Đề tài Hoàn thiện công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương ở công ty thương mại và dịch vụ Traserco

Như trên ta đã thấy, trong công tác xây dựng quỹ tiền lương cho công ty. Công ty đã sử dụng phương pháp xác định quỹ lương dựa trên đơn giá tiền lương và sản lượng kỳ kế hoạch. V = Qi x Di Với: V : Tổng quỹ lương công ty năm kế hoạch Qi : Sản lượng lưu chuyển trong năm kế hoạch mặt hàng i Di : Đơn giá loại hình kinh doanh thứ i. Để xác định quỹ tiền lương của công ty trong kỳ kế hoạch công ty đã đưa ra phương pháp xác định sản lượng lưu chuyển (Qi) của từng mặt hàng. Phương pháp xác định (Qi) của công ty là: - Thống kê sản lượng bán hàng năm trước nhận thấy tốc độ tăng sản lượng cao hơn từ đó ước lượng sản lượng của kỳ kế hoạch. - Căn cứ vào vị trí địa lý điều kiện phát triển của địa bàn, từ đó ước lượng khối lượng lưu chuyển kỳ kế hoạch. Như vậy kế hoạch lưu chuyển được xây dựng dựa trên cơ sở ước lượng nên thiếu chính xác làm cho quỹ lương kế hoạch chưa sát thực tế (thường thấp hơn vì công ty thường có vượt chi).

doc48 trang | Chia sẻ: haianh_nguyen | Ngày: 22/04/2015 | Lượt xem: 575 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Hoàn thiện công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương ở công ty thương mại và dịch vụ Traserco, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng công việc với chất lượng quy định trong một thời gian nhất định. Việc giao khoán quỹ lương kích thích người lao động quan tâm tới kết quả sản xuất, tiết kiệm lao động sống và tự chủ trong sản xuất. Để xác định số lượng tiền lương cần giao cho doanh nghiệp ta dựa vào công thức tính: QTLKH = ĐGTH x SLKH Trong đó: QTLKH : Quỹ tiền lương kế hoạch giao cho đơn vị SLKH : Sản lượng kế hoạch được giao ĐGTH : Đơn giá tổng hợp cho sản phẩm cuối cùng ĐGTH = ĐGi + CFQL+ CFPV Với ĐGi - Đơn giá bước công việc thứ i CFQL- Chi phí quản lý tính cho một đơn vị sản phẩm CFPV - Chi phí phục vụ tính cho một đơn vị sản phẩm. Sau đó từ quỹ lương được giao cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ tiến hành chia lương cho người lao động. 2. Phương pháp quản lý quỹ lương trong các doanh nghiệp hiện nay Để đánh giá hiệu quả của công tác quản lý quỹ tiền lương của các doanh nghiệp hiện nay, người ta căn cứ vào việc áp dụng các hình thức chia lương phù hợp sao cho khuyến khích người lao động hăng hái làm việc, nâng cao tay nghề, tăng năng suất lao động. Mặt khác, doanh nghiệp phải tạo nguồn tiền lương hợp lý tăng thu nhập cho người lao động mà không vi phạm các chế độ chính sách, bảo toàn vốn và phát triển. a. Quy trình chia lương Với tổng quỹ lương doanh nghiệp tiến hành chia lương cho từng người. - Trước hết tính tiền lương bình quân cho toàn doanh nghiệp trong năm (cụ thể hoá cho từng người). - Chia tổng quỹ lương làm hai bộ phận: Tiền lương cho bộ phận lao động trực tiếp và tiền lương của bộ phận gián tiếp, sau đó xác định tiền lương bình quân từng người ở từng khu vực trong năm. - Chia lương trong khu vực trực tiếp và gián tiếp (tính theo đồng/tháng/người). - Cuối cùng là so sánh thu nhập tiền lương giữa lao động trực tiếp và lao động gián tiếp, kỳ trước và kỳ sau, đảm bảo tốc độ tăng tiền lương bình quân kỳ sau cao hơn kỳ trước, tốc độ tăng năng suất lao động phải lớn hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân của toàn doanh nghiệp. b. Phương pháp chia lương cho cán bộ công nhân viên. ã Đối với bộ phận gián tiếp. Để khắc phục tình trạng bộ máy quản lý cồng kềnh, làm việc kém hiệu quả đã làm cho tiền lương của bộ phận quản lý bị thấp và không đảm bảo sử dụng lao động có hiệu quả, người ta đã áp dụng phương pháp giao khoán quỹ lương cho bộ phận lao động quản lý theo một đơn giá khoán. Với phương pháp này đã kích thích các phòng ban giảm bớt số người làm việc tạo điều kiện cho việc sử dụng lao động có hiệu quả hơn. Quỹ lương của bộ phận gián tiếp được xác định như sau: QLGT = ĐGGT x QTL Trong đó: QLGT : Quỹ lương của bộ phận gián tiếp ĐGGT : Đơn giá tiền lương bộ phận gián tiếp (theo tỷ lệ hao phí lao động gián tiếp trong tổng hao phí lao động của sản phẩm sản xuất ra) QTL : Quỹ tiền lương của doanh nghiệp. ã Đối với bộ phận lao động trực tiếp. ở bộ phận này có 2 hình thức trả lương hay được áp dụng là: Trả lương theo thời gian và trả lương theo sản phẩm. + Hình thức trả lương theo thời gian là số tiền trả cho người lao động căn cứ vào thời gian làm việc và tiền lương cho một đơn vị thời gian. Như vậy cũng có nghĩa là tiền lương nhận được theo hình thức tiền lương theo thời gian phụ thuộc vào 2 nhân tố: Mức lương theo đơn vị thời gian và thời gian làm việc. Tiền lương theo thời gian có 2 loại chính là: Tiền lương theo thời gian giản đơn và tiền lương theo thời gian có thưởng. Ưu điểm của hình thức này là phù hợp với công việc không thể định mức tính toán đơn giản, nhanh và dễ hiểu. Nhược điểm của hình thức này là làm suy yếu vai trò đòn bẩy kinh tế của tiền lương và duy trì chủ nghĩa bình quân trong tiền lương. + Hình thức trả lương theo sản phẩm: bao gồm 6 chế độ: ã Tiền lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân ã Tiền lương sản phẩm tập thể ã Tiền lương sản phẩm gián tiếp ã Tiền lương sản phẩm luỹ tiến ã Tiền lương khoán ã Tiền lương sản phẩm có thưởng. Tiền lương theo sản phẩm là số tiền người lao động nhận được căn cứ vào đơn giá tiền lương và số lượng sản phẩm hoàn thành. Trong đó: TLSP : Tiền lương theo sản phẩm SLi : Số lượng sản phẩm i ĐGi : Đơn giá tiền lương loại sản phẩm đó n : Số loại mặt hàng (sản phẩm) sản xuất. Ưu điểm của hình thức này là kích thích người lao động làm việc thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức lao động, tổ chức quản lý. Nhược điểm: rất khó xác định đơn giá một cách chính xác việc tính toán rất phức tạp. Nó đòi hỏi phải có các điều kiện sau: ã Xây dựng hệ thống định mức kỹ thuật ã Cải tiến các mặt hoạt động của doanh nghiệp giảm số lao động dự trữ ã Thực hiện tốt công tác kiểm kê, kiểm tra sản phẩm sản xuất ra. ã Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho người lao động. IV. Vai trò của việc xây dựng và quản lý quỹ tiền lương trong điều kiện hiện nay. Trong điều kiện hiện nay để tiền lương phát huy được tác dụng tích cực của nó thì trước hết mỗi doanh nghiệp phải đảm bảo tiền lương của mình thực hiện tốt chức năng thấp nhất và chức năng quan trọng của tiền lương là phải đảm bảo đủ chi phí để tái sản xuất sức lao động tiền lương phải nuôi sống được người lao động, duy trì sức lao động của họ. - Tiền lương là giá trị sức lao động, là yếu tố của chi phí sản xuất. Do đó muốn tiết kiệm được chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm thì các doanh nghiệp phải sử dụng quỹ tiền lương của mình có kế hoạch thông qua việc xây dựng và quản lý quỹ tiền lương. Việc trả lương cho công nhân trong doanh nghiệp là trả dần theo từng tháng. Do đó phần tiền lương chưa dùng đến phải được sử dụng có hiệu quả trong quá trình sản xuất. Muốn làm tốt được vấn đề này thì doanh nghiệp phải lập kế hoạch quản lý nguồn vốn tạm thời này. Nếu công tác này được thực hiện tốt sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn nâng cao hơn nữa kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị mình. Trong thời kỳ hiện nay Nhà nước ta đang thực hiện chính sách đổi mới, xoá bỏ bao cấp. Các đơn vị sản xuất kinh doanh phải tự hạch toán lỗ lãi để đóng góp vào ngân sách Nhà nước. Do vậy việc xác định và quản lý quỹ tiền lương cho các đơn vị có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Để có thể kết hợp giữa phát triển toàn bộ nền kinh tế với việc đảm bảo giá trị sức lao động cho người lao động. Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường, quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp luôn chịu sự tác động của qui luật cạnh tranh giá trị, cơ chế thị trường rất khắc nghiệt, nó sẵn sàng đào thải những doanh nghiệp nào làm ăn thua lỗ, không hiệu quả. Trong điều kiện đó, chất lượng và giá cả là những yếu tố quan trọng giúp cho doanh nghiệp đứng vững và phát triển. Để công nhân luôn gắn bó với công việc và với doanh nghiệp phát huy hết khả năng sáng tạo, tinh thần trách nhiệm trong sản xuất, luôn tìm cách cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu, hạ giá thành sản phẩm. Để làm được điều đó các doanh nghiệp phải có một phương pháp quản lý có hiệu quả. Trong công tác quản lý thì quản lý quỹ tiền lương có vai trò hết sức quan trọng. Việc trả lương cho người công nhân được tiến hành như thế nào để khuyến khích họ trong sản xuất, đem lại hiệu quả thiết thực cho doanh nghiệp. - Sự cần thiết phải hoàn thiện công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương trong các doanh nghiệp. Chuyển sang cơ chế thị trường Nhà nước không bao cấp cho các doanh nghiệp mà các doanh nghiệp phải tự hạch toán kinh doanh. Sản phẩm sản xuất ra phải tự tìm kiếm thị trường tiêu thụ nên cần phải nâng cao năng suất lao động hạ giá thành sản phẩm nhằm cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường. Tiền lương là một bộ phận quan trọng trong giá thành sản phẩm nên yêu cầu đặt ra là các doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương. Do mỗi doanh nghiệp có một đặc điểm riêng và công tác tiền lương luôn có sự thay đổi theo thời gian và sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì vậy mà mỗi doanh nghiệp luôn luôn phải hoàn thiện công tác tổ chức tiền lương của doanh nghiệp mình cho phù hợp. Hiện nay ở nhiều doanh nghiệp việc xây dựng kết cấu tiền lương còn chưa hợp lý, bộ phận tiền lương biến đổi còn chiếm tỷ trọng lớn hơn tiền lương cơ bản, tiền thưởng nhiều hơn lương làm giảm ý nghĩa của tiền lương, tiền lương không còn phản ánh được kết quả công việc. Bên cạnh đó việc phân phối quỹ lương còn chưa hợp lý giữa lao động quản lý và lao động trực tiếp, giữa lao động trong cùng một bộ phận. Do đó, cần phải có những phương hướng để khắc phục những nhược điểm này trong công tác tổ chức tiền lương của các doanh nghiệp. Phần II Phân tích thực trạng công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương tại Công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO I. Những đặc điểm ảnh hưởng đến việc xây dựng và quản lý quỹ tiền lương của công ty 1. Quá trình hình thành và phát triển Tiền thân của công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO là công ty Thiết bị Thương nghiệp, ăn uống và dịch vụ, được thành lập ngày 20/2/1988 theo Quyết định số 14NT/QĐ1 của Bộ trưởng Bộ Thương mại, trực thuộc Bộ Thương mại, có nhiệm vụ cung cấp các thiết bị chuyên dùng trong kinh doanh thương mại, ăn uống và khách sạn. Công ty Thiết bị Thương nghiệp ăn uống và dịch vụ được thành lập đúng vào thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước, từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Trong giai đoạn này, công ty đã gặp rất nhiều khó khăn về vốn và về thị trường. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có một định hướng đổi mới trong hoạt động kinh doanh đó là mở rộng ngành hàng, mặt hàng kinh doanh về vật tư, nguyên liệu, hàng hoá đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trên thị trường nội địa và xuất khẩu. Năm 1993, từ định hướng kinh doanh mới đặt ra và với chủ trương sắp xếp lại doanh nghiệp của Nhà nước, công ty Thiết bị Thương nghiệp, ăn uống và dịch vụ đổi tên thành Công ty Thương mại và dịch vụ Traserco theo quyết định số 446/QĐ của hội đồng Bộ trưởng. Công ty có chức danh và nhiệm vụ kinh doanh trên các mặt: - Tổ chức sản xuất, bán buôn, bán lẻ các mặt hàng. Thiết bị phương tiện vận chuyển, hoá chất, nguyên liệu, phục vụ cho sản xuất, các chất tẩy rửa và ngành nhựa, hàng điện máy dân dụng và hàng công nghệ phẩm. - Tổ chức gia công hoặc liên doanh, liên kết hợp tác đầu tư với các tổ chức sản xuất để tạo ra nguồn hàng thiết bị thương nghiệp và tiêu dùng trong nước, tham gia xuất nhập khẩu. - Nhận uỷ thác mua, đại lý bán các mặt hàng thuộc phạm vi kinh doanh của công ty và thực hiện các dịch vụ theo yêu cầu của các tổ chức kinh tế. Do xác định được hướng đi đúng đắn và với tinh thần làm việc có trách nhiệm và sáng tạo của đội ngũ cán bộ công nhân viên công ty đã đạt được một số kết quả nhất định: Vốn kinh doanh của công ty được bổ xung từ lợi nhuận hàng năm của công ty ngày càng cao, quy mô kinh doanh của công ty ngày càng được mở rộng và công ty đã tạo được chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Sau đây là một số kết quả mà công ty đã đạt được trong những năm gần đây. Biểu 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Đơn vị tính: Triệu đồng Năm Chỉ tiêu 1998 1999 2000 1. Tổng doanh thu 463.215 448.600 455.000 2. Tổng chi phí 456.860 458.627 448.431 3. Lợi nhuận trước thuế 873 1.112 830 4. Lợi nhuận dòng 593 542 564,4 5. Nộp ngân sách 11.246 49.418 57.500 6. Quỹ tiền lương 658 987 1.001 7. Nguồn vốn kinh doanh 2.956 3.297 3.547 2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty Bố trí được một mạng lưới bán hàng phù hợp là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến sự thành công của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại. Và để làm được như vậy, doanh nghiệp cần phải căn cứ vào nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm kinh doanh của mình. Đối với công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO, do ngành hàng kinh doanh rộng, nhiều chủng loại như: kinh doanh thiết bị vận chuyển, nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất kinh doanh, hoá chất, điện máy dân dụng và hàng công nghệ phẩm,... nên công ty đã lựa chọn hình thức vừa kinh doanh ở thị trường nội địa mà chủ yếu là ở các thành phố lớn trên cơ sở khai thác tối đa nguồn hàng trong nước và nhập khẩu; vừa kinh doanh xuất khẩu. Công ty đặc biệt chú trọng đến hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu điển hình là nhập khẩu hàng điện máy dân dụng, phương tiện vận tải đã qua sử dụng về tiêu thụ trong nước. Hiện nay công ty có hai cửa hàng bán sản phẩm, một xí nghiệp sản xuất bao bì tại Yên Viên - Gia Lâm và một chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh. - Hai cửa hàng tại Hà Nội, gồm cửa hàng kinh doanh vật tư tổng hợp tại số 2B - Lê Phụng Hiểu và trạm thiết bị thương nghiệp tại 210 - Trần Quang Khải với nhiệm vụ bán buôn bán lẻ các mặt hàng kinh doanh của công ty. - Xí nghiệp sản xuất bao bì tại Yên Viên - Gia Lâm trực thuộc công ty có nhiệm vụ sản xuất bao bì để xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. - Chi nhánh thiết bị thương nghiệp ăn uống và dịch vụ đóng tại 59 - Lý Thường Kiệt - Quận 1 - TP. Hồ Chí Minh có nhiệm vụ cung cấp cho ngành ăn uống và ngành kinh doanh khách sạn. Ngoài ra còn kinh doanh xuất nhập khẩu một số mặt hàng mà tiêu dùng trong và ngoài nước có nhu cầu. 3. Đặc điểm về cơ cấu bộ máy quản lý Trải qua nhiều năm hoạt động, công ty không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý và công tác điều hành hoạt động kinh doanh phù hợp với yêu cầu tổ chức kinh doanh của công ty. Hiện nay cơ cấu tổ chức kinh doanh của công ty được xây dựng theo mô hình trực tuyến chức năng theo sơ đồ sau: Mô hình tổ chức kinh doanh và tổ chức quản lý kinh doanh của công ty: Xí nghiệp sản xuất bao bì Yên Viên Trạm thiết bị thương nghiệp Cửa hàng kinh doanh vật tư tổng hợp Chi nhánh công ty tại TP. Hồ Chí Minh Phòng Kinh doanh Phòng Tài chính kế toán Phòng Tổ chức hành chính Phó Giám đốc phụ trách kinh doanh Phó Giám đốc phụ trách hành chính Giám đốc - Ban Giám đốc công ty: Gồm một Giám đốc và hai Phó Giám đốc. Giám đốc công ty là người chịu trách nhiệm toàn diện trước Nhà nước và Bộ chủ quản. Phó Giám đốc phụ trách hành chính và Phó Giám đốc phụ trách kinh doanh có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho giám đốc theo từng mảng công việc mà mình phụ trách. Mỗi phòng ban trong công ty đều có chức năng, nhiệm vụ cụ thể nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. - Phòng tổ chức hành chính: Gồm 4 người, có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho Giám đốc và chịu sự chỉ đạo của Giám đốc về sắp xếp, tổ chức và sử dụng lao động, giải quyết các chế độ chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội,... đối với người lao động, thực hiện công tác đối nội, đối ngoại của công ty. - Phòng kinh doanh: Gồm 6 người, chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và kinh doanh nội địa; đồng thời có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, tìm đối tác, bạn hàng xác định nhu cầu thị trường để đề ra các phương án, chiến lược kinh doanh cho công ty. Ngoài ra, phòng kinh doanh còn có nhiệm vụ lập và giao các mục tiêu kế hoạch kinh doanh hàng năm xuống các đơn vị cơ sở, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và có phương án điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn. - Phòng tài chính kế toán: Gồm 5 người, có nhiệm vụ tham mưu giúp việc cho Giám đốc và chịu trách nhiệm về công tác tài chính, kế toán, phân tích hoạt động kinh doanh của công ty; đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh và kiến nghị với Giám đốc để đề ra chiến lược kinh doanh cho năm sau: - Chi nhánh công ty tại TP. Hồ Chí Minh và xí nghiệp sản xuất bao bì Yên Viên: là đơn vị trực thuộc, trực tiếp sản xuất kinh doanh thương mại và dịch vụ, mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng và được sử dụng con dấu theo mẫu và thể thức qui định của Nhà nước. Hàng tháng, quý, năm phải báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình về công ty. - Hai cửa hàng của công ty: Là đơn vị trực thuộc, trực tiếp chịu sự quản lý của công ty về mọi hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ. 4. Đặc điểm về lao động Đến ngày 30/4/2001 công ty có 110 lao động, trong đó gồm 24 lao động gián tiếp và phục vụ còn lại là 86 lao động trực tiếp tại xí nghiệp và cửa hàng. Tỷ trọng lao động gián tiếp là 20,2% còn tỷ trọng lao động trực tiếp là 79,8%. Về cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn: lực lượng lao động của công ty phần lớn là lao động trẻ có trình độ chuyên môn cao được hình thành từ nhiều nguồn và đã trải qua công việc cụ thể. Ta thấy được trình độ chuyên môn lao động của công ty qua biểu sau: Biểu 2: Cơ cấu lao động theo chuyên môn tính đến tháng 4/2001 Lao động Tổng số Đại học Trung học Công nhân kỹ thuật Số lượng (người) % Số lượng (người) % Số lượng (người) % Lao động VP 24 20 83 4 17 Lao động cửa hàng 30 2 7,4 20 66,6 8 26 Lao động XN 56 6 9,6 15 28,5 35 31,9 Nguồn: Bộ phận nhân sự - Phòng Tổ chức - Hành chính cung cấp ngày 5/6/2001 Qua biểu này ta thấy mặc dù lao động có trình độ đại học trong công ty còn thấp chỉ chiếm 25,45% nhưng tỷ lệ này cũng đã đảm bảo số lượng lao động có trình độ một cách hợp lý. Số lao động có trình độ đại học ở khối văn phòng là 83% trong tổng số lao động văn phòng còn ở cửa hàng chỉ chiếm 7,4% lao động cửa hàng. Điều này là hợp lý vì lao động ở văn phòng là lao động quản lý do đó cần trình độ cao mới đáp ứng được. Đối với lao động cửa hàng chỉ trừ có cửa hàng trưởng và cửa hàng phó là lao động quản lý điều hành cửa hàng còn lại chỉ là lao động giản đơn nên trình độ lao động có trình độ trung học và công nhân kỹ thuật cao hơn so với trình độ đại học là phù hợp. Cũng chính do đặc điểm này mà hệ số lương bình quân của người lao động nhận được trong khối văn phòng sẽ cao hơn ở khối cửa hàng và xí nghiệp. Ngoài ra, trong các cửa hàng và xí nghiệp do yêu cầu của công việc mỗi người đảm nhận một công việc khác nhau và có trình độ không đồng đều cho lên việc xác định hệ số lương theo chức danh và phụ cấp của người lao động ở các cửa hàng và xí nghiệp là khác nhau. Về chất lượng của lao động: Để đáp ứng nhu cầu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, chất lượng lao động của công ty cũng đã dần tăng lên. Cụ thể là tỷ trọng lao động có trình độ sơ cấp giảm, số lao động đúng chuyên môn tăng lên do đó đã nâng cao chất lượng lao động chung của toàn công ty. Biểu 3: Cơ cấu lao động theo tuổi, giới tính 1998 1999 2000 TS Nữ TS Nữ TS Nữ - Lao động quản lý 24 10 24 10 26 12 15-25 8 4 8 4 8 6 25-50 12 5 12 6 14 6 Trên 50 4 1 4 * 4 * - Lao động trực tiếp 85 35 85 35 85 35 15-25 25 15 25 15 25 15 25-50 60 70 60 20 60 20 Trên 50 Tuổi đời bình quân của lao động trong công ty thấp và tỷ trọng nam cao hơn nữ là những điều kiện để phát huy khả năng của người lao động và có thể tăng năng suất lao động lên cao. Dựa trên chất lượng của đội ngũ lao động để từ đó làm căn cứ cho công ty xây dựng được mức tiền lương bình quân toàn công ty và để xây dựng đơn giá tiền lương. II. Phân tích tình hình xây dựng quỹ lương ở công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO Công tác xây dựng quỹ tiền lương là việc làm quan trọng và cũng là công việc đầu tiên trong công tác tiền lương của mỗi doanh nghiệp. ở công ty TRASERCO công tác xây dựng quỹ tiền lương được tiến hành như sau: Xây dựng quỹ tiền lương cho các bộ phận 1. Xây dựng quỹ lương cho bộ phận lao động gián tiếp Bộ phận lao động trực tiếp của công ty hiện nay là toàn bộ lao động thuộc khối văn phòng: Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ, lái xe, bảo vệ thường trực,... ở công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO hiện nay việc xác định quỹ lương của bộ phận lao động gián tiếp được xác định như sau: VGT = TL x n1 (1) Trong đó: VGT : Quỹ lương năm kế hoạch của bộ phận lao động gián tiếp TL : Suất lương giờ bình quân năm kế hoạch của bộ phận lao động gián tiếp. n1 : Số lao động định biên năm kế hoạch. Như vậy ta thấy việc xác định quỹ tiền lương năm kế hoạch cho bộ phận lao động gián tiếp ở công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO về bản chất là dựa vào công thức (1) (xác định quỹ tiền lương theo tiền lương bình quân và số lao động bình quân). Tuy nhiên theo công thức xác định quỹ tiền lương này cho bộ phận lao động gián tiếp, thì tiền lương bình quân của người lao động trong kỳ kế hoạch được xác định như sau, xác định dựa vào tiền lương bình quân của người lao động kỳ báo cáo và chỉ số tiền lương kỳ kế hoạch (TL1 = TL0 + ITL) Tiền lương bình quân của khối lao động gián tiếp kỳ kế hoạch được xác định như sau: (2) Trong đó: : Hệ số lương bình quân theo Nghị định 26/CP, phụ cấp chức vụ (nếu có) của lao động toàn công ty. H1 : Hệ số lương bình quân theo hệ số lương qui định trong Nghị định 26/CP của bộ phận lao động trực tiếp. Số lao động trực tiếp (n2) và gián tiếp (n1) của công ty được xác định như sau: - Xác định n1 : do đặc thù của lao động quản lý rất khó định mức chính xác nên công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO phải xác định số lượng lao động gián tiếp căn cứ vào khối lượng công việc cần giải quyết trong năm kế hoạch để từ đó ước lượng số lao động cần thiết. - Xác định n2 : Số lao động trực tiếp là toàn bộ số người lao động tại các cửa hàng, xí nghiệp của công ty, cho nên số lao động này được xác định như sau: n2 = ồ Công nhân chính + ồ Cửa hàng trưởng, phó + ồ Công nhân ca ba + ồ Lao động dự phòng Từ (1) và (2) ta xác định được quỹ tiền lương của bộ phận lao động trực tiếp là: Qua phương pháp xác định quỹ tiền lương cho bộ phận lao động trực tiếp này ta nhận thấy việc xác định quỹ tiền lương hoàn toàn có cơ sở khoa học cả về lý thuyết và thực tế. Đã lấy lý thuyết làm cơ sở cho việc xây dựng quỹ tiền lương nhưng không phải chỉ đơn thuần là lý thuyết mà đã gắn với thực tế, gắn với tình hình kinh doanh hiện nay của công ty. Phương pháp xác định quỹ tiền lương này cũng đảm bảo gắn quỹ tiền lương với kết quả kinh doanh của công ty. Phản ánh được trình độ quản lý kinh doanh của lao động trực tiếp, nâng cao trách nhiệm, phát huy tính năng động sáng tạo của lao động gián tiếp. Tuy nhiên phương pháp này cũng gặp phải hạn chế là phụ thuộc vào công tác định biên lao động của khối văn phòng. Nếu như việc xác định số lao động định biên thiếu chính xác sẽ làm cho quan hệ tỷ lệ giữa quỹ tiền lương văn phòng và quỹ tiền lương cửa hàng không hợp lý. Bên cạnh đó việc xác định số lao động định biên lại dựa vào kinh nghiệm nên có phần thiếu chính xác. 2. Xác định quỹ lương cho bộ phận lao động trực tiếp Kết cấu lao động ở công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO gồm hai bộ phận là lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Do đó, từ hai bộ phận là: quỹ lương của bộ phận lao động trực tiếp và quỹ lương của bộ phận lao động gián tiếp. Do đó khi xác định được quỹ lương của bộ phận lao động gián tiếp ta sẽ xác định được quỹ lương cho bộ phận lao động trực tiếp bằng cách lấy tổng quỹ lương của công ty trừ đi phần quỹ lương của bộ phận lao động gián tiếp. Quỹ lương của bộ phận lao động trực tiếp ở công ty TRASERCO được xác định dựa trên cơ sở nói trên. VTT = V - VGT Trong đó: VTT : Quỹ tiền lương của bộ phận lao động trực tiếp năm kế hoạch V : Tổng quỹ của công ty năm kế hoạch VGT : Quỹ tiền lương của bộ phận lao động gián tiếp năm kế hoạch. Với phương pháp xác định quỹ tiền lương cho bộ phận lao động trực tiếp như ở trên ta thấy phương pháp này là hoàn toàn chính xác, nó đúng cả trong suy luận logic cũng như cả trong thực tế. Đồng thời việc xác định theo công thức này giúp cho việc tính toán đơn giản tránh được sai sót có thể xảy ra. Tuy nhiên xác định được chính xác quỹ tiền lương của bộ phận lao động trực tiếp theo phương pháp này đòi hỏi phải xác định được chính xác quỹ tiền lương của bộ phận lao động gián tiếp. Sau khi đã xác định được quỹ lương cho toàn bộ lao động trực tiếp trong công ty, công ty sẽ xác định quỹ lương cho từng cửa hàng, xí nghiệp. Quỹ tiền lương của từng cửa hàng được xác định theo công thức: Trong đó: VCHi : Quỹ tiền lương kế hoạch của cửa hàng thứ i ni : Số lao động của cửa hàng i kỳ kế hoạch : Tiền lương bình quân của lao động trực tiếp sau khi đã điều chỉnh. Tiền lương bình quân được xác định theo công thức: Với H2 là hệ số lương bình quân của khối lao động gián tiếp theo Nghị định 26/CP. Công ty phải điều chỉnh tiền lương bình quân của bộ phận lao động trực tiếp để bảo đảm tính cân đối trong tiền lương của người lao động, tránh được tình trạng có sự chênh lệch quá lớn về tiền lương ở các cửa hàng khác nhau và làm cho tiền lương thực sự là công cụ quản lý công ty cơ sở để điều chỉnh tiền lương là dựa vào: - Loại cửa hàng: Thông thường loại cửa hàng loại 1 có sản lượng bán cao nên có thu nhập cao nhất do đó tiền lương bình quân cao hơn cả tiếp sau đó là cửa hàng loại 2 và 3. Điều kiện lao động của mỗi cửa hàng khác nhau. Đối với các cửa hàng có điều kiện lao động khắc nghiệt thì người lao động phải nhận được thu nhập cao hơn so với lao động ở các cửa hàng khác (mặc dù có thể cửa hàng không đạt được loại 1). Ưu điểm của việc xây dựng quỹ tiền lương cho khối lao động trực tiếp đã thể hiện được tính chính xác, tính hợp lý cao đã loại trừ được ảnh hưởng của các nhân tố khách quan giảm khoảng cách tiền lương và đảm bảo được các nguyên tắc của tổ chức tiền lương. Nhược điểm: Theo phương pháp này nó sẽ bị sai lệch nếu như việc xác định không đúng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố. Điều này sẽ làm cho tiền lương bị bình quân hoá, không kích thích được người lao động, làm giảm tác dụng đòn bẩy kinh tế của tiền lương. III. Phân tích tình hình quản lý quỹ tiền lương ở công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO 1. Giao khoán quỹ tiền lương ở công ty TRASERCO 1.1. Cơ sở giao khoán Việc giao khoán quỹ tiền lương ở công ty TRASERCO dựa vào một số căn cứ chủ yếu sau đây: - Căn cứ vào tổng quỹ lương kế hoạch của công ty: quỹ lương của công ty sau khi đã trừ đi 3% tổng quỹ lương (để điều tiết khi cần thiết) sẽ được giao cho các đơn vị thuộc công ty. Quỹ lương của công ty mà lớn thì quỹ lương của xí nghiệp cũng lớn và ngược lại. - Căn cứ vào phân tích loại hình kinh doanh. - Căn cứ vào lượng lao động cần thiết, hệ số lương và các loại phụ cấp bình quân theo Nghị định 26/CP. - Một căn cứ rất quan trọng trong việc giao khoán quỹ tiền lương của công ty là phải dựa vào việc xây dựng quỹ lương cho công ty cũng như cho các bộ phận khác được xác định cho kỳ kế hoạch. 1.2. Phương pháp giao khoán Đối với mỗi cấp giao khoán khác nhau thì có phương pháp giao khoán khác nhau. ở công ty TRASERCO có ba phương pháp giao khoán tiền lương thường được sử dụng. - Giao khoán tiền lương bằng cách giao đơn giá tiền lương cho từng loại hình kinh doanh. Phương pháp này có nghĩa là công ty sẽ giao đơn giá cho mỗi loại hình kinh doanh, trên cơ sở đó xác định được quỹ tiền lương bằng cách lấy đơn giá nhân với số lượng của loại hình kinh doanh sau đó cộng tổng quỹ lương của tất cả loại hình kinh doanh lại. - Giao khoán quỹ lương cho bộ phận lao động gián tiếp theo một tỷ lệ nhất định. Với phương pháp này tỷ lệ tiền lương của bộ phận gián tiếp sẽ được xác định dựa vào mức độ đóng góp trong kết quả kinh doanh của công ty. - Giao khoán quỹ lương cho bộ phận lao động trực tiếp bằng cách giao đơn giá tiền lương cho từng mặt hàng kinh doanh. 1.3. Trình tự giao khoán - Công ty giao khoán quỹ lương cho bộ phận lao động trực tiếp. Quỹ lương của bộ phận lao động trực tiếp là toàn bộ số lao động ở các cửa hàng xí nghiệp. Quỹ lương của khối cửa hàng là tổng quỹ lương của các cửa hàng. Công ty giao khoán quỹ tiền lương bằng cách giao đơn giá tiền lương cho từng mặt hàng kinh doanh. Công thức xác định quỹ tiền lương giao khoán: Trong đó: FCH : Quỹ lương khoán của khối cửa hàng Mi : Sản lượng thực tế của mặt hàng i Di : Đơn giá tiền lương khoán cho mặt hàng i. Sau đó xác định quỹ lương giao khoán cho từng cửa hàng theo công thức sau: Trong đó: FCHj : Quỹ lương khoán của cửa hàng j Mij : Sản lượng thực tế của mặt hàng i của cửa hàng j Dij : Đơn giá tiền lương giao khoán cho mặt hàng i của cửa hàng j. Đơn giá công ty xây dựng cho khối cửa hàng là mỗi cửa hàng có một đơn giá riêng. Hiện nay ở công ty xác định đơn giá giao khoán cho từng cửa hàng dựa trên điều chỉnh tiền lương bình quân sao cho giảm bớt chênh lệch tiền lương bình quân. Biểu 4: Giao đơn giá tiền lương cho cửa hàng thiết bị thương nghiệp Cửa hàng thiết bị thương nghiệp Mặt hàng Số lượng chiếc Đơn giá (1.000đ) Quỹ lương giao khoán (1.000đ) Số lao động định biên (người) Thu nhập bình quân (đ/ng/tháng) Điều hoà 45 160 7.200 Quạt điện 350 11 3.850 6 797.250 Máy bơm nước 150 15 2.250 Ô tô tải cũ 8 5.400 43.200 Nguồn: Kế hoạch tiền lương năm 2001 - Công ty TRASERCO Đánh giá về phương pháp giao khoán này: Phương pháp giao khoán quỹ lương này dễ tính, dễ hiểu, gắn với kết quả kinh doanh của cửa hàng, các cửa hàng bán được nhiều hàng thì càng được hưởng nhiều gắn với hiệu quả lao động. Tuy nhiên phương pháp này còn có nhược điểm là do cách giao khoán đơn giá cho các cửa hàng không đảm bảo tính khoa học. Công ty đã không giao khoán đơn giá dựa trên việc đánh giá các tác động mà lại dựa vào tiền lương bình quân đầu người ở từng cửa hàng. Cách giao khoán này đã được tiến hành dựa theo cảm tính và có sự áp đặt của lãnh đạo. Để áp dụng có hiệu quả phương pháp giao đơn giá và khoán quỹ tiền lương phải có một hệ thống tiêu chuẩn và điều kiện đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố khách quan tới hao phí lao động của mỗi cửa hàng. 2. Phân tích tình hình thanh toán tiền lương trong tháng ở công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO Trên cơ sở những quy định của Nhà nước công ty đã tiến hành thanh toán tiền lương hàng tháng căn cứ vào kết quả lao động của cán bộ công nhân viên và hiệu quả kinh doanh của tháng đó. Việc xác định quỹ lương trong tháng cho toàn công ty cũng như trong khối văn phòng và cửa hàng cũng như phương pháp giao khoán quỹ lương ở công ty và các bộ phận (đơn giá giao cho giống nhau chỉ khác là sản lượng kinh doanh trong tháng). Quỹ lương tháng của công ty. Ftháng = ồ Mi tháng x Di Trong đó: Ftháng : Quỹ tiền lương tháng của toàn công ty Mi tháng : Sản lượng kinh doanh trong tháng mặt hàng i Di : Đơn giá loại hình kinh doanh thứ i. 2.1. Phân tích tình hình thanh toán lương cho lao động trực tiếp. Quỹ tiền lương để phân phối cho lao động ở mỗi cửa hàng dựa vào quỹ tiền lương theo đơn giá và sản lượng được giao khoán của cửa hàng thực hiện trong tháng. Công thức xác định quỹ tiền lương tháng cho mỗi cửa hàng: FCHj tháng = ồ Mij tháng x Dịj Trong đó: FCHj tháng : Quỹ tiền lương của cửa hàng j Mij : Sản lượng kinh doanh trong tháng mặt hàng i của cửa hàng j. Dij : Đơn giá của mặt hàng i giao cho cửa hàng j. Sau khi xác định được quỹ lương tháng của từng cửa hàng công ty tiến hành chia lương cho từng người lao động dựa trên việc áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm tập thể vì do sản lượng bán của cửa hàng là do cả tập thể cửa hàng. Quỹ lương phân phối này là quỹ lương sau khi đã trừ đi các khoản phụ cấp. Việc chia lương cho người lao động được tiến hành như sau: Công thức tính: Trong đó: TLi : Tiền lương công nhân thứ i nhận được trong tháng F : Quỹ lương của cửa hàng Ti : Ngày công làm việc của lao động i trong tháng Li : Hệ số lương cấp bậc theo Nghị định 26/CP của lao động i n : Số lao động trong tháng của cửa hàng. Như vậy tiền lương của công nhân i nhận được trong tháng là số tiền lương tính theo công thức trên cộng với số tiền phụ cấp mà công nhân đó được hưởng. Ví dụ thanh toán tiền lương trong tháng 6/2001 ở cửa hàng kinh doanh vật tư tổng hợp. Tổng quỹ lương theo đơn giá của cửa hàng: Mặt hàng Sản lượng trung bình trong tháng Đơn giá Quỹ lương (đồng) 1. Sơn LP 483 kg 2.500đ/kg 1.207.500 2. Lương thực các loại 76.800 kg 150đ/kg 11.520.000 3. Hoá chất 270 kg 4.300đ/kg 1.161.000 Tổng cộng 13.888.500 Tiền lương bình quân của cửa hàng theo đơn giá là: = 868.315đ Ưu điểm của hình thức thanh toán lương cho bộ phận lao động trực tiếp là việc trả lương theo hiệu quả lao động thích hợp đối với bộ phận lao động trực tiếp. Cách trả lương của công ty đã tiến hành chặt chẽ, cẩn thận, tiền lương gắn với hiệu quả kinh doanh. Phương pháp này còn khuyến khích người lao động đảm bảo ngày công, đi làm đầy đủ. Nhược điểm của hình thức trả lương này là quỹ lương của toàn bộ khối cửa hàng cũng như từng cửa hàng công ty xác định dựa trên đơn giá tiền lương như giao khoán quỹ tiền lương. Đây là đơn giá được xây dựng chưa có cơ sở khoa học mà chỉ dựa trên sự ước lượng. Do đó không đảm bảo được sự chính xác dẫn đến tiền lương của người lao động trong các cửa hàng cũng bị ảnh hưởng. 2.2. Phân tích tình hình thanh toán lương cho bộ phận lao động gián tiếp. Đối với bộ phận này, do đặc điểm không định mức được cụ thể như đối với bộ phận lao động trực tiếp (định mức qua khối lượng sản phẩm tiêu thụ). Nên công ty đã áp dụng hình thức trả lương khoán theo thời gian cho toàn bộ khối lao động gián tiếp. Cách xác định quỹ tiền lương cho bộ phận lao động gián tiếp như sau: Quỹ tiền lương của khối văn phòng cũng được xác định giống như phương pháp giao khoán quỹ lương của khối lao động gián tiếp. FGT tháng = t x Ftháng Trong đó: Ftháng : Quỹ tiền lương của công ty trong tháng FGT tháng : Quỹ tiền lương tháng của bộ phận lao động gián tiếp t : Tỷ lệ % giữa quỹ lương văn phòng và quỹ lương công ty. t = x 100 (%) Trong đó: t : Tỷ lệ % quỹ lương văn phòng và quỹ lương công ty VGT : Quỹ lương kế hoạch bộ phận gián tiếp TPC : Tiền lương phụ cấp theo kế hoạch của bộ phận văn phòng V : Quỹ lương kế hoạch của công ty. Từ quỹ lương của khối gián tiếp công ty tính lương cho từng phòng ban và từng người lao động trong phòng. Sau đó chuyển bảng thanh toán lương về từng phòng để kiểm tra sau đó mới phát lương. Đối với lao động văn phòng thì phụ cấp chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng quỹ lương và phụ cấp kiêm nghiệm được tính vào hệ số lương cấp bậc. Phụ cấp độc hại làm đêm của khối văn phòng chỉ tính cho tổ lái xe và bảo vệ. Việc tính lương cho từng lao động cũng được tính tương tự như tính lương cho khối lao động trực tiếp. Công thức tính: TLi = x Ti x Li Trong đó: TLi : Tiền lương lao động thứ i nhận được trong tháng F : Quỹ lương của khối lao động gián tiếp Ti : Ngày công làm việc của lao động i trong tháng Li : Hệ số lương cấp bậc theo Nghị định 26/CP của lao động i. Ví dụ: Thanh toán lương cho phòng kinh doanh trong tháng 5/2001. Trong tháng 5 có 1 ngày nghỉ (1/5) nên số ngày công làm việc thực tế Ti = 25 ngày. Do đó tiền lương mỗi người trong phòng kinh doanh nhận được như sau: Họ và tên cán bộ Hệ số lương cơ bản Ngày công làm việc trong tháng Bậc lương Hệ số lương chức danh công việc Tổng cộng tiền lương được tính Lê Cường 2,70 20 Bậc 2 3,20 1.422.468 Lâm Anh Tiến 2,22 25 Bậc 1 2,70 1.473.446 Nguyễn Tuyết Anh 3,86 16 Bậc 1 2,70 1.189.358 Trần Đức Trung 1,78 25 Bậc 1 2,20 1.193.515 Nguyễn Mạnh Tiến 1,78 25 Bậc 1 2,20 1.193.515 Vũ Thị Nhi 2,20 25 Bậc 2 2,60 1.434.103 Lê Quốc Tuấn 2,26 24 Bậc 2 2,60 1.390.836 Phạm Mai Hoa 1,78 23 Bậc 2 2,60 1.224.803 Tổng cộng 10.522.044 đ Nguồn: Kế hoạch phân phối tiền lương tháng 5/2001 phòng tổ chức tiền lương - công ty TRASERCO Ưu điểm của hình thức thanh toán tiền lương cho lao động gián tiếp là gắn lợi ích của bộ phận quản lý với kết quả kinh doanh của công ty, khuyến khích cán bộ công nhân viên nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác của mình để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty. Ngoài ra còn khuyến khích người lao động đảm bảo ngày công thực tế, tích cực làm việc để đạt hệ số lương cao hơn. Nhược điểm của hình thức này là còn mang tính bình quân chưa gắn liền với hiệu suất công tác của mỗi người. Chưa phản ánh được hiệu quả lao động trong từng ngày. IV. Đánh giá hiệu quả công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương ở công ty TRASERCO Công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương có mối quan hệ phụ thuộc. Nếu công tác xây dựng quỹ lương dựa trên cơ sở đúng đắn thì việc quản lý được thực hiện một cách dễ dàng và sẽ đạt được hiệu quả cao trong công tác tiền lương. Hiệu quả của công tác xây dựng và quản lý tiền lương là tạo động lực tăng năng suất lao động, đảm bảo ổn định về chi phí tiền lương, nâng cao mức sống của cán bộ công nhân viên và hiệu quả kinh doanh của công ty. Hiệu quả này được thể hiện ở một số mặt sau đây: 1. So sánh tiền lương bình quân giữa lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Đối với khối văn phòng do công ty đã xây dựng được đơn giá tiền lương một cách khá phù hợp đã đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả, hạn chế tăng lao động gián tiếp và khuyến khích người lao động nâng cao trình độ chuyên môn, đảm bảo thu nhập của người lao động quản lý luôn tăng ổn định. Do đó đã dẫn đến tiền lương của khối văn phòng luôn cao hơn khối lao động trực tiếp. Ta có thể thấy thu nhập của khối văn phòng và khối cửa hàng qua mấy năm sau: 1998, 1999, 2000. Biểu 4: So sánh tiền lương bình quân khối văn phòng và khối cửa hàng Chỉ tiêu 1998 1999 2000 1. Tiền lương bình quân khối văn phòng (1.000đ/ng/tháng) 685 820 992 2. Tiền lương bình quân khối cửa hàng (1.000đ/ng/tháng) 608 673 950 3. Tỷ lệ giữa tiền lương bình quân khối VP và CH 126,6% 121,8% 104,4% Nguồn: Báo cáo tổng kết 3 năm 1998, 1999, 2000 phòng tổ chức tiền lương Qua biểu trên ta thấy tiền lương bình quân của khối văn phòng luôn cao hơn tiền lương bình quân của khối cửa hàng, do đơn giá giao cho khối văn phòng cao hơn. Ta thấy điều này hoàn toàn hợp lý vì do đặc điểm của công ty là kinh doanh thương mại tại các cửa hàng người công nhân chỉ có nhiệm vụ bán hàng cho người tiêu dùng. Lao động của họ là lao động giản đơn. Trong khi đó ở khối văn phòng phải lo tất cả các khâu, phải lo đảm bảo nguồn hàng, phải đảm bảo cung ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng trên thị trường. Do vậy lao động khối văn phòng đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn phải được đào tạo phù hợp mới có thể đảm nhận được công việc. Đây là điều mà người lao động cửa hàng không có được. Chính vì vậy tiền lương của khối văn phòng phải cao hơn. 2. Tình hình sử dụng thời gian lao động Hoạt động của công ty chủ yếu là dịch vụ bán hàng, bởi vậy ở thời điểm nào trong tháng, trong năm thì vẫn phải đảm bảo số lao động bán hàng ở các cửa hàng. Duy trì đều đặn ngày công lao động sẽ tạo khả năng phục vụ tốt khách hàng, bởi vậy công ty luôn đảm bảo ngày công thực tế. Một chế độ tiền lương hợp lý sẽ tạo điều kiện, động lực thúc đẩy người lao động tiết kiệm thời gian lãng phí, đảm bảo ngày công và tăng năng suất lao động. Tình hình sử dụng quỹ thời gian làm việc chế độ là một trong những nhân tố phản ánh chế độ hợp lý tiền lương của công ty. Để đánh giá hiệu quả sử dụng thời gian làm việc người ta dùng hệ số sử dụng thời gian làm việc: K K = Trong đó: Tthực tế : Ngày công làm việc thực tế Tchế độ : Ngày công làm việc chế độ. Nếu như K càng gần đến một thì doanh nghiệp sử dụng lao động càng có hiệu quả. Tình hình sử dụng thời gian lao động ở công ty TRASERCO được thể hiện qua biểu sau: Biểu 5: Tình hình sử dụng thời gian lao động 1998-2000 Chỉ tiêu Năm Trong khối văn phòng Khối cửa hàng xí nghiệp Trong toàn công ty Tchế độ (ngày) Tthực tế (ngày) K Tchế độ (ngày) Tthực tế (ngày) K Tchế độ (ngày) Tthực tế (ngày) K 1998 6.100 5.580 0,914 25.925 23.715 0,914 32.025 29.295 0,915 1999 6.405 5.880 0,918 25.925 23.800 0,918 32.330 29.680 0,918 2000 5.100 4.600 0,901 21.675 19.550 0,902 26.775 24.150 0,902 Nguồn: Tổng hợp nguồn chấm công của khối văn phòng và cửa hàng - Phòng tổ chức tiền lương Nhìn vào biểu này ta thấy rõ tình hình sử dụng quỹ thời gian của công ty. Ta thấy hệ số sử dụng thời gian làm việc thường ở mức 0,9 trở lên (gần 1) nên có thể nói rằng công ty đã sử dụng tốt quỹ thời gian chế độ. Điều này chứng tỏ mức lương và các chế độ khác đã khuyến khích người lao động làm việc hạn chế bởi những ngày nghỉ. Tóm lại qua phân tích tình hình xây dựng và quản lý quỹ tiền lương ở công ty TRASERCO, cho ta thấy công tác tiền lương có nhiều điểm ưu việt có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của công ty. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế cần phải được thay đổi. Trong những mặt hạn chế của công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương nổi cộm lên 2 vấn đề cần phải hoàn thiện là: + Trong công tác xây dựng quỹ tiền lương: cần xây dựng được kế hoạch lưu chuyển từ đó xác định được quỹ tiền lương chính xác cho toàn công ty. + Trong công tác quản lý quỹ tiền lương: cần phải hoàn thiện công tác xác định đơn giá giao khoán cho từng mặt hàng kinh doanh của từng cửa hàng xác định được chính xác quỹ lương giao khoán cho mỗi cửa hàng. Từ đó phân phối cho người lao động một cách chính xác. Phần III Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác xây dựng và quản lý quỹ tiền lương ở công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO I. Các giải pháp cụ thể 1. Giải pháp về xây dựng quỹ tiền lương Như trên ta đã thấy, trong công tác xây dựng quỹ tiền lương cho công ty. Công ty đã sử dụng phương pháp xác định quỹ lương dựa trên đơn giá tiền lương và sản lượng kỳ kế hoạch. V = ồ Qi x Di Với: V : Tổng quỹ lương công ty năm kế hoạch Qi : Sản lượng lưu chuyển trong năm kế hoạch mặt hàng i Di : Đơn giá loại hình kinh doanh thứ i. Để xác định quỹ tiền lương của công ty trong kỳ kế hoạch công ty đã đưa ra phương pháp xác định sản lượng lưu chuyển (Qi) của từng mặt hàng. Phương pháp xác định (Qi) của công ty là: - Thống kê sản lượng bán hàng năm trước nhận thấy tốc độ tăng sản lượng cao hơn từ đó ước lượng sản lượng của kỳ kế hoạch. - Căn cứ vào vị trí địa lý điều kiện phát triển của địa bàn, từ đó ước lượng khối lượng lưu chuyển kỳ kế hoạch. Như vậy kế hoạch lưu chuyển được xây dựng dựa trên cơ sở ước lượng nên thiếu chính xác làm cho quỹ lương kế hoạch chưa sát thực tế (thường thấp hơn vì công ty thường có vượt chi). Để khắc phục điều này, công ty khi xác định kế hoạch lưu chuyển nên thực hiện theo cách sau đây: - Thống kê sản lượng bán lẻ từng mặt hàng cụ thể, ít nhất trong 3 năm gần đây để thấy rõ được tốc độ tăng (hoặc giảm) của sản lượng và các xu hướng biến đổi. Với cách này nó có xác xuất chính xác cao hơn so với chỉ tiêu thống kê sản lượng của năm trước như công ty đã làm. - Phải căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa bàn của cửa hàng công ty đặt ở đó. Điều này rất quan trọng đến sản lượng bán của công ty. - Khảo sát các điều kiện thực tế của cửa hàng như: vị trí của cửa hàng, đặc điểm giao thông đi lại ở tuyến đường có cửa hàng dự báo về sự thay đổi trong năm, những thay đổi này có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến cửa hàng. - Phát phiếu điều tra thăm dò thị trường, thị hiếu của khách hàng để xác định nhu cầu cho đơn vị chủng loại giao thông. Sau đó ta tổng hợp tất cả các điều kiện ảnh hưởng tới khối lượng lưu chuyển của công ty qua các bước trên. Từ đó sẽ xác định được sản lượng lưu chuyển năm kế hoạch của công ty. Với phương pháp đưa ra ở đây có thể chưa phải là phương pháp tốt nhất, nhưng với phương pháp này nó sẽ hoàn thiện các khiếm khuyết hiện nay mà công ty đang mắc phải. 2. Giải pháp về quản lý quỹ lương Vấn đề vướng mắc nhất hiện nay trong công tác quản lý quỹ lương của công ty là xác định đơn giá giao khoán cho từng mặt hàng của mỗi cửa hàng. Hiện nay công ty xác định đơn giá giao khoán cho từng cửa hàng dựa trên sự điều chỉnh tiền lương bình quân sao cho giảm bớt chênh lệch tiền lương bình quân - như đã trình bày ở trên. Ví dụ: Có quỹ lương của 2 cửa hàng A, B với đơn giá là DA , DB từ đó, ta tính được tiền lương bình quân của từng cửa hàng lần lượt là TLA , TLB so sánh TLA với TLB , nếu có mức độ chênh lệch lớn sẽ điều chỉnh lại là TLA1 , TLB1 khi đó đơn giá sẽ là DA1 và DB1 . Với phương pháp này có rất nhiều hạn chế như đã nói ở phần II. Do đó, để khắc phục ta nên xác định đơn giá theo phương pháp sau: - Xác định tầm quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến lượng hàng tiêu thụ của cửa hàng. Do khách hàng bao giờ cũng muốn mua hàng nhanh chóng và tiết kiệm thời gian nên những nhân tố quan trọng tác động đến việc mua hàng của khách hàng là: + Vị trí cửa hàng: Vị trí cửa hàng quyết định bởi loại đường, kiểu đường, nội thành hay ngoại thành. + Lối ra vào: Có thuận tiện hay không, có gần trung tâm thành phố hay không, nơi có nhiều đường cấm hay không,...? + Tình hình an ninh nơi cửa hàng: khách hàng thường không muốn mua ở chỗ tình hình an ninh phức tạp. + Mặt bằng (điều kiện làm việc) nếu mặt bằng rộng rãi thoáng mát sẽ tăng sự hấp dẫn đối với khách hàng vì khi vào mua hàng họ phải chờ đợi. - Cho điểm các nhân tố ảnh hưởng tới sản lượng bán của cửa hàng. Nguyên tắc cho điểm là: thang điểm cao nhất là 20 điểm, hệ số quan trọng cao nhất là 7 và thấp nhất là 2. - Xếp theo thứ tự cửa hàng trên cơ sở tổng điểm: Ta cho điểm mỗi cửa hàng ứng với tiêu chuẩn tương ứng, được tổng điểm của mỗi cửa hàng, rồi xếp thứ tự của cửa hàng theo tổng điểm và tính điểm trung bình của các cửa hàng. DTB = - Tính tiền lương bình quân của mỗi cửa hàng: Tính tiền lương dựa theo số lao động định biên của khối cửa hàng và quỹ tiền lương của khối cửa hàng xí nghiệp đã tính: TLBQ = Trong đó: TLBQ : Tiền lương bình quân của khối cửa hàng TQL : Quỹ lương cho khối cửa hàng TDB : Tổng số lao động định biên của khối cửa hàng. Sau đó ta xác định tiền lương bình quân của cửa hàng theo tỷ lệ giữa điểm của cửa hàng với điểm trung bình và theo tiền lương bình quân của khối. TLBQi = x TLBQ Trong đó: TLBQi : Tiền lương bình quân cửa hàng i ĐTB : Điểm trung bình của khối cửa hàng Đi : Điểm của cửa hàng i TLBQ : Tiền lương bình quân khối cửa hàng. - Tính quỹ lương của mỗi cửa hàng theo thu nhập mới và số lao động định biên. QTLCHi = ( TLBQi x TĐBi ) - Quỹ lương dự phòng Trong đó: QTLCHi : Quỹ tiền lương cửa hàng thứ i theo tiền lương bình quân mới. TLBQi : Tiền lương bình quân cửa hàng i TĐBi : Số lao động định biên cửa hàng thứ i. - Xác định đơn giá giao khoán. ĐGi = Trong đó: ĐGi : Đơn giá giao khoán cho cửa hàng i QTLCHi : Quỹ tiền lương cửa hàng i M : Mức sản lượng của cửa hàng i. Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo tính khoa học, dễ hiểu nhanh gọn, không phải điều chỉnh tiền lương bình quân nhiều lần loại trừ được ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan, đảm bảo tiền lương được trả đúng với người lao động, đảm bảo tính công bằng trong phân phối tiền lương, kích thích người lao động nâng cao năng suất, nâng cao tinh thần trách nhiệm, có thái độ tốt trong phục vụ khách hàng. Phương pháp này có thể đúng trong một thời gian dài nếu như các điều kiện không thay đổi. Hạn chế của phương pháp này là nếu việc xác định điểm cho cửa hàng không được chính xác, bỏ sót các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiêu thụ sản lượng cũng như nhân tố ảnh hưởng tới người lao động thì dẫn đến việc xác định đơn giá không chính xác. II. Một số biện pháp khác 1. Về công tác tổ chức cán bộ Hiện tại mô hình tổ chức của công ty rất gọn nhẹ quản lý theo hai cấp công ty - cửa hàng, xí nghiệp đảm bảo được sự chỉ đạo thống nhất nhưng công ty cũng cần quan tâm đến công tác bố trí cán bộ đặc biệt là cán bộ chủ chốt nhằm phát huy hết khả năng của từng người phù hợp với chuyên môn của họ. Đối với cửa hàng: vai trò của cửa hàng trưởng rất quan trọng bởi vậy phải lựa chọn cửa hàng trưởng có phẩm chất có trình độ quản lý chuyên môn. Công tác thanh tra cần được tiến hành theo định kỳ đột xuất có thể định kỳ theo tháng hoặc quý nhưng không được quy định cụ thể ngày nào để tránh tình trạng đối phó. Bên cạnh đó cần thực hiện công tác giáo dục đào tạo. Cần gửi công nhân viên đi đào tạo để cho phù hợp với tình hình hiện nay. 2. Về hoạt động kinh doanh Đối với các mặt hàng kinh doanh: mục tiêu chính phải ổn định thị trường thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về số lượng, chất lượng phục vụ nhằm nâng cao uy tín của công ty. Tiếp tục xây dựng các phương thức phục vụ từ bán lẻ tới bán buôn và chuyển thẳng. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bạn và phòng kinh doanh của công ty để hợp thành một khối thống nhất. Kết luận Hoà chung với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã có những khởi sắc, phát triển với tốc độ cao. Có được những thành công đó là nhờ chính sách đầu tư vĩ mô có hiệu quả của Chính phủ và sự quản lý kinh doanh tốt của cấp vi mô trong các doanh nghiệp. Công tác xây dựng và quản lý tiền lương là một nội dung quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp, nhất là trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt. Do vậy, để tiền lương thực sự trở thành đòn bẩy tăng năng suất lao động chất lượng và hiệu quả công việc cần phải xây dựng, hoàn thiện một cơ chế tiền lương phù hợp thông qua quá trình thực hiện. Bảo đảm quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Thời gian qua công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO đã đạt được nhiều kết quả tốt trong công tác quản lý tiền lương. Song để công tác tiền lương hoạt động tốt hơn nữa thì vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện. Trong phạm vi bài viết này nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo hướng dẫn và phòng tổ chức lao động tiền lương. Công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO em đã xem xét, phân tích thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa công tác xây dựng và quản lý tiền lương để cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng hiệu quả. Trong bài viết này do thời gian thực tập có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót em rất mong được sự góp ý nhiệt tình và sự cảm thông sâu sắc của các thầy cô giáo để cho em rút kinh nghiệm trong công tác sau này. Một lần nữa em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Thiềng cùng toàn thể Ban lãnh đạo - cán bộ công nhân viên công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO đã tạo điều kiện giúp em hoàn thành tốt báo cáo này. Tài liệu tham khảo 1. Giáo trình kinh tế lao động tập I, II trường ĐH KTQD 2. Nghị định 28/CP ngày 28/3/1997 của Chính phủ về đổi mới quản lý tiền lương thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước 3. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh năm 1998, 1999, 2000 của công ty Thương mại và Dịch vụ TRASERCO 4. Giáo trình quản trị nhân lực 5. Tài liệu kinh tế chính trị - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 6. Đổi mới cơ chế và chính sách quản lý lao động tiền lương trong nền kinh tế thị trường Việt Nam. 7. Thông tư 13/TDTBXH - TT ngày 10/4/1997 của Bộ Lao động thương binh và xã hội hướng dẫn phương pháp xây dựng đơn giá tiền lương và quản lý, thu nhập trong doanh nghiệp Nhà nước. Mục lục

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQ0057.doc
Tài liệu liên quan