Đề tài Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc ở công ty may Thăng Long làm Chuyên đề tốt nghiệp của mình

Phát triển quan hệ xuất nhập khẩu là kết quả tất yếu của quá trình tự do hoá thương mại, của quá trình phân công lao động, quá trình nâng cao vai trò tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy có mức độ khác nhau nhưng có thể nói mọi ngành công nghiệp, tập đoàn kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng của xuất nhập khẩu. Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu mà các ngành công nghiệp sẽ tìm được cơ cấu sản phẩm cho phép khai thác tốt nhất lợi thế so sánh thúc đẩy tăng trưởng có hiệu quả. Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hiện làmục tiêu quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam nói riêng và Công ty may Thăng Long nói riêng. Công ty may Thăng Long là một doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu . thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc có ý nghĩa chiến lược, đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty. Trong chiến lựơc hướng về xuất khẩu, Công ty may Thăng Long đã tận dụng được các tiềm lực có sẵn trong nước, đẩy mạnh sản xuất để xuất khẩu sản phẩm, giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động thu về một lượng ngoại tệ khá lớn phục vụ cho qua trình CNH-HĐH.

doc98 trang | Chia sẻ: baoanh98 | Ngày: 20/12/2018 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc ở công ty may Thăng Long làm Chuyên đề tốt nghiệp của mình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
phục được những điểm yếu, trên cơ sở đó đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu của công ty trong 10 năm tới. chương III một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty may Thăng Long I - phương hướng của Công ty may Thăng Long trong việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc. 1. Xu thế biến động, tình hình thị trường quốc tế. Ngày nay xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ, từng khu vực thành lập nên khu vực mậu dịch tự do, thâm chí ở quy mô lớn hơn, các công ty khác nhau trên thế giới cũng có sự sát nhập nhằm mở rộng hoạt động và thị trường tiêu thụ. Trong xu thế đó Việt Nam đã và đang gia nhập vào các tổ chức APEC (hội nghị hợp tác Châu á- Thái Bình Dương) AFTA (khu vực buôn bán tự do Bắc Mĩ), WTO ( tổ chức thương mại quốc tế) đã tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế nước ta nói chung và ngành may mặc xuất khẩu của công ty có điều kiện giao lưu hội nhập với ngành may mặc trong khu vực và trên thế giới, đồng thời sẽ có nhiều thuận lợi hơn về mặt thủ tục xuất nhập khẩu. Các chính sách mở cửa kinh tế và hội nhập quốc tế cùng những cải cách mạnh mẽ về chính sách ngoại thương đã và đang tạo thời cơ cho công ty tham gia vào thị trường quốc tế, tăng thị phần, mở rộng thị trường , thu hút thêm bạn hàng và khách hàng nhằm nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh. Đặc biệt thị trường hàng xuất khẩu hàng dệt may của ta đang có dấu hiệu phục hồi. Theo quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nền kinh tế thế giới tăng trưởng 2.9% năm 2002 và sẽ tăng trưởng 4.1% năm 2003. Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế thế giới, giá cả các mặt hàng xuất khẩu đã có dấu hiệu tăng trở lại sau một thời gian dài giảm sút. Đây là thuận lợi để công ty xuất khẩu và tăng thị phần trên thị trường thế giới. Mà đặc biệt là sự phục hội của nền kinh tế Mĩ, EU, Nhật Bản vì đây là những thị trường trọng điểm của công ty. Mặt khác so với các thị trường xuất khẩu chính của Châu á thì hàng dệt may của Việt Nam vẫn có lợi thế về nhân công, giá nhân công của Việt Nam vẫn còn tương đối rẻ so với các nước trong khu vực. Tiếp theo xu thế dịch chuyển ngành may mặc từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển ở trình độ thấp cũng là một cơ hội của Việt Nam. Một điều thuận lợi nữa cho công ty là hiện nay Việt Nam vẫn tiếp tục được bình chọn là nước an toàn nhất trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương sẽ tăng thêm lực hấp dẫn đối với khách hàng. Trên đây là những thuận lợi chính mà công ty may Thăng Long cũng như ngành dệt may Việt Nam có được trong những năm tới. Những cơ hội này sẽ là những nhân tố quan trọng tạo nên sức phát triển cho công ty cũng như ngành dệt may nếu ta biết tận dụng và phát huy. Bên cạnh những thuận lợi nêu trên doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn: Những thách thức trước tiên cùng đến từ phía thị trường đó chính là sự cạnh tranh quyết liệt của các Doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may trong khu vực có cùng cơ cấu sản phẩm như chúng ta. Sự lớn mạnh của ngành dệt may Trung Quốc cùng với việc Trung Quốc gia nhập WTO trong năm nay đang là nguy cơ và thách thức lớn đối với Doanh Nghiệp Việt Nam. Thị trường EU còn bị hạn chế bởi hạn ngạch, thị trường Mỹ cũng còn mới lạ, phương thức bán khó khăn đặc biệt là còn chứa nhiều phân biệt đối xử, vì vậy mà trong những năm tới những thách thức đối với Công ty may Thăng Long và ngành dệt may Việt Nam đến từ phía thị trường là rất lớn. Song có lẽ những thách thức, nguy cơ thực sự lại đến từ phía Công ty may Thăng Long . Sức cạnh tranh chưa cao, mẫu mã thì đơn điệu đang sẽ là lực cản sự phát triển trong những năm tới. Máy móc công nghệ tuy được nhập từ các nước nhưng vẫn chưa đáp ứng được sự đòi hỏi cao như hiện nay, năng lực quản lý còn thấp cũng là một trong những nguy cơ lớn đối với Công ty. Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty, những thuận lợi, khó khăn, những vấn đề còn tồn tại. Nhận thức được những cơ hội, thách thức đối với Công ty để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty em xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp sau: 2. Phương hướng của công ty trong việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới Trên cơ sở kết quả hoạt động xuất khẩu trong các năm trước, kết quả nghiên cứu thị trường đồng thời đánh giá điều kiện thuận lợi và khó khăn của công ty. Cùng với việc mở rộng đầu tư xây dựng thêm nhà máy may Hà Nam và bắt đầu đi vào hoạt động đầu năm 2003. Tiếp tục phát huy thế mạnh của mình và góp phần cùng với các doanh nghiệp trong toàn ngành thực hiện chiến lược tăng tốc phát triển ngành dệt may Việt Nam. Công ty phấn đấu từ nay đến năm 2005 thực hiện tốt các chỉ tiêu sau: Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2003 Năm2004 Năm2005 Sản phẩm sản xuất 1.000 sp 8.208 9.521 11.045 Doanh thu Tỷ đồng 179 208 241 Tổng số lao động Người 4.000 3.800 4.000 Thu nhập bình quân (nguời/tháng) 1.000đ 1.250 1.380 1.500 Kim nghạch xuất khẩu Tr.USD 57 67 77 Kim nghạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ Tr.USD 45 55 60 Nộp ngân sách Tr.đồng 4.969 5.765 6.687 Doanh nghiệp tập trung các giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm may mặc của công ty. Đây là mục tiêu hết sức quan trọng để doanh nghiệp tồn tại phát triển và hội nhập. Đặc biệt tập trung chiều sâu và mở rộng các xí nghiệp may. Để đạt được các chỉ tiêu trên công ty đang thực hiện: 2.1. Mở rộng thị trường của Công ty tới các thị trường nhiều tiềm năng. Trong những năm tới, Công ty may Thăng Long sẽ tiếp tục nghiên cứu và tìm các phương án phát triển mở rộng thị trường của Công ty tới các thị trường có sức tiêu thụ lớn như: Đức, Pháp, Thủy Điển, Nhật, MỹĐây là thị trường của các nước phát triển. Bên cạnh đó Công ty cũng chú trọng đến thị trường Châu á như: Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc. Các khách hàng ở các nước đang phát triển Châu á đã có bề dày quan hệ làm ăn lâu dài với Công ty nhưng là sau khi họ đặt gia công ở Công ty may Thăng Long , họ lại tiến hành để tái sản xuất sang các thị trường các nước đang phát triển và chậm phát triển khác để kiếm lời. Mặt khác, xu hướng hiện nay trên thế giới về sản xuất hàng may mặc đang có sự di chuyển từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển và chậm phát triển vì sản xuất ở các nước này rẻ hơn nhiều. Chính vì vậy, Công ty may Thăng Long sẽ tiếp tục nỗ lực tìm kiếm bạn hàng ở các nước phát triển ký kết Hợp đồng trực tiếp với các khách hàng này để thu được lợi nhuận cao hơn. 2.2. Từng bước đẩy mạnh kinh doanh theo phương thức mua đứt bán đoạn (xuất khẩu trực tiếp) Theo phương thức mua đứt bán đoạn, Công ty chủ động trong sản xuất kinh doanh và lợi nhuận thu hồi về lớn hơn rất nhiều so với hoạt động gia công cho khách hàng. Trong thời gian tới phương thức gia công vẫn còn được chú trọng nhờ những ưu điểm của nó. Hiện nay Công ty chưa đủ vốn để mua nguyên vật liệu để sản xuất cho tất cả các đơn hàng. Thực hiện phương thức mua đứt bán đoạn đòi hỏi Công ty phải có vốn lưu động lớn luôn luôn có một dự trữ nguyên vật liệu. Nguồn vật liệu Công ty hiện nay tìm được vẫn chưa đáp ứng đủ cả về số lượng và chất lượng cho nhiều đơn hàng mua đứt bán đoạn. Vì thế phương thức gia công vấn tiếp tục được duy trì trong thời gian này. Xuất khẩu theo phương thức mua đứt bán đoạn là mục tiêu chiến lược của Công ty trong thời gian tới. Công ty sẽ tích cực hơn trong việc tìm kiếm, cung cấp nguyên vật liệu phù hợp mà tăng cường tìm kiếm thêm nhiều bạn hàng mua trực tiếp ở các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Pháp, Đức Tỷ trọng hàng bán đứt sẽ tăng dần lên. Năm 2000 tỷ trọng doanh thu của hàng bán đứt chiếm khoảng. 2.3. Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng may mặc. Trong những năm tới Công ty đề ra phương hướng phấn đấu tăng trưởng hàng năm từ 16 – 20%. Công ty tìm những biện pháp tổ chức sản xuất, quản lý, khai thác nhiều đơn hàng trực tiếp để nâng cao được tỷ lệ lợi nhuận đầu tư cho phát triển Doanh nghiệp, tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho cán bộ công nhân viên, tăng đóng góp vào ngân sách nhà nước và tăng thu nhập bình quân lao động hàng năm. Mặt khác công ty không ngừng tìm kiếm nguồn nguyên phụ liệu với giá rẻ phục vụ cho sản xuất đựơc chủ động, tiết kiệm chi phí giảm giá thành cho sản phẩm. Đồng thời liên kết với các đơn vị khác trong ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp dệt cung cấp nguyên liệu có chất lượng tốt để chủ động sản xuất, xuất khẩu sang thị trường Mĩ và các thị trường khác. Công ty đang triển khai xây dựng cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu ngành may như khoá, kéo, cúc nhựa, mex, nhãn dệt và băng chun các loại đã được tổng công ty dệt- may phê duyệt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và phát triển thị trường nội địa. Công ty chủ động đầu tư máy móc thiết bị công nghệ hiện đại, mở rộng sản xuất tại các khu vực Nam Định, Hà Nam để tăng năng lực sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh tạo điều kiện thâm nhập nhanh vào thị trường Mĩ khi Việt Nam còn đang được hưởng quy chế tối huệ quốc, tập trung vào các mặt hàng mũi nhọn của công ty như: quần áo Jean, quần âu, quần áo dệt kim Liên kết với các doanh nghiệp may trong ngành để triển khai những đơn hàng lớn xuất khẩu sang thị trường Mĩ. Hợp tác với khách hàng mở văn phòng đại diện trực tiếp tiếp cận các thị trường II- một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty may Thăng Long . 1.Tổ chức tốt công tác điều tra nghiên cứu. Hoạt động nghiên cứu thị trường là một trong những hoạt động đầu tiên và hết sức quan trọng đối với mọi Doanh nghiệp hiện nay. Đối với Công ty may Thăng Long nó càng trở nên quan trọng vì Công ty tham gia xuất nhập khẩu, rủi ro kinh doanh quốc tế rất cao. Để hoạt động kinh doanhcủa Công ty đạt hiệu quả cao và ngày càng phát triển thì Công ty cần chú trọng đặc biệt vào khâu nghiên cứu thị trường để nắm vững nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng, tính mốt của các sản phẩm may mặc và xu hướng thay đổi của chúng để khẩn trương triển khai các sản xuất kinh doanh và xuất khẩu đáp ứng kịp thời, chiếm lĩnh được các thị trường. - Với Công ty may Thăng Long thì phạm vi thị trường xuất khẩu rộng lớn nên việc nghiên cứu thị trường kiểu tại hiện trường là tương đối khó khăn. Bên cạnh một số văn phòng đại diện ở nước ngoài hiện có Công ty cần xem xét và đặt thêm một số văn phòng đại diện ở một số nước có tiềm năng, trọng điểm để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giao dịch, giới thiệu sản phẩm, thiết lập các mối quan hệ trong hợp tác kinh doanh và trong nghiên cứu thị trường. Thực hiện việc này sẽ đảm bảo cho Công ty cập nhật được những thông tin về thị trường chuẩn xác hơn, nhanh chóng giúp ban lãnh đạo và các cán bộ trong Công ty xử lý chúng và đề ra các phương hướng sản xuất kinh doanh đúng đắn. - Mặt khác trong các đợt đi công tác nước ngoài thì Công ty cần cử các cán bộ có năng lực để có điều kiện tranh thủ nghiên cứu thị trường tại nơi công tác. Những thông tin có thể được các ban hàng ở đó cung cấp hay do cán bộ Công ty trực tiếp tìm hiểu, khảo sát và phát hiện ra được những chuyến công tác thực tế nước ngoài nếu biết tận dụng chúng thì sẽ thu được rất nhiều điều bổ ích cho Công ty. Công ty có thể tìm kiếm và xây dựng được rất nhiều quan hệ với các nhà cung cấp nguyên vật liệu, với các khách hàng tiêu thụ sản phẩm của Công ty, có nhiều thông tin xác đáng và hữu ích phục vụ cho xây dựng phương hướng, phương án sản xuất kinh doanh. - Công ty phải xây dựng kế hoạch về tham dự hội chợ triển lãm quốc tế. Hội chợ là nơi tốt để Công ty có thể bán hàng, tìm kiếm khách hàng và ký hợp đồng. Thông qua hội chợ Công ty có thể trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, người tiêu dùng để hiểu biết hơn về họ đồng thời đây cũng là cơ hội để người tiêu dùng, khách hàng hiểu biết về sản phẩm của Công ty. - Giữ vững và mở rộng thị trường gắn liền với việc cải tiến sản phẩm, mẫu mã, tung ra thị trường sản phẩm mới nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả hợp lý. Mỗi sản phẩm đều có chu kỳ sống nếu cuối chu kỳ mà không có sự thay đổi, cải thiện thì sản phẩm đó sẽ chết và không còn thị trường nữa. - Xúc tiến quảng cáo bán hàng. Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, quảng cáo thông qua khách hàng, người tiêu dùng. Bán hàng giảm giá, tính hoa hồng cho người tìm ra khách hàng. Căn cứ vào kết quả của công tác điều tra nghiên cứu thị trường Công ty sẽ trả lời các câu hỏi: ai mua? Số lượng? Giá cả? yêu cầu về chất lượng, màu sắc, độ bền? Thời hạn giao hàng? Và từ đó Công ty tiến hành phân tích, đánh giá để xem xét khả năng đáp ứng, những thuận lợi khó khăn của mình để có kế hoạch triển khai các nguồn lực, tiến hành và sản xuất có hiệu quả. Tuy nhiên việc mở rộng thị trường xuất khẩu phải tập trung vào các thị trường có triển vọng nhất, đồng thời củng cố không ngừng các thị trường truyền thống mới có thể đem lại hiệu quả như mong muốn. ở một góc độ khác, mặc dù việc mở rộng thị trường theo bất kỳ hướng nào cũng đều có lợi cho Công ty để tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng lợi nhuận. Nhưng vấn đề là ở chỗ: Công ty cần chú trọng vào những có triển vọng nhất và những sản phẩm mũi nhọn để tránh xuất khẩu và mở rộng về những thị trường có tiềm ẩn nguy cơ bất lợi cho Công ty trong tương lai. Xác định các mặt hàng mũi nhọn và thị trường trọng điểm thì việc đầu tư của Công ty sẽ thu được hiệu quả kinh tế cao và bỏ lỡ ít nhất những cơ hội trong kinh doanh. Trong thời gian tới công ty cần khai thác có hiệu quả thị trường xuất khẩu như: Nhật Bản, EU; khôi phục SNG và Đông Âu; tập trung khai thác tốt thị trường Mĩ; mở thêm thị trường mới tại Trung Đông và Châu Phi. 2. Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh trong đó trọng tâm là sản xuất hàng xuất khẩu. Công ty may Thăng Long là một Doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng may mặc. Công ty có quyền XNK trực tiếp và đã có quan hệ với trên 20 quốc gia trên thế giới. Chính do sự phức tạp và tiềm ẩn các yếu tố rủi ro trong môi trường kinh doanh ở các thị trường này nên Công ty cần phải xây dựng được một kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch xuất khẩu để chuẩn bị và hoạt động có hiệu quả. Kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch xuất khẩu sẽ cung cấp cho các cán bộ quản lý và các cán bộ tác nghiệp trong Công ty những cơ sở để hành động, lựa chọn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Không có kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch xuất khẩu Công ty sẽ rất khó khăn trong việc thực hiện các chỉ tiêu được giao và đạt được các mục tiêu đề ra. Để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch xuất khẩu ban lãnh đạo công ty cần dựa vào những căn cứ sau: - Thứ nhất dựa vào mục tiêu chiến lược cuả doanh nghiệp trong thời kì đó, căn cứ vào tốc độ tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp, đồng thời căn cứ vào các đơn đặt hàng - Tiếp đến doanh nghiệp đánh giá môi trường kinh doanh để tìm ra các cơ hội kinh doanh trên thị trường hoặc các đoạn thị trường mà Công ty dự định kinh doanh. Đồng thời tăng cường các thị mạnh và khắc phục các điểm yếu của Công ty trong quá trình hoạt động kinh doanh. Trong khâu này, Công ty sẽ sử dụng phương pháp đánh giá môi trường thích hợp và đưa ra được những đánh giá tổng quan về môi trường. Công ty cũng sẽ phân tích được các điểm mạnh của bản thân Công ty, phân tích các hoạt động của Công ty. - Dựa vào kết quả giai đoạn trên (phân tích môi trường kinh doanh và phân tích nội bộ) Công ty tiến hành lập bảng dự báo các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh, chỉ tiêu xuất khẩu trong tương lai. Những căn cứ để dự báo các chỉ tiêu như từ các số liệu nghiên cứu thị trường, ước lượng số khách hàng tiềm năng thực tế có khả năng nhập khẩu của Công ty. Tuỳ thuộc từng loại từng đoạn thị trường với mức cạnh tranh khác nhau có thể ước lượng khác nhau. Mở rộng lượng khách hàng theo tiến triển, tăng lên của kim ngạch xuất khẩu và các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ khác. - Tiếp theo Công ty sẽ dựa vào các số liệu trên để lập kế hoạch huy động vốn thực hiện việc sản xuất kinh doanh của mình. Lập kế hoạch vay vốn có tầm quan trọng lớn vì các ngân hàng bao giờ cũng muốn biết rõ các doanh nghiệp trước khi cân nhắc để cho vay vốn. Lập bảng kế hoạch cũng là biện pháp giúp Công ty điều chỉnh được sự cân đối giữa cung và cầu, điều khiển được lượng hàng tồn kho. Nếu lượng hàng tồn kho quá lớn, sẽ làm tồn đọng vốn hạn chế khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Nhưng nếu hàng dữ trữ quá ít có thể sẽ làm mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế đã chứng minh việc quản lý doanh nghiệp đến đâu hay đến đó “gió chiều nào che chiều ấy” đa số kém hiệu quả và có nguy cơ phá sản. Bằng cả lý luận và thực tiễn đã khẳng định sự tối cần thiết của việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Có kế hoạch sản xuất kinh doanh sẽ tạo cơ sở cho việc ra quyết định đúng đắn trong đầu tư, tổ chức và quản lý kinh doanh có hiệu quả nhất. - Bước thực hiện cuối cùng và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch xuất khẩu là cần kiểm tra việc thực hiện kế hoạch để đánh giá được những hiệu quả đã đạt được những điểm yếu cần khắc phục, tạo cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh và kế hoạch xuất khẩu tiếp theo. 3. Nâng cao năng lực cạnh tranh của một số mặt hàng may mặc. Vấn đề cốt lõi để đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc của Công ty mayThăng Long là làm sao phải nâng cao được sức cạnh tranh của nó trên thị trường thế gisới như về chất lượng, giá cả, thời gian. 3.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Công ty may Thăng Long đa số xuất khẩu các mặt hàng may mặc do chính Công ty sản xuất, gia công ra. Chính vì vậy Công ty có thể nâng cao chất lượng sản phẩm bằng việc: - Đầu tư vào các máy móc thiết bị, cải tiến công nghệ sản xuất bởi vì máy móc thiết bị có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm xuất khẩu của Công ty. Máy móc thiết bị lạc hậu không đồng bộ sẽ gây hỏng hóc, ngưng trệ sản xuất, tiêu tốn lao động quá khứ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Như vậy đầu tư hiện đại hoá máy móc thiết bị để nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô, tăng năng lực sản xuất là biện pháp cần thiết và cấp bách ở Công ty hiện nay. - Nâng cao khả năng thiết kế mẫu mã. Sản phẩm may mặc là sản phẩm mang tính mốt rất cao. Mẫu mã là yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu của Công ty. Công ty may Thăng Long hiện có bộ phận thiết kế mẫu thời trang và sản xuất nhiều sản phẩm may mặc thời trang. Tuy nhiên khả năng tự thiết kế mẫu mã phù hợp với nhu cầu của khách hàng để chủ động đi chào hàng và ký kết hợp đồng là rất hạn chế. Vì vậy Công ty cần: + Phải tuyển những người có khả năng thiết kế mẫu thời trang. + Khuyến khích cán bộ tạo mẫu phát huy sáng kiến và trình độ của mình. Công ty ngoài việc có mức lương tương ứng thì phải gắn trách nhiệm với quyền lợi của người cán bộ tạo mốt. + Công ty cần có quan hệ chặt chẽ với các Công ty may khác, đặc biệt là viện mẫu thời trang Việt Nam (Fadin) để thiết kế các mẫu mã sản phẩm, các mốt mới để bắt kịp với sự thay đổi nhu cầu may mặc thế giới. 3.2. Giá thành sản phẩm hợp lý. Giá thành sản phẩm là một yếu tố cạnh tranh khá mạnh trong thi trường may mặc thế giới. Hiện nay công ty may Thăng Long buộc phải phấn đấu làm sao để có chi phí sản xuất, chi phí lưu thông nhỏ nhất. Chính vì vậy Công ty may mặc Thăng Long cần chú ý đến việc: + Mua nguyên vật liệu từ nơi nào có lợi nhất, tiết kiệm NVL trong sản xuất, cải tiến công nghệ và quản lý lao động chặt chẽ để giảm giá thành của công ty. + Tiếp đó công ty phải cố gắng tìm các phương án giảm tối đa các phí tổn thương mại để giảm giá bán các mặt hàng. Các phí tổn thương mại này bao gồm toàn bộ các chi phí liên quan đến việc bán các sản phẩm. + Việc sử dụng các biện pháp hỗ trợ tiêu thụ ở các thị trường nước ngoài cũng phải được tính toán cẩn thận sao cho hiệu quả cao nhất với một mức phí cố định. Nếu cứ quảng cáo khuyến mại tràn lan và không phù hợp với các thị trưòng nước ngoài thì có khi rất tốn kém mà chẳng có tác dụng gì, thậm chí đôi khi còn phản tác dụng như trong trường hơp không phù hợp với đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán của khách nước ngoài. + Ngoài ra công ty cần cố gắng tiếp cận được càng gần người tiêu dùng càng tốt vì khi đó hàng có trể được bán với giá cao hơn và có được thông tin về khách hàng và kịp thời hơn. Một điều cần lưu ý khi doanh nghiệp định giá: Giá cả là một công cụ rất hữu hiệu tuy nhiên nó cũng như con dao hai lưỡi nếu doanh nghiệp định giá quá cao sản phẩm sẽ không tiêu thụ được. Còn nếu doanh nghiệp định giá quá thấp thì sẽ tạo ra tâm lý tiền nào của nấy, và doanh nghiệp đã tạo ra một cuộc chiến về gía mà trên thị trường thế giới công ty chỉ là một doanh nghiệp nhỏ không đủ sức trong cuộc chiến đó, do đó công cụ này sẽ phản tác dụng “gậy ông đập lưng ông”. 3.3. Về nghệ thuật bán hàng: So với chục năm trước đây nghệ thuật bán hàng của ta đã khá hơn rất nhiều song vẫn còn là điểm yếu với các nước trong khu vực và trên thế giới. Công cụ xúc tiến thương mại, tiếp thị, hệ thống nhân viên bán hàng còn yếu về chất lượng và thiếu về số lượng. Doanh nghiệp thiết lập mạng lưới chao đổi thông tin đại lý tiêu thụ và văn phòng dao dịch ở nước ngoài vẫn còn rất ít. Hạn chế này đã ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đến khả năng phản ứng nhanh, khả năng xoay chuyển tình thế của chủ doanh nghiệp. Quy luật đã chỉ ra rằng: sản xuất cần được thực hiện tại các khu vực có lao động rẻ, có hạ tầng cơ sở tốt và có nguồn lao động dồi dào. Còn thương mại cần được tiến hành ở các khu vực giàu, có nền kinh tế phát triển. Để giải quyết vấn đền này tự bản thân doanh nghiệp cần phải sớm xây dựng một đội ngũ nhân viên bán hàng và đội ngũ tiếp thị có kỹ năng giao tiếp và thiết lập các kênh phân phối rộng lớn. Đối với thị trường khu vực và toàn cầu doanh nghiệp cần liên kết hợp lực với những doanh nghiệp khác trong nghành để có mặt thường trực tại các thị trường tiềm năng. 3.4. Nâng cao uy tín tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, xúc tiến bán hàng công ty cần phải chú trọng đến uy tín của thương hiệu Thaloga Uy tín thương hiệu ngày càng trở nên quan trọng, cùng một mức chất lượng nhưng sản phẩm có thương hiệu uy tín, được nhiều người biết đến có thể bán với giá cao hơn hàng chục lần. Xu thế hội nhập WTO còn yêu cầu cao hơn cho thương hiệu doanh nghiệp: doanh nghiệp cần phải xử lý và quản lý môi trường theo tiêu chuẩn ISO14000 và có trách nhiệm với xã hội, với người lao động theo tiêu chuẩn SA8000. Hiện nay doanh nghiệp đã áp dụng và thực hiện các nội dung của hai tiêu chuẩn trên, tuy nhiên cần thực hiện tốt hơn nữa để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng khi đến công ty đặt hàng và tăng nhanh sản lượng vào các thị trường tiềm năng, đặc biệt là thị trường Mĩ. Uy tín của doanh nghiệp còn được thể hiện thông qua việc đảm bảo thời gian sản xuất và giao hàng đúng hợp đồng. Với Công ty may Thăng Long hiện nay thì phải nghiên cứu tìm hiểu thị truờng để tung sản phẩm vào đúng thời điểm thì mới có thể thu lợi nhuận cao và chiếm được các thị trường đó. Nếu Công ty chậm chân thì đối thủ sẽ vào trước, rất khó len vào hay hàng hoá của Công ty ra muộn có thể đã là loại hàng lỗi thời. Thêm nữa, các hợp đồng may mặc xuất khẩu hiện nay đòi hỏi phải thực hiện đúng hợp đồng, nếu Công ty giao hàng không đúng hẹn sẽ vừa tốn chi phí có liên quan, vừa có thể bị phạt rất lớn về hợp đồng và điều tệ hại hơn là có thể mất vĩnh viễn nhiều bạn hàng và uy tín kinh doanh bị sụt giảm. Để có thể đảm bảo thời gian, Công ty cần hoàn thiện công tác tổ chức sản xuất và điều hành sản xuất để cho phép sử dụng có hiệu quả nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và sức lao động trong Công ty, đáp ứng tiến độ sản xuất để có thể góp phần to lớn vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty, thực hiện mục tiêu tổng hợp của Công ty. 4. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ngày nay nhân sự là vấn đề của mọi vấn đề, chúng ta có thể bỏ hàng triệu USD để xây dựng nhà máy hiện đại, nhưng nếu “ekip” điều hành kém năng lực, tập thể lao động trực tiếp sản xuất không thành thạo, trình độ tay nghề không cao thì nhà máy không thể hoạt động có hiệu qủa. Vì vậy nhà nước nên có kinh phí đầu tư thoả đáng và cụ thể cho khâu đào tạo ngành may mặc. Đặc biệt kế hoạch đầu tư trường du lịch, thời trang với chương trình đào tạo ngang tầm với các nước tiên tiến để có thể đưa ra thị trường các sản phẩm mang yếu tố cạnh tranh cao rất cần được quan tâm Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng đội ngũ công nhân tay nghề cao, nâng cao trình độ nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu cho đội ngũ cán bộ kinh doanh của Công ty. Tay nghề của người công nhân liên quan trực tiếp đến chất lượng sản phẩm và năng suất lao động. Công ty phải thường xuyên đào tạo, nâng cao tay nghề cho công nhân các bậc thợ, đặc biệt cho các công nhân trẻ đang học việc. Khi Công ty nhập công nghệ may tiên tiến vừa cấp thiết tổ chức hướng dẫn công nhân cách thức vận hành, sử dụng đúng để có thể nâng cao chất lượng sản phẩm và năng suất lao động. Trong sản xuất, Công ty cần quản lý chặt chẽ hơn về số lượng, chất lượng sản phẩm, định mức số lượng sản phẩm giao cho các công nhân. Thực hiện các biện pháp trả lương sản phẩm, thưởng phạt nghiêm minh hơn sẽ khích lệ sự say mê học hỏi trong công việc, tăng thêm sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền lợi và trách nhiệm vụ công nhân với các sản phẩm mình làm ra. Hiện nay Công ty thường tổ chức các cuộc kiểm tra tay nghề, thi công nhân có tay nghề giỏi. Đây là hình thức bổ ích có tác dụng to lớn kích thích người lao động không ngừng hoàn thiện khả năng chuyên môn. Trong gian đoạn tới Công ty nên tiếp tục thực hiện thường xuyên hơn và tạo nội dung thi đua phong phú và thiết thực hơn, có nguồn động viên, cổ vũ bằngvật chất và tinh thần xứng đáng, kịp thời cho những người có tay nghề giỏi có tinh thần trách nhiệm và phấn đấu cao, cho những người có sáng kiến, sáng tạo trong lao động sản xuất giúp ích cho Công tyNhững hoạt động bổ ích như vậy sẽ tạo tinh thần đoàn kết, phân đấu trong toàn thể cán bộ công nhân viên, tạo động lực mạnh cho công nhân học hỏi và phấn đấu không ngừng nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh doanh to lớn cho Công ty. - Song song với việc đào tạo đội ngũ công nhân tay nghề cao, Công ty còn phải nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn xuất nhập khẩu cho đội ngũ cán bộ kinh doanh. Sự cạnh tranh trên thị trường quốc tế ngày càng trở nên gay gắt hơn. cạnh tranh gay gắt khiến cho Công ty có rất ít cơ hội tăng giá bán sản phẩm. Mục tiêu của công ty hiện nay là làm sao tăng được tỷ suất lợi nhuận. Muốn vậy phải giảm chi phí tối đa để sao cho với một mức chi phí cố định thu được lãi cao nhất. Để giải quyết vấn đề này Công ty may Thăng Long và các Công ty khác trong nền kinh tế thị trường phải luôn chú trọng đến nhân tố con người trong Công ty bởi họ là đối tượng của công tác lãnh đạo, quản lý và là những người điều hành và thúc đẩy các hoạt động của Công ty. Trong đó phải chú ý đặc biệt đến đội ngũ cán bộ kinh doanh của Công ty. Công ty may Thăng Long là một doanh nghiệp công nghiệp sản xuất hàng may mặc và nó có hoạt động xuất nhập khẩu trực tiếp nên càng đòi hỏi Công ty phải có một đội ngũ nhân viên tác nghiệp có đầy đủ năng lực để tìm hiểu một cách rõ ràng, chính xác kịp thời nhu cầu thị trường quốc tế, quy mô của nhu cầu và khả năng đáp ứng nhu cầu đó của Công ty và của sản xuất trong nước. Đồng thời nắm bắt chính xác, kịp thời của mọi thông tin về sự thay đổi đó (như diễn biến chính trị, quân sự, tài chính hay sự thay đổi chính sách của chính phủ nào đó). Tuy nhiên để có được đội ngũ nhân viên như vậy, mỗi nhân viên và cán bộ lãnh đạo của Công ty phải là những người giỏi về nghiệp vụ chuyên môn của mình ở vị trí của mình trong Công ty, đồng thời phải có khả năng sử dụng tốt ngoại ngữ (tiếng Anh) trong hoạt động kinh doanh của mình, hiểu biết tâm lý, thị hiếu, thói quen của khách hàng trên các thị trường quan tâm. Các cán bộ phải luôn rèn luyện thói quen theo dõi, ghi nhận nghiên cứu và phân tích các thông tin liên quan đến sản phẩm và dịch vụ mà mình kinh doanh, thị trường và giá cả trên thị trường nước ngoài. Muốn vậy, Công ty trước hết cần thực hiện thông tin liên quan đến sản phẩm và dịch vụ của kinh doanh trong và ngoài nước. Vì vậy Công ty trước hết cần thực việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, thực hiện việc trang bị các thiết bị thông tin liên lạc trong các phòng kinh doanh để kịp thời nắm bắt các nhu cầu và biến động của thị trường thông qua việc tham gia các mạng thông tin sẵn có ở thị trường Việt Nam. Thêm vào đó khả năng tiếp thị tốt cũng là một trong các tiêu chuẩn không thể thiếu đối với Công ty may Thăng Long . Vì Công ty hoạt động xuất khẩu nên sự phát triển của Công ty đòi hỏi phải có khả năng tiếp thị hơn hẳn các doanh nghiệp chỉ hoạt động trong nước. Bởi vì thị trường ở đây mà Công ty tiếp cận là thị trường nước ngoài, nơi mà các đòi hỏi tiêu chuẩn phải cao hơn hẳn so với thị trường trong nước và phải luôn ở mức ngang bằng với các tiêu chuẩn chung của thị trường thế giới. Để đáp ứng được các yêu cầu trên, Công ty cần có chế độ khuyến khích cán bộ công nhân viên theo các khoá học tại chức và dài hạn, đi học tập bồi dưỡng kiến thức ở các trường đào tạo có tiếng như: ĐH KTQD, ĐH ngoại ngữĐặc biệt cần có hình thức đào tạo thích hợp và khẩn trương về khả năng ngoại ngữ cho một số cán bộ làm công tác xuất nhập khẩu của Công ty. 5. Hoàn thiện quy trình xuất khẩu. Quy trình xuất khẩu là một vấn đề quan trọng. Nếu có một quy trình xuất khẩu tốt và hợp lý thì sẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu phát triển. Đồng thời tạo được nhiều lợi ích cho Công ty. Trong quy trình xuất khẩu hiện nay của Công ty còn khuyết 2 nhiệm vụ: “Thuê tàu” và “mua bảo hiểm”. Đó là khó khăn của các doanh nghiệp xuất khẩu. Cơ sở vật chất của Việt Nam còn kém, cụ thể là đội tàu nên các Công ty xuất khẩu chọn cơ sở giao hàng là “Giao lên tàu FOB”. Với điều kiện này thì công ty sẽ ít mạo hiểm, ít rủi ro về tổn thất hàng hoá nhưng Công ty lại mất một khoản lợi lớn từ nghiệp vụ bổ trợ này. Trong thời gian tới Công ty cần thực hiện điều kiện giao hàng CIF. Với điều kiện này Công ty còn thu được lợi nhuận Công ty sẽ thực hiện sản xuất trong nước và bán ra nước ngoài trong nghiệp vụ thanh toán, Công ty hầu như chỉ có một phương thức tín dụng chứng từ. Phương thức này đảm bảo cho Công ty nhận được tiền hàng. Tuy nhiên nếu chỉ thực hiện được phương thức LC thì cứng nhắc không linh hoạt. Trong trường hợp hai bên có quan hệ lâu dài tin cậy lẫn nhau thì phương thức LC mất nhiều thời gian và phí mở. Do vậy Công ty cần linh hoạt trong phương thức thanh toán, đối với khách hàng truyền thống tin cậy thì có thể dùng phương thức này nhằm thu kèm chứng từ, nếu tin cậy hơn thì dùng phương thức chuyển tiền. III . kiến nghị với Nhà nước . Trong quá trình thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, ngành may mặc nói chung và Công ty may Thăng Long nói riêng đều gặp phải khó khăn mà tự thân không giải quyết được. Đồng thời các doanh nghiệp là một thực thể trong nền kinh tế nên phải hoạt động theo pháp luật nhà nước, do đó ngoài các biện pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu ở phạm vi doanh nghiệp, vai trò của Nhà nước mà biểu hiện ở hệ thống các văn bản pháp quy có liên quan đến hoạt động này. Nó là nhân tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh nó chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng của Công ty may Thăng Long . Sau đây là một số kiến nghị với Nhà nước.. 1. Cải cách hệ thống thuế để khuyến khích xuất khẩu. Hệ thống thuế Việt Nam trong những năm qua mặc dù đã được sửa đổi bổ sung song còn tồn tại nhiều điểm bất hợp lí, có ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng. Do đó vấn đề cấp bách hiện nay là cần phải cải cách hệ thống chính sách thuế hiện hành để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn mới. Việc cải cách hệ thống thuế trước hêt phải đảm bảo tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tạo nguồn vốn để thực hiện CNH-HĐH nền kinh tế đồng thời phải đảm bảo đồng bộ hợp lí, khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư góp phần thúc đẩy xản suất kinh doanh. Thêm vào đó, chính sách thuế phải đưa ra đơn giản dễ hiểu để thực hiện khuyến khích xuất khẩu và phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại. Chính vì vậy , hệ thống thuế nói chung và thuế đối với các lĩnh vực xuất khẩu nói riêng bao gồm các nội dung lớn là: ban hành một hệ thống thuế đồng bộ, xem xét lại các nội dung phạm vi điều chỉnh và thuế suất của tất cả các sắc thuế. Bên cạnh đó nhằm khuyến khích hoạt động xuất khẩu hơn nữa thì quốc hội cần xem xét và điều chỉnh việc giảm miễn thuế đối với một số mặt hàng xuất khẩu. Nhà nước đã coi ngành dệt may là ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn của đất nước thì nên áp dụng thuế suất 0% đối với NVL chính phải nhập khẩu như bông, vải sợi và áp dụng thuế suất ưu đãi cho các nguyên phụ liệu. Để chủ động xản suất hàng xuất khẩu và lại có thể tăng thuế này lên nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sách đồng thời đảm bảo sản xuất nguyên liệu trong nước . Hiện nay, thời hạn tạm mượn thuế nhập khẩu để sản xuất trong nước là 90 ngày là quá ngắn là bởi vì từ khâu kí kết hợp đồng mua nguyên phụ liệu sản xuất và xuất khẩu khó có thể thực hiện được trong thời gian đó. Vì vậy cần điều chỉnh một thời gian hợp lí theo chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên 120 đến 180 ngày để doanh nghiệp dễ dàng hơn trong hoạt động xuất khẩu. Hơn nữa việc hoàn thiện thuế tạm nhập tái xuất cần phải tiến hành nhanh chóng hơn, tránh để tình trạng chiếm dụng vốn lâu dài của nhà xuất khẩu. Nhà nước nên quy định cụ thể cơ quan nào thu thuế thì có trách nhiệm hoàn trả thuế để các doanh nghiệp không phải gõ cửa nhiều nơi đòi hỏi hoàn thuế. Đối với luật thuế VAT, cần xem xét lại mức thuế suất, thuế doanh thu đối với doanh nghiệp may mặc là 10% là quá cao với thuế suất doanh thu trước đây là 2%-4%. Với thuế VAT là 10% doanh nghiệp sẽ phải nộp thuế nhiều hơn trước 45-70% điều đó không phù hợp với một ngành đang rất cần đẩy mạnh xuất khẩu để mở rộng thị trường xuất khẩu. Mặt hàng may mặc là mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của đất nước. Phát triển ngành sản xuất kinh doanh và xuất khẩu hàng may mặc vừa tạo điều kiện sử dụng các nguyên vật liệu sẵn có trong nước, tạo việc làm ổn định và nâng cao khả năng tạo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Do đó việc sản xuất kinh doanh và xuất khẩu hàng may mặc cần được hưởng các ưu đãi đặc biệt so với các mặt hàng khác. 2.Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi về vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Các doanh nghiệp sản xuất hoạt động xuất khẩu hiện nay, đa số có nhu cầu đầu tư, đổi mới công nghệ và đòi hỏi một lượng vốn lớn thì mới có khả năng sản xuất ra các mặt hàng đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Nhà nước cần só chính sách hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp dệt may với lãi suất ưu đãi hơn vì khi đã đầu tư vào máy móc thiết bị hiện đại thì đương nhiên thời gian thu hồi vốn đầu tư không thể nhanh được. Hơn nữa các tổ chức tài chính cũng cần phải căn cứ vào hoạt động của doanh nghiệp với mức tín dụng cho phép để vay không nên quá câu nệ vào lượng vốn pháp định của doanh nghiệp khi đi vay. Nhà nước cần khẩn trương tạo điều kiện để thị trường chứng khoán có thể hoạt động được giúp cho Công ty có thể huy động vốn dễ dàng. Mặt khác, dự kiến nguồn vốn đầu tư chiều sâu để phát triển sản xuất và cho ngành dệt may là rất lớn, khoảng 5 tỷ USD đén năm 2010, do đó ngành phải phát huy mọi nguồn vốn trong và ngoài nước. Nguồn vốn tự đầu tư, vốn đầu tư nước ngoài, vốn huy động trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thì Công ty may Thăng Long rất cần tranh thủ Công ty nguồn vốn viện trợ của chính phủ với lãi suất ưu đãi để đầu tư vào các công trình may (thời hạn may từ 8-15 năm). Hàng năm Chính phủ nên dành cho một phần ODA cho Công ty may Thăng Long với lãi suất ưu đãi để mua nguyên liệu (vải) dự trữ, đầu tư vào các dự án. Đồng thời phân bố vốn đầu tư sao cho có hiệu quả. Các công trình đòi hỏi vốn như ở các khâu quan trọng thì nên hướng vào các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, các công trình đòi hỏi vốn nhỏ, công đoạn ngắn, kỹ thuật không phức tạp thì nên sử dụng vốn đầu tư trong nước. Ngoài ra chính sách đầu tư vốn của Nhà nước với ngành Dệt may cần phải chú ý các vấn đề sau: + Nhà nước cấp đủ vốn lưu động định mức cho các doanh nghiệp dệt may bằng cách dùng vốn ngân sách để bổ sung cho vốn lưu động. + Cho phép Công ty giữ lại lợi nhuận sau thuế để đầu tư phát triển. Đồng thời ngân hàng nên nới lỏng điều kiệncho vay và hạ lãi suất hợp đồng vay phù hợp với tốc độ tăng cường giá cả. Bên cạnh đó cũng cần phải đổi mới cơ cấu vốn vay, tổng vốn trung và dài hạn để ngành may mặc có điều kiện đổi mới trang thiết bị. + Đầu tư phải phù hợp cân đối, khi xét duyệt dự án và cấp vốn đầu tư thì cần đầu tư cho ngành may mặc để giải quyết nguyên liệu may. 3.Cải cách thủ tục hành chính trong quản lý xuất nhập khẩu. Thủ tục hành chính, cách thức nghiệp vụ quản lý hoạt động xuất khẩu có ảnh hưởng lớn đến quá trình xuất khẩu hàng hoá. Hàng xuất khẩu hiện nay đòi hỏi thời hạn giao hàng phải đúng với hợp đồng nhưng ngành hải quan và các thủ tục kiểm tra xuất nhập khẩu hiện nay còn rườm rà và gây ra sự chậm trễ trong giao hàng cho khách. Chúng ta thực hiện cải cách hành chính, kiện toàn bộ máy theo hướng gọn nhẹ, có hiệu quả, thực hiện theo nguyên tắc “quản lý một cửa” cho các hoạt động xuất nhập khẩu, khắc phục sự chồng chéo phiền hà đùn đẩy nhau trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Trước hết Nhà nước cần phải hiện đạihoá ngành hải quan, hàng năm tổ chức các khoá huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ hải quan như Luật vận tải quốc tế, Luật thuế, ngoại ngữ cho cán bộ ngành hải quan. Làm như vậy sẽ tránh gây thiệt hại cho các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu và cho nền kinh tế quốc dân. 4.Đảm bảo ổn định về chính trị và kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước trên thế giới Có thể nói sự ổn định chính trị và kinh tế là nhân tố tạo sức hấp dẫn rất lớn đối với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong những năm gần đây, cùng với ổn định chính trị và cố gắng đảm bảo ổn định vĩ mô nền kinh tế như: khắc phụctình trạng nhập siêu, kiềm chế lạm phát xuống còn mức thấpChúng ta đã thu hút được rất lớn đầu tư nước ngoài vào trong nước và đã tạo được cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tham gia vào hoạt động kinh doanh quốc tế. Trong những năm tới, để khuyến khích các hoạt động kinh tế đối ngoại và khuyến khích xuất khẩu thì bên cạnh việc đảm bảo ổn định chính trị vàkinh tế. Chúng ta cần giữ vững quan hệ hoà bình với các nước trong khu vực và trên thế giới đẩy mạnh quan hệ hợp tác hưu nghị với các nước, tạo bầu không khí thuận lợi cho hoạt động kinh doanh quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu của đất nước nói riêng. Ngoài ra, Nhà nước cần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp để phát triển được ngành công nghiệp Dệt may. Đây là một trong những giải pháp hết sức căn bản, nhưng lại mang tính tổng hợp cao, bởi nó cần phối hợp của Chính phủ, của mọi ngành chức năng và các định chế xã hội, văn hoáVề mặt cơ sở pháp lý, quyền sở hữu tài sản phải được quy định rõ ràng, các quy chế của Chính phủ phải được xác định một cách thận trọng, mức độ can thiệp hành chính tuỳ tiện được tối thiểu hóa, hệ thống thuế phải đơn giản, không tham nhũng, các tiến trình pháp lý phải công bằng và hiệu quả. Việt Nam đang ở trong quá trình cải cách về mặt thể chế, do vậy cần rất nhiều thời gian để hoàn thiện một môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp trước hết là trong nước. 5. áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt để khuyến khích xuất khẩu. Có thể nói chưa bao giờ Việt Nam có một vị thế thuận lợi trong quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới và các tổ chức quốc tế như hiện nay. Việc nối lại quan hệ với các nước và các tổ chức tài chính tiền tệ thế giới như IMF, WB, ADB, ký kết hiệp định về hợp tác thương mại với EU và với Chính phủ các nước khác. Đến nay Việt Nam đã có quan hệ hợp tác với trên 105 quốc gia và tổ chức quốc tế, trong đó đã ký hợp tác thương mại với 58 nước đặc biệt là việc gia nhập ASEAN, tham gia AFTAnên khối lượng buôn bán quốc tế của Việt Nam ngày càng tăng, hoạt động xuất khẩu ngày càng được thúc đẩy. Chính vì vậy chính sách tỷ giá với tư cách là một công cụ điều tiết vĩ mô có vai trò ngày càng lớn đối vơi sự phát triển kinh tế đất nước, nhất là trong quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế. Hiện nay nền kinh tế tài chính nước ta (trong đó quan trọng nhất là tính hợp lý của tỷ giá, chế độ tỷ giá hối đoái hiện hành, thực trạng cán cân thanh toán lạm phát) tuy đã được hoàn thiện một bước song vẫn còn nhiều yếu tố tiềm ẩn mang tính bất ổn định, xu hướng mất giá của đồng tiền Việt Nam so với đòng ngoại tệ đặc biệt với đồng đôla Mỹ là tương đối rõ nét. Do đó mục tiêu của tỷ giá hối đoái trong thời gian tới là phải thường xuyên xác lập và duy trì tỷ giá, ấn định phù hợp dựa trên sức mua thực tế của đồng tiền Việt Nam so với các ngoại tệ, phù hợp với cung cầu trên thị trường, đảm bảo ổn định trong kinh tế đối nội và tăng trưởng kinh tế đối ngoại là hết sức cần thiết. Bất cứ giải pháp nào về tỷ giá hối đoái với nền kinh tế nước ta hiện nay đều không được phép phá vỡ sự ổn định tương đối của đông tiền Việt Nam đã đạt được trong quá trình đẩy lùi lạm phát thời gian qua. Thêm vào đó cần phải giảm tới mức thấp nhất các tác động tiêu cực của thị trường tài chính quốc tế và tổn thương đối với nền kinh tế thông qua các kênh tỷ giá và sự vận động của các luồng ngoại tệ và vốn. Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi về phương diện thanh toán quan hệ ngoại hối cho các hoạt động kinh tế đối ngoại đồng thời hỗ trợ cải cách và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế để thực hiện nhanh chóng công cuộc CNH-HĐH đất nước. Hơn nữa bên cạnh mục tiêu dài hạn là ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát thì chính sách tỷ giá cần tạo hỗ trợ hợp lý cho mục tiêu khuyến khích xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu. Đối với ngành Dệt may, cần khuyến khích xuất khẩu đồng thời cần nhập khẩu may móc thiết bị, công nghệ hiện đại và các nguyên vật liệu để phục vụ sản xuất.Vì vậy việc duy trì một chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý như hiện nay là tối ưu. Tuy nhiên trong hoàn cảnh hiện nay khi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính không nhỏ, cần có giải pháp điều chỉnh tỷ giá một cách khéo léo. Khi điều chỉnh phải chú ý đến mối quan hệ chặt chẽ giữa tỷ giá và hoạt động xuất nhập khẩu. Phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trên cơ sở phân tích các biến số như tỷ lệ lạm phát trong và ngoài nước, cán cân thương mại, khuynh hướng thay đổi giá của các đồng tiền và tâm lý của người dân. việc điều chỉnh cần thực hiện từ từ qua từng giai đoạn, nên tiến hành lúc có lạm phát và khi nhu cầu đối với hàng hoá của ta đang ở mức tăng. Với ngành Dệt may chính sách nhiều tỷ giá là rất quan trọng vì mong muốn xuất nhiều mà nhu cầu nhập cũng rất lớn, nên áp dụng một tỷ giá cao cho xuất khẩu và thấp cho nhập khẩu. Kết luận. Phát triển quan hệ xuất nhập khẩu là kết quả tất yếu của quá trình tự do hoá thương mại, của quá trình phân công lao động, quá trình nâng cao vai trò tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy có mức độ khác nhau nhưng có thể nói mọi ngành công nghiệp, tập đoàn kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều chịu ảnh hưởng của xuất nhập khẩu. Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu mà các ngành công nghiệp sẽ tìm được cơ cấu sản phẩm cho phép khai thác tốt nhất lợi thế so sánh thúc đẩy tăng trưởng có hiệu quả. Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hiện làmục tiêu quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam nói riêng và Công ty may Thăng Long nói riêng. Công ty may Thăng Long là một doanh nghiệp sản xuất hàng may mặc xuất khẩu . thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc có ý nghĩa chiến lược, đối với sự tồn tại và phát triển của Công ty. Trong chiến lựơc hướng về xuất khẩu, Công ty may Thăng Long đã tận dụng được các tiềm lực có sẵn trong nước, đẩy mạnh sản xuất để xuất khẩu sản phẩm, giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động thu về một lượng ngoại tệ khá lớn phục vụ cho qua trình CNH-HĐH. Qua quá trình thực tập ở Công ty may Thăng Long và việc tìm tòi tài liệu để hoàn thành đề tài này cho em nhận thức thêm tầm quan trọng của hoạt động xuất khẩu đối với các doanh nghiệp xuất khẩu và đối với nền kinh tế Việt Nam. Tài liệu tham khảo Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Hướng phát triển XNK năm 1996-2000. Hà Nội năm 1996 Bộ Thương mại du lịch: Chính sách và biện pháp quản lý Nhà nước về XNK. Hà Nội, năm 1998 Hà Quốc Hội: Nghiệp vụ kinh doanh XNK. Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1999 Trần Chí Thành: Quản trị kinh doanh XNK. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội 2000 Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội năm 1998 Nguyễn Đình Hương: Quan hệ thương mại Việt Nam- ASEAN và chính sách XNK của Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999 Tô Xuân Dân: Giáo trình Kinh tế quốc tế. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội 1998 Nguyễn Kế Tuấn: Quản trị các hoạt động thương mại trong DNCN. Nhà xuất bản Giáo Dục, Hà Nội 1996 Bùi xuân Lưu: Giáo trình Kinh tế ngoại thương. Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội 1998 PGS-TS Đặng Đình Đào “ Hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam, thực trạng và giải pháp” Tạp chí kinh tế và phát triển năm 2000 Lam Giang “Mở rộng khả năng xuất khẩu –thách thức lớn với ngành Dệt may”. Tạp chí Thương Mại số 3+4, năm 2000 Văn Tuý “Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu”. Tạp chí thông tin tài chính số 12/6/1999 Trần Lê Giang “Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Châu Âu- thực trạng và triển vọng”. Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu, tháng 5/1999 Các tài liệu của công ty may Thăng Long Mục lục Công ty Thăng Long TALIMEX TàI Sản Cố định Năm 2000 Tên TSCĐ TSCĐ Tăng TN TSCĐ Khấu hao TCSĐ dùng trong SXKD 5950096393 1217793243 716889636 1633912156 Nhà cửa vật kiến trúc 2090163361 0 2090165361 41803305 1. Khu cửa hàng 355250641 355250641 7105012 2. Nhà mobin 239002000 239002000 4780040 3. Nhà sản xuất 2 tâng 802327700 802327700 16046554 4. Nhà điều hành sản xuất 655682677 644682677 12893653 5. Nhà vệ sinh tập thể 13293243 13293243 265864 6. Tường rào Giảng Võ 16609100 16609100 332182 7. Đường sân Giảng võ 19000000 19000000 380000 Máy móc thiết bị công tác 3553338032 1206153243 4759491275 1066001406 1. Dây chuyền máy may NB 542317140 542317140 16269514 2. Dây chuyền máy may ĐL 2613030072 1100569263 2613030072 78390902 3. Dây chuyền máy may NB 0 1105583980 1100569263 0 4. Máy móc thiết bị khác 397990820 503574800 119397246 Họ và tên : Bùi Bảo Lâm MSV : 99D799 Lớp : QL3 đề cương luận văn tốt nghiệp Lời nói đầu Chương I : một số vấn đề Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu I. Hoạt động xuất khẩu hàng may mặc 1.Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu 1.1 Khái niệm 1.2Vai trò của hoạt động xuất khẩu 2.Các hình thức của hoạt động xuất khẩu 2.1. Xuất khẩu trực tiếp 2.2.Xuất khẩu uỷ thác 2.3. Xuất khẩu gia công uỷ thác 2.4 Gia công quốc tế 2.5 Xuất khẩu theo nghị định thư 2.6. Xuất khẩu tại chỗ 2.7.Tái xuất khẩu 2.8. Buôn bán đối lưu II. Quá trình tổ chứ xuất khẩu hàng hóa 1. Nghiên cứu tiếp cận thị trường nước ngoài 2. Xây dựng kế hoạch kinh doanh xuất khẩu 3. Tổ chức giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng 4. Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu III. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động xuất khẩu và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu 1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá 2.Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu 2.1. Các yếu tố vi mô 2.1.1 Sức cạnh tranh của doanh nghiệp 2.1.2 Trình độ quản lý của doanh nghiệp 2.1.3. Yếu tố khác 2.2. Các yếu tố vĩ mô 2.2.1. Tỷ giá hối đoái 2.2.2 Các yếu tố pháp luật 2.2.3. Các yếu tố về văn hoá xã hội 2.2.4. Các yếu tố kinh tế 2.2.5 Các yếu tố khoa học công nghệ 2.2.6. Nhân tố chính trị 2.2.7. Các nhân tố cạnh tranh quốc tế Chương II: thực trang hoạt động xuất khẩu hàng may mặc tại Công ty may Thăng Long I. Khái quát về công ty may Thăng Long 1.Quá trình hình thành công ty và phát triển 2.Chức năng nhiệm vụ 3. Cơ cấu tổ chức sản xuất của công ty 3.1.Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty may Thăng Long 3.2. Quy trình công nghệ của công ty may Thăng Long 4. Thị trường của công ty II. Thực trạng hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty may Thăng Long 1.Kết quả hoạt động kinh doanh tại công ty 2.Kết quả hoạt động xuất khẩu hàng may mặc ở Công ty may Thăng Long 2.1.Kim ngạch xuất khẩu 2.2 Tình hình mặt hàng kinh doanh trọng điểm của công ty 2.3 .Tình hình thị trường xuất khẩu của công ty 2.4. Phân tích hoạt động xuất khẩu theo hình thức xuất khẩu 2.5 Hoạt động xúc tiến thương mại 3. Đánh giá hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của công ty Thăng Long . 3.1Những thành tựu đạt được trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc: 3.2.Một số mặt còn tồn tại hiện nay 3.3 NGuyên nhân tồn tại chương III: một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty may Thăng Long I- Phương hướng của Công ty may Thăng Long trong việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc 1-Xu thế biến động thị trường thế giới 2. Phương hướng của công ty trong việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới 2.1 Mở rộng thị trường của công ty tới cac thị trường nhiều tiềm năng 2.2- Từng bước đẩy mạnh kinh doanh theo phương thức mua đứt bán đoạn (xuất khẩu trực tiếp) 2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng may mặc II- một số giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng may mặc của Công ty may Thăng Long 1.Tổ chức tốt công tác điều tra nghiên cứu 2.Hoàn thiện công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh trong đó trọng tâm là sản xuất hàng xuất khẩu 3. Nâng cao năng lực cạnh tranh của một số mặt hàng may mặc 3.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu 3.2. Giá thành sản phẩm hợp lý 3.3 Nghệ thuật bán hàng 3.4. Nâng cao uy tín nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 4.Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 5. Hoàn thiện quy trình xuất khẩu. III . Một số kiến nghị với Nhà nước 1. Cải cách hệ thông thuế để khuyến khích xuất khẩu . 2.Nhà nước cần cần tạo điều kiện thuận lợi về vốn cho các doanh nghiệp xuất khẩu. 3.Cải cách thủ tục hành chính trong quản lý xuất nhập khẩu. 84 4.Đảm bảo ổn định về chính trị và kinh tế, mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước trên thế giới 84 5. áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt để khuyến khích xuất khẩu. Kết luận. Tài liệu tham khảo

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQT2112.doc
Tài liệu liên quan