Đề tài Thực trạng quan hệ phân phối ở nước ta và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối trong thời gian tới

Phân phối đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó nối liền sản xuất với sản xuất ,sản xuất với tiêu dùng ,nối các thị trường trong nền kinh tế .Một chế độ phân phối đúng đắn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tăng nhanh nhằm đưa Nền kinh tế lên một tầm cao mới Trong những năm vừa qua, nhà nước ta đã có nhiếu cố gắng trong việc giải quyết vấn đề phân phối, các vấn đề về tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, bảo hiểm trợ cấp xã hội nhằm tháo gỡ những khó khăn trong phân phối để cởi trói cho lĩnh vực sản xuất. Mặc dù vậy chúng ta vẫn còn nhiều chỗ chưa hợp lý trong phân phối dẫn đến nhiêù hạn chế trong việc thực hiện. Để tiến lên chủ nghĩa xã hội thì trước hết nước ta phải giải quyết tốt các vấn đề của quan hệ phân phối.

doc31 trang | Chia sẻ: aloso | Lượt xem: 1708 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng quan hệ phân phối ở nước ta và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối trong thời gian tới, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
t này bao gồm hai chương, trình bày từng nội dung cụ thể về một số vấn đề cơ bản về quan hệ phân phối , thực trạng quan hệ phân phối ở nước ta và một số giải pháp nhằm thực hiện quan hệ phân phối trong thời gian tới Cuối cùng emxin chân thành cảm ơn thầy giáo: Tiến Sĩ Trần Việt Tiến đã hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành đề án này. B - Nội dung Chương 1: Một số vấn đề về quan hệ phân phối 1.1. Quan điểm và bản chất của quan hệ phân phối 1.1.1. Một số quan điểm về phân phối Mỗi xã hội có các quan hệ sở hữu về quan hệ sản xuất , đó là các mối quan hệ giữa người và người trong sản xuất và trong phân phối , trong trao đổi và trong tiêu dùng .một cách thức nhất định của việc tham gia vao quá trình sản xuất quyết định một hình thái đặc thù của việc tham gia vào phân phối .một cá nhân tham gia sản xuất dưới trạng thái tư bản thì cũng tham gia vao quá trình phân phối sản phẩm dưới hình thức lợi nhuận và lợi tức, nhưng nếu tham gia dưới hình thái lao động làm thuê thì cũng tham gia vao qua trình phân phối dưới hình thái tiền công.cách thức phân phối đó xuất hiện khi phương tức sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện và cũng sẽ biến đi với việc thủ tiêu chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất . xét trên chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá trong đó lam củ tập thể về văn hoá làm cơ sở . làm chủ tập thể về kinh tế bao gồm lam chủ tập thê về tư liệu sản xuất , làm chủ tập thể về lượng sản xuất , làm chủ tập thể về tổ chức va quản lí , làm chủ tập thể về phân phối . trong chế độ làm chủ tập thể về kinh tế thì làm chủ tập thể về tư liệu sản xuất la cơ sở, là điều kiện đảm bảo làm chủ tập thể về phân phối . một khi tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân lao động thì của cải làm ra chỉ có thể phục vụ lợi ích cho nhân dân lao động . Như vậy, có thể nói dựa trên sự sở hữu về tư liệu sản xuất mà xác định phân phối thông qua mức độ đóng góp trong quá trình sản xuất , những chr thể nào nắm trong tay nhiều tư liệu sản xuất thì có quyền đòi hỏi phân phối nhiều hơn so với người khác . phân phối là một khâu không thể thiếu được trong quá trình tái sản xuất , qua phân phối mà chủ sở hữu từ hình thức pháp lí sẽ được thực hiện về mặt kinh tế , nhận được phần sở hữu của mình có được nhờ sự đóng góp tư liệu sản xuất . 1.1.2. Tổng quan quan điểm về quan hệ phân phối của CacMac và Ăngghen Phân phối thu nhập là một phạm trù kinh tế thể hiện các quan hệ kinh tế, những lợi ích kinh tế phản ánh lợi ích nhu cầu động cơ khách quan về hoạt động của các giai cấp , những nhóm xã hội hay của từng cá nhân tham gia vào các hoạt động kinh tế , mối quan hệ này do các quan hệ sản xuất quyết định .trong quan hệ phân phối đơn giản chỉ là việc xác định tỉ lệ phân chia mà mỗi cá nhân nhận được dựa vào mức đóng góp vào sản phẩm của cá nhân đó .phần người đó nhận được lại được dùng trong trao đổi phụ vụ cho nhu cầu của họ, cuối cùng trong tiêu dùng các sản phẩm trở thành những đối tượng tiêu dùng và đối tượng của việc chiếm hữu cá nhân.sản phẩm được sản suất ra theo nhu cầu của xã hội,sự phân chia các sản phẩm theo qui luật của xã hội dựa trên sự trao đổi , nhờ trao đổi các sản phẩm lại được phân phối theo nhu cầu cá biệt và như vậy trong tiêu dùng các sản phẩm trở thành đối tượng phục vụ cho nhu cầu cá biệt .có thể nói , phân phối là khâu trung gian giữa sản xuất va tiêu dùng , thực chất thì sản phẩm sản xuất ra cũng chỉ để tiêu dùng phục vụ một số đối tượng trong xã hội hay của toàn xã hội nhưng trước khi tới tiêu dùng phải qua khâu phân phối .và các quan hệ phân phối cũng được coi như quan hệ giữa chủ thể sản xuất và chủ thể tiêu dùng . Phân phối là một khái niệm rộng , tuỳ theo người ta xem xét ở những góc độ khác nhau nào có nội dung phân phối khác nhau . phân phối thu nhập quốc dân , phân phối theo lao động , phân phối theo giá trị hay theo vốn , theo tài sản...mỗi một phương thức sản xuất khác nhau có quan hệ sản xuất khác nhau .quan hệ sản xuất chịu tác động của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất về tính chất , trình độ . trong xã hội của cải phần lớn được sản xuất ra nhờ vào các tổ chức hay nhóm người , do một tập thể lao động và quan hệ giữa các thành viên quyết định hình thức phân phối dựa trên sự sở hữu về tư liệu sản xuất .trình độ của lực lượng sản xuất cũng góp phần tác động đến phân phối , người có trình độ cao có khả năng tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị người đó sẽ quyết định lao động thế nào ứng với phân phối tương ứng với sức lao động bỏ ra .trong hệ thống quan hệ sản xuất , quan hệ sở hữu về quan hệ sản xuất quyết định tính chất của quan hệ phân phối . đến lượt nó , quan hệ phân phối là cái đảm bảo cuối cùng để quan hệ sở hữu từ hình thức pháp lí được thực về mặt kinh tế . Trong xã hội , của cải sản xuất ra không phải tất cả được phân phối trực tiếp cho người lao động làm ra nó mà còn liên quan đến nhiều vấn đề xã hội .phân phối cho người công nhân dưới hình thức tiền lương , tiên công , đối với nhà sản xuất thì đó là lợi nhuận , đối với xã hội thì đó là các quỹ phúc lợi , chi phí quản lí nhà nước , củng cố quốc phòng ...toàn bộ của cải của xẫ hội được sản xuất ra được phân phối cho các đối tượng trên bằng nhiều hình thức khác nhau . trong mỗi khía cạnh khác nhau có nội dung khác nhau và cách nhìn nhận khác nhau . 1.1.3. Vị trí của phân phối trong quá trình tái sản xuất xã hội 1.1.3.1 Mối quan hệ giữa phân phối và sản xuất Trong quá trình tái sản xuất,sản xuất đóng vai trò quyết định đối với phân phối.Tước hết, sản xuất tạo ra đối tượng và vật liệu cho phân phối,quyết định quy mô cơ cấu của cải để phân phối. Quy mô và cơ cấu của cải sản xuất ra tuỳ thuộc vào hai nhân tố chính :tổng khối lượng lao động sử dụng trong khu vực sản xuất vật chất và năng xuất lao động xã hội .Phân phối không thể vượt quá khả năng cho phép của sản xuất, thu nhập thực tế chỉ có thể tăng lên theo đà của sản xuất nhưng tốc độ tăng lên của thu nhập thực tế phải chậm hơn tốc độ tăng lên của sản xuất, có như vậy mới đảm bảo tái sản xuất mở rộng.Trong điều kiện kỷ thuật thủ công ,năng suất lao động thấp,không thể có nhiều của cải để phân phối được .con được cơ bản để nhanh chóng cải thiện việc phân phối là đẩy mạnh sản xuất,nâng cao năng suất lao động xã hội .Nghị quyết Đại hội thứ V của đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ :”Chúng ta phải sống phù hợp với kết quả lao động của mình,không tiêu dùng qua giới hạn mà mức sản xuất cho phép”. Phân phối lại tác động đến sản xuất , nó trực tiếp tạo ra động cơ thúc đẩy sản xuất phát triển . con người hoạt động trong các lĩnh vực mục đích cuối cùng cũng là để tim kiếm lợi ích nào đó để thoã mãn các nhu cầu của mình , lợi ích càng nhiều càng thúc đẩy họ lao động hăng say , nhiệt tình với công việc .cũng vì hướng tới các lợi ích mong muốn mà con người không ngừng học hỏi kinh nghiệm , nghiên cứu khoa học mong muốn có trình độ để có thể kiếm được các lợi ích trong phân phối .như vậy , mối quan hệ này có tính chất hai chiều tác động lẫn nhau tạo đà cho sự phát kinh tế xã hội . 1.1.3.2. Mối quan hệ giữa phân phối và tiêu dùng Trong qua trình tái sản xuất xã hội , tiêu dùng là khâu cuối cùng và là mục đích của sản xuất . do đó , tiêu dùng cũng là mục dích trtực tiếp của phân phối , vì tiêu dùng hàng ngày mà con người quan tâm đến cái mà người ta được phân phối . tuy nhiên , phân phối lại có tác động to lớn đến tiêu dùng , nó có tác động trực tiếp đối với tiêu dùng . xét cho đến cùng thì sản xuất quyết định tiêu dùng , nhưng nếu muốn có tiêu dùng thật sự thì phải thông qua phân phối , việc phân phối tốt hay không tốt hợp lí hay không hợp lí sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu dùng . thể hiện là ở cùng một thu nhập quốc dân như nhau nhưng tỉ lệ phân phối cho tích luỹ và tiêu dùng khác nhau thì cho kết quả khác nhau . với một số vật phẩm tiêu dùng như nhau nhưng chính sách phân phối khác nhau thì kết quả tiêu dùng của các thành viên trong xã hội sẽ khác nhau .thậm chí với điều kiện sản xuất và thu nhập quốc dân thấp nhưng nếu có một phương án phân phối hợp lí thì cũng có thể đem lại một đời sống hợp lí . trong xã hội tư bản sản phẩm làm ra rất nhiều do họ có năng suất lao động rất cao nhưng do quan hệ sản xuất mang tính chất tư bản chủ nghĩa nên đã tạo ra một sự chênh lệch lớn về mức sống trong xã hội : giai cấp tư bản sống rất sung sướng , ăn chơi xa xỉ trong khi đó quần chúng lao động lại có cuộc sống cơ cực , chỉ đủ tái sản suất sức lao động tối thiểu .chế độ xã hội chủ nghĩa xã hội đã có sợ thay đổi căn bản trong quan hệ phân phối đem lại đời sống ổn định và ngày càng được cải thiện .do vậy , chích sách phân phối có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập của tầng lớp trong xã hội , liên quan đến đời sống nhân dân , vấn đề công bằng xã hội . 1.1.3.3. Mối quan hệ giữa phân phối và trao đổi . Phân phối và trao đổi là hai khâu trung gian nối tiếp nhau của quá trình tái sản xuất xã hội .sản phẩm làm ra trước lúc đem trao đổi phải qua khâu phân phối .trong diều kiện còn có sản xuất hàng hoá thì công việc phân phối thông qua trao đổi hàng hoá .hàng hoá bán ra với số lượng nhiều hay ít , chất lượng tốt hay sấu , giá cả cao hơn hay thấp v..v..điều ảnh hưởng tới việc phân phối . Trong xã hội tư bản , do tình trạng cạnh tranh và sản xuất vô chính phủ nên giá cả lên suống thất thường , đồng thời do lạm phát nên giá cả tăng lên ,tạo nên một sự phân phối lại có lợi cho giai cấp tư bản gây thiệt hại cho nhân dân lao động . trong xã hội chủ nghĩa nhà nước kế hoạch hoá tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất , với số lượng hàng hoá ngày càng nhiều , giá cả hàng hoá ổn định nên tiền lương thực tế của công nhân viên chức được đảm bảo . do đó vấn đề đặt ra cho chính phủ là làm thế nào để mức phân phối tối thiểu vẫn có thể thực hiện trao đổi lấy những nhu yếu phẩm đảm bảo cho cuộc sống của người dân . 1.2. Đặc điểm về quan hệ phân phối và một số nguyên tắc phân phối ở Việt Nam 1.2.1. Đặc điểm về quan hệ phân phối ở Việt Nam Nước ta là một nước xã hội chủ nghĩa dựa trên nhưng lý kuận của Cac - Mac xây dựng một nhà nước kiểu mới trong đó mục tiêu là thiết lập một xã hội mới không có bóc lột ,mọi người làm việc và hưởng thành quả theo đúng với sự đóng góp của mình,thiết lập một xã hội công bằng văn minh .Do đó quan hệ phân phối ở nước ta có khác với các nước xã hội tư bản. Phân phối được coi là một yếu tố quan trọng trong quan hệ sản xuất nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng phục vụ và thúc đẩy cả quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất phát triển .Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ,trong nền kinh tế nhiều thành phần ,tương ứng với mỗi thành phần có một hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất làm cơ sở ,Mỗi thành phần kinh tế chịu sự tác động của các quan hệ phân phối khác nhau ,do vậy trong thời kì quá độ ,quan hệ phân phối không thuần nhất mà mang tính đa dạng .Trong xã hội chủ nghĩa sự chiêm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất dần được xoá bỏ nhưng chưa hoàn toàn nên quan hệ sở hữu tư liệu sản súât vãn quyết định quan hệ phân phối .Hơn nữa ,nước ta đang trong giai đoạn hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường địng hướng xã hội chủ nghĩa ,trong đó kinh tế thị trường là cái chung ,định hướng xã hội chủ nghĩa là cái đặc thù của các nước xã hội chủ nghĩa nói chung và nước ta nói riêng. Bơỉ vậy quan hệ phân phối có sự kết hợp các hình thức phân phối của nền kinh tế thị trường với các nguyên tác phân phối của chủ nghĩa xã hội trong đó nguyên tác này là chủ đạo. Đại hội Đảng toàn quốc lan VIII đã chỉ rõ :’’thực hiện nhiều hình thức phân phối lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu , đồng thời phân phối dựa theo mức đóng góp nguồn lực vào kết quả quá trình sản xuất kinh doanh vầ phân phối thông qua phúc lợi xã hội đi đôi với chính sách điều tiết hợp lí bảo hộ quyền lợi của người lao động’’(văn kiện đại hội đảng lần thứ VIII, nxb sự thật ,Hà Nội trang 114-115) Nước ta đang tiến tới chế độ công hữu toàn dân về tư liệu sản xuất phân phối là mội khâu quan trọng được nhà nước trực tiếp chỉ đạo. phân phối bao gồm cả phân để phục vụ tái sản xuất xem là yếu tố của sản xuất và phân phối tiêu dùng coi là kết quả của quá trình sản xuất . Do đó tất cả sản phẩm của xã hội làm ra không phải phân phối toàn bộ cho tiêu dùng cá nhân ,trước hết , một phần của cải xã hội được dùng để bù đắp những tư liệu sản xuất đã hao phí trong quá trình sản xuât trước đây để thực hiện tái sản xuất . Một phần sản phẩm xã hội dùng trong việc mở rộng sản xuất , thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng nhăm thúc đẩy sản xuất phát triển nó được dùng trong việc mở rộng sản xuất về mặt qui mô ,đỏi mới công nghệ nâng cao trình độ công nhân ... thiết lập các quĩ dự phòng để phòng tránh thiên tai dịch bệnh hoả hoạn hoặc chống trả kẻ thù xâm lược... Qũi này nhằm đảm bảo cho xã hội phát triẻn vững chắc trong tương lai chống trả những tai hoạ bất ngờ .Những phần này làm cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng cùng đồng thời tránh nguy cơ tụt hậu,bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc .Một phần nữa bị các xén vào sự nghiệp công cộng và cứu tế xã hội.Phần này dùng để tạo ra các công trình công cộng phục vụ xã hội ,trợ cấp thất nghiệp ,phát triển hộ nghèo...Cuối cùng mới đuọc phân phối phục vụ tiêu dùng cá nhân cho những người làm việc trong nền sản xuất xã hội tương ứng với số lương và chất lượng của lao động cũng như số vốn và tài sản mà họ bỏ ra trong quá trình sản xúât .Như vậy xét một cách tổng quát thì dù phân phối theo hình thức nào mục đích cũng đều phục vụ cho xã hội vì lợi ích của toàn dân ,đây là điểm khác biệt lớn nhất so với các nước xã hội tư bản. Qua đó thấy được bản chất của quan hệ phân phối dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.Mọi quan hệ phân phối đều vì lợi ich người lao động trong xã hội 1.2.2. Một số nguyên tắc phân phối cơ bản ở Việt Nam 1.2.2.1. Phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế Phân phối hình thành thu nhập trong nền kinh tế thị trường là phân phối về tiền lương ,lợi nhuận ,lợi tức,địa tô cho chủ các yếu tố sản xuất .Từ đó hình thành nên thu nhập cấ nhân trong nền kinh tế. Đây là những khoản thu nhập chình đáng phản ánh đúng mức lao động đã đóng góp vào sản phẩm . phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là một qui luật kinh tế khách quan của chủ nghĩa xã hội. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ,chế dộ người boc lột người bị phá bỏ ,nhân dân lao động là chủ tập thể đối với tư liệu lao động và về sản phẩm lao động .vì vậy phân phối sản phảm làm ra phải vì lợi ích của người dân lao động nhăm đảm bảo thoả mãn ngay càng cao hơn nhu cầu về vật chất và văn hoá thường xuyên tăng lên và đảm bảo sự phát triên tụ do và toàn diện của tất cả các thành viên trong xã hội . Người lao động được xác lập quyền làm chủ ai cũng có quyền làm chủ xã hội như nhau.Bơỉ vậy kết quả lao động và hiệu quả kinh tế đang tơ thành cơ ssơ quyết định địa vị xã hội và phúc lọi vât chất của mỗi người. Hơn nữa trong các nước xã hội chủ nghĩa vẫn còn sự khác biệt giữa các loại lao động lao động trí óc,lao động chân tay lao động giản đơn ...do xuất phát từ sự đổ nát của xã hội tư bản sự phát triển còn yếu kém hơn nữa có sự pha lẫn nông nghiệp công nghiệp ,dịch vụ và các nghành nay không tương đồng trong nền kinh tế .chính vì vậy mà kết quả của lao động cũng ít nhiều khác nhau do vậy vẫn còn dựa vào kết quả để phân phối .Đồng thời do sự phát triển của lực lượng sản xuất chưa đảm bảo một mức năng xuất cao tới mức ma có thể thực hiện được “lao động theo năng lực,hưởng theo nhu cầu, của cải sản xuất ra trong xã hộ chưa đạt mức dư thừa thạm trí còn thiếu hụt mặt khác trong xã hội không phải ai cũng muón lao động ,có những người muốn trút bỏ gánh nặng lao động cho người khác trong tình hình đó phân phối theo lao động là hợp lí .Do đó để phân phối công bằg hiệu quả thì cần phải dựa vào kết quả lao động và hiệu quả kinh tế của từng người. Đồng thời phân phối theo lao động có tác dụng thúc đẩy sản xuất ngày càng phát triển ,theo đà đos làm cho lực lượng sản suất phát triển theo . Trong giai đoạn này thì sụ phát triển của lực lưọng sản xuất càng có ý nghĩa ,có như vậy mới mong tiến tới được giai đoạn cộng sản .thu nhập ở đây là thành quả của lao động,nên nó trực tiếp tác động vào tính tích cực của lao động xã hội .Người công nhân vì phần thu nhập này mà cố găng sức trong sản xuất ,đúc rút kinh nghiện và vì vậy năng xuất lao động xã hội ngày càng tăng.Do đó phân phối theo lao động được coi la một nguyên tác phân phối cơ bản trong chủ nghĩa xã hội . Để đảm bảo cho nguyên tắc phân phối theo lao động thì đòi hỏi việc trả công phải căn cứ vào số lượng và chất lượng của mỗi người ,phải trả công bằng nhau cho những lao động như nhau ,trả công khác nhau cho những lao động khác nhau ,không phân biệt nam nữ tuổi tác dân tộc. Chính vì vậy phải được đảm bảo hai điều kiện tiên quyết : Một là ,trong chủ nghĩa xã hội phải là chủ nghĩa bình quân tiểu tu sản trong việc trả lương người lao động và coi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thể hiện trên tất cả yếu tố của nó. Về tư liệu sản xuất, phương thức sản xuất ,công nghệ sản xuất ...với các tính chất xã hội hoá cao trình độ phát triển cao sẽ tạo ra một quan hệ sản xuất moéi dựa trên cơ sở công hữu về mặt tư liệu sản xuất dẫn đến sự phân phối đúng với sức lao động mình bỏ ra. Hai là cơ sở kinh tế xã hội chỉ là điều kiện cần cơ chế thị trường phải có thì sản phẩm mới được thực hiện ,mới trở thành hàng hoá và có khả năng trao đổi thông qua mặt hàng bằng giá cả. lúc này ,lao động cụ thể khac nhau trong các lĩnh vụ hoạt động khác nhai mới trở thành lao động xã hội .Đồng thời giảm khuynh hướng đòi mở rộng quá mức khoảng cách giữa các bậc lương ,khoảng lương một cách không có căn cứ kinh tế và đòi hơi sự ưu đãi đặc biệt với một số người. Phân phối theo kết quả lao động sẽ mang lại kết quả ,tác dụng to lớn đối với xã hội bản thân người lao động. Trước hết nó đáp ứng được những đòi hỏi cấp bách của sự ‘công bằng xã hội’đang đặt ra, bởi đó là sự phân phối đúng với sức lao động mà họ bỏ ra ,đóng góp vào trong quá trình sản xuất và có sự kết hợp giữa lọi ích của từng cá nhân người lao động. Chính vì sự phân phối theo lao động sẽ dẫn đến những người lao động sẽ đi sâu tìm tòi nghiên cứu nghề nghiệp chuyên môn của mình nhăm nâng cao năng xuất lao động ,nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Như vậy ,lượng người tham gia vào lao động lành nghề sẽ càng đông hơn và người lao đọng sẽ ra sức tìm tòi nghiên cứu kỹ thuật tạo ra sự khác biệt giưã lao động chân tay và lao động trí óc nâng cao chất lượng lao động tiếp theo lao động chân tay sẽ được thay thế bằng lao động trí óc. Tiếp nữavới sự phân phối theo lao động người lao động sẽ tìm được công việc hợp với sức lao động ,khả năng lao động của mình hơn là sự nâng cao năng xuất lao động cùng với sự chi phối điều tiết của nhà nước. Người lao động sẽ được xắp xếp phân chia những công việc phù hợp với khả năng của mình sự điều tiết của nhà nước sẽ tạo điều kiện cho việc phân bổ việc sủ dụng lao đọng ổn định trong cả nước ,đảm bảo cho sản xuát và xã hội phát triển ở tất cả các vùng ,các ngành kinh tế.phân phối theo lao động cótác động đối với thái độ của người lao động làm cho hộ có sự kỷ luật lao động cao ,buộc mỗi người vì lợi ích bản thân mình mà quan tâm đế kết quả lao động làm cho sản xuất ngày càng phát triển. 1.2.2.2. Thu nhập từ phân phối theo vốn hay tài sản. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ,nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế ,mỗi thành phần kinh tế ứng với một hình thái phân phối phù hợp nhất định .Nhưng đối với thành phần kinh tế nhà nước thì phân phối theo hình thức phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế thì các thành phần kinh tế khác do có quan hệ sản xuát khác nên phân phối cũng theo hình thức khác nhau. Trong các thành phần này đối với lao động sống thì quan hệ phân phối dựa vào giá trị sức lao động sức lao động trở thành một thứ hàng hoá ,số tiền mà người lao động nhận được là giá của sức lao động. Điều này biểu hiện rõ nét trong các doanh nghiệp của thành phần kinh tế nào có quan hệ chủ nợ ,trong đó người lao động được trả công theo thoả thuận ban đầu. Và nó sẽ không rõ nét trong trường hợp trong thành phần kinh tế cá thể,ở thành phần này thì công và lãi đều thuộc về họ. Còn đối với những lao động quá khứ biểu hiện ở giá trị tài sản hay vốn có tác dụng tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra lợi nhuận mặc dù không trực tiếp nhưng nó phải được tham gia phân phối lợi nhuận. Những công ty cổ phần có vốn đóng góp của cổ đông tồn tại ở những dạng khác nhau như cổ đông nhà nước ,cổ đông là tập thể các xí nghiệp , tư nhân ,cá thể ...hay công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn chủ sở hữu thì cần phải phân phối lợi nhuận cho số vốn hay tài sản mà họ đã bỏ ra có như vậy mới tạo ra động cơ đầu tư vào trong sản xuất, thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng. Ngoài ra còn có một bộ phận vốn đáng kể được huy động dưới hình thức tiền gửi tiết kiệm ,công trái ,traí phiếu ...mà thực chất là vốn cho vay cũng phải chia lợi nhuận. Có thể nói trong thời kì quá độ, vốn có thể tồn tại nhiều hình thức nhưng chủ yếu có các hình thức sau: - Vốn tự có của các chủ xí nghiệp độc lập. - Vốn cổ phần của các cổ đông trong các công ty cổ phần và của các xã viên trong hợp tác xã - Vốn cho vay. Trong điều kiện đó ,việc phân phối theo tài sản hay vốn trở thành một nguyên tắc,tồn tại là một tất yếu và khách quan .Quan hệ phân phối này có tác dụng khai thác tốt mọi tiềm năng về vốn trong các thành phần kinh tế và trong tầng lớp dân cư nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của cho sản xuất kinh doanh, nhất là trong điều kiện kinh tế còn hạn hẹp. Nó cũng góp phàn hình thành thị trường tiền tệ, thị trường vốn và thị trường chứng khoán ,một trong những điều kiện rất cần thiết cho sự phát triển kinh tế hàng hoá trong nền kinh tế thị trường . 1.2.2.3. Phân phối ngoài thù lao lao động thông qua phúc lợi xã hội . Trong việc phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cá nhân,phân phối theo lao động là chủ yếu nhưng không phải là hình thức duy nhất. Ngoài sự phân phối theo lao động ,trong xã hội xã hội chủ nghĩacòn có sự phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quĩ phúc lợi tập thẻ và xã hội như nhà ăn tập thể , nhà trẻ , trường học ,câu lạc bộ ,bệnh viện ,nhà dưỡng lão ,công viên ,các quỹ bảo hiểm ...sự bổ xung này cho phép khắc phục trong chừng mực nhất định những hạn chế của hình thức phân phối theo lao động. Hình thức phân phối theo lao động có nhiều ưu điểm xong vẫn tồn tại hạn chế. Một là hình thức phân phối theo lao động còn bình đẳng (lao động ngang nhau trả công như nhau ) nhưng chưa công băng về thể lực và trí lực. điều kiện gia đình khác nhau nên thực tế thường hưởng thụ khác nhau. Hai là xuất phát từ bản chất xã hội mới xã hội chủ nghiă ngoài những người làm việc và có thu nhập trên cơ sở đã cống hiến còn có những người già yếu ,trẻ em không thể và chưa có khả năng lao đọng cũng cần được chăm xóc nuôi dưỡng. Ba là không phải mọi nhu cầu tiêu dùng để đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động và sự phát triển toàn diện mọi thành viên trong xã hội đều được giải quyết băng hình thức phân phối theo lao động. Trong xã hội mới càng phát triển thì quỹ phúc lợi công cộng của nguyên tắc này càng rõ nét ,tính ưu việt có tính bản chất của chủ nghĩa xã hội đối với con người càng rõ nét. Cong người ngày nay ngoài việc lao động để đảm bảo nuôi sống bản thân và gia đình còn có các nhu cầu hưởng thụ những sản phẩm mà với sức một cá nhân riêng lẻ thì khó có thể mua được. Trẻ em và người già không có khả năng tạo ra được thu nhập nhung họ vẫn sông trong xã hội thì không thể bỏ mặc họ được,cần có những quỹ để phục vụ nhưng đối tượng này. Ngoài ra có những sản phẩm phụ vụ nhu cầu chung của xã hội như trương học bệnh viện ... những nhu cầu này nếu không được thoả mãn nếu không dựa vào quỹ phúc lợi. 1.3. Các hình thức biểu hiện của quan hệ phân phối 1.3.1.Tiền lương với tư cách là thu nhập theo lao động. Cùng với quá trình chuyển nền kinh tế sang nền kinh tế thị trường là quá trình chúng ta thừa nhận sức lao động là một thứ hàng hoá. Một khi sức lao động trở thành hàng hoá ,thì người lao động có quyền tự do bán sức lao động của mình để đáp ứng nhu cầu sản xuất và khi đó chhủ các doanh nghiệp phảI trả công cho người lao động theo đùng hợp đồng đã kí kết ban đầu. Sau quá trình làm việc cho các doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh tế quốc doanh ,người lao động nhận được một khoản thu nhập tương sứng với lượng lao động mà họ bỏ ra và chất lượng lao động mà mọi người đã cống hiến. Số thu nhập theo lao động đó được gọi là tiền lương hay nói các khác tiền lương là hình thức thu nhập theo lao động. Để cho người lao động thực sự yên tâm từ đó hăng say làm việc thì điều kiện quan trọng trước hết là người lao động phảI nhận được đủ mức lương và nhận kịp thời đồng thời mức lương đó phải ngày càng được tăng lên theo kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mức đó phảI phù hợp với giá trị sức lao động của họ nhằm không chỉ táI sản xuất giản đơn, mà còn phảI bảo đảm táI sản xuất không ngừng. Với tư cách là một phạm trù kinh tế tiền lương la sự biểu hiện bằng tiền của bộ phận cơ bản sản phẩm cần thiết được tạo ra trong doanh nghiệp ,các tổ chức kinh tế quốc doanh. Để đI vào tiêu dùng cá nhân của người lao động tương ứng với số lượng và chất lượng lao động mà họ đã hao phí trong quá trình sản xuất. Về cơ cấu tiền lương bao gồm hai bộ phận là tiền lương cơ bản và tiền thưởng trong đó tiền lương cơ bản phụ thuộc vào mức lương ,bậc lương của mỗi người , phần tiền thương phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất của đơn vị. Việc xác định hợp lí và chính xác mức lương có ý nghĩa cực kì quan trọng. Nó thúc đẩy những người lao động quan tâm hơn nữa đến việc hoàn thành công việc mình được giao. Khi đó họ hoàn toàn phấn khởi vì hiểu ra rằng trước hết họ làm việc cho mình và hơn nũa là làm việc cho xã hội. 1.3.2. Lợi nhuận với tư cách là thu nhập của nhà kinh doanh Xét về mặt kinh tế động lực chính của con người là nhu cầu vật chất lầ lợi íh vật chất của con người trong đó quyền sở hữu và quyền hưởng thụ là những khía cạng khác nhau của lợi ích. Do đó phảI đảm bảo lợi ích cá nhân , thoả mãn các nhu cầu chính đáng và ngày càng tăng cuả các cá nhân coi đó là động lực trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế nói chung. Khi tham gia vào nền kinh tế thị trường cáI mà những nhà kinh doanh quan tâm hàng đầu đó chính là lợi nhuận và kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh được thể hiện rõ nét thông qua việc nhận được số lợi nhuận nhiều hay ít. Lợi nhuận là số chênh lệch doanh thu và chi phí sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường lợi nhuận là động lực chinh chi phối hoạt động của người sản xuất , của người bỏ vốn ra kinh doanh. Chính nhờ lợi nhuận mà các hãng sản xuất tạo ra những mặt hàng phụ vụ đa số tầng lớp dân chúng trong xã hội vì đó là khu vực có khả năng cho được nhiều lợi nhuận nhất ,ít người sản xuất những sản phẩm mà chỉ phụ vụ cho ít khách hàng vì nó cho ít lợi nhuận. Lợi nhuận cũng thúc đẩy các doanh nghiệp khác nghiên cứu khoa học để áp dụng vào sản xuất nhằm giảm chi sản xuất và tăng lợi nhuận. Các nhà sản xuất kinh doanh ngoàI phần thu nhập là tiền lương còn có khoản thu nhập khác , đó là lợi nhuận và phần này tăng lên chiếm ưu thế trong tổng thu nhập. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần phảI phát huy tối đa sức sáng tạo của các nhà sản xuất kinh doanh giỏi và thạo với cơ chế thị trường. Muốn vậy cần không ngừng nâng cao thu nhập cho họ đòi hoẻ không ngừng cảI tiến cơ chế quản lí và các chính sách kinh tế trong đó có chính sách phân phối lợi nhuận. 1.3.3. Thu nhập từ các quĩ phúc lợi Bắt nguồn từ nguyên tắc phân phối ngoài thù lao lao động thông qua các quĩ phúc lợi tập thể và xã hội, người lao động ngoài tiền lương nhận được qua phân phối theo lao động trong quá trình sản xuất , họ còn nhận được những khoản thu nhập từ các quix công cộng do xí nghiệp mang lại hoặc do xã hội mang lại như trợ cấp khó khăn ,trợ cấp trong thời gian sinh đẻ ,ốm đau ,trọ cấp trong trường học bệnh viện nhà trẻ ,công viên .... Các tầng lớp dân cư khác không có khả năng hay chưa có khả năng lao động như người già người không có sức lao động , trẻ em được nhận một khoản như tiền hưu trí của người nghỉ hưu ,tiền nuôi dưỡng người giài,tiền trợ cấp có trong công tác giáo dục.Những thu nhập này có những tác động còn thấp ,giúp đỡ được phần nào cho những người không có khả năng tạo thu nhập để đảm bảo những nhu cầu sống tối thiểu. Các quỹ phúc lợi công cộng được nhà nước trích một phần ngân sách,quỹ này được dùng chủ yếu vào các công trình phúc lợi công cộng phục vụ nhu cầu chung của xã họi như xây dựng các công viên khu giải trí dành cho người già và trẻ em, mặt khác trợ cấp cho một số ngành phục vụ cho nhu cầu của xã hội như trợ cấp cho giáo dục,y tế ,bảo hiểm ... ngoài các quỹ do nhà nước xây dựng, ở các doanh nghiệp cũng có các quỹ phục vụ người lao động như xây dựng những nhà trẻ chi con em công nhân viên ,dùng để thăm hỏi bồi dưỡng cho công nhân viên lúc khó khăn Chương 2: Thực trạng quan hệ phân phối ở nước ta và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối trong thời gian tới 2.1. thực trạng quan hệ phân phối ở nước ta trong thời gian qua 2.1.1. vấn đề tiền lương Tiền lương là một trong những thu nhập chính của người lao động. Do đó chính sách tiền lương và tiền công lao động đặc biệt quan trọng thể hiện quan điểm của Đảng và nhà nước trong sự hình thành và phân phối thu nhập trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta. Trước khi đổi mới sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa , thực hiện nghị định 253/HĐBT nhà nước trực tiếp định mức lao động , định mức lương duyệt quỹ lương , quy định thang lương , bảng lương bậc , bậc lương cụ thể cho các đơn vị sản xuất kinh doanh phải thực hiện . sau khi chuyển sang một cơ chế mới , trong đó tiền lương đối với cán bộ sản xuất kinh doanh chỉ còn là các thông số để tính toán , nhà nước chỉ khống chế lương tối thiểu , không khống chế lương tối đa . Trong khu vực hành chính , tiền lương vẫn thực hịên theo nghị định 253/HĐBT ,sau này là các nghị định 202.203 HĐBT . đồng thời nhà nước cho phép tất cả các đơn vị tổ chức các hoạt động dịch vụ để tăng thêm thu nhập . Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự đều tiết vĩ mô của nhà nước , có lĩnh vực chuyên nghành như xác định chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở , có lĩnh vực còn chậm như luật pháp nói chung , có lĩnh vực chuyển lập như cơ chế kiểm soát và điều tiết tiền lương , thu nhập của nhà nước khi các đơn vị chuyển sang kinh doanh ... Trong các đơn vị sản xuất kinh doanh vẫn đồng thời tồn tại hai kiểu hạch toán kinh doanh song song : tổng doanh thu trừ tổng chi phí và đơn giá tiền lương trên đơn vị sản phẩm . kiểu hạch toán này dẫn tới lãi thì doanh nghiệp hưởng còn lỗ thì nhà nước chịu . Chính sách tiền lương theo nghị định 253/HĐBTchỉ giữ được thời gian ngắn , sau đó tiền lương thực tế bắt đầu giảm mạnh và giảm liên tục . trên thực tế tốc độ tăng lương danh nghĩa chậm hơn tốc độ tăng giá . So sánh các năm với năm 1985 ( lấy năm 1985 = 100% ) ta thấy : Năm Chỉ số lương danh nghĩa Chỉ số vật giá Chỉ số lương thực tế 1986 1,5 5,872 0,255 1987 3,1 24,42 0,127 1988 13,16 100,51 0,131 1999 102,27 176,90 0,478 Trước tình hình biến động của giá làm cho tiền lương thực tế giảm mạnh , đời sống của dân cư nói chung ngày càng xa sút ,đã gây ra phản ứng của các đối tượng xã hội như : Tại bộ máy nhà nước các cấp : mặc dù nhà nước trung ương đã có biện pháp che chắn , kiểm soát liên tục nhưng các địa phương có nơi tự ý định lại mức lương tối thiểu Tại các đơn vị sản xuất – kinh doanh : dựa vào quyền tự chủ sản suất kinh doanh và những sơ hở của cơ chế quản lí nhà nước trong lúc giao thời , điều tìm cách tăng thu nhập của mình . một số xí nghiệp làm ăn thua lỗ nhưng lại có thu nhập rất cao . Tại các đơn vị hành chính sự nghiệp : phải thực hiện theo nghị định 253/HĐBT nhưng lại mở ra các hoạt động dịch vụ đời sống đủ loại để tăng thu nhập . Có thể nêu nhận xét về tiền lương ở nước ta : Việc giải quyết vấn đề tiền lương ở nước ta trong thời gian qua chưa phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần ,đang hoạt động trong một thị trường thống nhất. Tiền lương đó chưa thực sự là thước đo giá trị sức lao động ,chưa đảm bảo tái sản xuất giản đơn và mở rộng sức lao động không ngừng chưa trở thành thu nhập chính của người lao động làm công ăn lương. Nó dẫn đến một hiện tượng là trong một thời gian dài Hàng chục triệu người lao động với động lực mờ nhạt không tha thiết với công vịêc Tiền lương vừa mang tính bình quân vừa mang tính bao cấp mặc dù cuối năm 1993 đã triển khai chính sách mới nhưng vẫn còn nhiều chính sách bất hợp lí đòi hỏi được giải quyết Nước ta , từ năm 1962 đến năm 1987 , quỹ bảo hiểm xã hội chỉ được hình thành từ hai nguồn : các xí nghiệp sản xuất vật chất đóng góp 4.7% quỹ lương của xí nghiệp , phần còn lại do nhà nước đài thọ . mặc dù cũng căn cứ tiền lương để xác định mức đóng góp , song mức đóng góp đó là quá thấp và chưa thể hiện được mối quan hệ với lao động , quan hệ lợi ích trong BHXH. Hơn nữa , tiền lương thời kì này mang tính bao cấp , do đó thu không đủ bù chi và trên thực tế thì không tồn tại quỹ BHXH độc lập. Sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường , chính sách tiền lương và chính sách bảo hiểm xã hội đã có những bước cải cách mang tính đột phá .năm 1993 , chính phủ đã thực cải cách tiền lương , lần cải cách này đã có những thay đổi cơ bản trong cơ cấu tiền lương theo hướng xoá bỏ cơ chế bao cấp , đưa các khoản trước đây phân phối gián tiếp qua ngân sách vào tiền lương để trả trực tiếp cho người lao động ( như nhà ở chi phí khám chữa bệnh ,BHXH, chi phí học tập ...) việc thay đổi này không chỉ ảnh hưởng đến những người làm công ăn lương mà còn tác động đến toàn xã hội .lần cải cách này , trong mức lương mà người lao động được hưởng có cả tiền đóng BHXHvà BHYT điều đó có nghĩa là mức đóng góp BHXH và BHYT được cấu thành trong tiền lương và các doanh nghiệp được phép hạch toán vào giá thành sản phẩm . 2.1.2. Vấn đề về lợi nhuận Từ 1989 đến nay nền kinh tế nước ta đã có nhiều bước chuyển biến quan trọng trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lí nhà nước.nhà nước đã đưa nhiều chính sách kinh tế nhằm từng bước tạo lập môi trường kinh doanh và buộc mọi doanh nghiệp phải hoạt động trong mối quan hệ trực tiếp với thị trường, chuyển sang hạch toán kinh doanh thực sự.để thực hiện điều đó, nhà nước đã thực hiện xoá bỏ cơ chế : “ lổ nhà nước bù , lãi nhà nước thu “ nhằm mở rộng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh , xoá bỏ mọi trở ngại và ách tắc trong sản xuất và lưu thông, từng bước tạo ra thị trường thống nhất hoàn chỉnh trong cả nước, xoá bỏ mọi bao cấp qua giá, thực hiện chính sách một giá trong kinh doanh vật tư, hàng hoá và đưa dần nhiều mức giá trong nước lên sát với giá thị trường thế giới, điều chỉnh lãi xuất một cách hợp lí qua từng thời kì, khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh trong môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng với nhau trước pháp luật . Các phương hướng chính sách và biện pháp trên cơ bản là có tác dụng tích cực. Tuy nhiên do đa số các doanh nghiệp không chuyển kịp và thích nghi với cơ chế thị trường nên khi nhà nước thực hiện xoá bỏ bao cấp qua vốn, tín dụng, qua giá và thị trường đầu ra... thì phần lớn các doanh nghiệp bị đình đốn, thu hẹp sản xuất, tạm thời ngừng sản xuất bộ phận hay toàn bộ. Mặc dù có sự sắp xếp bố trí lại các doanh nghiệp, nhưng số các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ vẫn còn nhiều, đặc biệt là các doanh nghiệp địa phương. điều này buộc nhà nước phải thực hiện hổ trợ , tạo điều kiện cùng kinh doanh khắc phục tình trạng trên. nhà nước đã áp dụng một số chủ trương, biện pháp tình thế như sau: Tập trung chỉ đạo thanh toán nợ dây truyền và chiếm dụng vốn lẫn nhau của các đơn vị kinh tế nhà nước. Cho doanh nghiệp vay vốn tín dụng với lãi xuất ưu đãi và hoàn thu hồi các khoản nợ vay trước. Trợ giá cho một số nghành công nghiệp nặng. Phát hành thêm tiền để mua lương thực dự trữ, mua sản phẩm ứ đọng và tiếp tục cấp phát vốn xây dựng cơ bản cho các doanh nghiệp nhằm tạo sức mua và tăng cầu. Tính toán lại mức thu quốc doanh, tạm giảm hoặc miển giảm thu quốc doanh đối với các doanh nghiệp đang thực sự gặp khó khăn. Chuyển sang cơ chế thị trường, việc nhà nước quy định và cho phép các doanh nghiệp tính lợi nhuận theo cơ cấu giá thành và lợi nhuận , đó là lãi bình quân. theo quy định này, khi hạch toán các doanh nghiệp được tính 6% lãi ( lợi nhuận ) định mức, 5% thuế vao giá thành. Tổng số lợi nhuận định mức nhà nước thu 40%, tổng số lợi nhuận vượt định mức nhà nước chỉ thu 20%. Tình hình này đã dẫn tới một nghịch lí sau: các doanh nghiệp có xu hướng không để lợi nhuận , trái lại họ tìm cách biến tướng nó để phải nộp ít nhất và được hưởng nhiều nhất. Trong trường hợp nếu thiếu tiền trả công cho công nhân viên, thì họ sẵn sàng giảm khoán lợi nhuận và do đó giảm phần nộp cho nhà nước để tăng nguồn thu cho doanh nghiệp. Trong trường hợp này luôn nhỏ hơn mức lợi nhuận phải nộp. Cụ thể là tỉ lệ nộp bảo hiểm xã hội là 17% quỹ lương,nhưng thực ra trong đó có 5%trả lại cho doanh nghiệp và công nhân viên chức. Nhà nước thực tế chỉ thu 12% trong khi đó lợi nhuận định mức phải nộp là 40%. Với cơ chế hình thành và phân phối lợi nhuận như vậy tất yếu dẫn tới tình trạng :các doanh nghiệp có những sản phẩn độc quyền như bia, rươụ thuốc lá .... luôn có nhìêu lợi nhuận và do đó ở đây các bộ công nhân viên có thu nhập rất cao, ngược lại có một số doanh nghiệp sản xuất cơ khí thường xuyên thua lỗ thậm chí phá sản. Công bằng mà nói trong số các doanh nghiệp đang tồn tại và có nhiều thế mạnh như hiện nay,thực tế hạch toán sòng phẳng, lãi không như công bố,Thậm trí lỗ. Nhưng do chính sách, cơ chế hình thành và phân phối thu nhập ,và lợi nhuận nước ta còn hạn chế , bất hợp lí, nên tạo ra sự phân hoá và tình trạng bất bình đẳng trong xã hội. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất tạo ra tình trạng “lãi giả lỗ thật;lỗ giả lãi thật”ở Việt Nam trong những năm vừa qua. Trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đang chuyển mình mạnh sang cơ chế thị trường, có nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh xuất hiện và đang góp phần làm sôi động nền kinh tế nước ta. Nhìn bề ngoài , hầu hết các doanh nghiệp này hoạt động rất hiệu quả và thu nhập của những người làm công ăn lương ở đây rất cao và thậm trí cao gấp nhiều lần so với thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp quốc doanh . không thể không thừa nhận điều đó. Nhưng chúng ta cần phải chỉ ra một tình hình khác thuộc về góc độ quản lí thực ra , nhà nước chưa quản lý được được thu nhập của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ,vì vậy chưa có căn cứ để tính thuế. Tình trạng trốn lậu thuế ,buôn bán lậu qua biên giới và trong nước ,làm hàng giả ,núp bóng dưới doanh nghiệp quốc doanh để trốn thuế...khá phổ biến với doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân. điều này làm nảy sinh sự bình đăng lớn trong xẵ hội, và nếu nhà nước không có những chính sách quản lý phù hợp thì khó có thể thực hiện tốt mục tiêu xẵ hội đặt ra. Như vậy ,ở nước ta đòn bẩy kinh tế của lợi nhuận chưa được phát huy đúng sức mạnh vốn có của nó .Sở dĩ như vậy là vì cơ chế hình thành lợi nhuận không hợp lý .Đồng thời cơ chế phân phối lợi nhuận chưa đủ tạo ra động lực khích thích các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh ,góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển của đất nước. Chính vì vậy để thúc đẩy và tăng trưởng và phát triển kinh tế tất yếu phải tiến hành đổi mới cơ chế hình thành và phân phối lợi nhuận ở nước ta. Việc đổi mới đòi hỏi phải được Tiến hành đồng bộ với việc đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lí kinh tế nói chung. 2.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối trong thời gian tới Quan hệ phân phối có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển, nhất là trong điều kiện thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Một trong nhưng yêu cầu cơ bản để thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá lá phải huy động một cách đầy đủ mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế vào phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy yêu cầu phải xây dựng và hoàn thiện quan hệ phân phối là cấp thiết. 2.2.1. Tiền lương 2.2.1.1 Đảm bảo cho tiền lương là giá cả thực sự của sức lao động Trong điều kiện kinh tế thị trường đang phát triển mạnh mẽ ở nước ta hiện nay, sức lao động cũng trở thành hàng hoá, người lao động tự do lựa chọn nơi làm việc mà họ phát huy được khả năng của mình và có mức lương xứng đáng. Tiền lương phải thực sự trở thành giá cả của sức lao động. Muốn vậy, mức lương của người lao động phải thể hiện trình độ học vấn, tay nghề, quá trình lao động, lao động giản đơn hay lao động phức tạp. Mức lương đó phải thoã mãn nhu cầu táo sản xuất mở rộng sức lao động, đảm bảo cho người lao động sống đủ mà không cần phải làm thêm nhiều việc… Chỉ có như thế mới thúc đẩy người lao động làm việc năng suất, hiệu quả, sáng tạo, không ngừng nâng cao trình độ tay nghề, khuyến khích thế hệ trẻ ra sức học tập để không ngừng nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ sản xuất kinh doanh thích ứng với cơ chế thị trường. Để cho tiền lương thật sự trở thành một đòn bẩy thúc đẩy người lao động làm việc với sức sáng tạo cao, trong thời gian tới chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách tiền lương. Trong việc xác định tiền lương cần quán triệt các quan điểm sau: - Tiền lương phải đủ đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động, nó phải thực sự là bộ phận thu nhập chủ yếu của người lao động. - Tiền tệ hoá tiền lương một cách triệt để ( xoá bỏ tận gốc các khoản bao cấp trong phân phối) - Mức lương phải gắn liền với trình độ phát triển kinh tế và xã hội, hiệu quả sản xuất kinh doanh, quan hệ cung cầu lao động, mức cống hiến của từng cá nhân; sự biến động của giá cả và lạm phát. - Chống chủ nghĩa bình quân trong việc trả công lao động. 2.2.1.2 Xác định hợp lý mức lương tối thiểu Tiền lương tối thiểu phải đảm bảo cho một mức sống tối thiểu, phải đảm bảo tính toán đầy đủ các yếu tố cần thiết của quá trình tái sản xuất sức lao động (cả về sinh lý, nhân văn và các quan hệ xã hội). Tuy nhiên mức sống của người lao động phải phù hợp với yêu cầu và trình độ phát triển kinh tế xã hội. - Tiền lương tối thiểu phải đảm bảo tính thống nhất. Việc xác định và thực hiện tiền lương tối thiểu một cách thống nhất sẽ tạo điều kiện để giữ vững vai trò điều tiết của Nhà nước và phát triển quyền tự chủ của các tổ chức kinh tế trong lĩnh vực lao động. Tiền lương tối thiểu thống nhất là công cụ cần thiết để bảo hộ giá trị sức lao động cho người lao động không phân biệt đó là thành phần kinh tế nào. Nhà nước cần sớm luật pháp hoá tiền lương tối thiểu nhằm ngăn ngừa và giải quyết các tranh chấp giữa giới chủ và giới thợ, buộc người sử dụng lao động phải tìm cách khác để giảm chi phí, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo vệ cho những người làm công ăn lương. Việc luật pháp hoá tiền lương tối thiểu bao gồm việc xá định mức tiền lương cụ thể và điều chỉnh nó trong từng thời kỳ thoe đà phát triển của sản xuất và mức tăng của năng suất lao động, đồng thời cũng điều chỉnh trong từng thời gian những mức lương tối thiểu áp dụng cho từng vùng khác nhau. 2.2.1.3 Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lí phân phối tiền lương cho người lao động Vì nguồn tiền lương ở hệ thống trả lương khác nhau, nên sẽ có cơ chế quản lý phân phối nó khác nhau. Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, nguồn tiền để chi trả không phải là từ ngân sách nhà nước mà phải là từ kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp sau khi bù đắp các chi phí, hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách, tổng thu nhập còn lại do doanh nghiệp toàn quyền sử dụng và phân chia cho các quỹ xí nghiệp. Nhà nước cần thực hiện việc kiểm soát và điều tiết tổng thu nhập của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp, Nhà nước trả lương phải dựa trên cơ sở biên chế nghiêm ngặt và tiếp tục thực hiện khoán quỹ lương. Trong lĩnh vực này thực hiện khoán quỹ lương theo khối lượng công việc ( khối lượng giờ giảng, đề tài nghiên cứu…). Thực hiện mạnh mẽ việc sàng lọc sa thải và thực hiện tuyển dụng lại theo quy chế mới với phương châm coi trọng chất lượng, trình độ, hạn chế dần số lượng, tiến tới tinh giảm bộ máy đến mức tối ưu. Cũng trong lĩnh vực này có một số bộ phận có thêm nguồn thu ví dụ như hoạt động y tế, nghiên cứu khoa học…thì nhà nước cần có quy định riêng để một mặt tăng thu cho ngân sách nhà nước, một mặt khuyến khích các hoạt động này phát triển. Ngoài những giải pháp trên, trong bối cảnh hiện nay, để cải cách tiền lương, cần thuạc hiện đồng bộ với các nội dung đổi mới khác, như hoàn thiện thu chi ngân sách Nhà nước, tăng cường xã hội hoá lĩnh vực sự nghiệp, kiểm soát phân phối thu nhập, đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường sản xuất kinh doanh bình đẳng, chuyển đổi hình thức sở hữu các doanh nghiệp Nhà nước…Trên phương diện sự chuyển đổi kinh tế thì đó chính là các yếu tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển kinh tế thị trường, trong đó có thị trường lao động 2.2.2. Lợi nhuận 2.2.2.1 Thực hiện nhất quán quan điểm kết hợp hài hoà các loại lợi ích kinh tế trong sự phát triển kinh tế Suy cho đến cùng thì vần đề phân phối thu nhập, phân phối lợi ích kinh tế cho người lao động, tập thể xã hội như thế nào cho công bằng so với sự đóng góp về lao động trong qua trình tạo lợi ích kinh tế. Một nền kinh tế đạt được một tốc độ tăng trưởng ngày càng cao hoàn toàn có khả năng thực hiện tốt các lợi ích kinh tế. Đến lượt mình, các lợi ích kinh tế lại tạo động lực mới cho sự phát triển. Các mối quan hệ kinh tế cần được giải quyết tốt trong phân phối thu nhập, nhằm tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, đó là: - Quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động, tập thể và nhà nước. - Quan hệ lợi ích kinh tế giữa các ngành kinh tế, các vùng, các địa phương với nhà nước. - Quan hệ lợi ích kinh tế giữa các thành phần kinh tế với nhau, các thành phần kinh tế với nhà nước. - Quan hệ tích luỹ với tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng trong xã hội… Trong số các lợi ích kinh tế đó, lợi ích kinh tế của người lao động, của nhà sản xuất kinh doanh đặc biệt được coi trọng. 2.2.2.2 Đổi mới cơ chế hình thành và cơ chế phân phối lợi nhuận. * Về cơ chế hình thành lợi nhuận: Không nên xác định lợi nhuận bình quân theo cấu thành giá thành như trước đây ( 5%). Tuỳ từng ngành, từng loại sản phẩm khác nhau, Nhà nước nên quy định và điều chỉnh lại tỷ lệ lợi nhuận định mức khác nhau. Nhà nước nên nâng lên tỷ lệ lợi nhuận định mức đối với những sản phẩm giá trị nhỏ, còn đối với những sản phẩm tính giá trị lớn nhất, sản phẩm độc quyền thì nên hạ tỷ lệ lợi nhuận định mức. Khi đó sẽ góp phần giải quyết dần những bất bình đẳng trong việc thu và phân phối lợi nhuận trước đây. Bên cạnh đó, nhà nước cần thông qua bộ máy quản lý thực hiện việc kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát, để nắm chính xác các nguồn vốn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, buộc các đơn vị phải hoạt động đi vào hiệu quả thực sự “lãi thật, lỗ thật”. Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Nhà nước cần quản lý thu nhập của họ. Thực hiện sự quản lý chặt chẽ đối với quá trình sản xuất kinh doanh theo luật pháp đã ban hành. Việc quản lý đó phải bắt đầu từ khâu cấp giấy phép sản xuất kinh doanh đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Thẳng thắn trừng trị những ai trốn lậu thuế kinh doanh hàng cấm, làm hàng giả… * Về cơ chế phân phối lợi nhuận: Để khai thác tối ưu các tiềm năng các ngành các địa phương, đơn vị cơ sở góp phần thúc đẩy và phát triển kinh tế nhanh, điều quan trọng hàng đầu là phải tăng thu nhập cho người lao động. Đây là động lực chủ yếu cho sự phát triển. Trong trường hợp này nhà nước nên dành thu nhập ngày càng lớn cho doanh nghiệp. Muốn vậy trong thời gian tới cần nhà nước chỉ nên thu phần lợi nhuận trong lợi nhuận định mức và nếu có điều kiện nhà nước nên giảm % thu khoản lợi nhuận này. Trong 60% lợi nhuận định mức để lại cho doanh nghiệp cho doanh nghiệp không nên chia đều cho 3 quỹ: Quỹ phát triển sản xuất, quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi. Theo đà phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp muốn đứng vững trong cạnh tranh thị trường cần phải tập trung ddaauftuw theo chiều sâu là chính. Về lâu dài giải quyết các mục tiêu: chất lượng sản phẩm, giảm giá, tăng khối lượng sản phẩm… để thực hiện việc đó họ cần một số vốn lớn hơn nhiều lần so với vốn nằm trong ngân quỹ phát triển sản xuất.Nói một cách khác phải trích 60% lợi nhuận để lại trong doanh nghiệp cho quỹ phát triển chiếm tỷ trọng ngày càng cao so với tổng vốn đầu tư, mở rộng đầu tữ kinh doanh. Do vậy, phải chăng nhà nước nên cho phép các doanh nghiệp phải trích cho 2 quỹ: quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi theo tỷ lệ tăng hơn trước. Điều đó cũng góp phần khuyến khích động viên giả quyết tốt lợi ích kinh tế của người lao động nói chung. Bộ phận khấu hao sửa chữa lớn hiện đại nhà nước thu, phần này do doanh nghiệp tạo nên chứ không phải do nhà nước cấp. Vì vậy trong tương lai nhà nước neenm để cho doanh nghiệp và về mặt quản lý yêu cầu doanh nghiệp bổ sung cho quỹ phát triển sản xuất. Hơn thế nữa, ngoài việc đổi mới về cơ chế hình thành và phân phối lợi nhuận thì phải tiến hành đồng bộ việc đổi mới cơ chế quản lý. Có như thế thì sự cải cách mới được triệt để và có hiệu quả. 2.3. Kết luận chung về quan hệ phân phối trong nền kinh tế Việt Nam Phân phối đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó nối liền sản xuất với sản xuất ,sản xuất với tiêu dùng ,nối các thị trường trong nền kinh tế .Một chế độ phân phối đúng đắn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tăng nhanh nhằm đưa Nền kinh tế lên một tầm cao mới Trong những năm vừa qua, nhà nước ta đã có nhiếu cố gắng trong việc giải quyết vấn đề phân phối, các vấn đề về tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, bảo hiểm trợ cấp xã hội…nhằm tháo gỡ những khó khăn trong phân phối để cởi trói cho lĩnh vực sản xuất. Mặc dù vậy chúng ta vẫn còn nhiều chỗ chưa hợp lý trong phân phối dẫn đến nhiêù hạn chế trong việc thực hiện. Để tiến lên chủ nghĩa xã hội thì trước hết nước ta phải giải quyết tốt các vấn đề của quan hệ phân phối. Danh sách tài liệu tham khảo 1. Số 45, 69, 70, 78, 79. Tạp chí kinh tế và phát triển (2001- 2003). 2, Lí thuyết về phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường. 3, Giáo trình kinh tế chính trị. 4, văn kiện đại hội đảng lần thứ VIII NXB sự thật ,Hà Nôị

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35549.doc
Tài liệu liên quan