Đề tài Những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh doanh thương mại ở nước ta hiện nay

103 Thương mại là một ngành kinh tế, một lĩnh vực của đời sống xã hội. Thương mại trong quá trình phát triển cũng vận động và biến đổi theo định hướng XHCN. Định hướng XHCN trên lĩnh vực kinh doanh thương mại ngoài những điều kiện cơ bản đảm bảo định hướng XHCN nói chung như có sự lãnh đạo của Đảng Mác xít - Lêninnít chân chính, có Nhà nước XHCN thực sự của dân, do dân, vì dân còn có những điều kiện đặc thù trong xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN ở nước ta. Trong nền thương mại nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay việc chỉ ra được những định hướng cơ bản cũng như một hệ thống các giải pháp đảm bảo định hướng XHCN trong kinh doanh thương mại cũng là một việc làm mới mẻ và vô cùng khó khăn nhưng lại là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. Là những giáo viên giảng dạy ở trường Đại học Thương mại, tuy không phải là giáo viên chuyên ngành, nhưng với đề tài nghiên cứu “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về định hướng XHCN trong lĩnh vực kinh doanh thương mại ở nước ta ” chúng tôi muốn góp một công sức, một tri thức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành thương mại nói riêng, sự nghiệp đổi mới đất nước ta nói chung theo định hướng XHCN. Đây là những quan điểm, những suy nghĩ bước đầu còn nhiều thiếu sót nhưng có thể sẽ là sự khởi điểm, gợi ý để nhiều tác giả có những công trình nghiên cứu hoàn chỉnh hơn./.

doc103 trang | Chia sẻ: Kuang2 | Ngày: 24/08/2017 | Lượt xem: 33 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về định hướng xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực kinh doanh thương mại ở nước ta hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ề về lý luận và thực tiễn cơ bản của định hướng XHCN trên lĩnh vực kinh doanh thương mại dần dần sáng tỏ. Tổng kết phong trào thi đua yêu nước 10 năm qua trong thời kỳ đổi mới Bộ Thương mại đã xét chọn và trình Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho các đơn vị: Công ty vận tải xăng dầu đường thuỷ I, Công ty Xăng dầu khu vực II, Công ty giao nhận kho vận ngoại thương thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Thương mại kỹ thuật và đầu tư. Phong tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc cho 13 đồng chí và đã cùng với Uỷ ban nhân dân các địa phương hiệp y đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho các đơn vị như: Công ty xuất nhập khẩu An Giang, Công ty Bikamex Bình Dương, Công ty Thương mại Cà Mau, Công ty rượu và nước giải khát Thăng Long (Hà Nội) (Báo Thương mại 26.9.2000). Bên cạnh đó hoạt động thương mại trong thời gian qua cũng còn bộc lộ nhiều thiếu sót, khuyết điểm, chưa đúng định hướng XHCN. Hoạt động thương mại trên thị trường trong nước kém sôi động. Tốc độ tăng của thương mại bán lẻ chậm, có xu hướng giảm và không đều giữa các vùng, các địa phương. Sản xuất và lưu thông nhiều mặt hàng gặp khó khăn; thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá có nhiều trở ngại, khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá yếu. Thương nghiệp quốc doanh nhìn chung chưa thể hiện được vai trò chủ đạo, định hướng thị trường nội địa, nhất là các thị trường nông thôn, miền núi; hành lang pháp lý cho hoạt động thương mại còn thiếu và chưa đầy đủ; quản lý Nhà nước về thương mại vẫn trong tình trạng phân tán, chia cắt; công tác dự báo thị trường, tổ chức thu thập thông tin và xử lý thông tin chưa tốt; phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp chưa năng động và thích hợp với điều kiện cơ chế thị trường... Tham gia hoạt động thương mại trên thị trường hiện nay có nhiều thành phần kinh tế. Phạm vi sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã có mặt hầu hết ở các ngành và các lĩnh vực Nhà nước cho phép. Thực tế đó không chỉ đòi hỏi sự vươn lên của các doanh nghiệp thương nghiệp quốc doanh, mà còn đặt ra yêu cầu bức xúc trong quản lý Nhà nước hoạt động thương mại trên từng địa bàn cũng như trong phạm vi cả nước, trên thị trường nội địa cũng như thị trường thế giới theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Chương 3. Những định hướng và giảI pháp cơ bản của kinh doanh thương mạI theo định hướng XHCN 3.1. Những định hướng cơ bản của kinh doanh thương mạI theo định hướng XHCN. 3.1.1. Những quan điểm của Đảng về định hướng kinh doanh thương mại theo định hướng XHCN. V.I Lênin, khi đề cập đến vai trò của thương mại đã từng nói: “ thương nghiệp, đó là cái mắt xích trong dây xích biến cố lịch sử... đó là cái mắt xích mà chúng ta, Đảng Cộng sản đang nắm quyền lãnh đạo, chúng ta phải đem toàn lực ra nắm lấy. Nếu ngày nay chúng ta nắm được khá chặt mắt xích đó thì chắc chắn trong một ngày gần đây, chúng ta sẽ làm chủ được toàn bộ dây xích ” (4. Tr279). Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của thương nghiệp đối với sản xuất và đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nên ngay từ khi giành được chính quyền Bác Hồ, Đảng và Nhà nước ta đã có sự chú ý đặc biệt đối với ngành thương nghiệp, luôn quan tâm chăm lo xây dựng, phát triển cũng như chỉ đạo mọi hoạt động của ngành ngày một tốt hơn, phục vụ cho sản xuất và đời sống kinh tế của mọi tầng lớp dân cư. Ngày 21/11/1946 trong điều kiện mới giành được chính quyền, đất nước còn đứng trước bao nhiêu khó khăn chồng chất, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 220/SL quy định tổ chức bộ máy của bộ kinh tế, trong đó thiết lập Nha Thương vụ Tiếp tế là cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên về thương mại và là tổ chức tiền thân của ngành thương mại Việt Nam. Bác là người luôn luôn quan tâm, chăm lo đến ngành thương mại và đội ngũ cán bộ thương mại. Tại Đại hội liên hoan Chiến sĩ thi đua ngành thương nghiệp năm 1956, Bác huấn thị: “...Trong nền kinh tế quốc dân có 3 mặt quan trọng: Nông nghiệp, công nghiệp và thương nghiệp. Ba mặt công tác quan hệ mật thiết với nhau. Thương nghiệp là cái khâu giữa nông nghiệp và công nghiệp. Thương nghiệp đưa hàng đến nông thôn phục vụ nông dân, thương nghiệp lại đưa nông sản cho thành thị tiêu dùng, đưa nguyên liệu cho công nghiệp hoạt động. Nếu khâu thương nghiệp bị đứt thì không liên kết được công nghiệp với nông nghiệp, không củng cố được công nông liên minh. Công tác thương nghiệp không chạy thì hoạt động nông nghiệp, công nghiệp sẽ bị rời rạc...” Với đội ngũ cán bộ thương mại, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “ Cán bộ thương nghiệp cần phải nâng cao hơn nữa tinh thần phục vụ nhân dân, phục vụ sản xuất. Mua những thứ đã khuyến khích đồng bào bán, bán những thứ đồng bào cần mua. Giá cả cần đúng mức, thái độ cần khiêm tốn... Ngành thương nghiệp phải mua bán công bằng, chớ nên ép cấp, ép giá...thường thường người mua muốn mua rẻ, ngươì bán muốn bán đắt, đối với chúng ta không thể làm như thế được. Giá cả phải đảm bảo có lợi cho Nhà nước, hợp tác xã và xã viên cùng có lợi để xây dựng nước nhà ” (8. Tr 94, 219, 176). ở nước ta, từ khi thương nghiệp ra đời và trở thành một ngành chính hoạt động trong nền kinh tế quốc dân, Đảng ta luôn luôn có những quan điểm, đường lối, những chủ trương để không ngừng xây dựng, củng cố, phát triển ngành thương mại, Nhà nước luôn ra những văn bản, chỉ thị, ban hành các chính sách, đạo luật tạo điều kiện thuận lợi cho nó hoạt động phục vụ sản xuất và đời sống của mọi tầng lớp dân cư. Trong một thời gian dài trước thời kỳ đổi mới (trước năm 1986) chúng ta đã tổ chức và duy trì một nền thương nghiệp theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thành phần chủ yếu là thương nghiệp quốc doanh cùng với các hợp tác xã mua bán đã chi phối toàn bộ mọi hoạt động thương nghiệp trên khắp các vùng lãnh thổ. Các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều tập trung theo hướng đó. Sau Đại hội VI của Đảng, công cuộc đổi mới được triển khai mạnh mẽ, từng bước Nghị quyết Đại hội được đưa vào cuộc sống. Chúng ta đã từng bước đổi mới toàn diện đất nước, trọng tâm là đổi mới kinh tế, là quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Định hướng XHCN đã được triển khai trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, trên tất cả các ngành công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng tín dụng, thương mại dịch vụ... Cũng cần phải khẳng định rằng đường lối đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trong lĩnh vực thương mại nói riêng theo định hướng XHCN ngày càng được hoàn chỉnh dần cùng với sự phát triển của tư duy lý luận, của thực tiễn cách mạng nước ta. Nếu như ở Đại hội VI Đảng ta đã khởi xướng quá trình đổi mới, thì ở Đại hội VII, phát triển thêm một bước, Đảng ta đã thông qua năm văn kiện lớn, xác định rõ các chủ trương, đường lối đổi mới, các chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng XHCN, trong đó có ngành thương mại. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã xác định: “ Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân ” (10. Tr9). Trong chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, cương lĩnh đã chỉ rõ “ kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào con đường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Tư bản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh do luật pháp quy định. Phát triển kinh tế tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức. Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải là một thành phần kinh tế độc lập. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng. Các tổ chức kinh tế tự chủ và liên kết, hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh... Xoá bỏ triệt để cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác... Xác định quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lí của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm cho mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Đổi mới và nâng cao hiệu lực hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết của Nhà nước ” (10. Tr11,12). Trong lĩnh vực thương mại, Cương lĩnh viết: “ Xây dựng và phát triển đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, vật tư, tiền vốn, sức lao động...; thực hiện giao lưu kinh tế thông suốt cả nước và với thị trường thế giới ” (10. Tr12). Văn kiện Đại hội VII của Đảng cũng đã chỉ rõ cụ thể các phương hướng hoạt động của ngành thương mại để đảm bảo định hướng XHCN. Đó là: “ Mở rộng giao lưu hàng hoá trong cả nước, chú trọng nông thôn và miền núi, xoá bỏ triệt để mọi hình thức chia cắt thị trường theo địa giới hành chính. Gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, có chính sách bảo vệ sản xuất nội địa, kiên quyết chống buôn lậu và các hiện tượng tiêu cực khác trong lưu thông. Tăng cường vai trò của hợp đồng kinh tế theo đúng pháp luật. Làm tốt công tác dự báo và chủ động cân đối về những mặt hàng thiết yếu, hạn chế đến mức thấp nhất và khắc phục kịp thời các đột biến về giá trên thị trường. Sắp xếp và đổi mới hệ thống thương nghiệp quốc doanh, nâng cao hiệu quả, phát huy tác dụng tích cực trong việc điều tiết và ổn định giá cả thị trường. Tập trung làm tốt khâu bán buôn kết hợp với một phần bán lẻ những mặt hàng thiết yếu. Có chính sách giải quyết vốn cho thương nghiệp quốc doanh để kinh doanh và dự trữ lưu thông cần thiết. Có cơ chế phối hợp và điều hoà giữa dự trữ quốc gia và dự trữ lưu thông ” (11. tr 69,70). Cùng với việc thực hiện các phương hướng đổi mới nêu trên, để ổn định một bước tình hình kinh tế - xã hội, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, Đại hội đã chỉ ra những nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết trên lĩnh vực thương mại. Đó là: “ Đẩy mạnh xuất khẩu, huy động các nguồn ngoại tệ để nhập khẩu các loại vật tư hàng hoá thiết yếu cho sản xuất và đời sống, tích cực cân đối thanh toán quốc tế, góp phần duy trì các cân đối lớn của nền kinh tế. Mở rộng lưu thông và điều hoà hàng hoá giữa các vùng trong nước. Thương nghiệp quốc doanh làm tốt khâu bán buôn, điều hoà các loại hàng hoá thiết yếu nhất cho sản xuất và đời sống, góp phần tích cực cân đối cung - cầu và bình ổn giá cả ” (11. Tr 101). Về những định hướng lớn trong chính sách kinh tế, Đảng ta khẳng định chủ trương thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu, đảm đương những hoạt động mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện đầu tư kinh doanh. Khu vực kinh tế quốc doanh phải được sắp xếp lại, đổi mới công nghệ và tổ chức quản lý, kinh doanh có hiệu quả, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác, thực hiện vai trò chủ đạo và chức năng của một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước. Đến Đại hội giữa nhiệm kỳ, nhận thức rõ hơn về vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh nên văn kiện đã ghi: “ Tiếp tục chấn chỉnh và xây dựng khu vực doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả, đảm nhiệm được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân là một việc hết sức quan trọng và cấp bách. Vai trò đó thể hiện ở chỗ mở đường và hỗ trợ cho các thành phần khác phát triển, thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của nền kinh tế, là một công cụ có sức mạnh vật chất để Nhà nước điều tiết và hướng dẫn nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ” (12.tr35). Trong thương nghiệp, cần “ chấn chỉnh và tăng cường hệ thống thương nghiệp Nhà nước, chủ yếu trên các lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu các vật tư thiết yếu và bán buôn, giữ tỷ trọng cần thiết trong bán lẻ, cùng các thành phần khác ổn định và phát triển lành mạnh thị trường; làm cho giao lưu hàng hoá thông suốt, phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển, bảo vệ lợi ích của người sản xuất và người tiêu dùng. Đổi mới cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước để vừa đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, vừa đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nước ” (12. Tr 36). Trong việc xây dựng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, Đảng chỉ rõ rằng cần “ hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tạo điều kiện cần thiết cho cơ chế thị trường hoạt động có hiệu quả: bảo đảm quyền tự chủ của các chủ thể kinh doanh; giá cả chủ yếu do thị trường định đoạt; các tín hiệu thị trường là căn cứ rất quan trọng để phân bổ nguồn lực cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh; khuyến khích cạnh tranh hợp pháp, lành mạnh, hạn chế độc quyền; nhà kinh doanh được tìm kiếm lợi nhuận một cách hợp pháp...” (12. tr 41). Tổng kết kinh nghiệm 5 năm hoạt động theo đường lối Đại hội VII, đến năm 1996 trong văn kiện Đại hội VIII Đảng đã đánh giá “ xét trên tổng thể, việc hoạch định đường lối đổi mới những năm qua về cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng XHCN ” (13. tr 13). Xuất phát từ bối cảnh trong nước và quốc tế, từ những thuận lợi và thời cơ, thách thức và nguy cơ Đảng đã quyết định lãnh đạo đất nước bước vào một giai đoạn mới là đẩy mạnh cộng nghiệp hoá - hiện đại hoá với mục tiêu là: “ xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp ” (12. Tr 80). Đó sẽ là một xã hội mà: “ kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác xã trở thành nền tảng trong nền kinh tế. Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân chiếm tỉ trọng đáng kể. Kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức khác nhau tồn tại phổ biến ” (12. Tr81). Để đảm bảo định hướng XHCN của nền kinh tế nhiều thành phần, Đảng nhấn mạnh phải “ chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước , kinh tế hợp tác xã. Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở thành nền tảng. Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm ăn lâu dài. Mở rộng các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế nhà nước với các thành phần kinh tế khác cả trong và ngoài nước. áp dụng phổ biến các hình thức kinh tế tư bản nhà nước. ...Lấy suất sinh lời trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh; lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích ” (12. Tr92, 94). Đối với thương nghiệp, Đảng chỉ rõ “ phải tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường. Phát triển mạnh thị trường hàng hoá và dịch vụ. ...Chỉnh đốn hoạt động của các tổ chức thương nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Đổi mới hệ thống thương nghiệp nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo; khắc phục tình trạng buông lỏng thị trường nông thôn, miền núi ”. Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1996 - 2000), Đảng đã đề ra nhiệm vụ và giải pháp để phát triển kinh tế dịch vụ, trong đó có “ phát triển thương nghiệp, bảo đảm lưu thông hàng hoá thông suốt, dễ dàng trong cả nước, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu và miền núi, chú trọng công tác tiếp thị trong và ngoài nước. Thương nghiệp quốc doanh được củng cố và phát triển trong những ngành hàng thiết yếu đối với sản xuất và đời sống, trước hết là ở những địa bàn còn bỏ trống, nắm bán buôn, chi phối bán lẻ. Từng bước củng cố hợp tác xã mua bán và mạng lưới đại lý để cùng thương nghiệp quốc doanh đủ sức ngăn ngừa những biến động bất thường, ổn định thị trường và giá cả Tăng cường quản lý thị trường, hướng dẫn các thành phần kinh tế trong thương nghiệp phát triển đúng hướng, đúng chính sách, pháp luật, cạnh tranh lành mạnh; chống trốn thuế, lậu thuế, lưu thông hàng giả. Tăng cường điều tiết vĩ mô của Nhà nước, xử lý kịp thời mọi diễn biến bất lợi của thị trường. Hoàn thiện hệ thống dự trữ quốc gia, dự trữ lưu thông” (12. Tr193). Để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc, Đảng chỉ ra rằng cần phải “ hình thành các điểm thương mại cấp vùng, thị xã, huyện và cụm xã. Nhà nước trợ giá một số mặt hàng cơ bản (muối iốt, dầu, giấy học sinh...). Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư và cung cấp hàng hoá trong vùng ...Đối với các vùng cao, vùng sâu, vùng xa sản phẩm tiêu thụ khó khăn, giá thấp, Nhà nước thông qua các doanh nghiệp Nhà nước bao tiêu sản phẩm và trợ giá ” (12. Tr217,223). Trong chính sách đối với các thành phần kinh tế, phải “ xác định những ngành và lĩnh vực cần tập trung nguồn lực để củng cố và phát triển doanh nghiệp Nhà nước; phân định rõ và có cơ chế quản lý thích hợp đối với doanh nghiệp công ích và doanh nghiệp kinh doanh. Tiếp tục tổ chức lại và sắp xếp các doanh nghiệp Nhà nước phù hợp với qui hoạch ngành, lãnh thổ. Tổng kết kinh nghiệm, hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý để triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước nhằm tạo thêm động lực mới trong quản lý, huy động thêm vốn cho yêu cầu phát triển và điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước ” (12. Tr232). Để hoàn thiện cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước, Đảng thấy cần phải “ tiếp tục hoàn thiện và mở thêm nhiều thị trường hàng hoá và dịch vụ, với sự tham gia bình đẳng của các thành phần kinh tế. Nghiên cứu ban hành luật bảo đảm cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, chống cạnh tranh không lành mạnh và chống hạn chế thương mại. Mở rộng đi đôi với tổ chức lại thị trường nội địa trên các vùng đô thị, nông thôn và miền núi ” (12. Tr236). Để đảm báo các hoạt động có hiệu quả cần phải cải cách hành chính. Phải “ xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng XHCN. Ban hành các luật mới như: Luật thương mại, Luật ngân hàng, Luật hải quan, Luật bưu chính viễn thông, Luật điện, Luật xây dựng, Luật khoa học và công nghệ, Luật tài nguyên nước... Sửa đổi, bổ sung các luật và pháp lệnh hiện hành về thuế, về khuyến khích đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, về công ty, về doanh nghiệp tư nhân... Sắp xếp lại bộ máy hành chính ở trung ương và địa phương ...và tiền hành công tác tuyên truyền, giáo dục toàn dân sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật ” (12. Tr 240). Theo các quan điểm đó, Nhà nước đã ban hành các văn bản luật và các văn bản khác, nhằm tạo cơ sở pháp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động kinh doanh thương mại của các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế cũng như các doanh nhân trong nước hay các nhà đầu tư nước ngoài. Trong lời nói đầu, Luật thương mại đã nêu rõ: “ Luật thương mại nhằm mục tiêu tạo cơ sở pháp lý để phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN , trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế hợp tác xã là nền tảng của nền kinh tế quốc dân; phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ thương mại trên các vùng của đất nước, mở rộng giao lưu thương mại với nước ngoài; góp phần đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của người sản xuất, người tiêu dùng và lợi ích hợp pháp của thương nhân, góp phần tích luỹ nhằm thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá vì mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”. Hoạt động thương mại ở nước ta không chỉ đơn thuần vì mục tiêu lợi nhuận, mà còn là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế, là phương tiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chính trị và mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước. Điều 10 Luật thương mại nêu rõ: “ Nhà nước đầu tư tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật, nhân lực để phát triển các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh những mặt hàng thiết yếu nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động thương mại, là một trong những công cụ của nhà nước để điều tiết cung cầu, ổn định giá cả nhằm góp phần thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Nhà nước có chính sách phát triển các doanh nghiệp công ích, các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực không thu lợi nhuận hoặc lợi nhuận thấp mà các thành phần kinh tế khác không kinh doanh ”. Để đảm bảo cho hoạt động thương mại có hiệu quả, đúng định hướng một mặt cần phát huy quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp, doanh nhân, mặt khác phải tăng cường quản lý nhà nước về thương mại. Quản lý nhà nước về thương mại được Luật thương mại quy định trong chương VI, gồm ba mục, 19 điều với những nội dung cụ thể, chặt chẽ, thống nhất. 3.1.2. Những định hướng kinh doanh thương mại ở nước ta hiện nay theo định hướng XHCN. Là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng sự phát triển của ngành thương mại trước hết phải hướng tới việc đảm đương vai trò định hướng cho đầu tư sản xuất. Kế hoạch thương mại không chỉ đơn giản chạy theo kế hoạch sản xuất mà phải xuất phát từ yêu cầu thị trường, quan hệ cung cầu trên thị trường trong nước và thị trường thế giới để định hướng cho kế hoạch phát triển sản xuất ở tầm chiến lược, tầm quy hoạch. Vị thế tiếp theo của thương mại là khi quy hoạch, kế hoạch sản xuất đã được xác định thì thương mại phải trở thành bộ phận gắn kết với sản xuất, thực hiện kế hoạch về tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Như vậy là xuất phát từ thị trường tức là từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, quay trở lại điều chỉnh sản xuất, định hướng thương nghiệp tác động đến cả định hướng nền sản xuất, đến sự phát riển nền kinh tế nói chung và đến cả xu hướng tiêu dùng của xã hội. Trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác- Lê Nin và của Đảng ta về định hướng XHCN, trên cơ sở tổng kết thực tiễn kinh doanh thương mại ở nước ta trong thời gian qua, có thể chỉ ra các định hướng cơ bản của kinh doanh thương mại ở nước ta hiện nay theo định hướng XHCN như sau: Một là, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, trong đó cơ bản là giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, cùng với kinh tế hợp là nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Nếu kinh tế Nhà nước và kinh tế hợp tác phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả trong điều kiện Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân thì hai thành phần kinh tế này sẽ tiêu biểu cho kinh tế XHCN. Do đó, có giữ được định hướng XHCN hay không là tuỳ thuộc vào bản chất của Nhà nước và tuỳ thuộc vào tương quan lực lượng giữa một bên là kinh tế Nhà nước, kinh tế hợp tác và kinh tế tư bản Nhà nước với bên kia là kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân (bao gồm cả các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài). Theo định hướng đó, trong đường lối phát triển nền thương mại nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN phải củng cố các doanh nghiệp thương mại Nhà nước trên mọi mặt để các doanh nghiệp thương mại Nhà nước giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo, cùng với các hợp tác xã dịch vụ - thương mại (hợp tác xã mua bán) là nền tảng của nền thương mại định hướng XHCN. Mọi hoạt động của Đảng và Nhà nước, các chủ trương, chính sách, đạo luật mà Đảng và Nhà nước ban hành, kể cả các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển về thương mại và ngay cả các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại Nhà nước, các hợp tác xã dịch vụ - thương mại đều phải theo hướng đó. Đây là một vấn đề rất phức tạp bao gồm rất nhiều nội dung, nhiều vấn đề từ việc sắp xếp, bố trí lại mạng lưới các doanh nghiệp thương mại Nhà nước, kể cả việc sát nhập, giải thể, cổ phần hoá, bán, cho thuê...đến việc tạo mọi điều kiện thuận lợi về vốn, cơ sở vật chất, cơ chế quản lý, môi trường cạnh tranh và ngay cả việc đào tạo bố trí cán bộ, chiến lược và phương thức kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại Nhà nước...cần phải được quan tâm thoả đáng. Thậm chí trên một số lĩnh vực cần có sự ưu ái hơn về cơ chế, chính sách đối với các doanh nghiệp thương mại Nhà nước so với các thành phần kinh tế khác, thể hiện đúng quyền chủ sở hữu của Nhà nước và việc đảm trách vai trò chủ đạo của nó. Phải tạo nên một sự chuyển động nhịp nhàng, thống nhất, đồng bộ giữa các khâu, các mắt xích của các thành phần thương mại, hướng tới các phương thức kinh doanh hiện đại - siêu thị, thương mại điện tử. Hai là, không ngừng củng cố, hoàn thiện Nhà nước của dân, do dân, vì dân, trong sạch, vững mạnh, quản lý kinh tế - xã hội có hiệu quả dưới sự lãnh đạo của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân. Giữ vững và nâng cao vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý: tiếp tục cải cách bộ máy, hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo nên hành lang pháp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển; Hoàn thiện cơ chế quản lý, đặc biệt là quản lý kinh tế, trao quyền chủ động thực sự cho các doanh nghiệp để phát huy tính năng động sáng tạo của các chủ thể kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao; tăng cường quản lý thị trường, tích cực đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại và coi đó là một nội dung của định hướng XHCN trong kinh doanh thương mại; lựa chọn và đào tạo đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở các cấp các ngành có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực và bố trí sử dụng đúng vị trí, phù hợp với thực tiễn... Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân là yêu cầu cấp thiết đảm bảo định hướng XHCN nói chung, định hướng XHCN trong kinh doanh thương mại nói riêng. Ba là, tiếp tục đổi mới về tổ chức và phát triển thị trường trong nước theo định hướng XHCN. Phải không ngừng mở rộng giao lưu hàng hoá trên cả ba vùng thành thị, đồng bằng, miền núi, đặc biệt là phải tổ chức lại và đổi mới phương thức kinh doanh để phát triển thị trường nông thôn, miền núi về cơ chế, chính sách, về dịch vụ sản phẩm do nông dân làm ra, nhất là mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản thực phẩm chế biến, về hệ thống thương mại phục vụ nông thôn, miền núi, đặc biệt là hệ thống thương mại quốc doanh trong công tác kinh doanh và phục vụ nông dân, về biện pháp để sản phẩm của nông dân trở thành hàng hoá, về chính sách hỗ trợ và xúc tiến thương mại ở nông thôn, miền núi, nhất là chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất hàng nông sản và hàng thủ công truyền thống và cả về phát triển nguồn lực cho nông nghiệp, nông thôn. Phải giúp đỡ nông dân đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lao động có kỹ thuật, đội ngũ cán bộ quản lý và nghiệp vụ thương nghiệp quốc doanh theo yêu cầu của kinh tế thị trường. Đó là đội ngũ lao động có năng lực về tổ chức quản lý kinh tế trong lưu thông, tinh thông về nghiệp vụ buôn bán trong cơ chế thị trường có cạnh tranh. Phải tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, đặc biệt là thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông dân và nông thôn, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước bằng các biện pháp kinh tế tổ chức như sắp xếp lại, hoàn thiện cơ chế quản lý, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ, công nhân viên, kiên quyết đấu tranh chống buôn lậu, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực, lãng phí, thực hiện quy chế dân chủ ở các cơ quan, doanh nghiệp, phát động phong trào công nhân và công đoàn tích cực thực hiện và giám sát việc thực hiện quy chế này. Bốn là, mở rộng thị trường thế giới Phải chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết, tạo ra khuôn khổ pháp lý và môi trường kinh doanh thuận lợi bảo đảm cho các doanh nghiệp tham gia có hiệu quả vào quá trình liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập vào dòng chảy chung của thế giới. Phải biết nắm lấy những cơ hội của nền kinh tế toàn cầu hoá trong khi vẫn phải bảo vệ truyền thống dân tộc, nền văn hoá và lối sống đậm đà bản sắc dân tộc. Liên kết kinh tế toàn cầu làm cho thế giới đến với Việt Nam và cũng đem Việt Nam đến với thế giới, làm tăng vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Phải thông qua các phòng thương mại, các Tham tán thương mại của nước ta ở các nước, thông qua công tác ngoại giao mà giới thiệu thị trường, thông tin về môi trường kinh doanh, tập quán kinh doanh của các nước cho các doanh nhân, doanh nghiệp của chúng ta tiếp cận, chiếm lĩnh. Phải gắn kết thương mại với ngoại giao. Trong thời đại ngày nay ngoại giao và thương mại là hai phạm trù nhích lại gần nhau: ngoại giao tạo “ sân bãi ” cho sự hợp tác kinh tế và ngoại thương là sứ giả của hoà bình. Năm là, nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thương mại, xây dựng đội ngũ cán bộ thương mại vững về tư tưởng, thạo về nghiệp vụ, trong sạch về phẩm chất, đoàn kết nhất trí, dốc lòng vì sự nghiệp của Đảng, của dân. Phải gắn kết giữa khoa học với kinh doanh, kinh doanh với đào tạo. Các cơ quan nghiên cứu của bộ thương mại phải nắm chắc thực tiễn kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, đồng thời phải tìm hiểu kinh nghiệm kinh doanh hiện đại của các nước cũng như xu hướng phát triển thương mại của thế giới để kịp thời tham mưu cho bộ Thương mại có những quyết sách đúng đắn, kịp thời định hướng nền thương mại nước ta phát triển đúng định hướng XHCN. Các nhà trường đào tạo cũng phải đổi mới, phải gắn kết với thực tiễn kinh doanh của các doanh nghiệp để đáp ứng “ cái thị trường cần chứ không phải theo cái mình đang có ”. Phải kéo dài các nhà trường tới tận doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là một khâu, thực hiện một chức năng của quy trình đào tạo. Sáu là, giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng. Cả về lý luận và thực tiễn thì “ sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng là một nhân tố quyết định tạo ra những thành tựu đổi mới ”, là điều kiện cơ bản đầu tiên đảm bảo định hướng XHCN nói chung, định hướng XHCN kinh doanh thương mại nói riêng. Vì vậy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt trở thành bài học kinh nghiệm hàng đầu và xuyên suốt các bài học khác của cách mạng nước ta trong giai đoạn tiến hành đổi mới mọi mặt đời sống xã hội. ở các doanh nghiệp kể cả doanh nghiệp thương mại, tổ chức Đảng đóng vai trò quan trọng trong việc quán triệt, cụ thể hoá và thực hiện đúng đắn đường lối của Đảng trong phong trào công nhân, viên chức trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp có thực hiện được vai trò chủ đạo hay không, có đảm bảo được định hướng XHCN hay không phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng trong doanh nghiệp. 3.2. Những giải pháp cơ bản để định hướng kinh doanh thương mại ở nước ta hiện nay theo định hướng XHCN. Để định hướng kinh doanh thương mại theo định hướng XHCN cần thực hiện một hệ thống đồng bộ các giải pháp vừa khách quan vừa chủ quan, vừa chính trị - tư tưởng vừa văn hoá - xã hội, vừa pháp lý - hành chính vừa kinh tế - tổ chức - kỹ thuật, vừa vĩ mô vừa vi mô... Có thể phân chia hệ thống các giải pháp đó thành ba nhóm giải pháp khác nhau như: - Nhóm giải pháp về chính trị - tư tưởng. - Nhóm giải pháp về kinh tế - tổ chức - kỹ thuật. - Nhóm giải pháp về pháp lý - hành chính. 3.2.1. Nhóm giải pháp về chính trị - tư tưởng để định hướng kinh doanh thương mại theo định hướng XHCN. Trước hết, phải đổi mới và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức để hoàn thành vai trò đội tiên phong chính trị lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Điều đó đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy lý luận và phương thức lãnh đạo, một mặt phải kiên trì nguyên tắc: lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, mặt khác phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH để từ đó đề ra cương lĩnh, đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, có căn cứ khoa học, phù hợp với thực tiễn nước ta; phải trí thức hoá, nâng cao trí tuệ của Đảng, vì vai trò lãnh đạo của Đảng gắn liền với trí tuệ của Đảng. Đảng chỉ có thể giữ vững được vai trò lãnh đạo của mình khi Đảng là một tổ chức, một lực lượng thực sự có trí tuệ; phải phát huy dân chủ XHCN trong Đảng và toàn xã hội, điều đó đảm bảo vai trò lãnh đạo và uy tín của Đảng; phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên đoàn kết thống nhất, liên hệ mật thiết với nhân dân, có đủ phẩm chất và năng lực để thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng; phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng. Hai là, cần giáo dục cho hết thảy mọi cán bộ, đảng viên, nhân viên ngành thương mại nhận thức một cách sâu sắc đường lối quan điểm của Đảng, thấy rõ sự lựa chọn độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân là sự lựa chọn sáng suốt, duy nhất đúng; thấy rõ đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự đổi mới đúng đắn hợp quy luật; làm cho mọi người thấy rằng để phát triển nền thương mại nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN thì phải củng cố các doanh nghiệp thương mại Nhà nước trên mọi mặt để các doanh nghiệp thương mại Nhà nước giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo, cùng với các hợp tác xã dịch vụ - thương mại (hợp tác xã mua bán) là nền tảng của nền thương mại định hướng XHCN; các doanh nhân tư bản được hướng vào liên doanh với Nhà nước để hình thành chủ nghĩa tư bản nhà nước trong kinh doanh thương mại và nói chung các loại hình doanh nghiệp bình đẳng, tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đường lối đó sẽ tạo niềm tin tưởng, phấn khởi, an tâm và tích cực trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, doanh nhân ở mọi thành phần kinh tế. Ba là, tăng cường công tác xây dựng Đảng, giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong kinh doanh thương mại. Củng cố tổ chức Đảng trong các loại hình doanh nghiệp, thống nhất hài hoà sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của giám đốc, kết nạp đảng viên mới trong tất cả các thành phần kinh tế nếu đủ tiêu chuẩn theo điều lệ đảng, xây dựng cơ sở đảng trong các doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài...Nâng cao chất lượng đảng viên, chống sự suy thoái phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, cấm đảng viên trực tiếp hoặc tiếp tay cho bọn buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế, đảng viên phải là người công dân gương mẫu vừa chấp hành nghiêm pháp luật vừa thực hiện tốt các quy định, nguyên tắc của điều lệ Đảng. 3.2.2. Nhóm giải pháp về kinh tế - tổ chức - kỹ thuật. Trước hết cần phải sắp xếp, tổ chức lại mạng lưới, chủ yếu là mạng lưới thương mại nhà nước và hợp tác xã thương mại - dịch vụ, trong đó phải tích cực thực hiện chủ trương cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê hoặc tuyên bố phá sản đối với những doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả để có kế hoạch bố trí mạng lưới một cách hợp lý, cân đối giữa các vùng, miền. Trên địa bàn miền núi, hình thành các điểm thương mại cấp vùng, thị xã, huyện và cụm xã; Nhà nước trợ giá một số mặt hàng cơ bản như muối iốt, dầu hoả, giấy học sinh...; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư và cung cấp hàng hoá trong vùng. Hai là, củng cố và phát triển hệ thống doanh nghiệp thương mại Nhà nước để thương mại Nhà nước giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo trong nền thương mại nhiều thành phần định hướng XHCN. - Sắp xếp lại hệ thống thương mại Nhà nước theo hướng lựa chọn những ngành hàng thiết yếu đối với sản xuất và đời sống để tổ chức lại và định rõ phương thức kinh doanh, bảo đảm thực sự có vai trò nòng cốt trước hết ở những địa bàn còn bỏ trống, nắm vững bán buôn, chi phối bán lẻ. Theo lĩnh vực và cơ chế hoạt động, có thể phân doanh nghiệp thương mại Nhà nước thành hai nhóm chính: Nhóm thứ nhất gồm các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phúc lợi xã hội và các mặt hàng chính sách tối cần thiết nhưng không có hoặc có lợi nhuận rất thấp, các lĩnh vực Nhà nước cần nắm độc quyền và điều tiết như năng lượng, điện, dầu thô, sản xuất và kinh doanh thuốc nổ, một số ngành thuộc lĩnh vực bưu chính viễn thông...đó là những doanh nghiệp phát huy vai trò nòng cốt chủ đạo trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nhà nước cần đầu tư 100% vốn và có kế hoạch cụ thể để đảm bảo các doanh nghiệp hoạt động theo định hướng đã đặt ra. Nhóm thứ hai gồm các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, thực hiện hạch toán kinh doanh tự chịu lời lãi. Tuỳ theo từng ngành hàng, vị trí, chức năng và nhiệm vụ mà Nhà nước giao để phát huy vai trò định hướng của kinh tế Nhà nước. ở các ngành này, các thành phần kinh tế khác có thể tham gia kinh doanh nhưng các doanh nghiệp Nhà nước phải giữ vai trò chi phối trong việc nắm nguồn hàng, hoạt động xuất nhập khẩu, bán buôn và dự trữ lưu thông. Trong một số ngành hàng nên thành lập những tập đoàn, những tổng công ty gồm nhiều công ty hạch toán độc lập từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm cùng đầu tư liên kết để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường và chống độc quyền. - Đổi mới quản lý của Nhà nước đối với các doanh nghiệp thương mại Nhà nước theo hướng đảm bảo quyền tự do, tự chủ kinh doanh theo pháp luật (luật doanh nghiệp nhà nước) và đảm bảo sự kiểm tra giám sát của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu. Thực hiện cơ chế thuê giám đốc trên cơ sở thi tuyển, coi giám đốc là một nghề và dần dần hình thành thị trường giám đốc. Theo đó, chế độ trách nhiệm và lợi ích vật chất (tiền lương, thưởng) phải tương xứng với công lao đóng góp của giám đốc đối với hoạt động của doanh nghiệp. - Đảm bảo nguồn vốn hoạt động cho các doanh nghiệp thương mại Nhà nước, bằng mọi cách Nhà nước cấp đủ vốn pháp định theo luật công ty để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc thế chấp vay vốn ngân hàng bảo đảm vốn hoạt động. Cấp đủ 100% nhu cầu vốn lưu động cho các doanh nghiêp thương mại Nhà nước, trong điều kiện Nhà nước không có khả năng cấp đủ thì phải giảm các sắc thuế theo tỷ lệ vốn do doanh nghiêp tự cân đối để doanh nghiệp có điều kiện tái đầu tư mở rộng kinh doanh. Cần có chính sách vay vốn ưu đãi đối với các doanh nghiệp thương mại Nhà nước khi cần đầu tư mở rộng kinh doanh, kinh doanh mặt hàng mới hoặc khi cần ổn định thị trường... Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá một số doanh nghiệp thương mại Nhà nước như là một giải pháp để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực để doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và là một đổi mới trong cơ chế quản lý của các doanh nghiệp. - Phát triển mối quan hệ kinh doanh giữa doanh nghiệp thương mại Nhà nước với các thành phần kinh tế khác trên cơ sở cùng vì mục tiêu lợi nhuận. Tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư vào sản xuất, kết hợp giữa sản xuất với thương mại, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, khắc phục tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, thôn tính lẫn nhau. Phải quan tâm giúp đỡ các hợp tác xã mua bán và mạng lưới đại lý ở các vùng miền, đặc biệt là địa bàn nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa về vốn, nguồn hàng, tiêu thụ sản phẩm... góp phần tổ chức lại thành phần kinh tế này để cùng thương mại Nhà nước đảm bảo lưu thông hàng hoá thống nhất trong nước, ngăn ngưà những biến động bất thường, ổn định thị trường, giá cả và làm nền tảng cho nền thương mại định hướng XHCN. - Mở rộng thị trường xuất khẩu, đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu, trong đó tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu và tinh, giảm mạnh và sớm chấm dứt việc xuất khẩu hàng thô, xuất nguyên liệu. Thực hiện độc quyền Nhà nước về xuất nhập khẩu một số mặt hàng chiến lược quan trọng thông qua các doanh nghiệp thương mại Nhà nước. Củng cố vị thế nước ta trên các thị trường xuất nhập khẩu quen thuộc, khôi phục quan hệ với thị trường truyền thống, tìm thị trường và bạn hàng mới, tạo lập một số thị trường và bạn hàng lâu dài về những mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu. Các doanh nghiệp cần tập trung thực hiện nhất quán chính sách khuyến khích xuất khẩu. Tiếp theo việc gia nhập ASEAN, các doanh nghiệp phải chuẩn bị mọi điều kiện cho việc tham gia Khối mậu dịch tự do (AFTA), diễn đàn kinh tế châu á Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức thương mại thế giới (WTO), từng bước tham gia các hoạt động của hệ thống toàn cầu về ưu đãi thương mại với các nước đang phát triển (GSTP), áp dụng các chuẩn mực thương mại quốc tế và lựa chọn tham gia một số Hiệp hội xuất khẩu quốc tế về từng mặt hàng xuất khẩu. - Từng doanh nghiệp phấn đấu nâng cao năng lực và hiệu quả kinh doanh, lấy suất sinh lợi trên vốn làm một trong những tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp kinh doanh; lấy kết quả thực hiện các chính sách xã hội làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp công ích. Từng doanh nghiệp cần xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển của doanh nghiệp; lựa chọn phương thức kinh doanh hợp lý; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; mở rộng thị trường và bạn hàng ở trong nước và nước ngoài; cải thiện và ngày càng phát triển tình hình tài chính của doanh nghiệp; kiện toàn tổ chức, thực hiện cổ phần hoá; nâng cao năng lực quản lý và nghiệp vụ kinh doanh thương mại; tăng cường quản lý nhà nước của Bộ đối với các doanh nghiệp và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện dân chủ tại doanh nghiệp. Một nguyên tắc hết sức quan trọng đảm bảo nâng cao năng lực và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại Nhà nước là kinh doanh có văn hoá, tôn trọng pháp chế XHCN và tuyệt đối giữ chữ tín đối với khách hàng bằng giá cả hợp lý, chất lượng hàng hoá đảm bảo, phục vụ văn minh, các dịch vụ sau bán hàng chu đáo, thuận tiện. Chữ tín trong kinh doanh luôn luôn là một trong số những tài sản quý giá có tính truyền thống của thương nghiệp Nhà nước cần phải được trân trọng giữ gìn và phát huy tác dụng sống còn của nó trong kinh doanh hiện nay và mãi mãi về sau. Không ngừng bồi dưỡng kiến thức quản lý nền kinh tế thị trường và rèn luyện đạo đức tác phong Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các doanh nghiệp của ngành thương mại - dịch vụ để họ có đủ tri thức và lập trường tư tưởng vững vàng trong sự nghiệp đổi mới tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại Nhà nước. Ba là, đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các công ty tư nhân, các hộ kinh doanh buôn bán nhỏ một mặt khuyến khích họ tham gia kinh doanh những mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân mà Nhà nước không cần quản lý, đặc biệt là ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa; mặt khác là giáo dục họ, thường xuyên kiểm tra kiểm soát họ, buộc họ kinh doanh theo đúng pháp luật, không cho họ buôn bán gian lận, trốn thuế, buôn bán hàng giả, hàng kém phẩm chất... Còn về lâu dài và cơ bản là hướng họ liên doanh với các doanh nghiệp thương mại Nhà nước, biện pháp đó như Lê Nin nói là đã bắc được những nhịp cầu nho nhỏ đi vào CNXH. 3.2.3. Nhóm giải pháp về pháp lý - hành chính. Trước hết, phải kiện toàn bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng đảm bảo sự điều tiết của Nhà nước để bù đắp những khuyết tật của thị trường, điều chỉnh các mối quan hệ giữa kinh tế vi mô - vĩ mô, thực hiện tăng trưởng kinh tế, giữ vững sự ổn định và đảm bảo công bằng xã hội thông qua các biện pháp và đòn bẩy kinh tế, bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh cùng với sự hỗ trợ của các công cụ pháp lý và hành chính, chống độc quyền, duy trì sự phát triển kinh tế do chính phủ quy định. Phải rà soát, đào tạo lại và tuyển chọn đội ngũ công chức nhà nước các cấp có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và đạo đức phẩm chất tốt, thực sự là những cán bộ “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư ”. Phải tinh giản bộ máy, đổi mới lề lối và phương thức làm việc, chống phiền hà để ngày càng nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý xã hội, quản lý kinh tế. Hai là, ban hành đầy đủ và đồng bộ hệ thống pháp luật, hoàn thiện và bổ sung mới một số chính sách, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh thương mại trong điều kiện cơ chế thị trường định hướng XHCN. Luật thương mại đã ban hành nhưng việc thực hiện còn nhiều lúng túng, do vậy cần có biện pháp đưa luật vào cuộc sống một cách nhanh chóng và có hiệu quả hơn, đồng thời thường xuyên rà soát để điều chỉnh kịp thời nếu cần thiết. Đổi mới và cải tiến hơn nữa thủ tục hành chính cấp giấy phép kinh doanh, hạn ngạch xuất nhập - khẩu. Ba là, đẩy mạnh hơn nữa công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại coi đó là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước, phát triển kinh tế xã hội đúng định hướng XHCN. Các cơ quan chức năng phải thường xuyên kiểm tra, phát hiện và xử lý thích đáng các hiện tượng vi phạm, đồng thời với việc “ rà soát cơ chế, chính sách, kịp thời bổ sung, sửa đổi để tạo thành một hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp với hoạt động thương mại ở các tuyến biên giới, trước hết phải khẩn trương xây dựng một chính sách thương mại vùng biên giới thống nhất và nhanh nhạy, đảm bảo đấu tranh có hiệu quả trong việc chống đẩy hàng lậu, hàng ế thừa của các nước vào nước ta”. Phải nâng cao năng lực của các cơ quan chức năng, đổi mới, hiện đại hoá trang thiết bị, chấn chỉnh đạo đức, phẩm chất, làm trong sạch đội ngũ trực tiếp làm công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại đảm phòng chống có hiệu quả, trong đó mấu chốt của vấn đề là đạo đức của cán bộ, nhân viên ngành Hải quan. Đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại cần tránh sự dàn trải mà phải đánh có trọng tâm trọng điểm, tập trung vào các đối tượng, các đường dây, ổ nhóm buôn lậu lớn, những doanh nghiệp cố tình vi phạm mang tính hệ thống. Cần nâng cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ và chính quyền các cấp trong công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại. Đặc biệt phải thường xuyên giáo dục, phát động nhân dân không tham gia, không sử dụng hàng lậu và lên án buôn lậu, làm cho họ hiểu rằng “ không buôn lậu, không dùng hàng lậu là yêu nước ”, xử lý nghiêm các cá nhân cố tình tham gia, tiếp tay cho bọn buôn lậu. 3.3. Một số kiến nghị. Trường đại học Thương mại là trường đại học chuyên ngành, có mối quan hệ gắn bó chủ yếu với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại, với Bộ Thương mại. Sự gắn bó này trước đây - thời bao cấp - đã thể hiện rất thuận lợi khi nhà trường trực thuộc Bộ. Cả về lý luận cũng như thực tiễn đã chỉ ra rằng để đảm bảo định hướng XHCN trong lĩnh vực kinh doanh thương mại thì sự gắn bó giữa nhà trường và Bộ thương mại, nhà trường và các doanh nghiệp kinh doanh thương mại phải mật thiết hơn nữa, phải “ kéo dài nhà trường tới tận các doanh nghiệp ”. Bộ Thương mại, các doanh nghiệp kinh doanh thương mại và trường đại học Thương mại phải đồng chịu trách nhiệm trong sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên ngành thương mại, những vấn đề khoa học và thực tiễn liên quan đến các hoạt động kinh doanh thương mại; nhà trường và Bộ phải dự báo được sự phát triển của thương mại nước ta và thế giới, đề ra được những phương hướng kinh doanh đúng đắn cũng như phải có trách nhiệm trong hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Để thực hiện điều đó chúng tôi xin có một số kiến nghị: Một là, chuyển lại trường Đại học Thương mại thuộc hai Bộ quản lý - Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Thương mại. Hai là, các cơ quan Bộ thương mại, các doanh nghiệp kinh doanh thương mại được coi là một công đoạn trong dây chuyền đào tạo của nhà trường: tiếp nhận sinh viên thực tập, tiếp nhận cán bộ, giáo viên của nhà trường đi nghiên cứu thực tế, chủ nhiệm khoa, bộ môn kiêm nhiệm hoặc danh dự... Ba là, thường xuyên có sự trao đổi khoa học và kinh nghiệm công tác thực tế giữa các cơ quan thuộc Bộ Thương mại, các doanh nghiệp thương mại với nhà trường: mời giảng, mời báo cáo thực tế... Bốn là, nhà trường, các cơ quan thuộc bộ và các doanh nghiệp thương mại phối hợp nghiên cứu chỉ ra các vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản đảm bảo thương mại hoạt động đúng hướng, có hiệu quả, phục vụ tốt sản xuất và đời sống, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. III. Kết luận Định hướng XHCN là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cơ bản trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Nó không chỉ là sự khẳng định quyết tâm đi theo con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn, mà còn là lập trường, nguyên tắc đảm bảo đổi mới thành công, song đây cũng là vấn đề mới mẻ và hết sức phức tạp. Sự phức tạp của vấn đề không chỉ ở mục tiêu của định hướng, con đường, biện pháp để thực hiện định hướng XHCN, mà còn là nội dung định hướng, tổng hợp sự định hướng XHCN trên các lĩnh vực của nền kinh tế, của đời sống xã hội được thực hiện như thế nào. Thương mại là một ngành kinh tế, một lĩnh vực của đời sống xã hội. Thương mại trong quá trình phát triển cũng vận động và biến đổi theo định hướng XHCN. Định hướng XHCN trên lĩnh vực kinh doanh thương mại ngoài những điều kiện cơ bản đảm bảo định hướng XHCN nói chung như có sự lãnh đạo của Đảng Mác xít - Lêninnít chân chính, có Nhà nước XHCN thực sự của dân, do dân, vì dân còn có những điều kiện đặc thù trong xu hướng biến động của nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN ở nước ta. Trong nền thương mại nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay việc chỉ ra được những định hướng cơ bản cũng như một hệ thống các giải pháp đảm bảo định hướng XHCN trong kinh doanh thương mại cũng là một việc làm mới mẻ và vô cùng khó khăn nhưng lại là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. Là những giáo viên giảng dạy ở trường Đại học Thương mại, tuy không phải là giáo viên chuyên ngành, nhưng với đề tài nghiên cứu “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về định hướng XHCN trong lĩnh vực kinh doanh thương mại ở nước ta ” chúng tôi muốn góp một công sức, một tri thức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp xây dựng và phát triển ngành thương mại nói riêng, sự nghiệp đổi mới đất nước ta nói chung theo định hướng XHCN. Đây là những quan điểm, những suy nghĩ bước đầu còn nhiều thiếu sót nhưng có thể sẽ là sự khởi điểm, gợi ý để nhiều tác giả có những công trình nghiên cứu hoàn chỉnh hơn./.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docV0130.doc
Tài liệu liên quan