Việt Nam nói chung. Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố chính trị, pháp luật; kinh tế; kĩ thuật và công nghệ; văn hóa xã hội và yếu tố tự nhiên. Trước hết phải nói đến yếu tố chính trị, pháp luật : Những năm gần đây, tình hình an ninh thế giới diễn biến phức tạp, nhiều nơi chính trị bất ổn, song Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có nền chính trị ổn định nhất thế giới. Bởi sự ổn định về chính trị tạo điều kiện cho người lao động yên tâm, hăng hái lao động sản xuất, gia tăng năng suất chất lượng nguyên liệu chè và sản phẩm chè. Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, có những chính sách kịp thời và thuận lợi cho người nông dân trồng chè như giao đất, khoán vườn cây cho người lao động, khoán theo Nghị định 135/CP của Chính phủ… đặc biệt là sự kiện Việt Nam gia nhập WTO năm 2006 tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu như Vinatea. Đồng thời luật sở hữu trí tuệ ngày càng hoàn thiện góp phần bảo vệ thương hiệu chè Vinatea cả trong và ngoài nước. Đi cùng với tình hình an ninh chính trị ổn định là tăng trưởng kinh tế của Việt Nam những năm gần đây khá cao. Chính mức tăng trưởng kinh tế cao, cộng với chính trị ổn định là sức hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành chè đặc biệt, tổng công ty có một công ty liên doanh hợp tác với phía nước ngoài là Iraq. Chính điều này tạo ra những cơ hội về học tập kinh nghiệm quản lý, tranh thủ vốn hiện đại hóa dây chuyền sản xuất... Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tổng công ty còn bao gồm cả yếu tố kỹ thuật công nghệ sản xuất. Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhập khẩu máy móc dây chuyền sản xuất tiên tiến, hiện đại trên thế giới và khu vực. Được sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, trong thời gian tới TCT chè Việt Nam sẽ có nhiều có hội tiếp cận nguồn vốn, khoa học và công nghệ mới. Từ đó càng ngày càng khẳng định vị thế của mình trên thị trường thế giới. 3.1.2. Thách thức Mặc dù TCT chè Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển và nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao lợi thế trên thị trường thế giới, tuy nhiên chè Việt Nam cũng gặp không ít những khó khăn và thách thức. Từ phía nhà cung cấp, đối với tổng công ty chè Việt Nam nhà cung ứng chính là các hộ nông dân, nông trường, hợp tác xã trồng chè. Hiện nay, vùng nguyên liệu của Vinatea mới đáp ứng được một nửa nguyên liệu chế biến, một số nhà máy của tổng công ty có vùng nguyên liệu riêng như : Công ty chè Long Phú (Hòa thạch - huyện Quốc Oai - Hà Tây) với diện tích vườn chè là 263,7 ha. Công ty Chè Mộc Châu ( huyện Mộc Châu - Sơn La), vườn chè diện tích 1100 ha. Ngoài ra còn một số công ty khác có vườn chè riêng song diện tích còn ít. Do vậy lượng nguyên liệu chè phải mua ngoài vẫn chiếm tỷ lệ lớn, dẫn đến khó khăn trong khâu kiểm soát chất lượng nguyên liệu, giảm sự chủ động nguyên liệu cho chế biến. Áp lực từ phía người tiêu dùng, trước hết là sở thích uống chè ngày nay có nhiều thay đổi. Những cách uống chè truyền thống, với ấm chén và cách pha cầu kỳ ngày ngày càng ít dần đi, thay vào đó là phong cách uống chè đơn giản, nhanh bằng những loại chè hòa tan, chè pha sẵn. Hơn nữa đối tượng thưởng thức chè cũng đã mở rộng hơn, không chỉ có những người lớn tuổi mà ngày nay, thanh niên, giới trẻ uống chè ngày càng rộng rãi. Do đó, việc đa dạng hóa sản phẩm là chiến lược theo đuổi hàng đầu của tổng công ty trong thời gian gần đây. Đặc biệt sản lượng chè của tổng công ty chủ yếu là xuất khẩu, nên áp lực từ phía khách hàng nước ngoài là rất lớn về vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Ngoài ra trong ngành kinh doanh có một thách thức rất lớn mà công ty phải đối mặt là cạnh tranh với những doanh nghiệp cùng sản xuất kinh doanh chè. Theo thống kê của Hiệp hội chè Việt Nam cả nước ta có hơn 600 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh chè, và hơn 1000 hộ chế biến chè. Đó là những đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Vinatea, bên cạnh đó các loại chè hòa tan các hãng chè ngoại như Lipton, Delmah… chiếm thị phần tương đối lớn và có tiếng trên thị trường thế giới. Ngoài những doanh nghiệp đang trực tiếp kinh doanh chè thì những đối thủ tiềm ẩn đang đe dọa đến thị phần của Vinatea là những doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh đồ uống như café, bột dinh dưỡng…sẵn có những công nghệ dây chuyền chế biến hòa tan. Thêm nữa là sự thay thế các sản phẩm đồ uống khác. Hiện nay, Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều loại nước uống giải khát : nước cam, cocacola, pepsi cola, sữa tươi… đó là những loại nước uống có thể thay thế chè và được nhiều người tiêu dùng rộng rãi. Trên đây là những cơ hội, điểm mạnh cũng như những khó khăn thách thức mà tổng công ty chè Việt Nam đang phải đối mặt, căn cứ trên những thành tựu đã đạt được và những khó khăn ấy tổng công ty đã có những phương hướng phát triển và biện pháp khắc phục. 3.2. Định hướng phát triển của Tổng công ty chè Việt Nam đến năm 2015 3.2.1. Định hướng. Trong lịch sử phát triển của ngành chè Việt nam, đặc biệt trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của ngành này đang có một vai trò quan trọng và trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nền công nghiệp và kinh tế quốc dân. Bởi vậy, củng cố và mở rộng thị trường chè xuất khẩu trở thành nhiệm vụ chủ yếu nhằm tập trung cố gắng cho ngành chè phát triển đúng vị trí và tiềm năng của nó. Phương hướng mở rộng thị trường xuất khẩu chè nằm trong chiến lược phát triển ngành chè nói chung, được coi là chiến lược phát triển của ngành chè Việt Nam. Căn cứ về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tiềm năng phát triển của ngành chè về đất đai, khí hậu, con người cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, căn cứ vào chiến lược kinh tế - xã hội của đất nước. Ngành chè đã nêu ra chủ trương phát triển chè trong giai đoạn từ nay đến năm 2010- 2020 như sau : - Xây dựng tổng công ty chè Việt Nam nhà nước giữ cổ phần chi phối thành một Doanh Nghiệp mạnh, hoạt động đa ngành trên cơ sở ngành chè là chính, đủ mạnh để làm chủ lực cho ngành chè Việt Nam hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới. - Xây dựng ngành chè thành một ngành sản xuất đa dạng sản phẩm, cây trồng vật nuôi...Là một ngành mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế - xã hội ở Trung du và miền núi. Đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng chè trong cả nước, xuất khẩu ngày càng nhiều và có tích lũy để tái sản xuất mở rộng. - Xuất khẩu ngày càng tăng, giữ vững và ổn định các thị trường có số lượng lớn, tăng kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hơn 1 triệu lao động. Góp phần vào việc phân bố lại lao động và dân cư, thu hút ngày càng nhiều lao động, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc và sinh hoạt cho người lao động, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta. - Lĩnh vực trồng chè : tập trung đầu tư thâm canh trên diện tích có khả năng cho năng suất cao, đầu tư giống mới, đổi mới các cơ sở hạ tầng đã cũ kĩ, lạc hậu...góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc và bảo vệ mối trường sinh thái. - Lĩnh vực chế biến và tiêu thụ chè : các doanh nghiệp phải chế biến từ chè búp tươi, có vùng nguyên liệu cụ thể, xác định phương án cụ thể, thu thập thông tin về thị trường..., có những quyết sách hợp lý đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Các doanh nghiệp trên cùng một địa bàn cần chia sẻ thông tin, phối kết hợp... phấn đấu 2010-2015 tất cả Doanh nghiệp đều có vùng nguyên liệu riêng cho mình. - Tập trung nghiên cứu mở rộng kênh phân phối, đẩy mạnh tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu. Nghiên cứu mở rộng thị trường mới, giữ vững thị trường cũ. Chú trọng việc phát triển khoa học và công nghệ đủ khắc phục những nhược điểm và yếu kém hiện nay. - Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng từ trung ương đến địa phương, có tính chất đồng bộ. Có những giải pháp thích hợp để thu hút nhiều nguồn vốn ở trong và ngoài nước để phục vụ cho mục tiêu phát triển chè. 3.2.2. Mục tiêu. Xây dựng tổng công ty chè Việt Nam nhà nước giữ cổ phần chi phối thành một doanh nghiệp mạnh, hoạt động đa ngành trên cơ sở ngành chè là chính, đủ mạnh để làm chủ lực cho ngành chè Việt Nam hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới. Chính phủ, Bộ NN&PTNT và Hiệp hội chè Việt Nam đã đề ra mục tiêu ổn định ngành chè Việt Nam ở mức 130 - 140 ngàn ha. Mục tiêu này là hợp lý, có thể hiểu là ngành chè phải phát triển theo chiều sâu (thâm canh, nâng cao chất lương và giá trị gia tăng) hơn là phát triển theo chiều rộng hiện nay (tăng diện tích, chất lượng yếu, năng lực cạnh tranh kém). Trên cơ sở đó, phấn đấu đến năm 2010 toàn ngành đạt doanh thu khoảng 250-300 triệu $ (gần bằng doanh thu từ chè của Srilanka vào năm 2005. Mức doanh thu tổng hợp từ chè và các nguồn khác vào thập niên 20 trở ra dự kiến ở mức 500-750 triệu $. Những mục tiêu này là tham vọng và phải phấn đấu quyết liệt vì tổng kim ngạch hiện nay mới đạt hơn 100 triệu $. Năng suất bình quân dự kiến khi định hình đạt 12 tấn búp tươi/ha (tức là hơn 2,5 tấn khô/ha). Mức năng suất này là tiên tiến, cao gần gấp đôi năng suất bình quân hiện nay. Việc xác định mục tiêu này là căn cứ vào mức độ năng suất đại trà của các vùng trọng điểm, việc tăng các diện tích trồng giống mới tiến bộ và việc cải tạo đất. Chiến lược phát triển: Sản phẩm sản xuất ra để phục vụ theo nhu cầu của khách hàng, từ chỗ bán cái ta có chuyển sang bán cái khách hàng cần; từ chỗ xuất khẩu thành phẩm tiến đến xuất khẩu thành phẩm có nhãn mác và phục vụ lợi ích người tiêu dùng. Đa dạng hóa các mặt hàng chè (đen, xanh truyền thống) có thêm chè bổ dưỡng, chè chữa bệnh,…và các loại chè đáp ứng nhu cầu từng vùng. Giữ vững thị trường truyền thống và bạn hàng lớn như Pakistan, Nga, Đức, Đài Loan…Phát triển các thị trường mới như EU, Mỹ, Nhật bản và Hàn Quốc, tôn chỉ hoạt động của Tổng công ty : “Tín nhiệm – Chất lượng – Lâu dài – Bền vững”. Kế hoạch xuất khẩu chè dự kiến năm 2009 so với năm 2008 được thể hiện dưới biểu đồ sau : Biểu đồ 3.1 : Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu chè năm 2009 so 2008 Ngàn tấn Triệu USD Ngàn tấn Triệu USD Năm Nguồn : Tổng công ty chè Việt Nam Xuất khẩu chính ngạch : khối lượng dự kiến 117 ngàn tấn, so với năm 2008 tăng 12,5%. Trị giá dự kiến 167 triệu USD, so với năm 2008 tăng 13,6%. Đơn giá bình quân, dự kiến 1.420 – 1430 USD/ tấn, so với năm 2008 tăng không đáng kể. Xuất khẩu tiểu ngạch : khối lượng dự kiến 18 ngàn tấn. Trị giá dự kiến 30,6 triệu USD. Đơn giá bình quân dự kiến 1.700 USD /tấn. Chè nội tiêu dự kiến 34 ngàn tấn. Từ phương hướng phát triển chung trên, TCT Chè Việt Nam đã đề ra mục tiêu chung cho việc phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm chè trong giai đoan 2010-2015 như sau: Mục tiêu đến giai đoạn 2010-2015, diện tích chè được trồng mới và thay thế đạt mức độ ổn định khoảng 140.000ha, năng suất bình quân đạt 9-10 tấn búp/ha, cho tổng sản lượng 1,2-1,4 triệu tấn búp tươi, tương đương 240.000- 280.000 tấn chè thành phẩm. Trong đó khối lượng xuất khẩu khoảng 200.000 tấn (chiếm 70% tổng sản lượng)với cơ cấu 50% chè đen, 20% sản phẩm chè mới có giá trị cao và 30% chè xanh chất lượng cao đạt giá trị xấp xỉ 300 triệu USD. Tiếp tục củng cố và phát triển thương hiệu chè Vinatea bằng cách nâng cao chất lượng, sản lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm, giảm thiểu chi phí giá thành và ổn định thị trường tiêu thụ, chiếm đựơc tín nhiệm lâu dài trên thị trường trong nước và ngoài nước, để tăng kim ngạch XK, làm nghĩa vụ với nhà nước, tích luỹ tái sản xuất mở rộng và nâng cao thu nhập cho người lao động. Từng bước thay thế những vườn chè già cỗi, giống cũ bằng giống mới năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện đất đai thổ nhưỡng của từng vùng sinh thái kết hợp hỗ trợ kĩ thuật trồng và chăm sóc chè. Đầu tư đổi mới dây truyền công nghệ chế biến đảm bảo chất lượng và sản xuất được nhiều loại chè cao cấp, đảm bảo vệ sinh công nghiệp, an toàn thực phẩm, thực hiện các quy định về chất lượng và vệ sinh môi trường. Đổi mới phương thức quản lý sản xuất – kinh doanh nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, tổ chức các dịch vụ tư vấn phát triển chè, đào tạo nguồn nhân lực. Áp dụng công nghệ thông tin hiện đại vào quản lý sản xuất kinh doanh, và dự báo cung cầu, giá cả thị trường, tình hình mua bán giao dịch trong và ngoài nước. Quảng bá rộng rãi thương hiệu Vinatea gắn với những sản phẩm chất lượng riêng biệt. 3.3. Các giải pháp chủ yếu thúc đẩy hoạt động xuất khẩu chè của Tổng công ty chè Việt Nam. 3.3.1. Về phía Tổng công ty. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường. Đối với TCT, hoạt động nghiên cứu thị trường nước ngoài thời gian qua còn chưa được chú ý. Mục tiêu của việc nghiên cứu thị trường nhằm xác định các bạn hàng ổn định lâu dài cho từng mặt hàng xuất khẩu, xác định dung lượng hàng xuất khẩu tính cho mỗi loại mặt hàng, mỗi loại thị trường khác nhau là bao nhiêu...Đồng thời nhằm phát hiện ra thị trường mới. Sản phẩm chè của TCT đã có mặt trên thị trường quốc tế, có những thị trường đã trở thành quen thuộc, có những thị trường mới. Do vậy củng cố và tìm kiếm thị trường chè là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của chiến lược thị trường xuất khẩu của TCT. Với thị trường quen thuộc như Liên Bang Nga, các nước thuộc SNG, các nước Đông Âu đã nhập chè Việt Nam từ 40 năm nay. Đây là thị trường quen thuộc nên cần cố gắng duy trì phát triển ổn định và tăng thị phần nhập khẩu chè của họ đối với chè của ta. Cần chú ý tới công tác tiếp thị, nghiên cứu nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng tại thị trường này để cải tiến chất lượng sản phẩm xuất khẩu kể cả bao bì nhãn mác. Đối với thị trường Trung cận Đông như các nước là Iraq, Iran, Libi, Giooc Dani... là khách hàng có nhiều tiềm năng, chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu của TCT. Do vậy đây là thị trường đáng chú ý cần có chính sách giữ vững và ổn định để tăng khối lượng và kim ngạch xuất khẩu. Cần đẩy mạnh hơn nữa khâu tiếp thị, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm mới của chè nhất là những sản phẩm tổng hợp của chè để cạnh tranh với các đồ uống khác thích ứng với tập quán không dùng đồ uống có cồn của người dân theo đạo Hồi. Thị trường Châu Á như Pakistan, Singapore, Nhật Bản, Đài Loan ...đòi hỏi chất lượng cao hơn, khâu chế biến sản phẩm chè đối với thị trường này cần lưu ý cải tiến chất lượng mẫu mã, bao bì, nhãn mác. Các thị trường khác như Bắc Mỹ và Tây Âu gồm nước như : Anh, Mỹ... đã sử dụng sản phẩm chè của TCT. Đây không phải là thị trường mới nhưng rất khó tính nhưng cũng có nhiều hứa hẹn. Tăng cường công tác tiếp thị dưới nhiều hình thức khác nhau để mở rộng thị trường Tây Âu là một việc hết sức quan trọng. Hoàn thiện công tác quảng cáo, chào hàng, Marketing. Trên thực tế, hoạt động Marketing của TCT chưa mang chức năng là sự thúc đẩy cho cả sản xuất, xuất khẩu và nhập khẩu. Kế hoạch marketing chỉ dừng ở nội dung như : doanh số cần đạt là bao nhiêu, lãi bao nhiêu, dự kiến bán sản phẩm ở thị trường nào. Trong thời gian tới TCT cần xây dựng các hỗ trợ marketing, các kinh doanh xuất khẩu chè. Các hỗ trợ này cần phải hoàn thiện hơn khi mà có rất nhiều đầu mối cùng tham gia hoạt động xuất khẩu chè. Chính sách giao tiếp và khuyếch trương phải trở thành công cụ quan trọng để TCT áp dụng nhằm mang đến cho người tiêu dùng hình ảnh sản phẩm của TCT. Để giúp cho sản phẩm chè có cơ hội thâm nhập sâu hơn vào các thị trường, TCT cần đề ra các kế hoạch tăng cường tham gia giới thiệu sản phẩm tại các cửa hàng, quầy hàng, hội chợ triển lãm. Chiến lược marketing – mix bao gồm chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối, chiến lược xúc tiến nên thực hiện đồng thời nhưng với mức độ khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể. Cần có chính sách ưu đãi về giá cả và một số điều kiện cho các bạn hàng lâu năm. Xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh hợp lý. Bất cứ một công ty nào nếu đã xác định làm ăn lâu dài đều phải xây dựng cho mình chiến lược phát triển trong tương lai. Dựa trên những thông tin thu nhập được kết hợp với thực trạng của công ty để xây dựng chiến lược kinh doanh làm khung cho sự ổn đình và phát triển của công ty. Xây dựng chiến lược xuất khẩu không nên tập trung quá nhiều vào một mặt hàng , vào những thị trường quen thuộc mà phải chú ý đa dạng hóa các loại chè, mẫu mã, kiểu dáng hương vị riêng...Xây dựng chiến lược xuất khẩu là định hướng hoạt động lâu dài cho TCT, do vậy nó phải dựa trên cơ sở kết quả của công tác nghiên cứu thị trường và sự cân nhắc yếu tố trong nước, bản thân TCT. Một điều đáng chú ý khác nữa là trong khi xây dựng chiến lược đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu, TCT cần có chiến lược đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, có như vậy mới đảm bảo cho hoạt động xuất khẩu được thực hiện một cách liên tục, hạn chế kiểu buôn bán theo từng thương vụ. Để xây dựng chiên lược đúng đắn, TCT cần có sự phân tích kỹ lưỡng các mặt mạnh, mặt yếu và các cơ hôi có thể có của TCT trong thời kỳ tiếp theo. Một chiến lược kinh doanh trên cơ sở phối hợp các yếu tố của môi trường bên trong và môi trường bên ngoài TCT, đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường sẽ mang lại hiệu quả kinh doanh. Tăng cường liên doanh, hợp tác với nhiều bạn hàng trên thế giới. Cùng với chủ trương chung của nhà nước là kêu gọi, khuyến khích sự đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thì việc TCT tiến hành liên doanh, liên kết với các bên đối tác nước ngoài nhằm nâng cao nguồn vốn, mở rộng thị trường, tiếp cận thị trường, học hỏi kinh nghiệm quản lý cũng như kinh nghiệm kinh doanh của nước bạn. TCT cần đẩy mạnh việc tham gia các hội thảo, triển lãm, tiếp thị... của ngành chè nhằm không ngừng mở rộng uy tín của mình trên thị trường quốc tế. Nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách đổi mới cơ cấu giống, hợp lý khâu thâm canh, khâu vận chuyển nguyên vật liệu...Chất lượng sản phẩm giữ vai trò rất quan trọng trong việc củng cố và mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa. TCT cần kiểm tra quá trình vận động của hàng hóa từ khâu đầu tới khâu cuối. Đặc biệt là đối với mặt hàng chè ngoài việc kiểm tra chất lượng ở thời điểm sản xuất, dự trữ bảo quản, còn phải quan tâm đến thời hạn sử dụng an toàn.Thông thường, chè đòi hỏi cần phải đóng gói cẩn thận nhằm giữ chất lượng sản phẩm ngay khi mới chế biến. Khi mức sống của người dân và khoa học công nghệ phát triển cao thì yêu cầu về chất lượng hàng hóa cũng cao hơn. Do đó, đối với loại hàng chè tự sản xuất, TCT phải kiểm tra nghiêm ngặt, tôn trọng quy trình công nghệ chế biến, tăng cường quản lý khâu thu hái, đối với những mặt hàng thu gom phải có bộ phận kiểm tra, nghiệm thu chất lượng hàng trước khi đưa vào kho lưu trữ. TCT phải chú trọng kiên quyết không ứ đọng chè nhằm tránh tình trạng ôi ngót. Về lâu dài dể nâng cao chất lượng chè xuất khẩu, thì vấn đề giống chè là một vấn đề đặc biệt quan tâm. Như đã nêu ở phần trên, hiện bộ giống chè của các đơn vị thuộc TCT cũng như các xí nghiệp sản xuất thuộc ngành chè việt nam còn rất kém. Do đó, trong thời gian tiếp theo TCT cần phải lấy việc nghiên cứu giống chè làm nòng cốt xúc tiến việc khu vực hóa về giống có năng xuất cao và chất lượng tốt tới các vườn chè. Tại các đơn vị sản xuất chè, cần khôi phục lại các vườn giống chè, sử dụng các loại giống mới có chất lượng cao nhằm cung cấp giống cho trồng dặm, trồng mới của dân và đơn vị. Trước mắt cần tập trung vào các vườn chè thuộc các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Hà Tĩnh, để cung cấp giống thuần chủng và năng xuất cao. Hiện nay do tình trạng tranh mua ở thị trường trong nước, người sản xuất không quan tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm. Mặt hàng chè xuất khẩu của TCT chất lượng đang còn thấp, giá xuất khẩu bao giờ cũng thấp hơn giá thế giới từ 100-200 USD/ tấn. Những công nghệ hiện đại để chế biến mặt hàng cao cấp hiện nay chưa có điều kiện thưc hiện bởi chúng ta còn thiếu vốn. Do vậy mà vấn đề quản lý và chất lượng, từng bước cải tiến công nghệ chế biến là vấn đề rất cần thiết đối với TCT. Áp dụng máy móc, thiết bị, khoa học kĩ thuật tiên tiến, hiện đại. Chè là sản phẩm có đặc trưng khác so với các sản phẩm khác là nó có nguồn gốc hữu cơ. Trừ một số sản phẩm tiêu dùng trực tiếp dưới hình thức chè tươi của một số vùng thì nhu cầu về sản phẩm chè thông qua chế biến ngày càng tăng. Xã hội ngày càng văn minh thì đòi hỏi về chè có chất lượng cũng tăng theo. Chè ngay từ khi thu hái về còn tươi, nếu để trong điều kiện bình thường sẽ bị mốc, nhiễm khuẩn, sau khi tiến hành chế biến thì phải bảo quản hợp lý, nếu không sẽ có thể làm giảm đi chất vốn có của chè. Vì vậy, chế biến đúng kĩ thuật và bảo quản tốt là yếu tố cơ bản để tránh làm mất phẩm chất của chè trước khi bán. Do đó, TCT cần phải nghiên cứu ứng dụng công nghệ, thiết bị mới, nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao. Xây dựng bổ sung hoàn chỉnh quy trình công nghệ chế biến các loại chè để nâng cao chất lượng đa dạng hóa sản phẩm. Tạo thương hiệu của VINATEA trên thị trường thế giới, có sản phẩm rõ rệt, tạo lòng tin cho khách hàng. Muốn thực hiện được điều này thì các khâu như nghiên cứu thị trường, chiến lược marketing, chiến lược thu hút khách hàng phải được thực hiện một cách có hiệu quả. Cần đẩy mạnh vấn đề nghiên cứu để tạo ra một sản phẩm có tiếng mang thương hiệu chè Việt Nam trên thị trường thế giới, gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng...Như vậy cần phải áp dụng công nghệ, khoa học kỹ thuật tiên tiến vào quá trình nghiên cứu, sản xuất, chế biến chè của Việt Nam. Kiểm tra chặt chẽ khâu vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm tránh những sản phẩm kém chất lượng, không đủ tiêu chuẩn xuất ra nước ngoài. Đầu tư hệ thống kho tàng cho việc cất trữ hàng hóa để có thể mua hàng vào những thời điểm có lợi nhất và xuất hàng khi khách hàng có đơn yêu cầu. Hiện nay hệ thống kho của TCT tương đối nhiều, dung lượng lớn, tuy nhiên có một số kho đã xuống cấp, mái nhà dột, nền kho ẩm. Những điều kiện như vậy không đảm bảo an toàn cho chất lượng hàng hóa trong kho, vì vậy TCT cần tổ chức tu sửa lại hệ thống kho tàng nhằm bảo quản tốt hơn, bảo toàn chất lượng hàng hóa. Chú ý cần phải có những kho tàng đặc chủng để chống nhiễm khuẩn, mốc meo, mối mọc...Việc chế biến bảo quản trở thành một khâu không thể thiếu được trong quá trình sản xuất của ngành chè. Phương pháp công nghệ và quy trình chế biến, bảo quản có ảnh hưởng rất lớn và gần như quyết định đối với chất lượng sản phẩm chè, điều này đồng nghĩa với việc nâng cao khả năng cạnh tranh, giúp TCT khẳng định vị trí của mình với bạn hàng trong và ngoài nước. Nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, tổ chức các lớp dạy nghề cho bà con nông dân. (Hiện nay đang áp dụng thí điểm hình thức này tại hai tỉnh Yên Bái và Thái Nguyên) có cấp chứng chỉ sau khóa học. Hầu hết lao động trồng chè ở Việt Nam là bà con nông dân ở các vùng trung du miền núi, vùng sâu vùng xa, không hiểu biết nhiều về kĩ thuật cũng như các vấn đề khoa học. Họ chủ yếu là nhờ kinh nghiệm và do “ cha truyền con nối”, vì vậy, sản lượng chè đạt được có thể chưa đạt được ở mức cao nhất cũng như chưa đạt được hiệu quả cao nhất. Vì vậy, tổ chức các lớp dạy nghề cho bà con nông dân để bà con có thể hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn về kỹ thuật cũng như phương pháp trồng chè. Ngoài ra sau mỗi khóa học cấp chứng chỉ cho bà con sẽ tạo cho họ hứng thú và động lực để tiếp tục đẩy mạnh tăng gia sản xuất, góp phần phục vụ đất nước ngày một phát triển. Đào tạo các kỹ sư, cán bộ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tay nghề cao.Trong bất kỳ thời điểm nào, ngay cả thời đại công nghiệp như hiện nay, yếu tố con người luôn được khẳng định mà không thể loại máy móc nào thay thế được. Xét ngay tại công ty thì vấn đề nhân lực là một trong những nhân tố không thể thiếu. Đào tạo cán bộ trong TCT bảo đảm rằng TCT luôn tiếp cận được với những vấn đề mới, học hỏi đươc kinh nghiệm từ những bạn hàng, đối thủ cạnh tranh và cách làm việc của những nước phát triển. Thị trường chè thế giới ngày càng phức tạp, nhu cầu về sản phẩm chè ngày càng đòi hỏi chất lượng cao. Hơn nữa tập quán thương mại, ngôn ngữ giao dịch với các nước ở các thị trường khác nhau. Do đó đòi hỏi người làm công tác xuất khẩu phải hết sức linh hoạt, tinh thông nghiệp vụ ngoại thương, giỏi ngoại ngữ và hiểu biết chuyên môn về ngành chè. Bên cạnh đó, TCT cũng cần có những khuyến khích về lợi ích thỏa đáng cho người theo học các chương trình trên, để họ yên tâm, dốc lòng, dốc sức cho công việc. Qua đó giúp họ hiểu rõ, nắm chắc sâu sắc nghiệp vụ xuất nhập khẩu, khơi dậy tính tích cực sáng tạo của mỗi cán bộ công nhân viên. Đây thực sự là cách đầu tư lâu dài tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của TCT. Nếu đào tạo được đội ngũ cán bộ công nhân viên năng động sáng tạo, nhiệt tinh vì công việc, là “người của công việc” thì đó chính là tiền đề để tổng công ty phát triển trong nay mai và là nhân tố chính giúp TCT đứng vững trên thị trường quốc tế, nắm bắt thông tin kịp thời và tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh. Cần có sự thống nhất liên kết giữa người trồng chè và doanh nghiệp, nâng cao mức sống người dân lao động. Phần đa số các doanh nghiệp trong nước và người trồng chè chưa thống nhất được với nhau về giá cả cũng như sức lao động của người nông dân bỏ ra để họ có thể nhận được mức tiền thỏa đáng. Nhiều người lao động bỏ ra nhiều công sức, tiền bạc, của cải vật chất nhưng cuối cùng họ thu về không được là bao, đời sống ngày một khó khăn khi giá cả thị trường càng ngày càng đắt đỏ. Chính vì vậy, cần quan tâm đúng mức đến người lao động, có sự thống nhất với nhau giữa những người chủ doanh nghiệp và lao động trồng cây chè. 3.3.2. Về phía Nhà nước. Qui hoạch và phát triển vùng chè. Nguồn chè ổn định, phong phú, đa dạng là tiền đề cho xuất khẩu chè đi vào ổn định theo chiều có lợi hơn. Khi có qui hoạch vùng chè công tác thu mua, bảo quản sẽ diễn ra nhanh hơn, thuận lợi hơn, hiệu quả hơn, giảm bớt các chi phí trung gian. Với điều kiện hiện tại có nhiều khó khăn về vốn và các điều kiện cần thiết khác, TCT rất khó thực hiện việc quy hoạch các vùng chè trọng điểm. Vì vậy mà nhà nước mà trực tiếp là Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn cần tạo điều kiện cho TCT bố trí quy hoạch các vùng chè cho sản xuất chè xuất khẩu. Căn cứ vào đặc điểm sinh thái và địa hình, có thể hình thành 3 loại vùng chè, từ đó có định hướng cho việc đầu tư và cả cho hướng thị trường. Để có được những vùng chè tập trung, với cơ cấu giống hợp lý và hình thành vùng nguyên liệu để chế biến công nghiệp. Chính phủ cũng nên thành lập các doanh nghiệp chuyên làm nhiệm vụ khai hoang - trồng mới - chăm sóc chè, các doanh nghiệp này đứng ra vay vốn theo các dự án đã được nhà nước duyệt để trồng chè tập trung vào các vườn chè và khi các vườn chè đã đi vào kinh doanh thì cho phép bán lại cho các hộ gia đình. Có như vậy, mới đảm bảo được các vùng nguyên liệu chè ổn định, chất lượng đồng đều. Hiện nay, các vùng sản xuất và chế biến chè phần lớn tập trung ở các tỉnh trung du va miền núi trên cơ sở hạ tầng như đường sá, bệnh viện, mạng lưới điện...đang còn yếu kém. Do vậy, nhà nước cần có hướng đầu tư để tăng cường cơ sở hạ tầng, trước hết là hệ thống đường sá giao thông, hệ thống điện phục vụ sản xuất va đời sống nhân dân vùng trồng chè để cải thiện đời sống và làm việc của người trồng chè. Việc qui hoạch, bố trí các vùng nguyên liệu tập trung trọng điểm sẽ giúp cho TCT dễ dàng khai thác tiềm năng sẵn có về điều kiện tự nhiên, sinh thái và kinh tế xã hội của mỗi vùng, tạo nên nguồn sản phẩm hàng hóa lớn có khả năng cạnh tranh, Đặc biệt đối với nguồn sản phẩm xuất khẩu. Nhà nước cần có những chính sách thích hợp về tổ chức quản lý xuất khẩu của các doanh nghiệp, tránh tình trạng lách luật cũng như những sản phẩm kém chất lượng xuất ra thị trường thế giới. Việc Nhà nước thống nhất tổ chức, quản lý xuất khẩu chè vừa dễ dàng kiểm soát từ trên xuống, vừa tránh được sự lũng đoạn thị trường. Kết hợp quản lý theo ngành và theo vùng lãnh thổ trên nguyên tắc phát triển trên phạm vi cả nước đồng thời nhằm làm hợp lý và tạo điều kiện thuận lợi đối với từng đối tượng quản lý. Trên cơ sở có thể dự kiến một phương thức quản lý mới tối ưu với ngành chè với tư cách là một ngành kinh tế kỹ thuật gắn với lợi ích của những địa phương có cây chè. Do vậy, Chính phủ và Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cần phải phân công, tổ chức lại ngành chè như sau: Các tỉnh, các địa phương chịu trách nhiệm về sản xuất nông nghiệp và chế biến nhỏ phục vụ nội tiêu là chủ yếu, tổ chức khuyến nông, kiểm tra và hướng dẫn quy trình canh tác. Các doanh nghiệp trung ương lo thị trường xuất khẩu, chế biến các loại chè xuất khẩu có quy mô lớn với các nhà máy lớn và hiên đại để sản phẩm xuất khẩu luôn giữ vững và nâng cao chất lượng, số lượng như tăng sức cạnh tranh của chè Việt Nam trong khu vực cũng như trên thế giới. Ngoài các đơn vị đã là thành viên của Hiệp Hội Chè Việt Nam như Tổng công ty Chè Việt Nam, các đơn vị thuộc tổng công ty...Nhà nước cần có chính sách để các đơn vị chè địa phương, các công ty xuất nhập khẩu tổng hợp và một số công ty trách nhiệm hữu hạn làm nhiệm vụ xuất khẩu chè tự nguyện tham gia Hiệp Hội xuất khẩu Chè Việt Nam nhằm đảm bảo sự thống nhất về thị trường và giá cả xuất khẩu chè, tránh sự giảm giá hàng xuất khẩu để giành giật khách hàng nước ngoài cũng như cạnh tranh mua hàng trong nước để xuất khẩu. Bên cạnh đó cần phải phối hợp các cơ quan quản lý ngành với các cơ quan chuyên môn để ngăn chặn tình trạng chè không đủ tiêu chuẩn vẫn lọt ra ngoài. Ban hành và thống nhất tiêu chuẩn một nhà máy chế biến chè, xuất khẩu để làm cơ sở cho các ngành, các cấp trong việc cấp giấy phép thành lập xí nghiệp. Ban hành tiêu chuẩn hóa về giống : Giống nào trồng ở vùng nào với cơ cấu nào là hợp lý. Việc nhà nước đơn giản hóa và thống nhất trong quản lý vĩ mô sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho TCT tham gia hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao. Nhà nước có những chính sách hợp lý về chế độ, chính sách cho người lao động. Để phát triển chè, một số chính sách của Nhà nước đề ra cần đươc hoàn thiện như : Đề nghị miễn thuế sử dụng đất đối với người trồng chè, kèm theo đó là một số chính sách có liên quan để bảo vệ và giữ gìn ổn định đất trồng chè. Đề nghị miễn thuế nhập khẩu vật tư thiết bị trong một số năm. Chính sách về công nghệ và ứng dụng kỹ thuật gắn liền với công tác khuyến nông. Các chính sách đối với con người như bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế. Kinh phí cho các doanh nghiệp chè đầu tư cho y tế, giáo dục, xã hội, phụ cấp khu vực đề nghị được ngân sách cấp hoặc trừ vào các khoản phải nộp. Cho phép được lập quỹ bình ổn giá trong giá thành sản phẩm để trợ cấp người trồng chè khi có bất lợi về điều kiện tự nhiên và khi giá chè xuống thấp không có lợi cho người trồng chè. Đề nghị nhà nước cấp hỗ trợ vốn để lập quỹ dự trữ xuất khẩu, vốn đầu tư và lãi xuất ngân hàng, vốn vay thâm canh tăng năng xuất chè được vay ưu đãi, vốn vay để phát triển trồng chè và cải tạo vườn chè xấu đề nghị được vay với lãi xuất thấp, vay trong 15 năm, 5 năm gia hạn vì trồng chè mất 3 năm chăm sóc thiết kế cơ bản và 2 năm sau nữa chè mới phát huy hiệu quả. Vốn vay xây dựng nhà xưởng và vận chuyển thiết bị cho các nhà máy mới hiện đại đề nghị đươc vay với chế độ ưu tiên. Vốn mua thiết bị đươc sử dụng vốn ODA của các nước cho Chính Phủ vay. Ngoài ra, nhà nước cần có chính sách tạo điều kiện cho TCT đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa, cụ thể : Các cơ quan đại diện thương mại của ta ở các nước hoặc các khu vực cần tăng cường tổ chức máy móc nối các cuộc gặp gỡ, trao đổi giữa các doanh nghiệp đầu mối trực tiếp sản xuất chè của ta đối với các đầu mối nhập khẩu hoặc các khách trực tiếp có nhu cầu tiêu dùng. Cần có chính sách tiêu thụ và giúp đỡ các TCT có cơ hội gia nhập thị trường thế giới. Nhà nước tích cực tham gia vào các diễn đần quốc tế và khu vực. Là thành viên của WTO, nhà nước ta đã và đang tăng cường tham gia liên kết và xúc tiến thương mại băng nhiều hình thức khác nhau. Thực hiện các vấn đề trên sẽ giúp TCT chủ động trong giao dịch, kinh doanh xuất khẩu, tạo thế cạnh tranh công bằng và đẩy mạnh được hoạt động kinh doanh xuất khẩu, đưa kim ngạch xuất khẩu chè tăng lên, đồng thời cũng tăng thu ngoại tệ cho đất nươc. Giữ vững và phát huy truyền thống của tổng công ty trong nhưng năm qua xứng đáng là đầu tầu trong cả nước về xuất khẩu chè. KẾT LUẬN Trong tình hình hội nhập nền kinh tế thế giới, xuất khẩu giữ vai trò rất quan trọng. Đảng và Nhà nước trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm từ các quốc gia khác trên thế giới cùng tiến trình hội nhập cùng nền kinh tế toàn cầu đã và đang đưa Việt Nam có vị trí quan trọng trên đấu trường thế giới. Trong đó, đẩy mạnh xuất khẩu chè nói riêng và sự phát triển của ngành chè nói chung cũng đã góp phần thúc đẩy quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Tổng công ty chè Việt nam, với vai trò như một đầu tầu vừa dẫn dắt vừa là động lực đưa ngành chè cả nước đi lên, đã và đang nỗ lực không ngừng nhằm đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xuất khẩu chè, nâng cao vị thế chè Việt nam trên trường quốc tế. Với những kết quả và thành tựu đạt được của Tổng công ty trong thời gian qua đã phần nào đóng góp vào sự phát triển của ngành chè nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, với tình hình Việt Nam tham gia vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì phía trước sẽ còn rất nhiều trông gai và thách thức đối với Tổng công ty để hoàn thành nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao phó. Qua chuyên đề thực tập tốt nghiệp này, em cũng đã phân tích thực trạng tình hình xuất khẩu của Tổng công ty trong thời gian vừa qua, phân tích những mặt mạnh, mặt yếu, từ đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty chè Việt Nam trong thời gian tới. Tuy nhiên do thời gian va trình độ bản thân còn nhiều hạ chế nên những phân tích đánh giá cũng như những kiến nghị của em chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong được lượng thứ và chỉ bảo thêm để quá trình nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn. TÀI LIỆU THAM KHẢO PGS. TS Trần Chí Thành “Giáo trình QTKD Xuất nhập khẩu”, NXB Thống kê Hà Nội 2000. Đỗ Ngọc Quỹ - Nguyễn Kim Phong, “Cây chè Việt Nam”, NXB Nông Nghiệp 1997. Xu hướng tiêu thụ mới trên thị trường chè và tiến bộ kỹ thuật về công nghệ chè, Trần Tông Mậu “ Trung Quốc”. Hội thảo về chè Bắc Kinh Tham luận tại đại hội Hiệp hội chè Việt Nam, Lâm Đồng, ngày 21/12/2008. Cam kết của Việt Nam với WTO trong lĩnh vực NN & PTNT. Nguyễn Kim Phong, “ Chương trình phát triển chè giai đoạn 2000-2010), Tổng công ty chè Việt Nam. Tổng công ty chè Việt Nam, Báo cáo kết quả kinh doanh 5 năm (2000 – 2005 ) Tổng công ty chè Việt Nam, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu các năm 2006, 2007, 2008. Báo Thế giới Chè, “ Sự kiện và vấn đề”, Xuân Kỷ Sửu, tr.9-10. Webside vinatea.com.vn, Vietnamnet.kinhtechevietnam... Một số luận văn và khóa luận tốt nghiệp các năm trước. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Tổng công ty : TCT Sản xuất kinh doanh : SX-KD Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn : Bộ NN&PTNT Công ty trách nhiệm hữu hạn : công ty TNHH Hợp tác xã : HTX Hội đồng quản trị : HĐQT Tổng giám đốc : TGĐ Phó tổng giám đốc : PTGĐ Cổ phần : CP Xuất khẩu : XK Bình quân : BQ Bình quân đầu người : BQĐN

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc1914.doc
Tài liệu liên quan