Đề tài Lợi nhuận và các biện pháp nâng cao lợi nhuận trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam

Với mục tiêu đó, khoá luận đã chọn doanh nghiệp vừa và nhỏ làm đối tượng nghiên cứu. Qua 3 chương lý luận, phân tích, đánh giá và đề xuất những giải pháp nâng cao lợi nhuận, người viết hy vọng đã đưa ra được một cái nhìn tổng thể về khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ của đất nước ta, đặc biệt là công tác thực hiện lợi nhuận. Từ đó đề xuất những giải pháp cả ở tầm vĩ mô (đối với Nhà nước) và vi mô (đối với bản thân các doanh nghiệp) nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà khu vực doanh nghiệp nay đang gặp phải, đồng thời nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và lợi nhuận nói riêng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế như ngày nay.

doc80 trang | Chia sẻ: Kuang2 | Ngày: 23/08/2017 | Lượt xem: 22 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Lợi nhuận và các biện pháp nâng cao lợi nhuận trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ở Việt Nam, chỉ đến những năm gần đây vấn đề này mới được nhận thức một cách rộng rãi và sâu sắc. Những nghiên cứu, thống kê về tình hình hoạt động nói chung của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì thế, mới chỉ dừng lại ở những con số về số lượng, quy mô vốn, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, mà chưa thực sự có các cuộc điều tra sâu sát hay các chi tiết về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả kinh doanh, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, cho riêng khu vực kinh tế này. Do thiếu nguồn tư liệu trực tiếp nên trong quá trình phân tích, đánh giá sau đây về tình hình thực hiện lợi nhuận của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, người viết phải sử dụng các số liệu, tư liệu gián tiếp liên quan đến vấn đề này, thông qua việc thu thập, tính toán dựa trên số liệu về doanh thu, chi phí, lợi nhuận cả tất cá các doanh nghiệp trên phạm vi cả nước; các số liệu sẵn có về doanh nghiệp vừa và nhỏ như số lượng, doanh thu bình quân, chi phí bình quân, lao động bình quân,Điều này trên thực tế là có thể chấp nhận được và phù hợp với tổng quan chung về khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ . Trước hết, ta xem xét quy mô vốn trung bình: Bảng 6: Quy mô vốn trung bình của các loại hình doanh nghiệp Đơn vị: triệu đồng Năm DN tư nhân Công ty TNHH Công ty CP DNNN 1999 203,85 810,11 11.492,17 66.895,05 2000 178,54 817,90 10.977,51 26.865,34 2001 182,27 1.032,37 10.412,09 11.688,26 Trung bình giai đoạn 1996-2001 184,64 919,17 17.525,90 15.863,256 ( Nguồn: Tính toán theo niên giám thống kê 1996- 2001 ) Ta thấy rằng số lượng vốn nhỏ bé của mỗi doanh nghiệp vừa và nhỏ không phải là điều khó hiểu, bởi vì tiêu chí chủ yếu xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là lượng vốn tương đối nhỏ. Trong giai đoạn từ 1996 đến 2001, quy mô vốn trung bình của các doanh nghiệp tư nhân là 184,64 triệu đồng; công ty TNHH có quy mô vốn trung bình khoảng 920 triệu đồng; công ty cổ phần có quy mô vốn trung bình trên 17,5 tỷ đồng và DNNN là 15,7 tỷ đồng. Như vậy, công ty cổ phần có quy mô vốn đăng ký trung bình lớn nhất trong tất cả các loại hình doanh nghiệp kể cả các DNNN, mặc dù số lượng các công ty này không nhiều (xem bảng 2). 1. Về tình hình doanh thu Bảng 7: Doanh thu thuần trung bình trong các loại hình doanh DN vừa và nhỏ Đơn vị: triệu đồng 1999 2000 2001 00/99 01/00 Số tiền % Số tiền % DNNN 102.598,7 44.775,5 17.926,7 -57823,2 -56,3 -26848,8 -59,9 DN tư nhân 710,2 595,1 655,6 -115,1 -16,2 +60,5 +10,2 Công ty TNHH 2.231,7 2.253,1 2.294,1 +21,4 +0,9 +41 +1,8 Công ty CP 8.456,3 8.077,6 7.333,0 -379 -4,5 -744,6 -9,2 ( Nguồn: Tính toán từ bảng 6 và số liệu về tổng vốn trên doanh thu qua các năm – Bộ Kế hoạch và Đầu tư ) Như vậy, doanh thu ở tất cả các loại hình doanh nghiệp có sự biến động không đều qua 3 năm. Doanh nghiệp Nhà nước là loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ có doanh thu cao nhất, trong đó năm 1999 đạt mức cao nhất là gần 102,6 tỷ đồng. Năm 2000, doanh thu bình quân của một doanh nghiệp Nhà nước vừa và nhỏ là 44,77 tỷ, giảm 57.823,2 về số tuyệt đối so với năm 1999, tức là khoảng 56,3%. Sự giảm sút về doanh thu tiếp tục gia tăng sang năm 2001. Mức doanh thu thuần bình quân chỉ còn 17,9 tỷ đồng, giảm 26.848,8 triệu so với năm 2000 tương đương với số tương đối là 59,9%. Tại các doanh nghiệp tư nhân, doanh thu năm 1999 đạt 710,2 triệu đồng. Năm 2000 chứng kiến một sự sụt giảm 16,2% doanh thu so với năm 1999, xuống còn 595,1 triệu. Sang năm 2001, doanh thu của khu vực doanh nghiệp này có chiều hướng khả quan hơn, đạt trên 655 triệu, tăng 10,2% so với năm 2000. Đây là một dấu hiệu tốt. Các công ty TNHH tỏ ra là loại hình doanh nghiệp có tình hình kinh doanh tốt hơn cả, với sự tăng lên liên tục của doanh thu qua các năm. Năm 2000, doanh thu đạt trên 2,25 tỷ đồng, nhiều hơn năm 1999 21,4 triệu, tức là khoảng 0,9% (doanh thu năm 1999 là 2.231,7 triệu). Doanh thu thuần năm 2001 của loại hình doanh nghiệp này tiếp tục tăng 1,8% so với năm 2000, đạt 2,294 tỷ đồng. Doanh thu thuần của các công ty cổ phần tuy liên tục giảm sút từ năm 1999 đến năm 2001 song vẫn đạt khá cao so với khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Số liệu từ bảng cho thấy, năm 2000 doanh thu đạt 8.077,6 triệu đồng, đã giảm 4,5% so với doanh thu năm 1999 là 8.456,3 triệu. Năm 2001 doanh thu càng giảm mạnh, xuống còn 7.333,0 triệu, tức là giảm 9,2% so với năm 2000 Tuy nhiên, chỉ riêng tình hình doanh thu thì chưa phản ánh hết được bức tranh tổng thể về khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam. Sau đây sẽ xem xét về tình hình lợi nhuận. 2. Lợi nhuận thuần của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam Các số liệu chính thức cho thấy lợi nhuận thuần ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam thời gian qua như sau: Bảng 8: Lợi nhuận thuần trung bình ở các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ Đơn vị tính: triệu đồng Doanh nghiệp 1999 2000 2001 2000/1999 2001/2000 Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ DNNN 35.268,30 16.930,73 5.602,09 -18.337,57 -51,99 -11.328,64 -66,91 DN tư nhân 39,95 27,89 24,59 -12,06 -30,19 -3,3 -11,83 Công ty TNHH 139,48 161,94 200,73 +22,46 +16,0 +38,79 +23,95 Công ty cổ phần 1.242,02 984,46 985,37 -257,56 -20,74 +0,91 +0,09 (Nguồn: Tính toán từ số liệu kết quả điều tra toàn bộ doanh nghiệp, NXB thống kê 2001 và Niên giám thống kê 1999-2001) Từ bảng trên ta thấy, DNNN là loại hình doanh nghiệp có lợi nhuận thuần trung bình hàng năm cao hơn cả, song mức lợi nhuận này lại liên tục giảm sút trong những năm qua. Năm 2000, lợi nhuận thuần giảm hơn 18 tỷ (khoảng 51,9%) so với năm 1999, năm 2001 giảm mạnh hơn, xuống còn khoảng 5.602 triệu đồng, tức là đã giảm 66,9% so năm 2000. Tình trạng giảm sút lợi nhuận cũng diễn ra liên tục tại các doanh nghiệp tư nhân. Số liệu cho chỉ rõ, năm 1999 trung bình một doanh nghiệp tư nhân có quy mô vừa và nhỏ đạt lợi nhuận là 39,95 triệu đồng, năm 2000 đạt 27,89 triệu, và năm 2001 con số này là 24,59 triệu đồng. Ngược lại với xu hướng giảm sút lợi nhuận ở hai loại hình doanh nghiệp trên, các công ty TNHH lại có số lợi nhuận thuần trung bình liên tục gia tăng một cách ổn định qua các năm. Lợi nhuận năm 1999, 2000, 2001 tương ứng là 139,48 triệu, 161,94 triệu và 200,73 triệu đồng; về số tương đối thì năm 2000 đã tăng gần 22,5% so với năm 1999, năm 2001 tăng hơn 23,9% so với năm 2000. Đây là mức gia tăng khá cao, cho thấy công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp làm ăn khá hiệu quả. Còn tại các công ty cổ phần, lợi nhuận thuần biến động không đều qua các năm. Năm 2000, lợi nhuận giảm mạnh (20,74%) so với năm 1999, nhưng sang năm 2001 thì lại có một sự gia tăng nhẹ so với năm 2000 (từ 984,46 triệu năm 2000 lên 985,37 triệu năm 2001). Nhìn chung, sang năm 2000, doanh thu và lợi nhuận ở hầu hết các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ đều bị giảm sút, một phần là do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ Đông Nam á. Các doanh nghiệp Nhà nước có tình hình doanh thu cũng như lợi nhuận giảm mạnh và liên tục, cho thấy một phần sự kém hiệu quả trong kinh doanh của loại hình doanh nghiệp này. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, như xu hướng bỏ doanh nghiệp Nhà nước để đi làm cho các công ty TNHH, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, của người lao động (xem bảng 3); hoặc chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trong những năm gần đây nhằm chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành các công ty cổ phần có vốn của Nhà nước. Các công ty TNHH có sự biến động doanh thu rất tốt, cho thấy đây là loại hình doanh nghiệp có ưu thế hơn cả. III. Đánh giá chung Những phân tích trên cho thấy tình hình kinh doanh nói chung và tình hình thực hiện lợi nhuận nói riêng ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam chưa hiệu quả. Xét một cách toàn diện thì những kết quả trên chưa thực sự tương xứng với tầm vóc và tiềm năng của khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế, bởi đây là khu vực doanh nghiệp chiếm tỷ lệ áp đảo trong tổng số các doanh nghiệp cả nước. Đóng góp chung của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng vốn đầu tư và trong GDP của nền kinh tế vẫn còn nhỏ. Trung bình một năm, tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào khoảng 137000 tỷ đồng, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã nộp khoảng 5000 tỷ đồng tiền thuế. Trên thực tế, thời gian qua đã có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ giải thể. Nhưng vai trò và tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ đang tăng lên và có tiềm năng rất lớn. Khu vực này là động lực cho phát triển kinh tế, tạo công ăn, việc làm và huy động vốn trong nước, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang phát triển nhanh nhất về số lượng. Tại một số vùng của đất nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã sử dụng tuyệt đại đa sốlực lượng lao động phi nông nghiệp. Các số liệu cho thấy, mặc dù năng suất lao động tính theo số doanh thu trên 1 lao động cúa các doanh nghiệp này còn thấp so với các doanh nghiệp lớn, nhưng trong nhiều phương diện các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại tỏ ra hiệu quả hơn, bởi vì lượng vốn bỏ ra cho 1 chỗ làm việc lại thấp hơn và lượng vốn đầu tư và lượng vốn cố định cần thiết để tạo ra một đồng doanh thu còn thấp hơn nhiều. Chương III Một số đề xuất nhằm tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam I. Sự cần thiết phải tăng lợi nhuận Lợi nhuận doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm thặng dư do kết quả của người lao động mang lại. Nó là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Không những thế, lợi nhuận còn phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, phản ánh kết quả của việc sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận chính là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Nó quyết định sự tồn tại hay suy thoái của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đều nhận thức được ý nghĩa của việc tăng lợi nhuận và đều nỗ lực tìm kiếm các biện pháp thích hợp để không ngừng nâng cao lợi nhuận. Bên cạnh đó, trong điều kiện hiện nay khi xu thế quốc tế hoá đời sống xã hội và toàn cầu hoá nền kinh tế thì việc nâng cao lợi nhuận có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp cũng như nền kinh tế của mỗi quốc gia. Việt nam ngày càng mở rộng quan hệ kinh tế với các nước và khu vực, chúng ta đang thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế, chính vì thế nên việc giao thoa cọ xát của các nền kinh tế là khó có thể tránh khỏi. Muốn tồn tại và đứng vững được thì các doanh nghiệp phải thích ứng được với điều kiện mới như chính sách ổn định trong 5 năm, xu thế hội nhập, triển khai hiệp định thương mại Việt - Mỹ sau khi được phê chuẩn. Nền kinh tế mở cửa dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp ra sức tìm tòi mọi cách để có thể cạnh tranh với các đối thủ của mình. Một trong những biện pháp doanh nghiệp áp dụng đó là tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh dịch vụ. Tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không thể tách rời khỏi việc nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngày nay, doanh nghiệp nào làm ăn có hiệu quả thì đương nhiên nó tồn tại và ngược lại doanh nghiệp nào làm ăn thua lỗ thì tất yếu sẽ bị đào thải, đó là một quy luật. Vậy nâng cao lợi nhuận có ý nghĩa rất lớn đối với nhà nước, doanh nghiệp và bản thân những người lãnh đạo trong doanh nghiệp. 1. Đối với nhà nước - Nâng cao lợi nhuận doanh nghiệp góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước, do các doanh nghiệp thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước, mà thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách. Khi lợi nhuận doanh nghiệp tăng lên thì số thuế mà doanh nghiệp phải đóng góp cho Nhà nước cũng phải tăng lên tương ứng và như vậy ngân sách Nhà nước cũng sẽ tăng lên. - Nâng cao lợi nhuận góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá đất nước. Vấn đề công nghiệp hoá- hiện đại hoá đang là mục tiêu quan trọng hàng đầu của đất nước ta, là con đường đổi mới của toàn dân tộc. Để quá trình CNH- HĐH thành công thì không thể thiếu được một trong các yếu tố vốn, nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên và khoa học kỹ thuật. Vốn có thể được huy động bằng nhiều cách như huy động vốn trong nhân dân, vay nợ, viện trợ. Song việc tự huy động vốn có ý nghĩa hơn cả. Đối với mỗi doanh nghiệp mà nói khi làm ăn có lãi, họ có thể trích ra một phần để tái sản xuất mở rộng, mua nhiều trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất kinh doanh. Điều đó góp phần làm cho trình độ sản xuất của doanh nghiệp nói riêng và toàn ngành nói chung được tăng lên. Hơn thế nữa khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì việc đóng góp vào ngân sách nhà nước tăng lên. Do vậy nguồn thu của ngân sách Nhà nước cũng sẽ tăng lên góp phần tạo vốn cho quá trình CNH- HĐH đất nước và đẩy nhanh quá trình đó. Có thể nói lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất mở rộng cho toàn bộ nền kinh quốc dân và cho mỗi doanh nghiệp. 2. Đối với doanh nghiệp Như đã nói ở trên, lợi nhuận là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Chính vì vậy, các doanh nghiệp rất coi trọng biện pháp để góp phần làm tăng lợi nhuận, tối đa hoá lợi nhuận. Khi doanh nghiệp thu được lợi nhuận, có nghĩa là doanh nghiệp đã có thể trang trải được những chi phí đã bỏ ra để thu được nguồn lợi nhuận đó, đồng thời doanh nghiệp có thể phân phối lợi nhuận đảm bảo kết hợp chặt chẽ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của doanh nghiệp, và lợi ích của tập thể lao động trong doanh nghiệp, đảm bảo kết hợp giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Doanh nghiệp có thể dùng một bộ phận lợi nhuận để làm nghĩa vụ với nhà nước thông qua việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Bộ phận còn lại được gọi là thực lãi của doanh nghiệp và được sử dụng theo chính sách tài chính của doanh nghiệp, cụ thể được phân phối như sau: Một bộ phận được dùng để phân phối cho chủ doanh nghiệp Một bộ phận được sử dụng để nâng cao chất lượng làm việc của người lao động trong doanh nghiệp như đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trích lập quỹ tiền thưởng, quỹ phúc lợi Một bộ phận rất quan trọng để lại cho doanh nghiệp dưới hình thức lợi nhuận không phân phối dùng để tăng cường tính tự chủ về mặt tài chính của doanh nghiệp, mở rộng khả năng tăng lợi nhuận trong tương lai và thúc đẩy quá trình tăng trưởng của doanh nghiệp. 3. Đối với người lao động trong doanh nghiệp lợi nhuận là một đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động. Khi doanh nghiệp làm ăn không có lãi thì ngay lập tức lợi ích của người lao động bị cắt giảm cụ thể như giảm tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi xã hội và điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của họ. Ngược lại khi doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, lợi nhuận không ngừng tăng lên thì lúc đó lợi ích của người lao động cũng có phần tăng lên theo. Doanh nghiệp kinh doanh có lãi, việc trả lương cho cán bộ công nhân viên sẽ đầy đủ, và quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi của doanh nghiệp cũng được phân phối hợp lý hơn. Như vậy lợi nhuận tăng nhanh góp phần nâng cao đời sống cán bộ. Trên đây là xét về khía cạnh vật chất đối với người lao động. Bên cạnh đó lợi nhuận cũng tác động đến tâm lý của người lao động. Khi làm việc trong các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, người lao động cảm thấy yên tâm hơn, nguy cơ mất việc làm, giảm thu nhập sẽ không đe doạ họ. Họ cảm thấy tự tin hơn và sẽ cố gắng hết sức góp phần đưa doanh nghiệp mình tiến xa hơn nữa. Tay nghề của người lao động cũng ngày càng được nâng lên do lúc đó doanh nghiệp quan tâm hơn tới việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Thực chất, lợi nhuận tăng có ý nghĩa rất lớn đến người lao động về cả mặt vật chất cũng như tinh thần. II. Một số chính sách của Nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước trên thế giới 1. Kinh nghiệm của các nước Đông Nam á Các vấn đề phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được thực hiện thành công ở nhiều quốc gia khác nhau, không chỉ ở các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Nhật Bản, mà cả ở các quốc gia khu vực Đông Nam á. Nhìn chung đây là một khu vực khá điển hình về phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ . Trong các nước Đông Nam á là nước điển hình và thành công nhất trong phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bên cạnh đó,Thái lan, Indonesia, Malaysia cũng có nhiều biện pháp hữu hiệu và những cố găng không nhỏ để thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trước hết, việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các quốc gia này được tiến hành một cách toàn diện, mang tính tổng thể, hỗ trợ tài chính đi cùng với hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, môi trường pháp lý, hỗ trợ về phát triển nhân sự, nâng cao trình độ quản lý. Kết quả cảu các hoạt động đó có tác động dây chuyền, tạo nên sự bền vững và hiệu quả cao. Thứ hai, hỗ trợ về tài chính được tiến hành trên cơ sở phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cấp, bộ, ngành và cơ quan khác nhau. Đây là một hệ thống các cơ quan xuyên suốt từ trung ương đến địa phương, có nhiệm vụ trợ giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ về nhiều mặt, trong đó quan trọng nhất là hỗ trợ về tài chính. Chẳng hạn ở Singapore, Uỷ ban phát triển kinh tế dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tập hợp và phối hợp các cơ quan khác nhau thực hiện hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước. Các doanh nghiệp được trợ giúp từ tạo lập vốn đến mua sắm thiết bị, máy móc mới, đào tạo kỹ thuật sử dụng máy móc, kỹ thuật quản lý mới. Thứ ba, các chính sách này được thực hiện trên cơ sở liên kết với các doanh nghiệp lớn. Điển hình là ở Indonesia. Nước này đã xây dựng chương trình liên kết kinh doanh hoặc đỡ đầu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ được trợ giúp thông qua việc các doanh nghiệp lớn cấp tài chính mua nguyên vật liệu thô, hay chịu trách nhiệm khâu tiêu thụ sản phẩm do các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất ra, cũng như việc đứng ra bảo đảm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ được vay vốn của ngân hàng. Ngược lại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ và bổ sung công việc, làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn. Song điều quan trọng nhất dẫn đến thành công của các nước Đông Nam á chính là vai trò to lớn của các Chính phủ. Chính phủ xây dựng môi trường pháp lý thông qua một hệ thống các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ được luật hoá từng bước cho phù hợp với quy mô và nhu cầu vốn thực tế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, ở mỗi nước các Chính phủ còn thiết lập nhiều chương trình, nhiều cơ quan trợ giúp tài chính khác nhau như Chương trình tài chính công nghiệp nhỏ ở Singapore; các Phòng tài chính công nghiệp nhỏ và Quỹ bảo đảm tín dụng công nghiệp ở Thái Lan; các cơ quan cung cấp tín dụng, Ngân hàng Trung ương và Ngân hàng phát triển Malaisia, Đồng thời, để nâng cao hiệu quả của các chương trình trợ giúp tín dụng, Chính phủ các nước này đề ra nhiều biện pháp như: mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức cho vay của tư nhân và tổ chức trợ giúp tài chính thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhờ đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tìm được nhiều nguồn vốn thích ứng và kịp thời. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải lúc nào chính sách vĩ mô của Chính phủ cũng phát huy tác dụng. Ví dụ, chính sách kiềm chế tỷ lệ lãi suất ở Thái Lan và Indonesia đã tạo điều kiện cho các công ty lớn có thêm cơ hội vay vốn từ các cơ sở tài chính, trong khi đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại khó vay vốn vì không có tài sản thế chấp theo quy chế vay vốn. Hoặc như trước đây chế độ bảo hộ mậu dịch ở Indonesia đã khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn lớn hơn là phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ với đặc thù nhiều lao động, vốn ít. Và điều này đã buộc Chính phủ ở các nước phải cố gắng tìm ra những biện pháp và chính sách đặc biệt trợ giúp tài chính cho riêng các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 2. Kinh nghiệm của Nhật Bản ở Nhật Bản, trong nhiều thập kỷ trở lại đây vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với tổng thể nền kinh tế đất nước là cực kỳ quan trọng. Chính vì thế, các chính sách về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước này được tiến hành đồng bộ, toàn diện và thống nhất giữa tất cả các bộ, các ngành kinh tế cả nước. Chưa ở đâu công tác trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ được thực hiện có tổ chức và có hiệu quả như vậy. Chính phủ Nhật Bản luôn đề ra các chính sách theo hướng tích cực hỗ trợ, giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ thích nghi với những thay đổi trong nước cũng như quốc tế để tiếp tục tăng trưởng. Trong các chính sách kinh tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn được coi trọng và được hỗ trợ riêng biệt, mạnh mẽ hơn. Chính phủ có chính sách ủng hộ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ mới thành lập, giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện mở rộng sản xuất ra nước ngoài. Một khung pháp lý khá hoàn chỉnh về doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đã hỗ trợ tích cực cho khu vực kinh tế này, bao gồm Luật cơ bản về doanh nghiệp vừa và nhỏ, Luật tạm thời về sự thích ứng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp, Luật về sự ủng hộ doanh nghiệp vừa và nhỏ của Hiệp hội thương mại và công nghiệp. Chính phủ Nhật Bản đã thiết lập một hệ thống các tổ chức tài chính của Chính phủ dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hệ thống đó bao gồm Tổ chức tài chính Nhật Bản cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Kho bạc nhân dân, Ngân hàng công thương. Bên cạnh đó, Chính phủ còn xây dựng các cơ quan đảm bảo tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ như Hiệp hội tín dụng và Tổ chức bảo hiểm tín dụng. Nhờ đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhật Bản đã thực sự có được những nguồn vốn thích hợp, ổn định để phát triển được sản xuất kinh doanh, phát huy được các tiềm năng to lớn của mình. III. Định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam đến năm 2010 Trong bối cảnh hội nhập và phát triển của nên kinh tế đất nước, trước những thách thức và cơ hội mới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam phải được hỗ trợ phát triển về nhiều mặt trên cơ sở các định hướng nhất quán nhằm phát huy được tiềm năng to lớn của mình. Nhà nước ta đã đề ra các định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ từ nay đến năm 2010 như sau: 1. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội ở nước ta. Hiện tại và trong tương lai các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp tục giữ vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Trong thời gian qua khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị-xã hội của đất nước. Tầm quan trọng của việc phát triển tiềm năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã được công nhận tại Đại hội Đảng VIII tháng 6/1996, và gần đây nhất là Nghị định 90/2001/CP-NĐ ngày 23/11/2001 khẳng định “ sự phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá đất nước ”. Điều này sẽ tạo ra những tiền đề thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 2.Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được ưu tiên phát triển trên cơ sở thị trường trong một số ngành lựa chọn. Đó là: Các ngành sản xuất hàng tiêu dùng, hàng thay thế nhập khẩu và hàng xuất khấu có khả năng cạnh tranh; Các ngành tạo đầu vào cho các doanh nghiệp lớn, cũng như trong mạng lưới gia công bán thành phẩm, thực hiện dịch vụ đầu ra cho các sản phẩm của các doanh nghiệp lớn; Các ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp nông thôn, bao gồm cả các ngành sản xuất sản phẩm truyền thống thuộc về các làng nghề. Ưu tiên phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn cả trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành dịch vụ; coi doanh nghiệp vừa và nhỏ là bộ phận quan trọng trong thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Ưu tiên phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn tập trung ở một số ngành sản xuất: + Các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ như chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, các sản phẩm tiêu dùng băng fkim loại và phi kim, + Cơ khí phục vụ sản xuất và đời sống, + May mặc, sản phẩm mây tre, thủ công mỹ nghệ. 3. Doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được khuyến khích phát triển trong một số ngành nhất định mà doanh nghiệp lớn không có lợi thế tham gia 4. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên cơ sở mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn. Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, xuất phát từ định hướng phát triển kinh tế xã hội nói chung và thông qua các chương trình phát triển cụ thể, cần tạo lập môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ liên kết và phụ thuộc chặt chẽ để cùng phát triển. Cụ thể là: Có sự phân công chuyên môn hoá giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp lớn sao cho hiệu quả, doanh nghiệp vừa và nhỏ vừa tạo đầu vào vừa góp phần tiêu thụ đầu ra cho doanh nghiệp lớn. Doanh nghiệp lớn hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ về đào tạo tay nghề, trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quản lý. Doanh nghiệp lớn giao thầu lại cho doanh nghiệp vừa và nhỏ một số phần việc trong các hợp đồng lớn. 5. Cần nghiên cứu thành lập một số khu công nghiệp tập trung ở các thành phố lớn dành riêng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhờ đó: Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ về cơ sở hạ tầng như điện, nước, thông tin liên lạc, tiếp cận thị trường, giải quyếy khó khăn về đất đai, mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp vừa và nhỏ với chi phí thấp hơn các khu công nghiệp tập trung mà hiện chỉ có các doanh nghiệp lớn mới có khả năng tham gia. Nhà nước dễ dàng thực hiện các chính sách ưu đãi và tiến hành hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ nằm trong khu công nghiệp Đây là những định hướng lớn cho phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đến năm 2010 nhằm phát huy tiềm năng to lớn của khu vực kinh tế này trong công cuộc CNH-HĐH đất nước. IV. Một số đề xuất nhằm tăng lợi nhuận trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam 1. Đối với các doanh nghiệp 1.1. Về vấn đề sử dụng vốn: - Các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn. Là những người cần vốn, cần có sự hỗ trợ về vốn, để đạt được sự hỗ trợ lớn hơn, quy mô hơn, hiệu quả hơn, trước hết, bản thân các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, tiến tới làm ăn luôn có lợi nhuận, nâng cao tỷ suất lợi nhuận. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ vừa là động lực khuyến khích vừa là mục tiêu hướng tới của các tổ chức tài trợ. Bởi trên thực tế, nhiều Ngân hàng chỉ coi tài sản thế chấp là vật bảo đảm cuối cùng, còn hiệu quả, uy tín làm ăn của các doanh nghiệp mới là tiêu chí đầu tiên, quan trọng nhất khi xem xét đối tượng cho vay của các Ngân hàng. - Phải tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán, bảo toàn vốn vay và không ngừng mở rộng quy mô của doanh nghiệp, nâng cao tỷ lệ vốn tích luỹ nội bộ, vốn tự có. Điều này cũng giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tạo cơ sở thu hút thêm nguồn đầu tư cho sản xuất kinh doanh. - Phải chủ động quan hệ với các nguồn vốn chính thức. Để khắc phục được khó khăn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là khó tiếp cận được với các nguồn vốn, bản thân doanh nghiệp cũng phải chủ động tăng cường mối quan hệ với các nhà tài trợ. Bên cạnh vấn đề đảm bảo điều kiện tài sản thế chấp, các doanh nghiệp phải biết xây dựng các phương án kinh doanh hiệu quả. Trong khi khả năng của bản thân còn hạn chế, thì các doanh nghiệp phải tập thói quen sử dụng các dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, bỏ ra một ít chi phí để tìm được nguồn vốn thích hợp, kịp thời còn hơn là không có vốn hoặc phải vay vốn với “giá” quá cao, không thể kinh doanh có hiệu quả được. Và hơn hết, doanh nghiệp phải biết giữ “chữ tín” trong mối quan hệ với các tổ chức cung cấp vốn. - Doanh nghiệp vừa và nhỏ nên tăng cường liên kết với nhau cũng như liên kết với các doanh nghiệp lớn. Kinh nghiệm của các nước Đông Nam á cho thấy, đây là một cách hiệu quả để các doanh nghiệp này hỗ trợ lẫn nhau về nhiều mặt, trong đó có cả vấn đề vốn. - Tiếp cận với các tổ chức tài chính có chức năng cho thuê tài chính. ở các nước đang phát triển, mô hình tài trợ vốn này rất phổ biến, mang lại lợi ích và hiệu quả cao không chỉ cho các doanh nghiệp mà cho cả nền kinh tế quốc dân. - Tăng cường quan hệ liên kết giữa các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhờ đó giảm bớt nhu cầu thế chấp vì bản thân Ngân hàng có thể theo dõi tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện giảm bớt các khó khăn về thủ tục và chi phí giao dịch. 1.2. Tăng cường khả năng công nghệ - Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần tiếp cận các trung tâm kỹ thuật của Nhà nước và các tổ chức hỗ trợ nhằm thu thập thông tin, sử dụng dịch vụ thuê máy móc, thiết bị hoặc các công cụ kiểm tra thông dụng, tham gia tích cực vào các khoá đào tạo về kiểm soát sản xuất và chất lượng, kiểm toán nhà máy. - Tích cực chủ động mở rộng quan hệ thương mại, giao dich buôn bán với các doanh nghiệp nước ngoài, liên doanh tại Việt Nam vì đây là nguồn công nghệ rẻ nhất từ đó đi đến trao đổi thông tin, hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo nâng cao tay nghề và có thể đi tới mua lại công nghệ của họ. 1.3. Tối thiểu hoá chi phí kinh doanh, hạ giá thành sản phẩm Hạ thấp chi phí kinh doanh là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp hạ thấp giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và tăng hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. Muốn hạ thấp được chi phí kinh doanh, doanh nghiệp một mặt phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm và mặt khác phải phân tích rõ các nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành chi phí kinh doanh và đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Để thực hiện chiến lược này, người ta quan tâm tới việc giảm các chi phí chung hay còn gọi là các chi phí cố định. Cụ thể: Lựa chọn địa bàn hoạt động, xây dựng mạng lưới kho tàng. cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh phù hợp đảm bảo thuận lợi cho quá trình vận động của hàng hoá, đồng thời thuận tiện cho việc đi lại, mua bán của người tiêu dùng. Không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, nắm vững và đáp ứng mọi nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng về chủng loại hàng hoá, chất lượng và giá cả. Hình thành nguồn cung cấp hàng hoá ổn định, chất lượng tốt với chi phí sản xuất thu mua hợp lý nhằm tăng mức lưu chuyển hàng hoá, giảm tỷ suất chi phí kinh doanh. Thực hiện chế độ tiết kiệm với hiệu quả kinh tế ở mọi nơi, mọi lúc trong tất cả các khâu, các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.4. Nâng cao khả năng cạnh tranh trên cơ sở những điều kiện sẵn có Nói đến khả năng cạnh tranh, người ta thường nói đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giá cả, xem xét trong mối tương quan so sánh với các doanh nghiệp khác. Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện hiên nay chủ yếu phụ thuộc vào khả năng cạnh tranh, vì vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải coi đây là nhiệm vụ chiến lược của mình. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải dựa trên những điều kiện của chính mình để đề ra những biện pháp phù hợp, khai thác tối đa tiềm năng của mình, bởi vì trên thực tế nhiều doanh nghiệp cho rằng phải thường xuyên đổi mới công nghệ thì mới đảm bảo được khả năng cạnh tranh. Điều này đúng nhưng chưa đủ. Với trang thiết bị như nhau nhưng hai doanh nghiệp vẫn có thể có năng suất lao động khác nhau, chi phí khác nhau, hiệu quả khác nhau, tức là có năng lực cạnh tranh khác nhau. Tại Nhật Bản, bí quyết thành công của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ là họ rất chú ý đến cải tiến quản lý, họ chú ý đến từng chi tiết nhỏ nhặt của quá trình sản xuất, hợp lý hoá tối đa các thao tác nhằm giảm các chi phí. Đồng thời, họ cố gắng tạo ra bầu không khí làm việc thoải mái, tin cậy giữa chủ doanh nghiệp và công nhân, chia sẻ thành quả hoạt động của doanh nghiệp . Đây chính là những điều mà doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam phải học tập. 1.5. Các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược kinh doanh Chuyển sang cơ chế thị trường và tham gia hội nhập khu vực, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam cần xây dựng chiến lược kinh doanh trên cơ sở: Tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp trong lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước, Nghiên cứu, dự báo phát triển thị trường trong và ngoài nước liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để định hướng chiến lược sản phẩm thích ứng có khả năng cạnh tranh. Trên cơ sở đó thì nội dung chiến lược kinh doanh cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau để đảm bảo tính chủ động trong cạnh tranh của doanh nghiệp : Chủ động đưa ra danh mục hàng hoá có khả năng cạnh tranh để có kế hoạch đầu tư cấc yếu tố đầu vào và chủ động thị trường cho các yếu tố đầu ra, Nghiên cứu, thiết kế đưa ra thị trường những hàng hoá mới có tính độc đáo, Có lộ trình thâm nhập và phát triển thị trường trong tương lai. Xây dựng chiến lược kinh doanh nhằm mang lại cho doanh nghiệp triển vọng cạnh tranh dài hạn và cạnh tranh đa phương diện (cạnh tranh về giá, chất lượng, dịch vụ trước và sau bán hàng, phát triển khách hàng,). 1.6. Đào tạo nguồn nhân lực Đây là một yếu tố quan trọng và là chiến lược lâu dài của doanh nghiệp. Mục đích là đào tạo một đội ngũ cán bộ công nhân có trình độ, tay nghề cao theo hướng chuyên môn hoá và chuyên sâu về nghiệp vụ, từ cán bộ quản lý. Những cán bộ nghiệp vụ kinh doanh, công nhân kỹ thuật, phải theo quy trình ngày càng cao và nghiêm ngặt. Để có được điều đó cần có chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công nhân nhất là những người có tay nghề cao. Chẳng hạn, mỗi năm doanh nghiệp có thể dành một khoản thu nhập để bồi dưỡng cho cán bộ và lập các quỹ khen thưởng cho những công trình nghiên cứu của người lao động cũng như các quỹ đào tạo cán bộ, phát huy tính sáng tạo của ngưòi lao động. 1.7. Chủ động xây dựng chiến lược hội nhập Với mục tiêu đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và lợi nhuận nói riêng để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế như hiện nay thì mỗi doanh nghiệp cần phải có chiến lược hội nhập. Thực chất của việc xây dựng chiến lược hội nhập là vạch ra phương án phát triển dài hạn, chủ động chứ không chỉ phản ứng một cách thụ động với những vướng mắc và cơ hội khi chúng nảy sinh. Khi xây dựng chiến lược hội nhập, ngoài việc tự đánh giá khả năng phát triển của doanh nghiệp một cách nghiêm túc, các doanh nghiệp còn phải thi thập thông tin về đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu kỹ các dự báo phát triển công nghệ trong tương lai, đánh giá về nhu cầu của khách hàng trên cơ sở phân tích các nguồn thông tin khác nhau. Chẳng hạn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đề ra chiến lược tập trung vào thị trường ngách, tức là tập trung vào một bộ phận nhỏ khách hàng nào đó, một khu vực thị trường hẹp nào đó. Ví dụ các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu gia vị của Thái Lan đã rất thành công khi chọn nhóm khách hàng là người châu á sống ở các quốc gia Âu- Mỹ. Hương vị, nguyên liệu chế biến, hình thức bao gói, kích cỡ, kênh bán hàng cũng như hệ thống phân phối đều hướng tới nhóm khách hàng này. 2. Đối với Nhà nước 2.1.Hoàn thiện sự tiếp cận tài chính-tín dụng và vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ a. Hoàn thiện việc tiếp cận tín dụng Ngân hàng trung và dài hạn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ bằng cách tạo ra một “sân chơi” bình đẳng để tất cả mọi người đi vay đều tuân thủ những thể lệ giống nhau. Quy định hiện hành và quy tắc điều chỉnh việc tiếp cận với tín dụng ngân hàng trung hạn và dài hạn đã có sự phân biệt đối xử bất lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và ưu tiên cho các doanh nghiệp Nhà nước, thể hiện ở những điểm sau: Các doanh nghiệp Nhà nước có thể nhận được sự bảo lãnh của Nhà nước đối với các khoản vay, trong khi đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không thể có được sự bảo lãnh đó; Những thể lệ cản trở các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay tín dụng để khởi sự công việc kinh doanh mới, trong khi đó các doanh nghiệp Nhà nước nhân được khoản vay do Nhà nước bảo lãnh để phục vụ cho mục đích này; Để vay tín dụng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải có tài sản thế chấp cho các Ngân hàng, trong khi các doanh nghiệp Nhà nước được miễn. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp khó khăn về tài sản thế chấp vì họ có nhiều vướng mắc trong việc xin cấp hoặc đi thuê quyền sử dụng đất, bao gồm các thủ tục công chứng, các thủ tục định giá tài sản thế chấp hoặc cầm cố; Các thể lệ tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn do các Ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính chính thức quy định rất phức tạp làm cho chi phí giao dịch cao và làm cho khoản vay tín dụng đó quá tốn kém đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Rõ ràng là, cần tạo một sân chơi bình đẳng để tất cả các doanh nghiệp đều tuân thủ những thể lệ tín dụng như nhau và được hưởng những ưu đãi và điều kiện tín dụng của Nhà nước như nhau. Đây cũng là cách duy nhất để đảm bảo sự hợp lý‎ và khả năng thanh toán của hệ thống tài chính vì lợi ích của toàn bộ nền kinh tế trong thời gian dài hạn. b. Sửa đổi và ban hành các luật và các quy định nhằm xây dựng một khung pháp luật toàn diện và hiện đại để tạo điều kiện dễ dàng hơn cho người vay vốn thực hiện và thực thi tài sản cầm cố thế chấp Thiết lập một hệ thống đăng ký tập trung qua mạng máy tính ở cấp quốc gia để các doanh nghiệp dễ dàng truy cập được thông tin về tài sản cầm cố, thế chấp, cho thuê và các phương thức giao dịch có bảo đảm khác; Mở rộng phạm vi tài sản dùng để thế chấp bằng cách quy định rõ ràng việc cầm cố và thế chấp tài sản có được trong tương lai, từ đó tạo ra những phương thức cấp vốn hiện đại, như định giá “thả nổi” đối với các vật tư, hàng hoá đang giao dịch cũng như các tài khoản có của các doanh nghiệp; Đảm bảo tính linh hoạt và sự an toàn cho người cho vay và người đi vay bằng cách cho phép sử dụng tài sản cầm cố thế chấp để đảm bảo các nghĩa vụ hiện tại và tương lai, nhờ đó cho phép “quay vòng” các khoản vay tín dụng để đáp ứng yêu cầu vốn lưu động; Đảm bảo để các Ngân hàng và các chủ nợ có quyền lực rõ ràng trong việc phát mại các tài sản cầm cố và thế chấp. c. Củng cố hệ thống tài chính và Ngân hàng của Việt nam áp dụng và thi hành các tiêu chuẩn kế toán quốc tế và thực hiện kiểm toán định kỳ tại các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng và hầu hết các doanh nghiệp thông qua các kiểm toán viên độc lập có trình độ; Sử dụng kiểm toán bên ngoài, xác định và loại bỏ các khoản vay khó đòi ra khỏi cơ cấu vốn vay của Ngân hàng; Bảo đảm để mọi khoản vay được thực hiện trên cơ sở phân tích tài chính chứ không phải từ các quyết định mang tính chính trị, kể cả các khoản cho doanh nghiệp vừa và nhỏ vay, để đảm bảo tính hợp lý và khả năng thanh toán của hệ thống tài chính vì lợi ích lâu dài của toàn bộ nền kinh tế; Quy định việc hình thành, chuyển giao và chấm dứt các phương tiện thanh toán có thể chuyển nhượng và các giấy tờ thương mại như séc, hối phiếu, lệnh phiếu; Xem xét các biện pháp mạnh mẽ nhằm khuyến khích sự tin tưởng của công chúng đối với các Ngân hàng và các quỹ tiết kiệm như bảo hiểm tiền gửi, các hệ thống bí mật của Ngân hàng và các luật; Khuyến khích, tạo điều kiện và quy định dịch vụ bảo hiểm, bởi vì các công ty bảo hiểm hoạt động tốt sẽ trở thành những nguồn tín dụng quan trọng trong nền kinh tế; Nghiên cứu bộ luật hình sự để đảm bảo các chế tài hình sự không áp dụng đối với các cán bộ Ngân hàng nếu họ mắc sai lầm không cố ý trong việc cho vay (khác hoàn toàn với việc chủ định cho vay nhằm mục đích tham ô). 2.2. Hoàn thiện việc tiếp cận công nghệ của doanh nghiệp vừa và nhỏ a. Cho phép khấu hao nhanh máy móc và thiết bị với một khoản khấu trừ khi xác định thuế lợi tức: Để khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư cho máy móc và thiết bị mới, thuế thu nhập doanh nghiệp cần cho phép khấu hao nhanh máy móc và thiết bị mới. So với giá trị khấu hao theo “đường thẳng”, khấu hao nhanh cho phép khấu trừ giá trị khấu hao máy móc thiết bị ở mức độ cao hơn. Theo phương pháp đường thẳng, doanh nghiệp có thể khấu trừ từ khoản thu nhập do máy móc thiết bị tạo ra hằng năm một khoản bằng giá trị ban đầu của máy móc chia cho tuổi thọ sử dụng dự tính của nó. Do đó, nếu giá trị ban đầu của máy móc do doanh nghiệp sở hữu là 10 tỷ VND và tuổi thọ dự tính là 10 năm. thì doanh nghiệp sẽ được phép khấu trừ 1 tỷ VND mỗi năm theo phương pháp đường thẳng. Tuy nhiên, nếu theo phương pháp khấu hao nhanh, doanh nghiệp có thể trừ gấp đôi khoản đó, tức là 2 tỷ VND mỗi năm, do đó tổng số thhu nhập chịu thuế mỗi năm sẽ giảm đi 1 tỷ, và như vậy số thuế phải nộp cũng giảm đi. Tại các nước khác, đây là một trong những biện pháp ưu đãi thuế thành công nhất và được sử dụng để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư máy móc thiết bị mới. b. Khuyến khích các hoạt động thuê tài chính, thuê mua và bán trả góp để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp cận hoặc nâng cấp máy móc thiết bị mới một cách tốt hơn Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ không có khả năng mua máy móc mới. Đồng thời, như đã trình bày, các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó vay các khoản tín dụng từ Ngân hàng. Hình thức thuê mua là một giải pháp cho vấn đề này bởi vì doanh nghiệp có thể mua máy móc thiết bị mới hoặc nâng cấp để sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình mà không phải thanh toán toàn bộ số tiền khi mua hàng. Thay vào đó, họ phải trả số tiền thuê máy móc nhỏ hơn nhiều. Chẳng hạn, giả sử giá mua một máy mới là 10 tỷ VND, nhưng giá thuê mua là 2 tỷ VND một năm. Trong trường hợp này, hình thức thuê mua sẽ cho phép doanh nghiệp sử dụng ngay máy móc mới với số tiền bằng 1/5 giá mua. Trong trường hợp thoả thuận thuê mua hoặc thuê tài chính, doanh nghiệp có thể lựa chọn để mua máy móc với một khoản thanh toán nhỏ bổ sung vào cuối thời hạn thuê, chẳng hạn sau 5 năm. Mua trả góp có một hiệu quả tương tự, cho phép doanh nghiệp thanh toán tiền mua máy móc mới trong một khoảng thời gian thay vì phải thanh toán toàn bộ số tiền ngay khi nhận hàng. Do đó, các văn bản pháp luật cần tạo điều kiện thuận lợi để các thoả thuận thuê, thuê tài chính, thuê mua và các hợp đồng trả góp được thực hiện dễ dàng. c. Tiếp tục loại bỏ những trở ngại về luật pháp và chính sách đối với việc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt nam Tiếp tục đơn giản hoá các thủ tục và giảm bớt các phí tổn đối với thị thực nhập cảnh đặc biệt là đối với các cán bộ kỹ thuật, các nhà khoa học và những người điều hành kinh doanh nước ngoài, bởi vì họ là những phương tiện chuyển giao công nghệ và bí quyết sản xuất đạt hiệu quả cao nhất thông qua việc đào tạo và thực nghiệm mà họ cung cấp cho các nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật và công nhân Việt nam; Giảm các mức thuế suất cao trong biểu thuế thu nhập cá nhân đánh vào người nước ngoài xuống tới mức bằng hoặc thấp hơn mức thuế đang áp dụng ở nhiều nước Đông Nam á khác; Giảm phí sử dụng Internet xuống ngang với mức đang được áp dụng ở các nước Đông Nam á khác. Internet đã và đang trở thành một trong những nguồn thông tin chủ yếu mà qua đó công nghệ và bí quyết kỹ thuật được chuyển tới những công dân bình thường. Tuy nhiên, hiện nay phí truy cập Internet tại Việt nam lại đắt nhất thế giới. “Phí sử dụng Internet ở Việt nam đắt gấp 5 lần so với các nước láng giềng nơi mà GDP cao gấp 30 lần so với Việt nam . Người ta cho rằng mức giá truy cập từ 300-400 VND/phút là mức giá cao nhất thế giới. Mức giá này đã không khuyến khích những người Việt nam truy cập vào Internet” Tiếp tục giảm cước phí liên lạc viễn thông quốc tế xuống tới mức hợp lý hơn theo tiêu chuẩn quốc tế. Đàm thoại quốc tế ở Việt nam phải chịu cước phí cao nhất thế giới. Điều này đã hạn chế phương tiện chính mà thông qua đó công nghệ được chuyển giao, đó là điện thoại và fax; Nghiêm túc xem xét việc nới lỏng các quy định nghiêm ngặt hiện hành có liên quan tới việc hạn chế nhập khẩu máy móc và thiết bị cũ để cho phép nhập khẩu thiết bị cũ phù hợp với khả năng tài chính nhưng vẫn có thể dùng được. Điều đó cho phép các doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất của mình một cách tiết kiệm hơn mà vẫn không biến đất nước thành một “bãi rác” của những máy móc hư hỏng. 2.3. Thành lập các chương trình và các Quỹ hỗ trợ Việc làm này nhằm cung cấp thông tin và đào tạo cho các nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật và nhân viên của doanh nghiệp vừa và nhỏ, như chương trình đào tạo cho công chức về xúc tiến doanh nghiệp vừa và nhỏ; lập quỹ hỗ trợ cho việc đào tào nghề nghiệp, kỹ năng chuyên môn cho người lao động; thành lập và tăng cường các cơ sở đào tạo nghề và đào tạo chuyên ngành, đào tạo quản lý doanh nghiệp; hỗ trợ nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là các nghiên cứu áp dụng công nghệ cao, công nghệ mới, phương thức quản lý tiên tiến; Vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ phổ biến thông tin là rất quan trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các biện pháp chủ yếu để tăng cường công tác thông tin cho doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm: Xây dựng và tăng cường hệ thống thông tin với các trung tâm thông tin và hình thức phổ biến thông tin đa dạng phục vụ nhu cầu thông tin của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Thiết lập các cơ quan xúc tiến phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, Hình thành cơ chế đối thoại giữa khu vực Nhà nước và khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, Tăng cường các hiệp hội thương mại và ngành nghề. 2.4. Sửa đổi bổ sung một số cơ chế, chính sách Việc bổ sung cơ chế chính sách góp phần hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển, như: Chính sách lao động- tiền lương phản ánh mối quan hệ phân phối giữa người lao động và người sử dụng lao động, có vị trí quan trọng tạo động lực phát triển trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cần ban hành đồng bộ các quy định về bảo hiểm xã hội để người lao động trong các doanh nghiệp đều được tham gia, hình thành đa dạng các mô hình tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội phù hợp với từng nhóm đối tượng, có thu nhập khác nhau với nhiều mức đóng, mức hưởng khác nhau để người lao động tự lựa chọn khi tham gia bảo hiểm xã hội. Bổ sung chế tài bắt buộc người sử dụng lao động phải thực hiện nghiêm túc chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động. Chính sách đất đai cũng là vấn đề quan trọng và bức bách đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhà nước cần có chính sách xây dựng các khu công nghiệp với cơ sở hạ tầng cần thiết, áp dụng giá thuê cho phù hợp để khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuê làm mặt bằng sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp này được phép trả nhiều lần trong khoảng thời gian dài. Sau khi thanh toán, quyền sử dụng đất sẽ được trao cho các doanh nghiệp. Ngoài ra, các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cũng cần được thành lập trong khu công nghiệp để tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp. Kết luận Những năm qua, các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước cũng như góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt nam hội nhập vào khu vực và thế giới. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sản xuất nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và các loại máy móc, thiết bị, công cụ và các linh kiện cần thiết cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tạo ra công ăn việc làm cho một số lượng lớn người lao động, mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, kể cả những người đang thất nghiệp, phụ nữ và người tàn tật. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính được huy động trong nước và các nguồn nguyên liệu, vật liệu hoặc các sản phẩm trung gian có sẵn trong nước. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đóng góp vào nỗ lực phân bổ các ngành công nghiệp dến nhiều vùng dân cư khác nhau, nhờ đó giảm bớt được khoảng cách phát triển giữa các khu vực khác nhau và tạo ra được sự phát triển cân đối giữa các vùng khác nhau trên toàn quốc. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đóng góp đáng kể vào việc duy trì và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống nhằm sản xuất các loại hàng hoá mang bản sắc dân tộc. Chính vì thế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được khuyến khích phát triển nhằm khai thác hết tiềm năng to lớn của khu vực này, góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước. Muốn vậy, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh, mà rõ ràng và tiêu biểu nhất là đảm bảo hoạt động kinh doanh có lợi nhuận. Với mục tiêu đó, khoá luận đã chọn doanh nghiệp vừa và nhỏ làm đối tượng nghiên cứu. Qua 3 chương lý luận, phân tích, đánh giá và đề xuất những giải pháp nâng cao lợi nhuận, người viết hy vọng đã đưa ra được một cái nhìn tổng thể về khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ của đất nước ta, đặc biệt là công tác thực hiện lợi nhuận. Từ đó đề xuất những giải pháp cả ở tầm vĩ mô (đối với Nhà nước) và vi mô (đối với bản thân các doanh nghiệp) nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc mà khu vực doanh nghiệp nay đang gặp phải, đồng thời nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và lợi nhuận nói riêng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế như ngày nay. Một lần nữa, xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tất cả các thày giáo, cô giáo trường Đại học Ngoại thương Hà nội, đặc biệt là cô giáo- Th.S Trần Thị Kim Anh-Khoa Quản trị kinh doanh, cùng các bạn bè trong và ngoài lớp A11-K37F đã nhiệt tình giúp đỡ để bài Khoá luận này được hoàn thiện. Tài liệu tham khảo Giáo trình Marketing lý thuyết - Đại học Ngoại thương Hà nội Nguyễn Văn Công-Kế toán doanh nghiệp, lý thuyết-bài tập mẫu và bài giải-NXB Tài chính 2001 David Begg-Kinh tế học-NXB Giáo dục 1995 Văn kiện Đại hội Đảng VIII Quyết định số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 và sửa đổi bổ sung theo Thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 9/10/2002 của BTC Tổng cục Thống kê- Kết quả điều tra toàn bộ doanh nghiệp, NXB Thống kê 2001 Tổng cục Thống kê- Niên giám thống kê 1996-2001 Tổ chức lao động quốc tế, doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt nam – Báo cáo trình Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội của CHXHCN Việt nam, 2000 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổ chức phát triển Công nghiệp Liên hiệp quốc-Báo cáo nghiên cứu: Hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô và đổi mới các thủ tục hành chính nhằm thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt nam 10. Thảo luận về khu vực kinh tế tư nhân của MPDF, các số từ 1 đến 10 11. Các tạp chí: Nghiên cứu và phát triển, Kinh tế Châu á-Thái Bình Dương, Việt nam và Đông Nam á ngày nay, Diễn đàn Doanh nghiệp năm 2000 và 2001 13. www.contactvietnam.com 14. 15. 16.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLVMAI.doc
  • docb×aluanvan.doc
Tài liệu liên quan