Đề tài Thông tin bất cân xứng, ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam

MỤC LỤC I. Mở đầu 3 II. Khái quát về thông tin bất cân xứng 3 1. Khái niệm về thông tin bất cân xứng 3 2. Hai hệ quả của thông tin bất cân xứng 4 2.1 Lựa chọn bất lợi 5 2.2 Tâm lý ỷ lại 8 3. Giải pháp lý thuyết hạn chế thông tin bất cân xứng 10 3.1 Cơ chế phát tín hiệu 10 3.2 Cơ chế sàng lọc 10 3.3 Cơ chế giám sát 11 III. Thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 13 1. Hoạt động tín dụng 13 1.1 Khái niệm 13 1.2 Bản chất 13 1.3 Phân loại 14 1.4 Rủi ro tín dụng 15 2. Lựa chọn bất lợi và hoạt động tín dụng 17 3. Tâm lý ỷ lại và hoạt động tín dụng 18 4. Xử lý thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng 20 4.1 Sử dụng hệ thống thông tin tín dụng 20 4.2 Sử dụng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ công tác thẩm định, kiểm tra sử dụng vốn vay 22 4.3 Hệ thống đăng ký tài sản 23 4.4 Hệ thống đăng ký giao dịch đảm bảo 24 IV. Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam 24 1. Thực trạng tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam 24 1.1 Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng và tín dụng ở Việt Nam 24 1.2 Tình hình nợ xấu ở các ngân hàng thương mại ở Việt Nam 29 2. Các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện phải làm gì để giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng? 33 2.1 Điều gì đang xảy ra ở thị trường tín dụng Việt Nam? 33 2.2 Những giải pháp mà các ngân hàng cần thực hiện 37 V. Kết luận 39 I. Mở đầu Thông tin bất cân xứng là một trong những nguyên nhân gây nên thất bại thị trường, trạng thái mà ở đó thị trường không đạt được sự phân phối các nguồn lực tối ưu. Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào những năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế. George Akerlof đã lần đầu tiên nêu lên khái niệm “thông tin bất cân xứng” trong nghiên cứu của mình về thị trường mua bán ô tô cũ tại Mỹ, nơi mà ông gọi là “Lemon Market”. Từ việc phát triển lý thuyết mà Akerlof nêu ra, các nhà kinh tế học Michael Spence và Joseph Stiglitz đã phân tích biểu hiện cũng như biện pháp khắc phục vấn đề thông tin bất cân xứng trong thị trường lao động. Và ngày nay, vấn đề thông tin bất cân xứng gần như xuất hiện ở hầu khắp các thị trường và đòi hỏi mỗi thị trường cần có các cơ chế đặc thù riêng trong việc xử lý thông tin bất cân xứng nhằm hạn chế tác động của nó đến hoạt động của các bên tham gia cũng như hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Trong nội dung nghiên cứu này, nhóm chúng tôi sẽ trình bày về thông tin bất cân xứng cũng như ảnh hưởng của nó đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Nội dung mục II trình bày khái quát về vấn đề thông tin bất cân xứng với hai hệ quả là lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại. Sang phần III, biểu hiện của hai hệ quả này sẽ được trình bày cụ thể hơn trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Và mục IV là tác động của thông tin bất cân xứng đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng như những giải pháp mà các ngân hàng đang thực hiện.

doc43 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 02/07/2013 | Lượt xem: 2103 | Lượt tải: 10download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Thông tin bất cân xứng, ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chưa thực sự thay đổi quan điểm, còn xem vốn ngân hàng là vốn nhà nước nếu doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả thì ngân hàng chịu, ngân hàng thua lỗ thì nhà nước chịu Doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng Nguyên nhân khách quan. Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như: thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây tổn thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới Sự tấn công của hàng nhập lậu Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương trong việc triển khai Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập Sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, nguyên vật liệu đầu vào tăng làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, khó khăn tài chính dẫn đến không có khả năng trả nợ Một trong các thông số dùng để đánh giá mức độ an toàn của hoạt động tín dụng là tỷ lệ nợ xấu. Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, trừ những cú sốc bất ngờ như khủng hoảng kinh tế, thiên tai…nguyên nhân gây ra tình trạng nợ xấu nhiều nhất là do các ngân hàng không có đầy đủ thông tin từ phía khách hàng của mình mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác thẩm định . Nói một cách đơn giản, là do cơ chế sàng lọc chưa đủ hiệu lực nên các ngân hàng đã để "lọt" những khách hàng có khả năng che đậy hành vi và thông tin của họ trong giao dịch vay vốn để thực hiện những dự án có rủi ro cao. Như vậy, thông tin bất cân xứng là một trong những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến rủi ro trong các hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Việc nghiên cứu tác động của thông tin bất cân xứng sẽ được làm rõ thông qua nghiên cứu về hai biểu hiện của nó là lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại. Lựa chọn bất lợi và hoạt động tín dụng Lựa chọn bất lợi xảy ra trước cho vay, khi ngân hàng bị khách hàng che giấu một số thông tin dẫn tới việc lựa chọn khách hàng không tốt và cấp tín dụng không hiệu quả. Khách hàng có độ rủi ro cao thường là nhữngkhách hàng tích cực nhất trong việc xin vay. Hậu quả của sự lựa chon đối nghịch có thể dẫn đến việc cấp tín dụng cho khách hàng có rủi ro cao nên trong trường hợp này các ngân hàng có thể sẽ cắt giảm cho vay hoặc không tiếp tục cho vay mặc dù trên thị trường vẫn có nhiều khách hàng tốt. Chẳng hạn bạn có 2 bà cô mà bạn có thể cho họ vay một món tiền – Cô Sheila và cô Louis. Cô Louis là loại người thận trọng, chỉ vay tiền khi cô ta có một cuộc đầu tư mà cô tin chắc sẽ có kết quả. Cô Sheila thì khác, là một người vốn liều lĩnh, cô vừa trù tính một kế hoạch làm giàu thật nhanh để biến mình thành triệu phú nếu cô có thể vay được 1000 đôla để đầu tư vào kế hoạch đó. Không may là kế hoạch làm giàu thật nhanh, có một xác suất cao là sẽ thất bại và cô Sheila sẽ mất 1000 đôla. Ai trong số 2 bà cô của bạn có nỗ lực nhất trong việc tìm bạn để hỏi vay? Tất nhiên là cô Sheila bởi vì cô này sẽ thu được rất nhiều tiền nếu cuộc đầu tư đó thành công. Tuy vậy, có lẽ bạn sẽ không muốn cho cô Sheila vay bởi vì cuộc đầu tư của Sheila có xác suất tồi tệ cao và Sheila sẽ không có khả năng trả lại tiền cho bạn. Nếu bạn biết rõ cả 2 bà cô này, tức là thông tin không phải không cân xứng thì bạn sẽ không có khó khăn gì, bởi vì khi ấy bạn biết rằng cô Sheila không có khả năng trả nợ và do đó bạn không cho cô này vay. Tuy vậy, giả sử rằng bạn không biết rõ 2 bà cô của bạn, bạn rất có thể cho Sheila vay hơn là cho Louis bởi vì chính Sheila sẽ săn tìm bạn để vay tiền, tuy rằng có những lần cô Louis, vốn là một người vay luôn có khả năng trả nợ, có thể cần một món vay cho một cuộc đầu tư giá trị. Ví dụ trên có thể được giải thích và mô hình hóa một cách khoa học như sau: Đối với hoạt động tài chính ngân hàng, lựa chọn bất lợi sẽ xuất hiện khi nguồn vốn khan hiếm, lãi suất cho vay bị đẩy lên cao. Theo nguyên tắc "rủi ro cao - lợi nhuận cao” và nguyên tắc loại trừ, khi nguồn cung tín dụng dồi dào, mức lãi suất cho vay thấp thì các dự án có suất sinh lợi thấp - rủi ro thấp, đảm bảo khả năng trả nợ một cách chắc chắn và các dự án có suất sinh lợi cao - rủi ro cao với khả năng trả nợ ít chắc chắn hơn đều được cấp tín dụng để thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi nguồn vốn khan hiếm, lãi suất cho vay bị đẩy lên cao. Khi đó các dự án an toàn không được cấp tín dụng mà chỉ có những dự án có mức độ rủi ro cao, với suất sinh lợi cao được vay vốn để thực hiện. Đây chính là vấn đề lựa chọn bất lợi trong hoạt động tài chính ngân hàng đã xảy ra. Khi mà chỉ các dự án có độ rủi ro cao được thực hiện thì nguy cơ vỡ nợ của các tổ chức tài chính là rất cao. Q1 Dự án rro cao Lnhuận cao Q Q0 O r D S0 S1 E0 E1 r0 r1 Dự án rro thấp Lnhuận thấp D: Đường cầu vốn S0 ,S1 : Đường cung vốn Trục hoành OQ: Lượng vốn Trục tung Or: Lãi suất Hình vẽ dưới đây được dùng để mô tả vấn đề: Giả sử lúc ban đầu cung cầu vốn cắt nhau ở điểm E0 với lãi suất cho vay là r0 và lượng vốn cho vay là Q0. Các dự án có rủi ro thấp (Q1Q0 ) và các dự án có rủi ro cao (OQ1) đều được thực hiện (để đơn giản cho việc mô tả mô hình, giả sử rằng đối với các dự án rủi ro thấp coi như tổn thất bằng 0). Lúc này, một trong hai trường hợp sẽ xảy ra: Thứ nhất, nếu thu nhập từ việc cấp tín dụng cho các dự án đủ để bù đắp các chi phí hoạt động, các rủi ro xảy ra do các dự án không thành công mang lại và đảm bảo lợi nhuận biên theo yêu cầu, thì các tổ chức tín dụng vẫn duy trì ở mức lãi suất cho vay r0. Giả sử lúc này "tương quan" giữa các dự án rủi ro thấp và rủi ro cao là cân bằng nhau. Ở điểm cần bằng này, dù lợi nhuận các dự án mang lại có cao bao nhiêu thì thu nhập tối đa của bên cho vay chỉ là OQ0E0r0 Thứ hai, nếu thu nhập từ việc cấp tín dụng cho các dự án không đủ để bù đắp các chi phí hoạt động, các rủi ro xảy ra do các dự án không thành công mang lại và không đảm bảo lợi nhuận biên thì các tổ chức tín dụng sẽ tăng lãi suất cho vay. Lúc này các dự án rủi ro thấp bị giảm đi và các dự án rủi ro cao vẫn không thay đổi, "tương quan" sẽ nghiêng về phía các dự án rủi ro cao. Nếu cứ tiếp tục như vậy, đường cung bị đẩy dần lên đi đến điểm E1. Kết quả là, không còn dự án ít rủi ro mà toàn bộ là các dự án có mức độ rủi ro cao được thực hiện. Ở điểm cần bằng này, dù lợi nhuận các dự án mang lại có cao bao nhiêu thì thu nhập tối đa của bên cho vay chỉ là OQ1E1r1 , trong khi các dự án không thành công nhiều gây ra tổn thất rất lớn dẫn đến nguy cơ vỡ nợ. Đây chính là kết quả của lựa chọn bất lợi. Tâm lý ỷ lại và hoạt động tín dụng Như đã trình bày ở trên, để có sự tồn tại của tâm lý ỷ lại, ba điều kiện phải được thỏa mãn. Trong đó, điều kiện thứ ba là phải tồn tại những khó khăn trong việc xác định xem các điều kiện thỏa thuận có đúng là được tuân thủ và thực hiện hay không. Trong hoạt động tín dụng, việc giám sát việc sử dụng các khoản tín dụng của ngân hàng thường vấp phải nhiều khó khăn đến từ cả phía ngân hàng cũng như người đi vay. Bản thân các ngân hàng có thể gặp phải những rủi ro do tâm lý ỷ lại ở người đi vay khi ngân hàng khi không giám sát được đầy đủ người đi vay, kích thích người này dùng khoản vay một cách mạo hiểm quá mức. Tâm lý ỷ lại xảy ra sau cho vay, khi khách hàng có động cơ đầu tư vào những dự án có độ rủi ro cao. Nếu dự án đó thành công thì khách hàng sẽ thu được lợi rất lớn, ngược lại nếu dự án thất bại thì ngân hàng sẽ phải gánh chịu hậu quả do khách hàng thua lỗ. Tâm lý ỷ lại cũng có thể xảy ra khi khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, đầu tư vào dự án kém hiệu quả, lừa đảo ngân hàng... Xung đột về lợi ích giữa người vay và ngân hàng từ vấn đề tâm lý ỷ lại dẫn đến tình trạng một số ngân hàng quyết định giảm cho vay, ảnh hưởng đến cả nền kinh tế. Ngoài ra, còn có tâm lý ỷ lại của các tổ chức tín dụng sau khi cho vay. Thiếu sót trong quá trình kiểm tra sử dụng vốn vay có đúng mục đích. Để hiểu rõ hơn về tâm lý ỷ lại trong hoạt động tín dụng, chúng ta sẽ nghiên cứu ví dụ sau: Giả sử bạn có một người bà con, ông bác Melvin, vay một món 1000 đôla, ông này cần số tiền này để mua một máy chuyên dùng cho doanh nghiệp. Khi bạn đã cho vay, ông Melvin có thể tới thẳng trường đua để chơi cá ngựa. Nếu thắng, ông ta đủ khả năng trả lại bạn món 1000 đôla và nhận thêm 19000 đôla nữa. Nhưng nếu ông ta thua, như thường xảy ra, thì bạn không đòi được tiền và tất cả những gì ông ta mất chỉ là danh tiếng một ông bác thẳng thắn và đáng tin cậy. Do đó, ông bác Melvin có ý muốn tới trường đua bởi vì cái được của ông ta nếu ông ta thắng cược có thể lớn hơn nhiều so với giá mà ông ta phải trả nếu ông ta thua cược. Nếu lúc ấy bạn biết ý định của ông bác Melvin thì bạn sẽ ngăn ông ta tới trường đua và ông ta sẽ không thể làm chuyện rủi ro. Tuy nhiên, bạn khó có được thông tin về ông ta – tức là xảy ra thông tin không cân xứng – nên có một cơ hội tốt để ông bác Melvin có thể tới trường đua và bạn có thể không đòi được tiền. Tâm lý ỷ lại trong các hoạt động giao dịch vay nợ là khá phổ biến. Nó đặt ra câu hỏi “kiểm soát” đối với các Tổ chức tài chính trong việc giám sát việc sử dụng “đồng vốn” của khách hàng Xử lý thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng Giải pháp lý thuyết về xử lý vấn đề thông tin bất cân xứng được trình bày ở mục II đã cung cấp ba cơ chế cơ bản là cơ chế phát tín hiệu, cơ chế sàng lọc và cơ chế giám sát. Sang phần này, chúng ta sẽ cùng nghiên cứu việc vận dụng cụ thể ba cơ chế này cũng như cơ chế khuyến khích – một cơ chế được xem là đặc thù trong việc hạn chế thông tin bất cân xứng đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Sử dụng hệ thống thông tin tín dụng Hầu như không một ngân hàng nào có đủ khả năng tự mình xử lý được vấn đề thông tin bất cân xứng mà cần phải có hệ thống thông tin phục vụ đánh giá xếp loại khách hàng và hệ thống thông tin phục vụ cho việc thẩm định dự án. Một hệ thống thông tin đầy đủ về khách hàng như lịch sử hình thành và quá trình phát triển, năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm, đội ngũ điều hành,… là cơ sở hết sức quan trọng giúp cho việc thẩm định, xếp loại, lựa chọn khách hàng trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Nếu hệ thống này không đầy đủ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng đánh giá, thẩm định khách hàng của các ngân hàng. Hệ thống thông tin tín dụng đóng vai trò như là người trung gian trong quá trình đánh giá mức độ “an toàn” của khách hàng, là cơ sở cho các quyết định cấp tín dụng của các ngân hàng. Ngoài hệ thống thông tin tín dụng chung cho các ngân hàng thương mại, các ngân hàng thường tự xây dựng cho mình cơ chế riêng trong việc đánh giá, thẩm định khách hàng của mình. Các hệ thống thông tin tín dụng thông qua cơ chế xếp hạn tín dụng cung cấp cho các ngân hàng những thông tin cần thiết trong việc đánh giá, thẩm định khách hàng. Xếp hạng tín dụng hay xếp hạng tín nhiệm là những ý kiến đánh giá về rủi ro tín dụng và chất lượng tín dụng, thể hiện khả năng và thiện ý trả nợ (gốc, lãi hoặc cả hai) của đối tượng đi vay để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách đầy đủ và đúng hạn thông qua hệ thống xếp hạng theo ký hiệu. Hiện nay, trên thế giới có hai phương pháp xếp hạng tín dụng chính là mô hình toán học và phương pháp chuyên gia. Phương pháp xếp hạng mô hình toán học: Chỉ số Z của Edward I. Altman: Chỉ số Z là công cụ được cả hai giới học thuật và thực hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Mặc dù chỉ số Z được phát minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao như Mexico, Indian... Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích biệt số đa yếu tố (MDA). Chỉ số Zeta: Zeta là một chỉ số được Altman cải tiến từ chỉ số Z, Zeta làm việc tốt với dữ liệu tài chính của các công ty sản xuất và cả bán lẻ với độ chính xác hơn 90% trước khi phá sản 1 năm và chính xác trên 70% từ năm thứ 5 trở đi trước khi phá sản. Phương pháp chuyên gia: Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Fitch: Fitch xếp hạng doanh nghiệp dựa trên phân tích định tính và phân tích định lượng. Phân tích định tính gồm có phân tích rủi ro ngành, môi trường kinh doanh, vị thế của doanh nghiệp trong ngành, năng lực của ban quản trị, phân tích kế toán. Trong phân tích định lượng, Fitch nhấn mạnh đến thước đo dòng tiền của thu nhập, các khoản đảm bảo (coverage) và đòn bẩy. Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của S&P: Cũng như Fitch, phương pháp xếp hạng của S&P bao gồm cả phân tích định tính và định lượng. S&P cũng tập trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán trong quá khứ. Trong quy trình xếp hạng, S&P không phân loại theo tính chất của dữ liệu mà phân loại theo rủi ro là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính. Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Moody's: Moody's thiết lập 11 tỷ số chung nhất để sử dụng trong phân tích so sánh, các tỷ số này được Moody's ứng dụng rộng rãi ở những quốc gia khác nhau, những ngành khác nhau và cả ở các báo cáo xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quy trình cụ thể, Moody's có thể xem xét bớt hoặc thêm vào các chỉ tiêu cho phù hợp với từng ngành riêng biệt. Hệ thống thông tin tín dụng cùng với hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ cung cấp những thông tin cần thiết về người đi vay cho các ngân hàng thương mại. Trên cơ sở nắm đầy đủ thông tin về các khách hàng của mình, các ngân hàng có thể hạn chế hữu hiệu rủi ro do lựa chọn bất lợi nảy sinh từ vấn đề thông tin bất cân xứng. Sử dụng hệ thống thông tin kinh tế phục vụ công tác thẩm định, kiểm tra sử dụng vốn vay Ngoài hệ thống thông tin dùng để đánh giá khách hàng, khi thẩm định dự án, phương án kinh doanh, các tổ chức tín dụng cần phải có hệ thống thông tin nhằm xác định, kiểm tra các thông số đầu vào và đầu ra của dự án, nhất là các thông số về thị trường các nguyên liệu đầu vào và thị trường đàu ra của sản phẩm… Khi thẩm định dự án, phương án kinh doanh, các ngân hàng thường xử dụng các tiêu chuẩn thẩm đinh dự án đầu tư kết hợp với các kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính, thẩm định dự án. Giá trị hiện tại ròng (NPV) là tổng giá trị hiện tại của dòng thu nhập ròng mà dự án cảng mang lại trong cả vòng đời của nó. Trong đó: n: Số năm hoạt động của dự án t: Năm bắt đầu thực hiện dự án được coi là năm gốc CIt: Giá trị luồng tiền mặt thu tại năm t COt: Giá trị luồng tiền mặt chi tại năm t (gồm chi phí đầu tư và chi phí vận hành hàng năm của dự án) Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) là mức lãi suất mà dự án có thể đạt được đảm bảo cho tổng các khoản thu của dự án cân bằng với các khoản chi ở thời gian mặt bằng hiện tại. Trong đó: IRR: Hệ số hoàn vốn nội bộ cần nội suy (%) r1 : Tỷ suất chiết khấu thấp hơn tại đó NPV1 lớn hơn 0 và gần sát 0 nhất r2: Tỷ suất chiết khấu cao hơn tại đó NPV2 nhỏ hơn 0 và gần sát 0 nhất Trong quá trình thẩm định một sự án, có rất nhiều tiêu chuẩn để đánh giá dự án, nhưng hai tiêu chuẩn thông dụng nhất là dựa vào giá trị hiện tại ròng (NPV) và suất thu hồi vốn nội bộ (IRR). Một dự án có NPV dương hay suất thu hồi vốn nội bộ lớn hơn một ngưỡng yêu cầu là có thể quyết định đầu tư hoặc cấp tín dụng cho dự án đó. Vấn đề khó khăn đầu tiên đối với các tổ chức tín dụng khi tính NPV hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn IRR thì suất chiết khấu nào được sử dụng ở đây. Có thể sử dụng mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) hoặc các mô hình khác để xác định giá trị này. Điều này là bất khả thi vì các hệ số gần như không thể xác định được hoặc nếu có xác định được thì chúng không có ý nghĩa xác thực để lấy đó làm căn cứ. Thực tế tại các tổ chức đang làm là lấy lãi suất cho vay trung dài hạn của chính tổ chức tín dụng đó cộng (+) thêm một tỷ lệ nữa để có được suất chiết khấu. Với phương thức này có thể tạm chấp nhận được vì dù sao cũng có cơ sở. Nhưng cở sở này là rất cảm tính. Miền xác suất % (%) Dự án A Dự án B NPV O Kỹ thuật đánh giá, thẩm định dự án nói riêng, dự báo nói chung hiện nay được sử dụng phổ biến nhất là dựa vào phân tích mô phỏng (phân tích động) để tính xác suất có khả năng xảy ra các trường hợp tốt và các trường hợp bất lợi cho dự án. Việc nhìn vào biểu đồ phân bố xác xuất của dự án có thể biết được xác suất để NPV dương là bao nhiêu, âm là bao nhiêu. Hệ thống đăng ký tài sản Nhà kinh tế học người Peru Hernando de Soto khi bàn về "vốn xã hội" trong phân tích các yếu tố ngoại kinh tế đã giải thích lý do gốc của tình trạng chậm tiến của các nước kém phát triển là sự thiếu vắng một khung luật pháp để đăng ký các tài sản, để chứng nhận quyền sở hữu (gọi tắt là "sở hữu hoá") của người đang "có" chúng. Chừng nào còn chưa được sở hữu hóa thì giá trị của những tài sản ấy sẽ là rất thấp vì chúng không thể được bán hoặc chuyển nhượng, và do đó người đang sử dụng không thể dùng các tài sản ấy vào những kinh doanh khác. Ði vào chi tiết hơn, De Soto nhắc lại một hiện tương kinh tế căn bản, đó là trong đa số các thị trường chủ yếu (đất đai, các món hàng giá cao cần trả góp, cần bảo đảm...), người mua hoặc người bán (hoặc cả hai) cần biết tông tích của đối tác -- chính xác hơn, họ cần biết khả năng thực thi cam kết (như trả góp, hoặc giao hàng sau) của đối tác. Trong kinh tế học, những thị trường này được gọi là "không nặc danh" (non-anonymous). Trái lại, các thị trường kiểu "tiền trao cháo múc", không ai cần biết ai khi mua bán, là những thị trường nặc danh (anonymous). Theo De Soto, hệ thống đăng ký tài sản cho phép những người tham dự thị trường (không nặc danh) có những thông tin cần thiết về đối tác để đánh giá khả năng thực thi cam kết của đối tác ấy. Tôi chẳng hề biết anh, nhưng nếu nhà nước có hệ thống đăng ký thì tôi có thể kiểm định xem anh có bất động sản, có ô tô, hoặc những tài sản nào khác chăng. Tôi cũng có thể tìm biết anh đã có dùng những tài sản đó làm thế chấp trong những vụ buôn bán nào khác của anh hay không. Hơn nữa, trong chừng mực luật định, nhà nước có thể tước quyền sở hữu của anh nếu anh không thi hành cam kết của anh với tôi. Và, nhờ tất cả những điều đó, tôi sẳn sàng buôn bán làm ăn lâu dài với anh. Một hệ thống đăng ký quyền sở hữu tài sản rõ ràng là vô cùng quan trọng cho phát nền kinh tế nói chung, hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng. Nếu tất cả các tài sản được đăng ký và xác nhận quyền sở hữu, thì người chủ sở hữu tài sản đó có thể đem tài sản này thế chấp, cầm cố vay vốn ngân hàng. Hay nói cách khác, nếu tất cả các tài sản (nhất là các bất động sản) được đăng ký quyền sở hữu (hay quyền sử dụng) khi đó mới thực sự là tài sản, nếu không chỉ là một công cụ của người có nó vì việc chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Hệ thống đăng ký tài sản giúp ngân hàng xác định được khả năng thực thi cam kết của khách hàng khi cấp tín dụng, từ đó hạn chế rủi ro do lựa chọn bất lợi gây ra. Hệ thống đăng ký giao dịch đảm bảo Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm ghi vào sổ Đăng ký giao dịch bảo đảm là việc bên bảo đảm dùng tài sản thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm. Ví dụ: Ông A vay tiền của Ngân hàng B và thế chấp tài sản của mình là một căn nhà cho ngân hàng. Việc thế chấp này chính là một hình thức “bảo đảm giao dịch”, hay còn gọi là biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp ông A không trả nợ đúng hạn, ngân hàng có quyền "xử lý" căn nhà này để thu hồi nợ. Thông thường trong đời sống xã hội, việc các cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch có dùng biện pháp bảo đảm dân sự là bình thường và phổ biến. Tuy nhiên, trong một số trường hợp và đối với một số loại tài sản - chủ yếu là bất động sản và các loại tài sản có giá trị lớn, việc thế chấp tài sản bắt buộc phải được đăng ký qua cơ quan quản lý Nhà nước. Hệ thống đăng ký giao dịch đảm bảo cung cấp cơ sở cho việc tuân thủ và thực hiện đúng cam kết của người đi vay đối với khoản vay cũng như nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Nhờ có hệ thống đăng ký giao dịch đảm bảo, những rủi ro do tâm lý ỷ lại gây ra sẽ được hạn chế. Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam Trong hai phần trước, chúng ta đã tìm hiểu về thông tin bất cân xứng cũng như các biện pháp hạn chế ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực, đặc biệt là hoạt động tín dụng. Trong nội dung mục IV, chúng tôi sẽ trình bày về tác động của thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng như những những biện pháp và những mặt còn tồn tại trong việc hạn chế ảnh hưởng của nó. Thực trạng tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam Lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng và tín dụng ở Việt Nam Nhìn lại lịch sử phát triển của hệ thống ngân hàng cũng như cơ chế điều chỉnh lãi suất ở Việt Nam, chúng ta có thể nhận thấy các giai đoạn cơ bản sau: Giai đoạn trước năm 1988: Trong giai đoạn này, hệ thống Ngân hàng Nhà nước về cơ bản vẫn hoạt động như là một công cụ ngân sách, chưa thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ theo nguyên tắc thị trường. Lãi suất ở thời kỳ thực thi cơ chế quản lý nền kinh tế theo phương thức quản lý kế hoạch hóa tập trung. Lãi suất danh nghĩa luôn thấp hơn tỷ lệ lạm phát. Hệ quả là lãi suất không thực hiện được chức năng vốn có của nó, lãi suất không còn là đòn bẩy kích thích nhu cầu tiền gửi của công chúng, phát huy tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng. Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1992: cơ chế thực thi lãi suất cố định được thực hiện. Đặc biệt tháng 5 năm 1990, Hội đồng Nhà nước thông qua và công bố 2 Pháp lệnh về ngân hàng ( Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính). Sự ra đời của 2 Pháp lệnh Ngân hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp, trong đó Ngân hàng Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một Ngân hàng trung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng  trong khuôn khổ pháp luật. Giai đoạn từ tháng 6 năm 1992 đến năm 1996, cơ chế điều hành khung lãi suất được thực hiện. NHNN điều hành cơ chế lãi suất theo khung, quy định rõ sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay đối với nền kinh tế. Các NHTM, TCTD căn cứ khung lãi suất của ngân hàng thương mại để đưa ra các lãi suất thích hợp cho mình. Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000: trần lãi suất được điều hành linh hoạt trong thời kỳ từ năm 1996 đến tháng 7-2000. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng đã bước đầu thực hiện tự do hóa lãi suất huy động. Thay thế cho khung lãi suất tối thiểu về tiền gửi và tối đa về tiền vay, NHNN chỉ quy định các mức lãi suất "trần" theo thời hạn cho vay và khống chế chênh lệch giữa lãi suất cho vay với lãi suất huy động vốn bình quân ở mức 0,35%/tháng (tương đương 4,2%/năm). Quy định này nhằm khắc phục tình trạng hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức lợi nhuận cao trong khi doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn do biến động kinh tế khu vực và thế giới. Tới cuối tháng 1-1998, quy định chênh lệch lãi suất được xóa bỏ, chỉ giữ lại quy định trần lãi suất cho vay. Trong một thời gian dài, từ cuối những năm 80 cho tới năm 2000, cơ chế lãi suất của Việt Nam luôn cố gắng duy trì mức lãi suất thực dương – như một giải pháp cho vấn đề lạm phát. Mục tiêu kiểm soát lạm phát đã đạt được. Giai đoạn từ tháng 8 năm 2000 đến tháng 5 năm 2002: Cơ chế điều hành lãi suất với một mức cơ bản kèm biên độ dao động được NHNN áp dụng thay cho cơ chế lãi suất trần. Hai chỉ tiêu này được công bố chính thức định kỳ hàng tháng và điều chỉnh kịp thời trong trường hợp cần thiết. Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ, về cơ bản, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng được ấn định lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung – cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ. Đây là nền tảng cho việc xác định điểm cân bằng tỷ giá theo cách tính sức mua tương đương (PPP), từ đó, hình thành một cơ chế tự điều chỉnh. Giai đoạn từ tháng 5 năm 2002 đến nay: tháng 5-2001, NHNN từng bước chuyển sang áp dụng hình thức cho vay bằng ngoại tệ. Và kể từ sau tháng 5-2002, cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng trong hoạt động tín dụng. NHNN điều chỉnh cơ chế điều hành lãi suất: lãi suất tái cấp vốn-lãi suất trần, lãi suất tái chiết khấu-lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở -công cụ điều hành thường xuyên của NHNN. Song song với sự hoàn thiện của hệ thống ngân hàng và cơ chế điều hành lãi suất, hoạt động tín dụng đã đạt được nhiều bước đột phá và khẳng định được tầm quan trọng của mình trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại nói riêng và trong hoạt động kinh tế của đất nước nói chung. Tăng trưởng tín dụng 10 năm trở lại đây (đơn vị: %) Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là tối đa hóa lợi nhuận. Một tổ chức kinh doanh tiền tệ cũng không nằm ngoài mục đích đó. Ngân hàng thu được lợi nhuận thông qua các hoạt động dịch vụ cung cấp cho khách hàng như thanh toán, tư vấn và quan trọng nhất là hoạt động cho vay (hoạt động tín dụng). Sự chênh lệch giữa tiền lãi kiếm được thông qua hoạt động và tiền lãi phải trả thông qua các huy động tạo nên lợi nhuận của ngân hàng. Đây chưa phải là toàn bộ lợi nhuận của ngân hàng, tuy nhiên nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng và nó chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số lợi nhuận của ngân hàng. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng Eximbank năm 2010 (Đơn vị: tỷ đồng) Tín dụng ngân hàng còn đóng vai trò rất quan trọng sự nghiệp phát triển kinh tê – xã hội. Chúng ta đều biết rằng muốn phát triển kinh tế thì trước hết là phải có vốn (vốn bằng tiền). Để có vốn bằng tiền thì phải có tổ chức có đủ thẩm quyền, có chức năng huy động và tập trung trước khi đem ra sử dụng. Ở bất kỳ quốc gia nào thì cũng có hai tổ chức thực hiện công việc này là tổ chức tài chính (quỹ tài chính) và tổ chức tín dụng, song chủ yếu là tổ chức tín dụng. C.Mác đã có câu viết: “Một mặt ngân hàng (tài chính tín dụng) là sự tập trung tự bán tiền tệ của những người có tiền cho vay, mặt khác đó là sự tập trung những người đi vay”. Tín dụng ngân hàng đã đóng vai trò quan trọng từ buổi sơ khai đến mô hình ngân hàng hiện đại ngày nay. Với khái niệm ấy đối với riêng trong lĩnh vực tín dụng là một vấn đề vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Thực tiễn cho thấy hiệu quả sử dụng vốn là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy, mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế, tác động tích cực đến nhịp độ phát triển và thúc đẩy sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Từ 2/8/2000 NHNN chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản, các ngân hàng chủ động linh hoạt quy định lãi suất cho vay theo quan hệ với khách hàng, lãi suất cho vay của ngân hàng đối với nền kinh tế ngoài quốc doanh giảm xuống ngang hàng với DNNN, lãi suất cho vay linh hoạt theo diễn biến cung cấp vốn, theo yêu cầu của thị trường và khách hàng, làm cho tín dụng được mở rộng, và đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu vốn của các doanh nghiệp. Tăng trưởng GDP, cung tiền M2 và tín dụng Thực hiện theo đúng đường lối chính sách đổi mới của Đảng về nội dung cơ bản của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thập niên 90 là: “Đặc biệt coi trọng hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản”, hệ thống ngân hàng nhất là NHNN & PTNT đã tăng cường đầu tư cho nông nghiệp nông thôn. NHNN & PTNT cho vay 32300 tỷ đồng, NH Công thương 3000 tỷ đồng, NH Ngoại thương 1900 tỷ đồng… So với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của cả nước thì khu vực nông nghiệp và nông thôn có tốc độ tăng trưởng khá hơn. Tuy là nghiệp vụ kinh doanh chính đem lại hơn 80% doanh thu, nhưng hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam dường như có trục trặc mà nó được thể hiện qua khối lượng nợ xấu tương đối cao. Tình hình nợ xấu ở các ngân hàng thương mại ở Việt Nam Nợ xấu và các vấn đề về nợ xấu Khái niệm về nợ xấu Nợ xấu - là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản,... Nợ xấu được coi là chi phí khác của doanh nghiệp cho vay, chính vậy nên làm giảm thu nhập dòng. Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước. Đa số các công ty đều cho phép một tỉ lệ nợ xấu nhất định trên tổng nợ vì chắc chắn một điều là không thể thu hồi được mọi khoản nợ một cách đầy đủ nhất. Điều 6 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN quy định Tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ như sau: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; - Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2, Điều này. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này. Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; - Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý. - Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này. Nợ xấu bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn. Nguyên nhân Nợ xấu là hệ quả của rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại. về nguyên nhân tồn tại, nợ xấu được hình thành từ hai nhóm nguyên nhân cơ bản là nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Ràng buộc tài chính “mềm”: tình trạng một doanh nghiệp không quan tâm nghiêm túc đến việc thua lỗ tài chính và luôn luôn kỳ vọng rằng chính phủ hay một bên thứ ba sẽ đứng ra cứu giúp khi phải đối mặt với phá sản. Chính sách bao cấp của chính phủ đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước là cơ sở cho tình trạng này. Nguyên nhân khách quan xuất phát từ sự thay đổi của môi trường tự nhiên (thiên tai, dịch bệnh,…), sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới, sự tấn công của hàng nhập lậu, rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của các cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống thông tin quản lý còn bất cập… Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ sự quản lý yếu kém của ngân hàng cũng như từ phía khách hàng. Các ngân hàng thương mại quốc doanh chỉ bị ràng buộc tài chính “mềm” , dẫn đến việc các ngân hàng không quan tâm đến việc đánh giá sát sao năng lực tài chính của người vay, gây ra và tích đọng nợ xấu. Lãi suất huy động vốn quá cao dẫn đến lãi suất cho các doanh nghiệp vay tăng lên, các doanh nghiệp mạnh sẽ không chấp nhận mức lãi suất quá cao, họ có khả năng tìm đến những nguồn vốn khác. Nghi vấn đặt ra đối với những doanh nghiệp dám chấp thuận mức lãi suất cao. Phần lớn sự chấp thuận đó xuất phát từ sự thiếu vốn trầm trọng, năng lực tài chính hạn chế, độ tín nhiệm thấp nên không tiếp cận được những nguồn vốn khác. Và tất nhiên, nguy cơ nợ xấu ngân hàng tăng lên từ nhóm đối tượng này. Nguyên nhân chủ quan còn là hệ quả của việc thiếu thông tin về người đi vay của các ngân hàng thương mại cũng như thiếu cơ chế giám sát quá trình thực hiện dự án sau khi vay. Đây đều là hệ quả của vấn đề thông tin bất cân xứng gây nên. Hậu quả Nợ xấu ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của cả chủ nợ và doanh nghiệp. Chủ nợ mất nhiều thời gian, công sức thu hồi nợ. Trong khi đó, doanh nghiệp gần như mất khả năng trả nợ, chủ nợ có nguy cơ mất trắng. Tuy nhiên, việc loại trừ nợ xấu gần như là điều không thể. Việc phản ánh tình trạng nợ xấu trong báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại càng đầy đủ và chi tiết càng phản ánh tình trạng tín dụng càng đảm bảo thông qua việc trích lập các khoản dự phòng chính xác và mang tính thực tế. Nợ xấu ở các ngân hàng thương mại Việt Nam Tình trạng nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn chung vẫn cao hơn nhiều nước trong khu vực. Tỷ lệ nợ xấu của một số nước Châu Á năm 2008 (Đơn vị: %) Quốc gia Tỷ lệ nợ xấu tính trên % tổng dư nợ Trung Quốc 2,4 Hồng Kông 0,9 Hàn Quốc 1,1 Ấn Độ 2,3 Malaysia 1,9 Indonesia 3,2 Singapore 1,4 Việt Nam 2,2 Tuy vậy, sang năm 2009, tỷ lệ nợ xấu, trong đó nợ xấu ở các nhóm nợ có rủi ro tín dụng cao (nhóm 3-5) lại có xu hướng tăng mạnh. Điều này là kết quả của sự gia tăng tín dụng quá mức của các NHTM, đặc biệt là các NHTM khối nhà nước. Theo Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC), tỷ trọng dư nợ nhóm 3, 4 và 5 của khối ngân hàng quốc doanh trên tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng tính đến tháng 5/2009 lần lượt là 57,58%, 35,95% và 59,69%. Tính đến hết tháng 10/2009, vốn chủ sở hữu của toàn hệ thống các TCTD tăng 31,09%, tổng tài sản tăng 26,49%, chênh lệch thu-chi tăng 53,09% so với cuối năm 2008; dư nợ xấu của toàn hệ thống chiếm 2,2% tổng dư nợ cho vay, cao hơn so với năm ngoái (nợ xấu năm 2008 ở mức 2,17%). Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại Tại phiên giải trình về lãi suất sáng nay (25/12) do Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết tính đến cuối năm 2010 nợ xấu của hệ thống ngân hàng VN vào khoảng 2,5%. Con số nợ xấu 2,5% này chưa tính số nợ của Tập đoàn Công nghiệp và Tàu thuỷ VN (Vinashin). Theo thống đốc, toàn bộ dư nợ của hệ thống ngân hàng đối với Tập đoàn Công nghiệp và Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) chỉ dưới 26 nghìn tỷ đồng và hiện đang cơ cấu lại 16 nghìn tỷ đồng. Số này chưa đưa vào nợ xấu, và nếu tính vào thì nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng VN cũng chỉ tăng 0,7%. Cũng trong năm 2010, tín dụng tăng 27,65% (đã loại trừ hư số tăng của tỷ giá vàng), tín dụng bằng VND tăng 25,34%, bằng ngoại tệ tăng 37,76%. STT Ngân hàng 2004 2005 2006 2007 2008 1 Agribank 1,74 2,3 1,9 2,5 2,75 2 BIDV 14,56 11,64 11,9 4,8 2,7 3 Vietinbank 1,96 2,4 1,38 1,02 1,81 4 VCB - 3,64 2,65 2,66 4,61 5 MHB - - - 0,4 - 6 Techcombank - - 3,1 1,4 - 7 ACB 0,43 0,3 0,2 0,08 0,9 8 Sacombank 1,07 0,55 0,72 0,24 0,62 9 DongAbank - - 0,8 0,4 - 10 Eximbank - 1 0,8 0,88 4,71 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của một số NHTM (ĐVT: %) Các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện phải làm gì để giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng? Điều gì đang xảy ra ở thị trường tín dụng Việt Nam? Hiện nay, vấn đề xử lý thông tin bất cân xứng đang được các ngân hàng thương mại ở Việt Nam chú trọng nhằm giải hạn chế rủi ro trong tín dụng, khắc phục tình trạng nợ xấu. vấn đề cơ bản trong việc giải quyết thông tin bất cân xứng chính là sự cân bằng thông tin. Để giúp các ngân hàng tìm được "đúng" khách hàng, "đúng" dự án và khách hàng thực hiện "đúng" những hành động như đã cam kết thì một nền kinh tế cần phải có các cơ sở hạ tầng và điều kiện cần thiết: Các quy định pháp lý rõ ràng và chặt chẽ Hệ thống kế toán và báo cáo tài chính minh bạch, đủ độ tin cậy phản ánh đúng năng lực tài chính của khách hàng Hệ thống thông tin đầy đủ, có độ tin cậy và tính chính xác cao Các tiêu chuẩn đánh giá xếp loại rõ ràng, minh bạch, dễ áp dụng Tổ chức đánh giá, xếp loại tín dụng độc lập Hệ thống đăng ký tài sản Các quy định về pháp lý Ở Việt Nam, hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động tín dụng nói riêng được quy định bởi văn bản cao nhất là Luật các tổ chức tín dụng. Ngoài ra còn có các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các văn bản liên quan đến hoạt động tín dụng. Các quy định về hoạt động tín dụng tại Việt Nam được đánh giá là tương đối đầy đủ và theo thông lệ chung với các hướng dẫn rõ ràng, quyền tự chủ dành cho bên cấp tín dụng trên cơ sở bảo đảm những quy định về an toàn. Hệ thống thông tin tín dụng Hiện nay, Trung tâm tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC) là tổ chức duy nhất thực hiện công tác thu thập thông tin của các khách hàng có quan hệ tín dụng với tất cả các tổ chức tín dụng. Cơ chế thu thâp thông tin của CIC theo quy chế hoạt động thông tin tín dụng do Ngân hàng Nhà nước ban hành. Trong đó quy định các tổ chức tín dụng theo định kỳ có trách nhiệm báo cáo các thông tin liên quan đến khách hàng cho CIC và các tổ chức tín dụng được quyền khai thác thông tin của CIC. Tăng trưởng kho dữ liệu CIC cung cấp thông tin của CIC Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 68/1999/QĐ-NHNN9 ngày 27/02/1999 của Thống đốc NHNN, có chức năng thu nhận, xử lý, lưu trữ, phân tích và dự báo thông tin phục vụ cho yêu cầu quản lý nhà nước, thực hiện các dịch vụ thông tin ngân hàng. CIC là tổ chức duy nhất của Việt Nam thực hiện chức năng cơ quan đăng ký thông tin tín dụng công, hoạt động vì mục tiêu an toàn hệ thống ngân hàng và hỗ trợ thông tin cho các doanh nghiệp. Kho dữ liệu thông tin tín dụng quốc gia do CIC đang quản lý đến thời điểm hiện tại có trên 18 triệu hồ sơ khách hàng, trong đó có hơn 200 nghìn hồ sơ khách hàng doanh nghiệp, được cập nhật liên tục. Trên thực tế, các thông tin hiện có của CIC có độ cập nhật không cao và các chỉ tiêu còn chung chung. Những thông tin cần thiết để xác định lịch sử, độ tin cậy của ban điều hành doanh nghiệp hầu như không có. Mặt khác, do chưa thực sự ý thức về tầm quan trọng của tính cập nhật và chính xác về thông tin nên các tổ chức tín dụng chưa có sự quan tâm đúng mức đến các thông tin, dữ liệu khi báo cáo cho CIC. Khi thẩm định doanh nghiệp, rất ít ngân hàng lấy thông tin từ CIC. Hiện nay, bản thân trong một tổ chức tín dụng, hệ thống lưu trữ, xử lý thông tin cũng chưa hiệu quả và tính hệ thống gần như không có. Thậm chí việc kiểm soát tổng dự nợ của một khách hàng (kể cả các đơn vị trực thuộc hạch toán báo sổ) là một vấn đề rất khó khăn đối với các tổ chức tín dụng. Sử dụng hệ thống thông tin phục vụ công tác thẩm định, kiểm tra sử dụng vốn vay Đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng: Yếu tố cơ bản của tiêu chí này là mối quan hệ dài hạn, uy tín, thương hiệu của khách hàng trên thị trường, năng lực và trình độ quản lý, sự am hiểu trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh... Những yếu tố rất khó đánh giá vì Việt nam mới chuyển sang kinh tế thị trường gần 20 năm. Ý thức của đại bộ phận doanh nghiệp về việc xây dựng thương hiệu, uy tín trên thương trường với chiến lược kinh doanh dài hạn mới chỉ được đề cập trong một vài năm gần đây. Rất ít doanh nghiệp khẳng định được thương hiệu của mình. Mặt khác, hoạt động tín dụng ngân hàng mới thực sự phát triển trong vòng 5 năm trở lại đây (sau khi cơ chế đảm bảo tiền vay được nới lỏng, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được khuyến khích, tín dụng theo chỉ định và theo kế hoạch được tách khỏi tín dụng thương mại...). Mối quan hệ giữa khách hàng và các tổ chức tín dụng gần như mới được xác lập, chưa đủ độ dài thời gian để tạo ra sự tin cậy. Do đó việc đánh giá mức độ tín nhiệm để làm tiêu chí quyết định cấp tín dụng đã được đặt ra nhưng còn rất mờ nhạt. Việc đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng được thực hiện trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính và kết quả kinh doanh. Ở Việt Nam, Luật kế toán năm 2003 quy định đơn vị kế toán phải thu thập, phản ánh khách quan, đầy đủ, đúng thực tế và đúng kỳ kế toán mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh. Đơn vị kế toán có trách nhiệm công khai các báo cáo tài chính. Mặt khác, các chuẩn mực kế toán theo thông lệ chung đã dần được áp dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên hiện tại, hệ thống tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (VAS) vẫn còn những khác biệt so với với hệ thống tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IAS). Theo Nghị định về kiểm toán độc lập, trừ một số loại hình doanh nghiệp phải thực hiện kiểm toán như bảo hiểm, ngân hàng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, số còn lại (chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp), nhà nước chỉ khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện kiểm toán các báo báo tài chính. Mặt khác, tại hầu hết các tổ chức tín dụng chưa yêu cầu khách hàng đến xin cấp tín dụng phải có báo cáo tài chính được kiểm toán. Việc sử dụng các báo cáo tài chính để làm căn cứ thẩm định dự án của các tổ chức tín dụng chưa có đủ độ tin cậy như phát biểu của Phó tổng giám đốc Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - ông Lê Đào Nguyên ''Các DN vừa và nhỏ thường xây dựng báo cáo tài chính mang tính chất đối phó với cơ quan thuế; báo cáo chính thức (báo cáo được pháp luật công nhận) thường thấp hơn tình trạng thực tế, không đảm bảo đủ điều kiện vay vốn ngân hàng''.4 Những vấn đề nêu trên đã tạo ra kẽ hở để một doanh nghiệp có nhiều hệ thống sổ sách báo cáo kế toán (thường là 3). Một dùng để báo cáo thuế (kết quả kinh doanh thấp hơn thực tế). Một dùng để vay vốn ngân hàng (kết quả báo cáo thường hơn thực tế). Một dùng cho nội bộ (số liệu thực). Với tình trạng như vậy, khi doanh nghiệp gặp khó khăn thì ngân hàng rất khó nhận biết tình trạng thực của doanh nghiệp là như thế nào. Thẩm định và đánh giá dự án: Hiện nay ở Việt Nam, các kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính, thẩm định dự án tiên tiến chưa được áp dụng và phổ biến rộng rãi tại Việt nam do điều kiện về công nghệ và những người am hiểu về nó còn rất hạn chế. Vì vậy việc áp dụng đại trà gặp rất nhiều khó khăn. Từ thực tế, một người am hiểu một chút về kỹ thuật thẩm định dự án là có thể biến một dự án có xác xuất NPV dương hay IRR lớn hơn ngưỡng cần thiết đạt 100%. Khi muốn bác một dự án hoặc đánh giá một doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả là vấn đề hết sức khó khăn đối với cán bộ tín dụng. Nhất là đối với những dự án của những doanh nghiệp có "mối quan hệ" tốt. Hệ thống đăng ký tài sản Do hệ thống đăng ký tài sản hoạt động không hiệu quả nên hoạt động tín dụng ở Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn. Liệu ngân hàng có thể tin được khách hàng sẽ đảm bảo có đủ nguồn vốn "tự có" tham gia vào dự án như cam kết. Dù khách hàng có đưa ra các bằng chứng như sau thì độ tin cậy vẫn rất hạn chế: Xác nhận có tiền gửi ngân hàng: Liệu có ngân hàng có tin chắc rằng bên vay vốn không "vay nóng" ở đâu đó rồi gửi vào ngân hàng để nhờ xác nhận. Thậm chí, bên vay có bằng chứng khoản tiền gửi đó là 5 năm hay 20 năm thì ngân hàng cũng rất khó có thể tin được đó là tiền của bên vay vì bất cứ loại tiền gửi nào khách hàng đều có quyền rút trước hạn. Do đó hôm nay mua một chứng chỉ tiền gửi 5 năm ngày mai rút lại là điều hoàn toàn có thể. Chứng minh có lợi nhuận giữ lại: Đây cũng là vấn đề rất khó khăn đối với ngân hàng vì lợi nhuận của doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào các khoản phải thu, các loại chi phí chờ phân bổ … Với hệ thống sổ sách kế toán không đủ độ minh bạch, không có kiểm toán thì rất khó có thể xác định được doanh nghiệp lãi thật hay lãi giả. Nói chung, khi thẩm định khả năng góp vốn tự có của khách hàng trong việc thực hiện dự án ngân hàng chủ yếu tin vào sự trung thực của khách hàng. Rất khó khẳng định là khách hàng có thực sự bỏ vốn vào thực hiện dự án hay toàn bộ là vốn vay. Một phương thức mà các doanh nghiệp có thể "qua mặt" các tổ chức tín dụng là sử dụng biện pháp nâng giá trong các hợp đồng. Giả sử dự án đầu tư chỉ cần 7 tỷ đồng là có thể hoàn thành nhưng bên vay lập dự án tăng lên thành 10 tỷ đồng. Bằng một vài biện pháp chuyển tiền vòng vèo qua lại theo một vài hợp đồng là bên vay có thể chứng minh với ngân hàng là mình đã bỏ ra trước 3 tỷ đồng để đầu tư dự án mà thực tế họ chẳng bỏ ra đồng nào cả. Với sự không minh bạch và khó xác định tính xác thực, hợp lý, hợp lệ cũng như giá trị của các loại tài sản đã gây rất nhiều khó khăn cho các ngân hàng trong việc đưa ra quyết định cấp tín dụng của mình. Hệ thống đăng ký giao dịch đảm bảo Để tránh tình trạng khách hàng sử dụng một tài sản thế chấp, cầm cố vay vốn nhiều ngân hàng hoặc tạo điều kiện cho khách hàng có một tài sản có giá trị lớn có thể vay vốn nhiều tổ chức tín dụng, hiện nay có các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm bao gồm: Cơ quan đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm và chi nhánh; Cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực; Cục Hàng không dân dụng Việt Nam; Sở Tài nguyên môi trường; Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Mỗi cơ quan nêu trên thực hiện đăng ký giao dịch đảm bảo mỗi loại tài sản theo quy định. Những giải pháp mà các ngân hàng cần thực hiện Từ thực tiễn môi trường thông tin cũng như điều kiện tồn tại trong bản thân các ngân hàng thương mại, nhóm chúng tôi đề xuất một số giải pháp trong việc hạn chế ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng sau: Về phía Nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng phát triển và ổn định Ban hành Các Luật về Ngân hàng; Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của NHNN; Chỉ thị, Nghị quyết của Bộ Chính trị; Chỉ thị, Nghị định, Quyết định, Nghị quyết của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của các Bộ, ngành về Ngân hàng. Xây dựng, hoàn thiện và phát triển Trung tâm Thông tin Tín dụng CIC nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho các tổ chức tín dụng trong việc đưa ra các quyết định cấp tín dụng Cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tư nhân tham gia xây dựng các trung tâm thông tin tín dụng, từ đó tạo được nhiều kênh thông tin cho các ngân hàng thương mại. Hỗ trợ các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm bảo thực hiện đúng vai trò của mình Về phía các ngân hàng: Xây dựng và không ngừng nâng cao chất lượng hệ thống trang thiết bị, công nghệ để thu thập, lưu trữ, phân tích, xử lý thông tin KH Hoàn thiện bộ máy giám sát rủi ro hoạt động của NH trên cơ sơ hình thành một bộ phận độc lập không tham gia vào quá trình tạo ra rủi ro, có chức năng quản lý, giám sát rủi ro cho các NH; nhận diện và phát hiện rủi ro; phân tích và đánh giá các mức độ rủi ro trên cơ sơ các chỉ tiêu, tiêu thức được xây dựng đồng thời đề ra các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn giảm thiểu rủi ro. Xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản chế độ quy chế quy trình nghiệp vụ, cụ thể: Ban hành đầy đủ các quy chế quy trình nghiệp vụ trên nguyên tắc tuân thủ các quy định của Nhà nước, của NHNN Việt Nam; Kịp thời hướng dẫn các văn bản chế độ có liên quan để áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống NH. Đồng thời, hệ thống văn bản chế độ, quy chế, quy trình... phải được tổ chức nghiên cứu, tập huấn và quán triệt để đảm bảo mọi cán bộ phải nắm vững và thực thi đầy đủ, chính xác. Cần phải có có các giải pháp để đối phó với các yếu tố từ bên ngoài như sự thay đổi về cơ chế, chính sách của Nhà nước, sức ép từ việc thực hiện các cam kết theo thông lệ, các diễn biến phức tạp của xu thế thị trường, tác động tiêu cực của các thông tin truyền thống bất cân xứng... Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại, ổn định. Thường xuyên kiểm tra bảo trì, bảo dưỡng kịp thời thay bổ sung khi cần thiết để đảm bảo hoạt động ổn định trong mọi trường hợp. Tuân thủ các điều kiện bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Nhà nước và NH. Thường xuỵên cập nhật thông tin liên quan từ bên ngoài, kiểm soát được và hiệu chỉnh kịp thời các văn bản nội bộ khi phát sinh các thay đổi hoặc chủ động xây dựng các lộ trình để thực hiện các cam kết theo thông lệ. Hướng tới hình thành bộ phận chuyên gia hàng đầu về các lĩnh vực kinh tế. Nhiệm vụ của nhóm chuyên gia này là định kỳ đưa ra các báo cáo phân tích, đánh giá tổng quan về nền kinh tế thế giới và trong nước, xu hướng phát triển và nhưng tác động của nó đến hoạt động NH. Từ đó có những tham mưu kịp thời trong xây dựng, điều chỉnh chính sách và định hướng chiến lược phù hợp. Xây dựng và hoàn chỉnh cơ chế tuyển dụng, đào tạo: Thi tuyển nhân viên Đào tạo, nâng cao trình độ, năng lực cho cán bộ tín dụng Nâng cao công tác tổ chức Khuyến khích đãi ngộ Biện pháp hành chính Kiểm tra nội bộ Về phía khách hàng Phát tín hiệu Phát triển thương hiệu Tham gia hoạt động bình chọn (Hàng Việt Nam chất lượng cao, Sao Vàng đất Việt) Sử dụng kiểm toán kiểm tra báo cáo tài chính hàng năm Kết luận Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động đem lại phần lớn lợi nhuận cho các ngân hàng thương mại. Với tư cách là một thực thể kinh doanh, mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các ngân hàng. Và trong quá trình theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của mình, thông qua hoạt động tín dụng, các ngân hàng chuyển nguồn vốn nhàn rỗi đến tay các cá nhân, doanh nghiệp để sản xuất, kinh doanh. Hoạt động tín dụng giờ đây không còn đơn thuần là hoạt động tạo lợi nhuận của ngân hàng mà đã trở thành hoạt động cung cấp và phân bổ nguồn lực khan hiếm trong nền kinh tế, từ đó tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Tuy nhiên, việc cấp vốn cho ai, giám sát sử dụng vốn như thế nào cho có hiệu quả đang gặp phải khó khăn do vấn đề thông tin bất cân xứng còn tồn tại. chỉ khi nào giải quyết được hai hệ quả của thông tin bất cân xứng là lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại thì nguồn vốn mới “tìm” được đúng đối tượng và mới được sử dụng một cách có hiệu quả. Giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam đòi hỏi phải có sự hợp tác từ cả phía ngân hàng và người đi vay trong môi trường thông tin mà Nhà nước quản lý. Chỉ khi đó, thông tin bất cân xứng mới được giải quyết triệt để, hiệu quả đầu tư mới được cải thiện. Tài liệu tham khảo Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright – Huỳnh Thế Du Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán TP.HCM - Lê An Khang Vốn xã hội và kinh tế - Trần Hữu Dũng Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam - Đặng Hữu Mẫn Đánh giá khả năng ứng dụng của hai chỉ tiêu tài chính – kinh tế: Tỷ số hoàn vốn nội bộ IRR và chỉ tiêu giá trị hiện tại ròng NPV trong việc phân tích hiệu quả đầu tư của dự án cảng - KS. Nguyễn Ngọc Hưng

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • dockilo03 .doc
Tài liệu liên quan