Đề tài Thực trạng lạm phát, giảm phát ở Việt Nam và chính sách của chính phủ

Lạm phát, giảm phát ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp ứng phó 95 Phạm Thị Linh – Lớp Anh 7, K37B Qua quá trình tìm hiểu các sách báo, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, khóa luận đã đạt được một số kết quả như sau: 1. Phân tích một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về lạm phát và giảm phát, bao gồm: khái niệm, phân loại, cách đo lường lạm phát; các nguyên nhân gây ra lạm phát và giảm phát; mối quan hệ giữa lạm phát và một số biến số kinh tế vĩ mô (lãi suất, thất nghiệp); tác động của lạm phát, giảm phát đến nền kinh tế. Từ đó, khóa luận trình bày các giải pháp về mặt lý thuyết để đối phó với lạm phát và giảm phát. 2. Nghiên cứu tốc độ lạm phát, giảm phát; các nguyên nhân dẫn đến lạm phát, giảm phát; tác động của lạm phát cũng như giảm phát tới nền kinh tế và các chính sách mà Chính phủ đã áp dụng để kiềm chế lạm phát, khắc phục giảm phát tại Việt Nam qua 4 giai đoạn: trước tháng 5/1988, từ tháng 5/1988 đến 1990, giai đoạn 1991 - 1998 và từ 1999 đến nay; đặc biệt, hai giai đoạn gần đây nhất được nghiên cứu kỹ hơn. Khoá luận cũng đưa ra những đánh giá chung về các giải pháp của Chính phủ. 3. Xem xét xu thế lạm phát, giảm phát và rút ra những khó khăn trong công tác kiềm chế lạm phát, ngăn ngừa giảm phát từ nay đến năm 2010 ở nước ta. Những khó khăn này, cùng với những tồn tại về những chính sách của Chính phủ đã được tổng hợp ở cuối chương II là cơ sở để khóa luận nêu lên nhiệm vụ của các giải pháp ứng phó với lạm phát và giảm phát; đồng thời đề xuất các biện pháp (chuyển dịch cơ cấu đầu tư, nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư; giảm thâm hụt ngân sách nhà nước; phát triển hệ thống ngân hàng; cải cách khu vực kinh tế nhà nước; hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, cải cách hành chính và nâng cao trình độ nền sản xuất) để giải quyết các vướng mắc đã nêu. Đây là khối lượng công việc rất lớn, nếu không được tổ chức triển khai một cách khẩn trương, đồng bộ và có hệ thống thì Việt Nam khó có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế - nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc kiềm chế lạm phát, khắc phục giảm phát.

doc95 trang | Chia sẻ: Kuang2 | Ngày: 23/08/2017 | Lượt xem: 105 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng lạm phát, giảm phát ở Việt Nam và chính sách của chính phủ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
t được là đáng tự hào; song điều quan trọng hơn là chúng ta phải nắm được xu thế chung của lạm phát và giảm phát ở Việt Nam trong tương lai có đặc điểm như thế nào và vận dụng những bài học kinh nghiệm rút ra sau hơn 25 năm đấu tranh với lạm phát và giảm phát sao cho phù hợp với tình hình mới, hoàn thành thắng lợi mục tiêu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. I. xu hướng lạm phát và giảm phát ở Việt Nam từ nay đến năm 2010 1. Lạm phát và giảm phát chịu ảnh hưởng theo 2 chiều của quá trình hội nhập Trong xu thế mở cửa kinh tế, hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, không thể phủ nhận được những lợi ích mà nó đem lại cho mỗi quốc gia. Khi mà chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại theo hướng "đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và đảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương như AFTA, APEC, Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, tiến tới gia nhập WTO..." đã được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, chúng ta có cơ sở để khẳng định tác động tích cực của tiến trình hội nhập đến vấn đề kiểm soát lạm phát ở nước ta trong tương lai, Hội nhập vào kinh tế quốc tế, mà trước hết là tham gia khu vực mậu dịch tự do Đông Nam á (AFTA) với chương trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung (CEPT), rồi dần dần sẽ gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với yêu cầu các quốc gia thành viên phải có nền kinh tế thị trường, phải mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ, nhân dân có thể mua sắm những hàng ngoại giá thấp, chất lượng cao. Cơ hội này còn được mở rộng hơn vì có nhiều khả năng khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN sẽ được xây dựng vào năm 2010 theo như kêu gọi của Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ tại Hội nghị ASEAN +3 (năm 2000) và thoả thuận về xây dựng khu vực mậu dịch này tại Hội nghị ASEAN +1 ở Brunei (tháng 11/2001). Đây sẽ là khu vực mậu dịch tự do lớn nhất thế giới với dung lượng thị trường 1000 tỷ và chiếm 30% dân số thế giới. Chúng ta cũng biết rằng Trung Quốc hiện đang là quốc gia sản xuất được nhiều loại mặt hàng, từ hàng phục vụ sản xuất cho tới hàng tiêu dùng, với chi phí vào loại thấp nhất thế giới nên giá bán thấp. Vì thế, cung hàng hoá ở Việt Nam sẽ tăng lên, chỉ số giá tiêu dùng không tăng quá cao và nguy cơ lạm phát cao sẽ được giảm xuống. Song, nếu chúng ta để hàng ngoại rẻ tràn lan thì lạm phát sẽ đổi chiều thành giảm phát, thậm chí xảy ra thiểu phát. Quá trình hội nhập còn tác động đến tình trạng lạm phát theo chiều ngược lại. Nó làm cho luồng vốn công nghệ từ nước ngoài chảy vào nước ta ngày càng nhiều hơn, làm tăng tính cạnh tranh trên thị trường trong nước. Nếu các doanh nghiệp trong nước không tự nâng cao năng lực cạnh tranh và Nhà nước không có hoạt động hỗ trợ, thúc đẩy mạnh mẽ thì hàng nội sẽ mất dần thị phần, sản xuất trong nước bị thu hẹp. Như thế, nguồn thu chủ yếu từ thuế của ngân sách Nhà nước bị giảm sút nặng nề. Cùng với hội nhập, những yếu tố bất ổn từ bên ngoài như biến động của thị trường tài chính, tiền tệ thế giới, sự đầu cơ trong nền kinh tế sẽ gia tăng ảnh hưởng và có thể làm sụp đổ hệ thống tài chính - tín dụng trong nước. Khi đó, người ta không còn tin tưởng vào tính ổn định của đồng tiền, đồng nội tệ mất giá và lạm phát sẽ leo thang. Muốn hội nhập được với thế giới, muốn trở thành thành viên của WTO, chúng ta phải mở cửa không chỉ thị trường hàng hóa mà cả thị trường dịch vụ, trong đó có thị trường ngoại hối. Hiện nay, hệ thống ngân hàng của Việt Nam còn nhiều yếu kém so với chuẩn khu vực và thế giới, mà những nỗ lực cải tổ trong ngành này chưa thực sự tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế. Nếu tình hình này còn tiếp tục thì nước ta có thể trở thành mảnh đất màu mỡ cho các ngân hàng và các tổ chức nước ngoài gặt hái từ hoạt động kinh doanh ngoại hối, từ đó Nhà nước sẽ mất dần sự kiểm soát đối với ngoại hối; cung cầu ngoại tệ hoàn toàn do thị trường quyết định. Theo đánh giá của các chuyên gia, đồng Việt Nam hiện nay được định giá quá cao. Đến khi Nhà nước không còn phát huy được vai trò điều tiết thị trường ngoại hối thì theo lý thuyết cân bằng sức mua (PPP - Purchasing Power Parity), đồng Việt Nam sẽ trở về đúng giá trị thực của nó, tức là VND mất giá nhiều so với ngoại tệ hay lạm phát tăng cao. 2. Lạm phát vẫn có nguy cơ bùng phát trong tương lai do thâm hụt ngân sách Nhà nước Nước ta đã trải qua thời kỳ siêu lạm phát do phát hành tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách Nhà nước. Có những yếu tố cho thấy trong tương lai, nguy cơ bùng nổ lạm phát do mất cân đối thu chi vẫn còn tồn tại. Sự cắt giảm thuế quan, giảm sút dần nguồn thu từ thuế đánh vào hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên (do tài nguyên này ngày càng khan hiếm), những ưu đãi về thuế để khuyến khích sản xuất và cạnh tranh đều làm cho thu ngân sách giảm. Hơn nữa, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng vẫn đưa tin về sự thiếu chặt chẽ của hệ thống thuế, công tác thu thuế không đạt chất lượng cao, nạn tham nhũng, tình trạng quản lý nợ không tốt và đầu tư ngân sách kém hiệu quả. Thu ngân sách vì thế mà bị thất thoát rất nhiều. Theo tính toán của ủy ban thanh toán công nợ Nhà nước, nợ khó đòi của doanh nghiệp Nhà nước đối với hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh lên tới hơn 1000 tỷ đồng vào năm 1994, và đến năm 2000 là 7994 tỷ đồng, gấp 1,4 lần số vốn kinh doanh của các ngân hàng. Nợ phải thu của các ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp này vào năm 2000 là 104140 tỷ đồng. Nợ của các doanh nghiệp nhà nước với hệ thống ngân hàng còn chồng chất như thế thì làm sao có thể nộp ngân sách đầy đủ cho nhà nước được. Trong khi thu có xu hướng không tăng nhiều thì chi ngân sách lại tăng nhanh. Để nuôi dưỡng nguồn thu sau này, Nhà nước tích cực đầu tư vào xây dựng cơ bản, nhập khẩu máy móc thiết bị và đổi mới công nghệ. Chúng ta cũng thực hiện không bù đắp thâm hụt ngân sách bằng phát hành tiền mà chủ yếu bằng vay nợ trong và ngoài nước kể từ năm 1992 (xem phụ lục, bảng 7) nên gánh nặng nợ nước ngoài cứ thế tăng lên, từ 6,7 tỷ USD (chiếm 43% GDP) vào năm 1994 lên 13 tỷ USD (chiếm hơn 50% GDP) vào năm 1998, tức là lớn hơn kim ngạch xuất khẩu lúc đó (9,36 tỷ USD) [54] [10] [66]. Tỷ lệ vay nợ nước ngoài chiếm tới 48,4% tổng nguồn vốn tài trợ cho thâm hụt ngân sách vào năm 1999. Từ năm 1992 đến năm 2001, mức nợ nước ngoài tăng hơn 3 lần, từ 3,9 tỷ USD lên đến 14 tỷ USD. Trong vòng 5 năm tới, tỷ lệ nợ nước ngoài của Việt Nam được dự đoán bằng 36% GDP [67]. Theo đó, thâm hụt ngân sách ngày càng cao, gây sức ép làm tăng lạm phát. 3. Biến động lạm phát tuỳ thuộc nhiều vào việc cải cách khu vực kinh tế nhà nước Thành phần kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nếu Nhà nước không thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này, và bản thân họ không tự cải tiến mình thì khó có thể đứng vững được trước cuộc cạnh tranh khốc liệt khi nước ta hội nhập quốc tế sâu rộng. Các doanh nghiệp nhà nước là bộ phận chiếm phần lớn trong ngân sách nhà nước cả về thu và chi. Hiện nay, các doanh nghiệp này chiếm khoảng 40% tổng thu ngân sách, hơn 50% kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm cho 1,9 triệu người [68]. Do đó, nếu khu vực này làm ăn kém hiệu quả thì ngân sách sẽ thất thu trầm trọng, gây khó khăn cho Nhà nước trong điều tiết nền kinh tế vì nhân cơ hội này, hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân và tư bản nước ngoài trỗi dậy. Đây là một nhân tố gây ra những cú sốc về sức mua tiền tệ khi Nhà nước buộc phải tài trợ thâm hụt ngân sách bằng phát hành tiền. 4. Vấn đề kiềm chế lạm phát và vai trò của hệ thống tài chính - tín dụng Hiện nay, quy mô của thị trường chứng khoán còn nhỏ nên kênh huy động và dẫn vốn chủ yếu ở Việt Nam là hệ thống ngân hàng, nhưng thực trạng kinh doanh của ngành này còn nhiều bất ổn. Tỷ lệ vốn tự có của các ngân hàng thương mại còn thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế [54], nhiều ngân hàng không đảm bảo được vốn điều lệ. Tiềm lực nhỏ yếu cùng với tỷ lệ nợ quá hạn ngày càng gia tăng của các ngân hàng cho thấy hoạt động kinh doanh tín dụng ở Việt Nam chứa đựng nhiều rủi ro, đe doạ an ninh tài chính quốc gia. Phần lớn các ngân hàng thương mại còn thiếu chiến lược kinh doanh hiệu quả, trình độ tổ chức, quản lý và điều hành nhân lực còn nhiều yếu kém, mô hình cồng kềnh nên chi phí cao, khó cạnh tranh được với các ngân hàng nước ngoài. Một điều nữa cần nói tới là Ngân hàng Nhà nước chưa thật sự phát huy được vai trò điều hành thị trường tài chính - tín dụng, chính sách quản lý ngoại hối nhiều nhưng lỏng lẻo làm cho thị trường chợ đen và nạn đô-la hoá phát triển (xem phụ lục, bảng 8). Các quy định về kết hối ngoại tệ không được các ngân hàng thực hiện nghiêm chỉnh; việc niêm yết, định giá, thanh toán bằng ngoại tệ, mua bán ngoại tệ trực tiếp tại thị trường chợ đen trái với quy định của Chính phủ. Một hệ thống ngân hàng với những bất cập như vậy cần được cải tổ nhanh chóng và dứt điểm thì mới công tác kiềm chế lạm phát hay khắc phục giảm phát mới đạt kết quả tốt. Tóm lại, tương ứng với 4 điểm cơ bản về xu hướng lạm phát từ nay đến năm 2010 vừa xét ở trên, có thể thấy rõ 4 yêu cầu đặt ra đối với nước ta để công tác kiềm chế lạm phát, ngăn ngừa giảm phát góp phần tích cực vào sự tăng trưởng của nền kinh tế, là: Thứ nhất, hội nhập nhưng phải làm sao không biến nước ta thành nơi tiêu thụ hàng rẻ của nước ngoài. Do vậy, nhiệm vụ đặt ra là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ cũng như của các doanh nghiệp - chủ thể của quá trình sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ. Thứ hai, phải giảm được thâm hụt ngân sách nhà nước. Thứ ba, khu vực kinh tế nhà nước cần được cải cách sao cho đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Thứ tư, thị trường ngoại hối và hệ thống ngân hàng phải được phát triển theo thông lệ quốc tế, vừa để đáp ứng yêu cầu hội nhập, vừa nhằm làm tăng hiệu quả của các chính sách kiềm chế lạm phát, ngăn ngừa giảm phát và nâng cao vai trò của Nhà nước trên thị trường tài chính tiền tệ cũng như thị trường ngoại hối. Các yêu cầu cơ bản trên cùng với những yếu kém chủ yếu trong nền kinh tế cần khắc phục được rút ra ở cuối chương II sẽ là chìa khóa để chúng ta đi tìm các giải pháp ứng phó với lạm phát, giảm phát ở nước ta nhằm thúc đẩy sự tăng trưởng lành mạnh. II. Các giải pháp kiềm chế lạm phát, khắc phục giảm phát ở Việt Nam trong thời gian tới (từ nay đến năm 2010) Có nhiều nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát, khắc phục giảm phát, được phân chia theo các tiêu thức khác nhau. Nếu nhìn nhận từ nguyên nhân gây lạm phát và giảm phát, các giải pháp bao gồm nhóm chính sách tác động đến tổng cung và nhóm chính sách tác động lên tổng cầu. Tuy nhiên, khóa luận sẽ đề xuất các giải pháp theo cách riêng là dựa trên nhiệm vụ của các biện pháp mà những nhiệm vụ này được đề ra từ yêu cầu giải quyết các vướng mắc đã tổng hợp ở cuối chương II và những khó khăn cho công tác ngăn ngừa lạm phát từ nay đến năm 2010. 1. Nhiệm vụ của các giải pháp ứng phó với lạm phát và giảm phát Trong bài trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong vào ngày 11/9/2002, ông Nguyễn Văn Long - Chánh văn phòng Uỷ Ban Quốc Gia về hợp tác kinh tế quốc tế - cho biết 8 tiêu chí xem xét về năng lực cạnh tranh của một quốc gia đã chính thức được chọn gồm: Độ mở cửa về thương mại và đầu tư Năng lực cạnh tranh của hệ thống tài chính ngân hàng Trình độ công nghệ Trình độ cơ sở hạ tầng Trình độ của lực lượng lao động Thể chế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Vai trò của chính phủ trong điều hành và thực hiện chính sách Đối chiếu những điều được rút ra từ cuối chương II và phần I - chương III của khoá luận này, có thể thấy chúng được bao hàm phần lớn trong các tiêu chí trên. Như vậy, nhiệm vụ cốt lõi của các giải pháp kiềm chế lạm phát là nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Trong điều kiện hiện nay, các quốc gia trên thế giới ngày càng đạt đến trình độ sản xuất tiên tiến, hiện đại nên để có thể cạnh tranh được, chúng ta không có cách nào khác là phải phát triển sản xuất. Một quốc gia sẽ có khả năng kiềm chế vững chắc lạm phát khi nền kinh tế nước này tăng trưởng và phát triển bền vững, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Nhiệm vụ cơ bản này bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Một là, chuyển dịch cơ cấu đầu tư và nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư. Hai là, giảm thâm hụt ngân sách nhà nước Ba là, phát triển hệ thống ngân hàng (bao gồm vai trò của ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại). Bốn là, cải cách khu vực kinh tế nhà nước Năm là, cải cách hành chính và hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật (bao hàm chính sách thu hút FDI). Sáu là, nâng cao trình độ nền sản xuất. Nội dung các nhiệm vụ trên cũng là những đề xuất của khoá luận về các giải pháp ứng phó với lạm phát và giảm phát ở Việt Nam từ nay đến năm 2010. 2. Đề xuất các giải pháp 2.1. Chuyển dịch cơ cấu đầu tư và nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư Chúng ta cần tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, giảm dần sự lệ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên. Trong ngắn hạn, việc khai thác ồ ạt các tài nguyên như dầu mỏ, than đá, quặng, cà phê, cao su v.v... có thể đem lại tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng thực chất đây là sự bán rẻ tài nguyên. Về lâu dài, các nguồn khai thác sẽ cạn kiệt, đất đai giảm dần độ mầu mỡ nên tăng cường phát triển kinh tế theo chiều sâu thay vì thiên về chiều rộng là bước đi cần thiết và hợp lý. Trước mắt, các dự án, chương trình sản xuất, chế biến nông sản cần được tập trung vào trọng điểm, không nên để tình trạng hầu như vùng nào cũng có nông sản xuất khẩu nhưng năng suất, chất lượng không cao, mà chi phí đi thu mua rải rác lại khá tốn kém. Các bộ, ngành chức năng phải đưa ra quy hoạch vùng nguyên liệu, hình thành các vùng chuyên canh, đồng thời hỗ trợ đầu ra cho những vùng đó. Với ngành nông nghiệp, một cách làm hữu hiệu giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm (đặc biệt là gạo) là chính phủ tham gia trực tiếp vào hoạt động xuất khẩu thông qua ký kết các hợp đồng với các chính phủ rồi phân bổ lại hoặc cho các doanh nghiệp đấu thầu. Nhà nước cũng phải khuyến khích doanh nghiệp ký hợp đồng với các hộ nông dân, hướng cho họ sản xuất cái gì, với chất lượng, số lượng như thế nào. Cơ cấu nông nghiệp nông thôn cần được chuyển dịch theo hướng thích ứngcao hơn với đòi hỏi của thị trường: nhân rộng mô hình trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh đồng bằng ven biển, chuyển các diện tích trồng lúa không cho năng suất cao sang trồng hoa mầu, cây công nghiệp ngắn ngày. Nhà nước cần chú trọng đầu tư hơn nữa cho hoạt động nghiên cứu, tiếp nhận các giống cây trồng, vật nuôi mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao. Về hiệu quả các dự án đầu tư, chúng ta biết rằng trên thực tế, không phải dự án đầu tư nào cũng có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế. Nền kinh tế chịu tác động tốt hay xấu của một dự án đầu tư tuỳ thuộc nhiều vào mức độ bao cấp, bảo hộ của nhà nước. Bài học về dự án 1 triệu tấn đường với kinh phí 1 tỷ USD đạt hiệu quả thấp, không có sức cạnh tranh quốc tế dường như vẫn còn nhức nhối. Sự bảo hộ của Nhà nước để duy trì sự tồn tại của ngành mía đường đã là yếu tố gây thiệt hại cho công nghiệp sản xuất bánh kẹo, đồ uống. Nhà nước nên giành những khoản tiền như vậy đầu tư cho các ngành mũi nhọn, có thể đem lại lợi nhuận cao như công nghệ thông tin, công nghệ bưu chính viễn thông hoặc các vùng sản xuất, chế biến nông sản xuất khẩu. Nhà nước nên cho phép tư nhân tham gia nhiều hơn nữa vào xây dựng cơ sở hạ tầng vừa để giảm chi ngân sách, đỡ "rò rỉ" nguồn vốn, vừa tăng nhanh khả năng thu hồi vốn của dự án. Đối với các ngành hàng, các dự án, các doanh nghiệp nhà nước cần hỗ trợ thì việc thực hiện hình thức “hỗ trợ sau” sẽ thúc đẩy các đối tượng được nhận hỗ trợ cố gắng đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn so với hình thức “hỗ trợ trước” như hiện nay, theo phương châm: hướng cho họ cách “bơi” rồi để họ tự “bơi”, tự phải cứu lấy mình. Đến khi doanh nghiệp làm làm ăn có lãi thì Nhà nước mới hỗ trợ bằng cách giảm lãi suất, giảm nợ cho các khoản tín dụng đã cấp trước đó. 2.2. Giảm thâm hụt ngân sách nhà nước Thâm hụt ngân sách nhà nước là kết quả của chính sách thu và chi ngân sách. Muốn làm giảm thâm hụt ngân sách thì điều tất yếu là phải tăng thu và giảm chi. a. Thu ngân sách nhà nước Để tăng thu ngân sách, trước mắt chúng ta phải làm sao ngăn chặn các nguồn đang trực tiếp làm sút giảm ngân sách. Thứ nhất, cần ngăn chặn ngay tình trạng thất thoát trong quá trình thu thuế, phí. Điều này phụ thuộc vào trình độ, đạo đức của các cán bộ, nhân viên nghành thuế, tính chặt chẽ của luật và công nghệ thu thuế. Muốn có con người tốt cần phải đào tạo giáo dục họ, thực hiện thưởng phạt nghiêm minh và phải làm việc này từ cấp trên trở xuống - cán bộ có nghiêm thì nhân viên mới tốt. Tính chặt chẽ của các luật thuế, sắc thuế có thể được tăng cường nếu nhà nước ra quyết định thưởng cho những ai có đề xuất, sáng kiến cải cách thuế phù hợp hơn với nền kinh tế nước ta hiện nay. Về công nghệ thu thuế, Nhà nước nên phổ biến chính sách pháp luật đến từng người dân qua hệ thống thông tin xã, phường để tránh tình trạng cán bộ thuế tính khống mức thuế (nhất là với thuế môn bài) để ăn chênh lệch mà dân vẫn không biết; Khuyến khích nhân dân tố giác các cán bộ tham nhũng. Các cơ quan thuế kể cả ở địa phương cần được hiện đại hoá với hệ thống máy vi tính nối mạng để tránh rườm rà, cồng kềnh trong khâu xử lý số liệu, dễ gây nhầm lẫn, thiệt hại cho nhà nước. Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách thuế theo hướng giảm dần về số lượng thuế suất, giảm các ưu đãi, miễn giảm thuế, tăng phạm vi, đối tượng chịu thuế. Chẳng hạn thuế thu nhập có thể được áp dụng thống nhất với tất cả những người có mức thu nhập từ mức trung bình trở lên để xác lập thói quen đóng thuế trong nhân dân, tạo sự công bằng, bình đẳng trong xã hội, tăng thu cho ngân sách. Về lâu dài, phải làm sao chính sách thuế nuôi dưỡng được nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Để làm được điều này, bên cạnh việc tiến hành miễn giảm thuế thu nhập đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư ứng dụng công nghệ cao, miễn giảm hơn nữa thuế nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất hạn chế; Vấn đề nâng cao hiệu quả chi ngân sách có vai trò hết sức quan trọng. b. Chi ngân sách nhà nước Như chúng ta đã xét trong chương hai, hiện nay chi ngân sách, đặc biệt là chi vào các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng chưa thật hiệu quả. Vốn Nhà nước bỏ ra thì nhiều nhưng cầu đường xây dựng xong một thời gian ngắn đã phải tu sửa. Lượng tiền thực tế được rót vào các công trình này chưa chắc đã nhiều bằng các chi phí "chìm", chi phí gián tiếp qua cơ chế đấu thầu, qua các khâu thi công, giám sát, nghiệm thu. Vậy chi ngân sách như thế nào thì hiệu quả ? Câu trả lời nằm trong các giải pháp sau đây: Cải thiện cơ cấu, hiệu quả chi ngân sách bằng cách giảm dần đầu tư xây dựng cơ bản, tăng đầu tư cho công nghệ mới, máy móc thiết bị hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, đặc biệt là nông, lâm , thuỷ sản xuất khẩu; giảm dần tỷ trọng đầu tư vào các khu vực kinh tế có môi trường cạnh tranh cao. Đầu tư Nhà nước nên đóng vai trò định hướng, thu hút các khu vực khác trong nền kinh tế làm theo. Xã hội hoá chi ngân sách trong một số lĩnh vực văn hoá, giáo dục, thể thao, truyền hình; Khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đầu tư vào các bậc học để nhà nước có thể chi nhiều hơn cho giáo dục ở nông thôn, miền núi, xóa dần khoảng cách dân trí giữa các vùng. Cho phép và khuyến khích tư nhân tham gia các dịch vụ công cộng (môi trường đô thị, trật tự an ninh...) thông qua chế độ Nhà nước đặt hàng thay vì cấp chi phí trực tiếp. Các giải pháp trên nhằm đảm bảo quy mô thu ngân sách so với GDP lên mức đủ lớn (từ 20% GDP đến 22% GDP) để đẩy mạnh đầu tư cho phát triển kinh tế mà không hề làm tăng gánh nặng thuế khóa đối với mỗi người dân. Đây là định hướng phù hợp với nước ta trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với yêu cầu hạ tầng cơ sở giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ tạo đà cho tăng trưởng kinh tế. 2.3. Phát triển hệ thống ngân hàng Các ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn là kênh huy động và dẫn vốn chủ yếu trong nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng còn nhiều yếu kém cần được khắc phục (xem chương II), từ vấn đề nâng cao vai trò của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối cho đến việc cải tổ các ngân hàng thương mại. a. Về vai trò của ngân hàng trung ương và việc nâng cao hiệu quả các công cụ của chính sách tiền tệ Kinh nghiệm của cac nước OECD cho thấy một ngân hàng trung ương độc lập có thể giảm hữu hiệu nguy cơ tăng cung tiền vì động cơ chính trị, giữ cho tỷ lệ lạm phát ở mức thích hợp với tăng trưởng kinh tế [18]. ở các nước đang phát triển như Việt Nam, kiểu mẫu như vậy chưa chắc đã tạo ra kết quả tốt; nhưng không nên để chính quyền can thiệp tùy tiện, phi kinh tế vào hoạt động của ngân hàng trung ương. Chúng ta nên xem xét lựa chọn mô hình trung gian đó là ngân hàng trung ương sẽ được trao cho sự độc lập như là một công cụ, hay ngân hàng trung ương là cơ quan lập chính sách hàng ngày và thực thi chính sách để đạt một số mục tiêu nhất định; còn các cơ quan chính trị giành quyền lựa chọn mục tiêu. Trước mắt, sự độc lập này có thể được thực hiện bằng cách ngân hàng nhà nước chấm dứt cho ngân sách vay, để tránh phải phát hành tiền khi ngân sách thâm hụt trầm trọng và tránh lạm phát cao. Tính độc lập cao hơn của ngân hàng trung ương sẽ cho phép sử dụng các công cụ gián tiếp như hoạt động thị trường mở để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ (mà đây là xu hướng đã trở nên phổ biến ở các nước trên thế giới.) thay vì dùng nhiều biện pháp còn mang nặng tính hành chính như hiện nay. Khi nói về việc điều hành chính sách tài chính tiền tệ của ngân hàng trung ương ở Việt Nam, cần nhấn mạnh hoạt động thị trường mở vì so với các công cụ khác, công cụ thị trường mở ở nước ta chưa phát huy được tác dụng vốn có của nó (xem chương II). Để phù hợp với đòi hỏi của nền kinh tế, xu thế hội nhập và tận dụng được các ưu điểm của nghiệp vụ thị trường mở như: cho phép ngân hàng thương mại linh động trong việc quyết định khối lượng và thời điểm “bơm” tiền ra hay “hút” tiền vào, theo sát diễn biến cung cầu tiền tệ trong nền kinh tế hơn, cần phải đưa hoạt động này trở thành bộ phận chính của chính sách tiền tệ. Muốn vậy, Nhà nước cần thực hiện những việc sau: Sửa đổi khoản 15 Điều 9 Luật Ngân hàng Nhà nước (giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có giá "có thời hạn dưới 1 năm") thành "giấy tờ có giá ngắn hạn là giấy tờ có thời hạn còn lại dưới 1 năm". Đây là điều khoản quy định về hàng hoá cho hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở, nghiệp vụ tái chiết khấu của Ngân hàng Nhà nước. Nếu sửa đổi như vậy thì hàng hoá được phép lưu thông trên thị trường mở sẽ đa dạng hơn vì kể cả các giấy tờ có giá trị dài hạn nhưng thời hạn dưới 1 năm cũng được phép sử dụng. Thu hút thêm các tổ chức tín dụng tham gia thị trường mở bằng cách Ngân hàng Nhà nước đưa ra lãi suất thấp hơn một chút so với lãi suất vay trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Cách này sẽ có tác dụng đáng kể vì trên thị trường mở có hai phương thức giao dịch là đấu thầu lãi suât và đâu thầu khối lượng. Hiện đại hoá công nghệ giao dịch trên thị trường mở. Các biện pháp có thể áp dụng được là: sử dụng hệ thống ghi sổ để xác nhận quyền sở hữu các giấy tờ có giá trị, thanh toán tức thời thông qua hệ thống tài khoản tiền gửi ở NHNN. Thành lập bộ phận thông tin thị trường, chuyên thu thập, phân tích thông tin trên thị trường liên ngân hàng để đánh giá, đưa ra dự đoán chính xác về cung cầu tiền tệ, tín dụng của nền kinh tế và thông báo kịp thời cho NHNN. Bên cạnh công cụ mới mẻ là thị trường mở, điều hết sức cần thiết là phải làm tăng hiệu quả tác động của công cụ lãi suất đến nền kinh tế. Cơ chế thị trường đòi hỏi chế độ lãi suất thị trường để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nhưng do vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn (xem chương II) nên trước mắt Ngân hàng Nhà nước nên duy trì công bố lãi suất cơ bản nhưng mức lãi suất cơ bản phải khác nhau đối với các khoản vay ngắn hạn và dài hạn, chứ không phải để giống nhau như hiện nay. Như thế, lãi suất cơ bản sẽ phản ánh sát cung cầu vốn thị trường hơn, đồng thời tạo cơ hội giảm chi phí một cách bình đẳng đối với mọi thành phần doanh nghiệp, tăng cường thêm động lực cho guồng máy kinh tế, góp phần kiềm chế tốt tốc độ lạm phát. Để lãi suất trong tương lai thực sự là lãi suất thị trường, việc cải tổ hệ thống ngân hàng, cải cách các doanh nghiệp nhà nước cần được đẩy mạnh hơn nữa theo phương châm vừa thực hiện vừa rút kinh nghiệm rồi điều chỉnh và hoàn thiện. Từ nay đến năm 2010, Nhà nước nên thành lập Côngty đánh giá mức độ tín nhiệm của các doanh nghiệp để hỗ trợ cho hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng như nâng cao hiệu quả của chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát. b. Cải cách các ngân hàng thương mại Các ngân hàng thương mại là những chiếc “máy bơm hút và đẩy” vốn trong nền kinh tế. Dịch vụ của ngân hàng có đa dạng, phong phú, đạt chất lượng tốt thì mới cạnh tranh được trong bối cảnh hội nhập quốc tế và do đó mới hỗ trợ cho Ngân hàng Nhà nước đảm bảo cân đối cung, cầu tiền tệ, kiểm soát được lạm phát. Muốn khách hàng đến với mình, đặt niềm tin vào mình, quảng cáo cho mình thì thái độ phục vụ của các các cán bộ, nhân viên ngân hàng phải nhã nhặn, lịch thiệp, phải yêu quý khách hàng; dịch vụ ngân hàng cung cấp phải nhanh chóng, thuận tiện, giảm chi phí không cần thiết cho khách hàng, qua đó giảm chi phí cho toàn xã hội. Để chất lượng phục vụ khách hàng được tốt hơn, ngành ngân hàng phải tiến hành nhiều biện pháp, trong đó cần chú trọng những việc sau: Hiện đại hoá hoạt động kinh doanh ngân hàng. Nhiều ngân hàng quốc doanh (ngân hàng Ngoại thương, ngân hàng Công thương, ngân hàng Đầu tư và Phát triển ) đã tiến hành giao dịch ngoại tệ trực tiếp với các ngân hàng trong nước và ở nước ngoài thông qua hệ thống Reuters Dealing 3000, telex, fax, được trang bị màn hình tin Reuter, Telerate để nắm bắt kịp thời các thông tin trên thị trường quốc tế. Hoạt động này cần được khuyến khích và hỗ trợ hơn nữa từ phía Nhà nước, các tổ chức quốc tế. Trong tương lai, Việt Nam cần tiến tới cung cấp các dịch vụ ngân hàng điện tử (thanh toán hoá đơn qua mạng máy tính, giao dịch qua mạng...) để giảm chi phí. Có kế hoạch đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ cũng như đạo đức nghề nghiệp cho các cán bộ, nhân viên ngành ngân hàng phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Nhà nước nên có chính sách khuyến khích (tuyên dương, khen thưởng...) các ngân hàng gửi người giỏi đi học tập, nghiên cứu chuyên sâu ở nước ngoài, khuyến khích hình thức thi tuyển cán bộ, nhân viên đảm bảo khách quan, từ đó mới chọn được người có khả năng thích ứng với công việc. Xúc tiến và tăng cường hoạt động tiếp thị thông tin về các dịch vụ cho khách hàng. Hoạt động này đã được một số ngân hàng tiến hành nhưng cách thức thực hiện chưa đa dạng, phong phú. Các ngân hàng thường quảng cáo qua mạng nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp và người dân đều có điều kiện truy cập thông tin trên mạng. Khi quảng cáo về các dịch vụ mà mình cung cấp, ngân hàng nên nói rõ là doanh nghiệp có thể dùng dịch vụ đó để làm gì, cách thức tiến hành ra sao. Ngân hàng nên sử dụng các phương tiện thông tin để quảng cáo dịch vụ với khách hàng như báo, đài, vô tuyến, thậm chí fax cho khách hàng. Trong cuộc điều tra khảo sát tại 30 doanh nghiệp ở miền Bắc vào tháng 6 và tháng 7 vừa qua, tôi được biết một số ngân hàng nước ngoài (Ngân hàng Tokyo - Mitsubishi) đã fax bản báo cáo hàng tuần về thị trường tài chính Việt Nam (Vietnam weekly financial market report) cho doanh nghiệp có quan hệ với ngân hàng thì tại sao các ngân hàng Việt Nam không thể làm điều đó. Bản báo cáo của ngân hàng Tokyo - Mitsubishi gồm 3 phần: thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ và các thông số kinh tế cơ bản trong đó có dự đoán của các quan chức chính phủ, Bộ Thương mại v.v... về sự thay đổi các thông số này trong tương lai. Các Ngân hàng Việt Nam không những có thể làm một báo cáo như thế mà hoàn toàn làm được bản báo cáo tốt hơn thế. Ngân hàng nước ngoài chưa nêu được ảnh hưởng của những biến đổi trên thị trường tài chính sẽ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp như thế nào, doanh nghiệp nên làm gì để đối phó với tình hình. Hơn nữa, báo cáo đó được thể hiện bằng tiếng Anh, tiếng Nhật chứ chưa có tiếng Việt. Vậy, các ngân hàng của ta nên khắc phục những điểm chưa tốt này để báo cáo của ta hấp dẫn hơn với các doanh nghiệp. Chi phí bỏ ra để làm báo cáo và fax tới doanh nghiệp chắc sẽ nhỏ hơn nhiều so với lượng lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ việc khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ của ngân hàng. Đây là một công cụ cạnh tranh rất hiệu quả, các ngân hàng không nên xem nhẹ và nên tận dụng, nhất là trong tương lai khi nước ta mở cửa thị trường tài chính hơn nữa. 2.4. Cải cách khu vực kinh tế nhà nước Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn nhằm nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp này. Tuy nhiên, cổ phần hoá chỉ thực sự triệt để khi cổ phiếu của các doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán để tránh việc những người có quyền chức trong các doanh nghiệp nhà nước lại trở thành người nắm giữ cổ phần chủ yếu của công ty mới (mà điều này không tạo ra sự chuyển biến lớn trong cung cách làm ăn của họ). Thị trường chứng khoán sẽ là nơi để các cổ phiếu cạnh tranh nhau dựa trên khả năng sinh lời thực sự của đồng vốn. Nhưng ở nước ta, thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động được vài năm, còn chưa sôi động, số công ty tham gia niêm yết chứng khoán còn ít, lượng vốn chu chuyển trên thị trường này còn rất nhỏ so với quy mô vốn trong nền kinh tế. Trong tương lai thị trường này phải trở thành nơi thu hút nhanh nhất, với chi phí thấp nhất các nguồn vốn trong xã hội, thúc đẩy cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, làm tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh. Từ góc độ chống lạm phát, có thể phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam theo hướng: Thực hiện đa dạng hoá các chứng khoán được phép mua bán. Hiện nay do các tầng lớp trong xã hội chưa quen với hoạt động đầu tư chứng khoán, đa phần tham gia với tính chất thăm do thử nghiệm, hơn nữa khả năng tài chính của các nhà đầu tư chứng khoán còn hạn chế nên cần coi trọng các cổ phiếu có mệnh giá không lớn, các tín phiếu, các trái phiếu kho bạc nhà nước. Phổ biến kiến thức cho dân chúng về hoạt động kinh doanh trên thị trường chứng khoán, tổ chức rộng rãi các trò chơi tập kinh doanh chứng khoán qua sàn giao dịch ảo. Xây dựng luật về thị trường chứng khoán để đảm bảo hoạt động lành mạnh của thị trường này, giúp phòng ngừa, hạn chế các hành vi lừa đảo, móc ngoặc, đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư. Chính sách phát triển thị trường chứng khoán được thực hiện sẽ là chất xúc tác chủ yếu cho quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước. Để thị trường chứng khoán Việt Nam có tầm quan trọng như ở các nước phát triển, có lẽ phải cần thời gian khoảng 10 tới 20 năm sau, nên trước mắt, những thay đổi của Chính phủ trong chính sách phát triển doanh nghiệp nhà nước cần được tiến hành theo hướng: giảm chi ngân sách, giảm bao cấp ngầm cho các doanh nghiệp này, giao cho họ quyền tự chủ hơn trong sản xuất kinh doanh đồng thời ra chỉ tiêu mỗi doanh nghiệp phải đóng góp vào ngân sách mỗi năm là bao nhiêu. Trách nhiệm của các giám đốc doanh nghiệp nhà nước cần được đặt lên tầm cao mới và gắn liền với kết quả hoạt động của doanh nghiệp. 2.5. Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật và cải cách hành chính Nền kinh tế là tập hợp của các tế bào mà mỗi tế bào là một địa phương; kinh tế mỗi địa phương có lớn mạnh thì sự phát triển của cả nước mới chắc chắn và bền vững. Theo phân tích của các chuyên gia, tăng trưởng kinh tế của từng địa phương phụ thuộc tới 70% vào cơ chế, chính sách do các cơ quan trung ương ban hành còn 30% tuỳ thuộc vào chính sách của từng địa phương [68]. Như vậy, hệ thống chính sách pháp luật có vai trò rất quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Chúng ta cần khắc phục những bất cập (xem chương II) của các chính sách pháp luật mà đặc biệt là chính sách thu hút FDI, chính sách ngoại thương và chính sách quản lý ngoại hối vì các chính sách này tác động trực tiếp đến nền kinh tế. Chính sách thu hút FDI Chính phủ phải đưa ra được bảng đánh giá, sắp xếp thứ tự rõ ràng về các ngành công nghiệp, các sản phẩm chủ yếu có lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, ở hiện tại cũng như trong tương lai. Dựa trên bảng này, Chính phủ sẽ đưa ra danh mục cụ thể các dự án cần gọi vốn đầu tư trong và ngoài nước theo một thứ tự ưu tiên để tránh hiện tượng đầu tư giàn trải, dẫn đến hiệu quả không cao, lãng phí vốn. Đồng thời, một lộ trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng cần được xây dựng gắn liền với tiến trình hội nhập của nước ta và các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong ngắn hạn cũng như dài hạn. Lộ trình dưới đây với 3 giai đoạn thu hút vốn đầu tư từ nay đến năm 2010 có thể sẽ là một gợi ý bổ ích cho các nhà hoạch định chính sách: Giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2005: Nhà nước cần tập trung hoàn thiện môi trường đầu tư theo hướng ngày càng thông thoáng, xây dựng một nền tảng pháp lý ngày càng đồng bộ và ổn định qua các công việc cụ thể như rà soát và điều chỉnh các luật có liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài (chẳng hạn: giảm mức độ bảo hộ với các ngành điện, nước, điện thoại để giảm chi phí đầu vào cho các nhà đầu tư; cấp visa trong thời hạn dài hơn và nên căn cứ vào khoảng thời gian công tác của các nhà đầu tư; giảm thuế thu nhập đối với người nước ngoài); nhanh chóng ban hành luật đầu tư chung cho cả hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài; ban hành luật chống phá giá và luật chống độc quyền; tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ năm 2005 đến năm 2008: Biến các khu kinh tế ở các vùng có vị trí địa lý, điều kiện giao thông và thông tin liên lạc thuận lợi (như tam giác kinh tế Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, khu vực lân cận cảng Vũng áng, miền Đông Nam Bộ) thành các vùng trọng điểm thu hút FDI; qua đó sẽ đóng vai trò đầu tầu kéo các vùng lân cận phát triển. Từ năm 2008 đến năm 2010: Nhìn nhận kết quả của quá trình thu hút FDI trong 6 năm từ 2002 tới 2008 và tiến hành khắc phục cơ bản những mặt còn hạn ché trong công tác triển khai các dự án cũng như các bất cập còn sót lại trong hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến đầu tư; đưa ra những kế hoạch cụ thể hơn về thu hút vốn đầu tư vào các vùng có điều kiện khó khăn hơn để tạo ra sự cất cánh của cả nền kinh tế, để Việt Nam có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Singapore về thu hút vốn đầu tư. Chính sách ngoại thương Ngoại thương và tốc độ lạm phát có tác động qua lại với nhau: tỷ lệ lạm phát ảnh hưởng đến sức mua của đồng tiền trong tương quan so sánh với ngoại tệ, do vậy ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế và giữa hàng sản xuất ra trong nước với hàng nhập khẩu (xem chương I); ngược lại, hoạt động xuất nhập khẩu (nhất là nhập khẩu) tạo ra nguồn thu thuế rất lớn cho ngân sách nhà nước, đồng thời kìm hãm hoặc kích thích sản xuất trong nước phát triển nên có thể làm trầm trọng hơn hoặc giảm nhẹ tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước. Chúng ta biết rằng thâm hụt ngân sách là một trong các nguyên nhân gây ra lạm phát (xem chương I), tức là hoạt động ngoại thương có thể có tác dụng tích cực hoặc tiêu cực đến tốc độ tăng mức giá. Dù nhà nước đã có nhiều cố gắng để đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng nhưng nhiều khi kết quả đạt được chưa như mong đợi. Lượng xuất khẩu cứ tăng lên nhưng giá xuất khẩu lại giảm, hàng Việt Nam chưa có sức cạnh tranh cao, thậm chí chúng ta đã đánh mất vị trí thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo. Để ngoại thương góp phần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, phòng ngừa giảm phát, khóa luận đề xuất một số giải pháp như sau: Nhà nước đầu tư đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư hơn nữa vào công nghệ chế biến hàngxuất khẩu, đặc biệt là nông sản xuất khẩu để tăng chất lượng, hạ giá thành, kiên quyết xử lý các trường hợp dùng hoá chất trái quy định trong chế biến nông sản, chẳng hạn sử dụng chloramphenicol để bảo quản thủy sản. Chúng ta có thể hiện tượng này nếu bộ Thương mại, bộ Thuỷ sản và bộ Y tế phối hợp thanh tra, kiểm tra đồng bộ từ khâu chế biến, bảo quản để xuất khẩu nhằm giữ uy tín với khách hàng quốc tế. Xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm xuất khẩu gắn liền với địa danh sản xuất chế biến các mặt hàng đó (chẳng hạn Gốm Bát Tràng, than dừa Bến Tre, nhãn lồng Hưng Yên...). Các cơ quan chức năng (bộ Thương mại, các cơ quan xúc tiến thương mại, tham tán thương mại Việt nam ở nước ngoài, các hiệp hội xuất khẩu) cần có hoạt động hỗ trợ thích hợp trong việc bảo vệ các thương hiệu đó, như: đăng ký thương hiệu tại nước ngoài, quảng bá thương hiệu đến nhiều khu vực thị trường trên thế giới. Các cơ quan Nhà nước như bộ Thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các cơ quan tham tán thương mại Việt Nam ở nước ngoài cần tích cực, chủ động hơn nữa trong việc tìm kiếm, nghiên cứu, khai thác, cung cấp thông tin về tình hình cung cầu, xu hướng giá cả, thị hiếu khách hàng trên thị trường thế giới cho các doanh nghiệp Việt Nam, từ đó định hướng cho họ xem cần thay đổi gì về mẫu mã, chất lượng, số lượng cho phù hợp yêu cầu thị trường, tránh trường hợp sản xuất dư thừa, lãng phí nguồn lực. Duy trì các thị trường xuất khẩu hiện tại, chú ý mở rộng phạm vi xuất khẩu sang các thị trường mới, nhiều tiềm năng và ít đối thủ cạnh tranh như Trung Cận Đông và Châu Phi. Bên cạnh một số động thái như trên nhằm hoàn thiện chính sách xuất khẩu, chính sách nhập khẩu cũng cần có sự điều chỉnh như sau: Nâng cao chất lượng công tác thẩm định giá trị, chất lượng máy móc và công nghệ nhập khẩu, nhất định không nhập công nghệ cũ kỹ, lạc hậu của nước ngoài (ví dụ như công nghệ sản xuất xi-măng bằng lò đứng từ Trung Quốc) để tránh nguy cơ nước ta trở thành nơi chứa rác thải công nghệ. Nhà nước nên cử các các bộ về thẩm định đi học ở nước ngoài, sử dụng phương pháp chuyên gia trong đánh giá chất lượng công nghệ. Hạn chế tối đa việc nhập khẩu hàng tiêu dùng, phương tiện đi lại (xe máy, xe ô tô bốn chỗ) thay vào đó phải đẩy mạnh sản xuất các linh kiện, phụ tùng và lắp ráp trong nước. Nhà nước phải tìm mọi cách ngăn chặn tình trạng nhập lậu hàng hoá. Muốn thế, đội ngũ cán bộ ngành Hải quan cần được cung cấp phương pháp, kỹ năng, trang thiết bị hiện đại cũng như việc nâng cao tư cách, đạo đức nghề nghiệp. Thông qua thực hiện một số giải pháp cơ bản về xuất nhập khẩu như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể tăng xuất khẩu cả về lượng và chất, đem về nhiều ngoại tệ, đáp ứng nhu cầu nhập khẩu phục vụ sản xuất trong nước, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và giữ cho giá trị đồng tiền không sụt giảm quá nhiều, gây dựng lòng tin của người dân vào đồng nội tệ. c. Chính sách quản lý ngoại hối Chính sách quản lý ngoại hối liên quan trực tiếp đến vấn đề điều hành cơ chế tỷ giá hối đoái, đến cung cầu ngoại hối trên thị trường và do vậy ảnh hưởng đến kim ngạch nhập khẩu khi quy đổi từ ngoại tệ ra nội tệ, đến nợ nước ngoài của Chính phủ. Đến lượt mình, kim ngạch xuất nhập khẩu và ngân sách lại gây áp lực tăng hoặc giảm tỷ lệ lạm phát . Trong tương lai, lượng ngoại tệ lưu chuyển trong nền kinh tế ngày càng lớn với số lượng các giao dịch ngày càng nhiều, tính chất ngày càng phức tạp đòi hỏi Nhà nước phải hoàn thiện khung pháp lý để kiểm soát được lượng ngoại tệ sử dụng trong nền kinh tế, khắc phục hiện tượng đô-la hóa, thu hút được vốn nhàn rỗi trong dân, tạo điều kiện để cho các ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động kinh doanh với khách hàng. Các giải pháp sau đây sẽ giúp thực hiện những yêu cầu đó: Nghiên cứu xây dựng Luật quản lý ngoại hối thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Theo đó, Nhà nước đã tạo một khung pháp lý để điều chỉnh các hoạt động liên quan đến ngoại hối, vừa đảm bảo tính chặt chẽ, nhất quán của thị trường ngoại hối, vừa tạo điều kiện cho các thành viên tham gia thị trường yên tâm về tính ổn định, nghiêm minh của luật. Ban hành các quy định tạo môi trường pháp lý để các ngân hàng có thể cung cấp cho doanh nghiệp các dịch vụ như nghiệp vụ hối đoái tương lai, nghiệp vụ hối đoái quyền chọn. Biện pháp này sẽ giúp các ngân hàng nâng cao khả năng cung ứng dịch vụ và cạnh tranh được với các ngân hàng nước ngoài trong tiến trình hội nhập. Tiến tới ban hành quy chế về sự ra đời và hoạt động của thị trường ngoại hối mà ở đó không chỉ các tổ chức tín dụng mà cả các doanh nghiệp, các cá nhân được phép tham gia. Cách này sẽ tập trung được lượng ngoại tệ trôi nổi trong các tổ chức, cá nhân mà hiện nay Nhà nước chưa kiểm soát được. Nhà nước cần hoàn thiện hơn nữa thị trường ngoại tệ và thị trường tiền tệ liên ngân hàng để tỷ giá trên thị trường này trở thành tỷ giá cơ bản, phản ánh đúng quan hệ cung cầu ngoại hối và lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng trở thành lãi suất cơ bản, thể hiện cân bằng cung cầu vốn của nền kinh tế. Trước mắt, Nhà nước cần xem xét lại các quy định vẫn được áp dụng hệ thống ngân hàng thương mại ở nước ta nhằm sửa đổi sao cho phù hợp với điều kiện cạnh tranh mới và yêu cầu mới của khách hàng ở nước ta theo hướng xoá bỏ những quy định cản trở các ngân hàng mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực tài chính khác. Chẳng hạn, cần điều chỉnh lại quy định về trạng thái ngoại tệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Như đã phân tích trong công trình này, quy định trạng thái ngoại tệ đối với USD bằng 15% vốn tự có của các ngân hàng thương mại là chưa phù hợp với quy mô vốn tự có rất ít của các ngân hàng này. Nhà nước cần tạo sự chủ động, linh hoạt hơn cho hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại bằng cách quy định trạng thái đối với các ngoại tệ (chứ không chỉ riêng đồng USD) dựa trên tài sản có ngoại tệ. Tỷ lệ trạng thái các ngoại tệ/ tài sản có nên được nới rộng và thay đổi tuỳ theo thời kỳ, hiện nay có thể để ở mức khoảng 30%. Đối với các doanh nghiệp, Nhà nước nên giảm dần tỷ lệ kết hối ngoại tệ, tiến tới xoá bỏ quy định này vào năm 2003. Theo đề nghị của nhiều doanh nghiệp, Nhà nước nên giảm tỷ lệ kết hối hiện nay là 30% xuống còn từ 15 - 20%. Việc làm này tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh. Đồng thời Nhà nước cần tích cực tạo quỹ dự trữ ngoại hối đủ lớn, tương xứng với tốc độ tăng của kim ngạch xuất khẩu để có thể sử dụng nó một cách hiệu quả, kịp thời trong việc điều tiết nền kinh tế, tránh tình trạng tỷ giá biến động quá mạnh, gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế, và ảnh hương xấu đến tình hình lạm phát. d. Cải cách hành chính Bên cạnh các chính sách trên, cải cách hành chính là việc làm không thể thiếu bởi nó là môi trường phát triển của nền kinh tế. Sự rườm rà của các thủ tục hành chính chẳng hạn như việc cấp một giấy đăng ký xe máy ở Hà Nội phải dựa vào 54 loại văn bản giấy tờ [10] đã và đang làm hao phí thời gian, nguồn lực của xã hội trong việc quản lý, triển khai chúng đồng thời tạo cơ hội cho nạn tham những phát triển. Tham nhũng làm giảm lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài cũng như trong nước vào những cam kết khác của Nhà nước về chống buôn lậu, chống đầu cơ, chống sản xuất và buôn bán hàng giả; vào môi trường cạnh tranh và môi trường xã hội, từ đó ảnh hưởng đến lạm phát. Một bộ máy nhà nước trong sạch, không có tham nhũng, các thủ tục hành chính đơn giản, minh bạch sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. 2.6. Nâng cao trình độ nền sản xuất Trình độ còn thấp kém của nền sản xuất là nhân tố hết sức cơ bản dẫn đến thực trạng lạm phát và giảm phát như những năm qua, đặc biệt là giai đoạn từ 1990 đến nay. Một đất nước đi lên từ xuất phát điểm thấp thì các chính sách như chính sách tài chính tiền tệ, chính sách quản lý ngoại hối, chính sách ngoại thương tuy có vai trò quan trọng nhưng không thể tạo ra những bước đột phá về chất lượng cũng như giá trị của hàng hoá. Khi thu nhập của đại bộ phận dân số còn thấp thì kích cầu cũng chỉ là giải pháp tình thế. Điều quan trọng là chúng ta phải nâng cao trình độ của nền sản xuất để khắc phục các “căn bệnh” kinh niên của nền kinh tế như: vốn ít, công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý và kỹ năng của người lao động còn thấp kém. Để giải quyết vấn đề vốn, nước ta phải tiếp tục phương châm: vốn trong nước là quyết định, vốn từ nước ngoài có vai trò quan trọng. Thực tế những năm qua, Nhà nước đã làm theo phương châm này, nhưng so với các nước trong khu vực, năng lực tích lũy nội bộ nền kinh tế còn thấp. Nguồn vốn trong nước chỉ có thể tăng khi Chính phủ, các thành phần kinh tế và mọi cá nhân tích cực tiết kiệm nhằm tích lũy vốn. Vai trò phát động, kêu gọi phong trào tiết kiệm trong cả nước có ý nghĩa to lớn, mà điều đặc biệt quan trọng là Chính phủ phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách để vừa gia tăng được nguồn thu, vừa tránh lãng phí nguốn vốn còn ít ỏi. Đi đôi với tích luỹ vốn, các biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài như đã nêu trong phần a, mục 2.5 cần được thực hiện càng sớm càng tốt. Về bài toán công nghệ hiện nay còn lạc hậu, chúng ta không có cách nào khác là vừa đầu tư hơn nữa cho hoạt động nghiên cứu sáng chế và ứng dụng công nghệ (đặc biệt là việc ứng dụng) để có thể “đi tắt đón đầu”, vừa phải xem xét lựa chọn công nghệ khi nhập khẩu để tránh biến nước ta thành bãi thải công nghệ của các nước trên thế giới. Đây là công việc gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng thực hiện của Chính phủ mà cụ thể là Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường. Trong các nhân tố cấu thành nền sản xuất xã hội, con người bao giờ cũng là nhân tố quyết định. Một quốc gia không thể tăng trưởng và phát triển khi trình độ dân trí thấp, các giá trị đạo đức bị suy đồi. Đầu tư hiện nay của Chính phủ cho giáo dục và đào tạo ngày càng tăng nhưng chưa tương xứng với yêu cầu phát triển kinh tế, Nhà nước phải đầu tư nhiều hơn cho việc đào tạo, sử dụng trí thức, bồi dưỡng nhân tài; hỗ trợ những người gặp hoàn cảnh khó khăn nhưng có tài và hiếu học bằng cách cấp tín dụng học tập trong thời hạn từ 3 đến 5 năm, khi họ đi làm sẽ thu hồi nợ dần dần. Nhà nước cần tích cực kêu gọi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia hỗ trợ, đỡ đầu cho họ trong học tập và tìm kiếm việc làm. Hơn nữa, khi ở nước ta tồn tại tình trạng thừa thầy thiếu thợ, số lượng cử nhân thất nghiệp hoặc làm trái nghề rất nhiều trong khi người ta vẫn ưu tiên đại học là lựa chọn số một cho con em mình, thì một chương trình nâng cấp cả về số lượng và chất lượng các trung tâm dạy nghề, cho phép và khuyến khích nước ngoài, tư nhân trong nước đầu tư vào lĩnh vực này sẽ làm thay đổi đáng kể tình hình hiện nay. Vấn đề phối hợp đồng bộ các chính sách Các chính sách kinh tế có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại và bổ sung cho nhau. Muốn việc triển khai các biện pháp trên đạt hiệu quả cao, tức là đạt được mục tiêu của chính sách, chúng ta không thể thực hiện từng chính sách rời rạc, tuỳ tiện mà phải đặt chúng trong một tổng thể, tức là phải phối hợp được đồng bộ các chính sách. Từ điển kinh tế kinh doanh do Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật ấn hành năm 1996 viết: "phối hợp đồng bộ chính sách (policy mix) là sự phối hợp các chính sách nhằm đạt được một mục tiêu nào đó". Mục tiêu kiểm soát lạm phát không phải là cái đích của chính sách mà là phương tiện đạt được các mục tiêu khác nữa cho nền kinh tế như: ổn định kinh tế (ngân sách cân bằng, giá trị đồng tiền ổn định, ổn định tỷ giá hối đoái và cân bằng cán cân thanh toán quốc tế), tăng trưởng kinh tế trong dài hạn và đảm bảo công bằng xã hội. Trong đó, mục tiêu kinh tế - xã hội tổng hợp được các chính phủ đặt lên hàng đầu là ổn định và phát triển nền kinh tế. Để công tác kiềm chế lạm phát thực sự đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế, Nhà nước phải nhất quán trong chỉ đạo xây dựng, ban hành các chính sách: Chính phủ là nơi đưa ra các chính sách qua cơ chế các bộ, ngành xây dựng và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Khi định ban hành một quy định mới, Nhà nước phải xác định xem nó sẽ dẫn tới những biến đổi gì trong nền kinh tế để đưa ra các chính sách đi kèm. Chính phủ cũng nên thành lập một cơ quan chuyên nghiên cứu về phối hợp đồng bộ các chính sách và tư vấn cho Chính phủ. Kết luận Qua quá trình tìm hiểu các sách báo, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, khóa luận đã đạt được một số kết quả như sau: Phân tích một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản về lạm phát và giảm phát, bao gồm: khái niệm, phân loại, cách đo lường lạm phát; các nguyên nhân gây ra lạm phát và giảm phát; mối quan hệ giữa lạm phát và một số biến số kinh tế vĩ mô (lãi suất, thất nghiệp); tác động của lạm phát, giảm phát đến nền kinh tế. Từ đó, khóa luận trình bày các giải pháp về mặt lý thuyết để đối phó với lạm phát và giảm phát. Nghiên cứu tốc độ lạm phát, giảm phát; các nguyên nhân dẫn đến lạm phát, giảm phát; tác động của lạm phát cũng như giảm phát tới nền kinh tế và các chính sách mà Chính phủ đã áp dụng để kiềm chế lạm phát, khắc phục giảm phát tại Việt Nam qua 4 giai đoạn: trước tháng 5/1988, từ tháng 5/1988 đến 1990, giai đoạn 1991 - 1998 và từ 1999 đến nay; đặc biệt, hai giai đoạn gần đây nhất được nghiên cứu kỹ hơn. Khoá luận cũng đưa ra những đánh giá chung về các giải pháp của Chính phủ. Xem xét xu thế lạm phát, giảm phát và rút ra những khó khăn trong công tác kiềm chế lạm phát, ngăn ngừa giảm phát từ nay đến năm 2010 ở nước ta. Những khó khăn này, cùng với những tồn tại về những chính sách của Chính phủ đã được tổng hợp ở cuối chương II là cơ sở để khóa luận nêu lên nhiệm vụ của các giải pháp ứng phó với lạm phát và giảm phát; đồng thời đề xuất các biện pháp (chuyển dịch cơ cấu đầu tư, nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư; giảm thâm hụt ngân sách nhà nước; phát triển hệ thống ngân hàng; cải cách khu vực kinh tế nhà nước; hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, cải cách hành chính và nâng cao trình độ nền sản xuất) để giải quyết các vướng mắc đã nêu. Đây là khối lượng công việc rất lớn, nếu không được tổ chức triển khai một cách khẩn trương, đồng bộ và có hệ thống thì Việt Nam khó có khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế - nhân tố quyết định sự thắng lợi của công cuộc kiềm chế lạm phát, khắc phục giảm phát.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docluanvanlinhngoaithuong.doc
  • docphu luc.doc
  • docbia.doc
  • docmuc luc.doc
  • docloi cam on.doc
  • docdanh muc tham khao.doc
Tài liệu liên quan