Đề tài Thực trạng rừng ở Việt Nam

ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài. Vốn được mệnh danh là "lá phổi " của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ môi trường sống đang bị huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra. Trên phạm vi toàn thế giới, chỉ tính riêng trong vòng 4 thập niên trở lại đây, 50% diện tích rừng đã bị biến mất do nhiều nguyên nhân khác nhau. Theo tính toán của các chuyên gia của Tổ chức nông - lương thế giới (FAO) thì hàng năm có tới 11,5 triệu hecta rừng bị chặt phá và bị hoả hoạn thiêu trụi trên toàn cầu, trong khi diện tích rừng trồng mới chỉ vẻn vẹn 1,5 triệu hecta. Rừng nguyên sinh bị tàn phá, đất đai bị xói mòn dẫn tới tình trạng sa mạc hoá ngày càng gia tăng. Nhiều loài động - thực vật, lâm sản quý bị biến mất trong danh mục các loài quý hiếm, số còn lại đang phải đối mặt với nguy cơ dần dần bị tuyệt chủng. Nghiêm trọng hơn, diện tích rừng thu hẹp trên quy mô lớn đã làm tổn thương "lá phổi" của tự nhiên, khiến bầu khí quyển bị ô nhiễm nặng, mất cân bằng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và đời sống động, thực vật.v.v . Là một quốc gia đất hẹp người đông, Việt Nam hiện nay có chỉ tiêu rừng vào loại thấp, chỉ đạt mức bình quân khoảng 0,14 ha rừng, trong khi mức bình quân của thế giới là 0,97 ha/ người. Các số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2000 nước ta có khoảng gần 11 triệu hecta rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 9,4 triệu hecta và khoảng 1,6 triệu hecta rừng trồng; độ che phủ của rừng chỉ đạt 33% so với 45% của thời kì giữa những năm 40 của thế kỉ XX. Tuy nhiên, nhờ có những nỗ lực trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, "phủ xanh đất trống đồi núi trọc" nên nhiều năm gần đây diện tích rừng ở nước ta đã tăng 1,6 triệu hecta so với năm 1995, trong đó rừng tự nhiên tăng 1,2 triệu hecta, rừng trồng tăng 0,4 triệu hecta. Công tác quản lí, quy hoạch tài nguyên rừng cũng có những chuyển động tích cực. Trên phạm vi cả nước đã và đang hình thành các vùng trồng rừng tập trung nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất. Chẳng hạn, vùng Đông bắc và Trung du Bắc bộ đã trồng 300 nghìn hecta rừng nguyên liệu công nghiệp, Bắc Trung bộ có 70 nghìn hecta rừng thông. Ngoài ra, hơn 6 triệu hecta rừng phòng hộ và 2 triệu hecta rừng đặc dụng được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học; có tới 15 vườn quốc gia và hơn 50 khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng, quy hoạch và quản lí . Trong 10 năm qua, hàng năm giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt xấp xỉ 6 nghìn tỷ đồng, chiếm 5-7% giá trị sản lượng nông, lâm thuỷ sản. Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như trong bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song nhìn chung chất lượng rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít mà trong đó có tới hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng còn thấp. Đặc biệt, nguồn tài nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy cơ nghiêm trọng như bị huỷ hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa dạng sinh học của rừng đã thực sự là những lời cảnh báo nghiêm khắc đối với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ môi trường sống- chiếc nôi dung dưỡng sự sống của con người - nói chung. Vì vậy tôi chọn chuyên đề “ Thực trạng rừng ở Việt Nam” để nghiên cứu. 2 Giới hạn của đề tài. 2.1 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ diện tích rừng trên lãnh thổ Việt Nam. . 2.2 Phạm vi nghiên cứu Trên toàn lãnh thổ Việt Nam. 3.Mục đích nghiên cứu. 3.1 Mục đích: Thực trạng rừng việt Nam. Đưa ra một số giải pháp bảo vệ rừng. Bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn bảo vệ rừng. 3.2 Mục tiêu: a) Mục tiêu tổng quát: - Nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ ổn định lâm phận các loại rừng; phát huy vai trò, lợi thế của từng loại rừng, trên cơ sở bảo tồn, sử dụng, cung cấp các dịch vụ và phát triển rừng bền vững, góp phần phát triển kinh tế và xã hội, duy trì các giá trị đa dạng sinh học của rừng, góp phần tích cực bảo vệ môi trường và thích ứng, giảm thiểu biến đổi khí hậu. b) Mục tiêu cụ thể: - 8,5 triệu hécta rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn được bảo vệ nghiêm ngặt, từng bước chấm dứt tình trạng khai thác trái phép, cháy rừng đối với hai loại rừng này. - Giảm căn bản tình trạng vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng trái phép và thiệt hại do cháy rừng gây ra; bảo đảm kinh doanh bền vững đối với rừng sản xuất. - Xóa bỏ căn bản các tụ điểm khai thác, kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép; chấm dứt tình trạng chống người thi hành công vụ. -Tăng độ che phủ của rừng lên 43% vào năm 2010, cải thiện chất lượng rừng đáp ứng yêu cầu về phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học. 4. Tóm tắt nghiên cứu. -Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, địa hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loại sinh vật. Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rùng như rừng cây lá rộng, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá kim và lá rộng, rùng lá kim, rừng tre rừng nứa, rưng ngập mặn, rừng tràm, Rừng là một tài nguyên vô cùng quan trọng đối với chúng ta. Rừn là hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất ở trên cạn, nhất là rừng nhiệt đới ẩm. Ngoài ý nghĩa về tài nguyên động thực vật, rừng còn là một yếu tố địa lý không thể thiếu trong tự nhiên,có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo cảnh quan và tác động mạnh mẽ đến các yếu tố khí hậu, đất đai. Chính vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế- xã hội mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường. -Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế- xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng : rừng tham gia vào qua trình điều hoà khí hậu. đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai,bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước. -Rừng không phải là tài nguyên vĩnh cửu nhưng cũng không phải là tài nguyên tái tạo được. Ngoài vai trò lớn lao đối với môi trường tự nhiên thì rừng còn giữ một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của mõi chúng ta. Như vậy rừng là tài nguồn sống của mỗi chúng ta, là lá phổi xanh của toàn nhân loại. Mỗi chung ta hãy biết chung tay, góp sức để bảo vệ nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng ấy .Hy vọng rằng trong tương lai Việt Nam sẽ tự hào khi được bạn bè thế giới biết đến với tên “Quốc gia xanh”

doc36 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 04/06/2013 | Lượt xem: 2396 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Thực trạng rừng ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI CẢM ƠN! Qua đề tài nghiên cứu này em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Liên_ cô giáo bộ môn nghiên cứu khoa học đã tạo điều kiện để em có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Do thời gian có hạn, trong quá trình nguyên cứu chắc chắn em không tránh khỏi những sai sót vì vậy em kính mong nhận được ý kiến nhận xét của cô giáo cùng các bạn sinh viên trong trường để bài viết của em được hoàn thiên hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Bắc Ninh, tháng 3 năm 2011 Sinh viên Bùi Thị Ngọc Hoa Danh mục hình: Hình 1: Hình ảnh cháy rừng U Minh. Hình 2: Rừng phòng hộ Hồ Núi Cốc bị khai thác. Hình 3: Chặt phá rùng. Hình 4: chủ rừng tự quản lý rừng. Hình 5: kiểm lâm với công tác bảo vệ rừng. Danh mục bảng biểu. Bảng 1: Số liệu cháy rừng năm 2008. PHẦN A: PHẦN MỞ ĐẦU CHƯƠNG I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài. Vốn được mệnh danh là "lá phổi " của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh chúng ta. Bởi vậy, bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một nội dung, một yêu cầu không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong cuộc chiến đầy gian khó hiện nay nhằm bảo vệ môi trường sống đang bị huỷ hoại ở mức báo động mà nguyên nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra. Trên phạm vi toàn thế giới, chỉ tính riêng trong vòng 4 thập niên trở lại đây, 50% diện tích rừng đã bị biến mất do nhiều nguyên nhân khác nhau. Theo tính toán của các chuyên gia của Tổ chức nông - lương thế giới (FAO) thì hàng năm có tới 11,5 triệu hecta rừng bị chặt phá và bị hoả hoạn thiêu trụi trên toàn cầu, trong khi diện tích rừng trồng mới chỉ vẻn vẹn 1,5 triệu hecta. Rừng nguyên sinh bị tàn phá, đất đai bị xói mòn dẫn tới tình trạng sa mạc hoá ngày càng gia tăng. Nhiều loài động - thực vật, lâm sản quý bị biến mất trong danh mục các loài quý hiếm, số còn lại đang phải đối mặt với nguy cơ dần dần bị tuyệt chủng. Nghiêm trọng hơn, diện tích rừng thu hẹp trên quy mô lớn đã làm tổn thương "lá phổi" của tự nhiên, khiến bầu khí quyển bị ô nhiễm nặng, mất cân bằng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và đời sống động, thực vật.v.v... Là một quốc gia đất hẹp người đông, Việt Nam hiện nay có chỉ tiêu rừng vào loại thấp, chỉ đạt mức bình quân khoảng 0,14 ha rừng, trong khi mức bình quân của thế giới là 0,97 ha/ người. Các số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2000 nước ta có khoảng gần 11 triệu hecta rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 9,4 triệu hecta và khoảng 1,6 triệu hecta rừng trồng; độ che phủ của rừng chỉ đạt 33% so với 45% của thời kì giữa những năm 40 của thế kỉ XX. Tuy nhiên, nhờ có những nỗ lực trong việc thực hiện các chủ trương chính sách của Nhà nước về bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, "phủ xanh đất trống đồi núi trọc" nên nhiều năm gần đây diện tích rừng ở nước ta đã tăng 1,6 triệu hecta so với năm 1995, trong đó rừng tự nhiên tăng 1,2 triệu hecta, rừng trồng tăng 0,4 triệu hecta. Công tác quản lí, quy hoạch tài nguyên rừng cũng có những chuyển động tích cực. Trên phạm vi cả nước đã và đang hình thành các vùng trồng rừng tập trung nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất. Chẳng hạn, vùng Đông bắc và Trung du Bắc bộ đã trồng 300 nghìn hecta rừng nguyên liệu công nghiệp, Bắc Trung bộ có 70 nghìn hecta rừng thông. Ngoài ra, hơn 6 triệu hecta rừng phòng hộ và 2 triệu hecta rừng đặc dụng được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học; có tới 15 vườn quốc gia và hơn 50 khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng, quy hoạch và quản lí... Trong 10 năm qua, hàng năm giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt xấp xỉ 6 nghìn tỷ đồng, chiếm 5-7% giá trị sản lượng nông, lâm thuỷ sản. Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như trong bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song nhìn chung chất lượng rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít mà trong đó có tới hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng còn thấp. Đặc biệt, nguồn tài nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy cơ nghiêm trọng như bị huỷ hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa dạng sinh học của rừng đã thực sự là những lời cảnh báo nghiêm khắc đối với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ môi trường sống- chiếc nôi dung dưỡng sự sống của con người - nói chung. Vì vậy tôi chọn chuyên đề “ Thực trạng rừng ở Việt Nam” để nghiên cứu. 2 Giới hạn của đề tài. 2.1 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ diện tích rừng trên lãnh thổ Việt Nam. . 2.2 Phạm vi nghiên cứu Trên toàn lãnh thổ Việt Nam. 3.Mục đích nghiên cứu. 3.1 Mục đích: ØThực trạng rừng việt Nam. ØĐưa ra một số giải pháp bảo vệ rừng. ØBổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn bảo vệ rừng. 3.2 Mục tiêu: a) Mục tiêu tổng quát: - Nâng cao năng lực quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ ổn định lâm phận các loại rừng; phát huy vai trò, lợi thế của từng loại rừng, trên cơ sở bảo tồn, sử dụng, cung cấp các dịch vụ và phát triển rừng bền vững, góp phần phát triển kinh tế và xã hội, duy trì các giá trị đa dạng sinh học của rừng, góp phần tích cực bảo vệ môi trường và thích ứng, giảm thiểu biến đổi khí hậu. b) Mục tiêu cụ thể: - 8,5 triệu hécta rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn được bảo vệ nghiêm ngặt, từng bước chấm dứt tình trạng khai thác trái phép, cháy rừng đối với hai loại rừng này. - Giảm căn bản tình trạng vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng phá rừng trái phép và thiệt hại do cháy rừng gây ra; bảo đảm kinh doanh bền vững đối với rừng sản xuất. - Xóa bỏ căn bản các tụ điểm khai thác, kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép; chấm dứt tình trạng chống người thi hành công vụ. -Tăng độ che phủ của rừng lên 43% vào năm 2010, cải thiện chất lượng rừng đáp ứng yêu cầu về phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học. 4. Tóm tắt nghiên cứu. -Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, địa hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loại sinh vật. Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rùng như rừng cây lá rộng, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá kim và lá rộng, rùng lá kim, rừng tre rừng nứa, rưng ngập mặn, rừng tràm,… Rừng là một tài nguyên vô cùng quan trọng đối với chúng ta. Rừn là hệ sinh thái có độ đa dạng sinh học cao nhất ở trên cạn, nhất là rừng nhiệt đới ẩm. Ngoài ý nghĩa về tài nguyên động thực vật, rừng còn là một yếu tố địa lý không thể thiếu trong tự nhiên,có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc tạo cảnh quan và tác động mạnh mẽ đến các yếu tố khí hậu, đất đai. Chính vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế- xã hội mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường. -Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế- xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng : rừng tham gia vào qua trình điều hoà khí hậu. đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai,bảo tồn nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm không khí và nước. -Rừng không phải là tài nguyên vĩnh cửu nhưng cũng không phải là tài nguyên tái tạo được. Ngoài vai trò lớn lao đối với môi trường tự nhiên thì rừng còn giữ một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của mõi chúng ta. Như vậy rừng là tài nguồn sống của mỗi chúng ta, là lá phổi xanh của toàn nhân loại. Mỗi chung ta hãy biết chung tay, góp sức để bảo vệ nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng ấy .Hy vọng rằng trong tương lai Việt Nam sẽ tự hào khi được bạn bè thế giới biết đến với tên “Quốc gia xanh” . PHẦN B: NỘI DUNG Chương II: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm về các loại rừng: - Rừng phòng hộ lá loại rừng được sử dụng để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Rừng phòng hộ được phân thành các loại: rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát, rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển rừng phòng hộ môi trường sinh thái. -Rừng đặc dụng: được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen thực vật. động vật rừng. nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi, du lịch. Rừng đặc dụng được chia thành các loại: vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng văn hoá – xã hội, nhgiên cứu thí nghiệm. -Rừng sản xuất: được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, các loại lâm sản khác, đặc sản rừng và kết hợp phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái. Rừng sản xuất được nhà nước giao cho tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có đủ điều kiện quy định để sản xuất kinh doanh theo hướng thâm canh nông - lâm nghiệp kết hợp.. 2. Diện tích rừng và đất rừng hiện nay. -Tính đến 2010, tổng diện tích tự nhiên các đơn vị được giao theo quyết định và quy hoạch cho các dự án trồng rừng là: 176.117 ha, bao gồm Đất rừng sản xuất; 129.948ha - Rừng tự nhiên: 30.786 ha - Rừng trồng: 42.643 ha - Đất trống: 56.519 ha Đất rừng phòng hộ: 30.861 ha - Rừng tự nhiên: 13.573 ha - Rừng trồng: 7.123 ha - Đất trống: 10.165 ha. Đất rừng đặc dụng: 631.8 ha. Đất khác: 14.677 ha. Đất dự kiến trả về địa phương: 35.853 ha Về cơ bản công tác rò soát đất đai của tổng công ty lam nghiệp việt Nam đã thực hiện song, các đơn vị trực thuộc đang thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai và đang khẩn trương hoàn thành thủ tục với các ban ngành của tunhr để được thuê đất, cấp giấy chứng nhận để sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Các số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2000 nước ta có khoảng gần 11 triệu hecta rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 9,4 triệu hecta và khoảng 1,6 triệu hecta rừng trồng; độ che phủ của rừng chỉ đạt 33% so với 45% của thời kì giữa những năm 40 của thế kỉ XX Trên phạm vi toàn thế giới, chỉ tính riêng trong vòng 4 thập niên trở lại đây, 50% diện tích rừng đã bị biến mất do nhiều nguyên nhân khác nhau. Theo tính toán của các chuyên gia của Tổ chức nông - lương thế giới (FAO) thì hàng năm có tới 11,5 triệu hecta rừng bị chặt phá và bị hoả hoạn thiêu trụi trên toàn cầu, trong khi diện tích rừng trồng mới chỉ vỏn vẹn 1,5 triệu hecta. Rừng nguyên sinh bị tàn phá, đất đai bị xói mòn dẫn tới tình trạng sa mạc hoá ngày càng gia tăng. Nhiều loài động - thực vật, lâm sản quý bị biến mất trong danh mục các loài quý hiếm, số còn lại đang phải đối mặt với nguy cơ dần dần bị tuyệt chủng. Nghiêm trọng hơn, diện tích rừng thu hẹp trên quy mô lớn đã làm tổn thương "lá phổi" của tự nhiên, khiến bầu khí quyển bị ô nhiễm nặng, mất cân bằng, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người và đời sống động, thực vật.v.v... 3. Vai trò của rừng: 3.1 Vai trò phát triển kinh tế - xã hội: Trong các sản phẩm do tài nguyên rừng mang lại phải kể đến gỗ. Sản phẩm gỗ cung cấp cho nghành công nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp xây dựng cơ bản, giao thông vận tải và trong mỗi gia đình. Ngày nay, hầu như không có một nghành nào không dùng tới gỗ, vì nó là nguyên liệu phổ biến, dễ gia công, chế biến và nhiều tính năng ưu việt khác nên được nhiều người sử dụng. Trong quá trình phát triển của xã hội, dưới tác động của tiến bộ khoa học và công nghệ, người ta đã sản xuất ra nhiều sản phẩm thay thế gỗ. Tuy nhiên, nhu cầu về gỗ và các sản phẩm về gỗ không ngừng tăng lên cả về số lượng lẫn chất lượng. Ngoài sản phẩm gỗ, rừng còn cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ như: tre, nứa, song mây, các loại đặc sản rừng, động vật, thực vật rừng có giá trị cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Các động vật từ rừng là các sản phẩm quý hiếm và có giá trị kinh tế cao. Đối với thực vật rừng, có rất nhiều loại được dùng làm thực phẩm như nấm, mộc nhĩ, măng, các loại rau rừng… Rừng còn là nguồn cung cấp các dược liệu quý hiếm phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con người. Mặt khác, rừng còn cung cấp gỗ và các đặc sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu cho nên đã tạo ra nguồn thu nhập về tài chính cho ngân sách Trung ương và địa phương, góp phần vào quá trình tích lũy cho nền kinh tế quốc dân. Rừng cũng là nguồn thu nhập chính của cư dân sống gần rừng. Lâm nghiệp thực hiện chính sách giao đất, giao rừng đến hộ gia đình và cộng đồng địa phương, đã thu hút cư dân địa phương tham gia vào các hoạt động trồng, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác và chế biến lâm sản, góp phần vào việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, giải quyết một vấn đề bức xúc hiện nay vùng trung du và miền núi. 3.2 Vai trò phòng hộ và bảo vệ môi trường sống: Về tác dụng phòng hộ: Rừng có khả năng cải tạo khí hậu, ngăn cản gió nóng, gió lạnh, hạn chế tác hại của gió bão, bảo vệ mùa màng nông ngiệp và nâng cao năng suất hoa màu. Trên những vùng đất bị úng nước, chua phèn, rừng tràm có tác dụng cải tạo đất từ hoang hóa thành vùng sản xuất thuận lợi. Ở những vùng núi cao, rừng có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, nuôi dưỡng nguồi nước, điều tiết nước và cung cấp nước cho các dòng sông, chống lại mọi sự biến động nguy hại khác cho dòng chảy như làm giảm các chất lắng đọng trong các dòng sông, góp phần ngăn chặn hiện tượng bồi đắp của các hồ chứa nước, các hệ thống tưới tiêu của sông, các công trình thủy điện. Ở những vùng ven biển, rừng cây ngập mặn không chỉ chống gió bão mà còn ngăn chặn sự di động của các cồn cát phủ ven biển, cố định phù sa tạo điều kiện cho đất bồi tụ, chắn sóng và bảo vệ đê ven biển. Đặc biệt, rừng chống cát bay ở vùng ven biển Miền Trung đã ngăn cản cát vùi lấp xóm làng, nhà cửa, đường xá… và biến vùng đất cát trắng thành vùng đất canh tác... Chính vì tác dụng phòng hộ nói trên, người ta đã ví “rừng là người vệ sĩ của nhà nông”. Về tác dụng cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường sống: Khoa học ngày nay đã đủ dẫn liệu chứng minh rằng rừng là lớp thảm thực vật có tác dụng lớn nhất trong việc chống ô nhiễm môi trường. Rừng là “lá phổi xanh” của trái đất thải ra 02 và hấp thụ C02 của khí quyển trong quá trình đồng hóa của cây xanh đối với môi trường. Rừng tạo ra sự trong sạch bầu khí quyển, giữ cân bằng lượng 02 và C02 trong khí quyển, duy trì sự sống trên hành tinh của chúng ta. Rừng là tấm màn xanh coi giữ và làm sạch các nguồn nước, tục ngữ Ấn Độ có câu “rừng là nguồn nước, nước là sự sống”. Vì vậy, số phận của rừng là số phận của hành tinh chúng ta “nếu rừng nhiệt đới không còn sẽ có khoảng 1 tỷ người không có nguồn sống”. Theo tính toán khoa học, mỗi quốc gia cần có ít nhất 1/3 diện tích rừng che phủ phải phân bố đều trên diện tích cả nước và phân bố trọng điểm là vùng đầu nguồn. Xã hội càng phát triển, vai trò của rừng càng trở nên cực kỳ quan trọng. Hiệu quả cân bằng sinh thái của rừng không chỉ tính bằng những giá trị kinh tế thông thường. Có thể nói chắc chắn thảm thực bì rừng không còn thì sự sống trên hành tinh chúng ta cũng sẽ bị mất theo. Ngoài hai tác dụng cung cấp và tác dụng phòng hộ, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường sống, rừng còn có tác dụng quốc phòng, hình ảnh rừng là căn cứ địa cách mạng “rừng che bộ đội rừng vây quân thù” rất gần gũi với truyền thống lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta. Rừng còn có giá trị xã hội, cảnh quan du lịch, làm tăng vẻ đẹp cho non sông đất nước. Rừng là nơi tham quan, du lịch, nghỉ mát, rừng và cảnh quan rừng có thể làm tăng sức khỏe cho con người, làm mạnh thêm quan niệm về đạo đức… 4. Thực trạng rừng ở Việt Nam hiện nay: 4.1 Tình hình cháy rừng và chặt phá rừng hiện nay Từ đầu năm đến nay, số vụ cháy rừng tăng đột biến. Cả năm 2009 cháy gần 1.500 ha rừng thì chỉ trong hơn 2 tháng đầu năm 2010 cháy rừng đã gây thiệt hại vượt qua con số này. Thống kê từ hệ thống ảnh vệ tinh địa tĩnh của Cục Kiểm lâm, tổng số điểm cháy trong tháng 1/2010 là 961 điểm; tháng 2/2010 là 2.760 điểm. Khi xảy cháy ở rừng Hoàng Liên, lúc đầu tôi cũng nhận được số liệu báo cáo của tỉnh Lào Cai là diện tích thiệt hại lên đến 1.700, rồi sau đó thống kê lại con số là 1000 ha. Qua quan sát tính toán nhanh thông qua ảnh vệ tinh, thì con số thiệt hại của rừng Hoàng Liên là hơn 700 ha. Đến ngày 8/3/2010 toàn bộ các điểm cháy tại rừng Tà Xùa cũng đã được dập tắt, thiệt hại do cháy rừng Tà Xùa là hơn 60 ha. Ví dụ theo số liệu thống kê, cảnh báo tình hình tàn phá rừng U Minh, đây là khu rừng thuộc vào rừng bảo vệ Quốc gia, nhưng chúng ta thấy được hậu quả khôn lường của những vụ tàn phá rừng trước đây và gần đây nhất là thảm họa cháy rừng U Minh (3/2002), đã khiến cho gần 8 nghìn hecta rừng U Minh Thượng và U Minh Hạ bỗng chốc trở thành đống tro tàn, đã thực sự là những lời cảnh báo nghiêm khắc đối với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ môi trường sống- chiếc nôi dung dưỡng sự sống của con người - nói chung. Cũng cần nhấn mạnh rằng, những cánh rừng tràm bạt ngàn đầy tính huyền thoại của U Minh xưa không chỉ bị huỷ hoại, bị biến mất do hoả hoạn mà còn do hậu quả tai hại của nạn chặt phá rừng bừa bãi để trồng rẫy, trồng lúa, nuôi tôm và nạn lâm tặc hoành hành. Tuy chưa có số liệu thống kê cụ thể, nhưng theo nhiều ý kiến thì những thiệt hại của sự tàn phá rừng từ những lí do nêu trên có lẽ cũng không thua kém là bao so với những thảm hoạ cháy rừng. Tổng diện tích rừng U Minh ( gồm U Minh Thượng và U Minh Hạ) sau thảm họa cháy vừa qua chỉ còn lại khoảng 60 nghìn hecta - một con số nhỏ nhoi so với diện tích hơn 200 nghìn hecta vốn có của nó 50 năm trước. Thực tiễn ở U Minh cho thấy, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng cần phải được tiếp cận và tiến hành gắn liền với các biện pháp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để "người dân có thể dựa được vào rừng để sống, nhưng cũng có biện pháp bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả nhất" như tinh thần ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thời gian gần đây. Hinh 1: Hình ảnh cháy rừng U Minh Bảng số liệu cháy rừng năm 2008 Từ ngày 01 tháng 01 năm 2008 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008 Đơn Phòng cháy rừng Cháy rừng Chữa cháy rừng Vị Học tập Máy móc Đường băng Chòi canh Tổ đội Ban Số vụ Diện tích Rừng Rừng trồng Trảng cỏ Số vụ được cứu Số người Số vụ tìm được TP Số vụ đã xử lý móc CĐ TN 1. An Giang 62 49 19 47 27 2 87.00 87.00 2 2. Bình Định 2 31 470 120 4 68.02 68.02 4 3. Bình Dương 2 41 5 4 4 1 0.50 0.50 1 4. Bắc Giang 8 27 350 3 352 105 15 16.63 16.63 15 5. Bắc Kạn 1350 130 1 4.00 4.00 1 6. Bạc Liêu 3 2 3 2 - 0 7. Bắc Ninh 23 28 2 1.70 1.70 2 8. Bình Phước 56 6 11.20 4.30 6.90 6 9. Bà Rịa V.Tàu 41 2917 17 291 48 1 6.00 6.00 1 10. Bình Thuận 50 44 2 262 78 - 0 11.Bến Tre - 0 12. Cao Bằng 2084 206 11 34.98 18.30 16.68 11 13. Cà Mau 1 5 576 123 16 11 2 2.65 2.65 2 14. Điện Biên 11 9 1179 115 - 0 15. Đắc Lắc 120 140 2 21.06 21.06 2 16. Đồng Nai 6 118 4,568.0 62 170 62 - 0 17. Đắc Nông 25 260 5 134 63 - 0 18. Đồng Tháp 15 59 570 29 50 14 9 179.78 179.78 9 19. Gia Lai 392 22 417 176 3 62.90 62.90 3 20. Hậu Giang 1 2 119 14 51 14 - 0 21. Hoà Bình 1 26 1337 223 - 0 22. TP HCM 39 54 66 11 19 - 0 23. Hải Dương 15 85 3 20 33 1 0.18 0.18 1 24. Hà Giang 14 9 48 516 207 2 16.63 8.00 8.63 2 25. Hà Nam 42 10 12 - 0 26. Hà Nội 4 37 12 - 0 27. Hải Phòng 13 31 4 4.67 4.67 4 28. Hà Tây 6 36 55 18 79 57 - 0 29. Hà Tĩnh 25 137 22 135 14 17 109.60 109.60 17 30. Hưng Yên - 0 31. Kiên Giang 9 - 0 32. Khánh Hoà 2 110 173 3 375 114 2.51 2.51 0 33. Kon Tum 109 1271 99 704 95 4 28.31 5.41 22.90 4 34. Long An 50 1998.1 44 117 62 2 27.50 27.50 2 35. Lào Cai 24 284 186 9 1978 171 5 2.63 1.50 1.13 5 36. Lai Châu 33 26 843 101 5 34.67 0.27 34.40 5 37. Lâm Đồng 4 174 20 239 130 2 1.00 0.70 0.30 2 38. Lạng Sơn 15 37 208.70 208.70 37 39. Nghệ An 13 256 84 3159 313 11 9.70 9.70 11 40. Ninh Bình 8 50 - 0 41. Nam Định - 0 42. Ninh Thuận 10 28 193 35 18 23.05 21.25 1.80 18 43. Phú Thọ 10 76 3 800 188 3 - 3 44. Phú Yên 5 1 130 38 4 147.10 147.10 4 45. Quảng Bình 17 481 65 7 13.00 13.00 7 46. Quảng Nam 3 31 1 651 162 - 0 47. Quảng Ngãi 1 14 4 704 76 5 15.70 15.70 5 48. Quảng Ninh 5 841 25 654 155 29 96.12 96.12 29 49. Quảng Trị 312 62 13 152.30 152.30 13 50. Sơn La 1 2.00 2.00 1 51. Sóc Trăng 21 20 1 - 0 52. Thanh Hoá 375 19 60 27 1457 230 3 13.56 13.56 3 53. Thái Nguyên 12 1 1106 119 8 11.85 11.85 8 54. Tây Ninh 9 90 9 26 24 7 15.15 1.50 13.65 7 55. TP Đà Nẵng 7 25 3 30 16 - 0 56. T Quang 1658 166 11 32.21 32.21 11 57. T.T Huế 61 355 72 552 147 13 55.54 55.54 13 58. Trà Vinh - 0 59. VQG B.Mã 14 60 4 9 1 - 0 60. VQG Ba Vì 47 35 9 1 - 0 61. VQG CP 17 7 7 3 20 - 0 62. VQG C.Tiên 13 10 6 8 1 - 0 63. Vĩnh Phúc 1 10 3 106 28 3 2.80 2.80 3 64. VQG T.Đảo 133 56 13 133 26 1 0.14 0.14 - 1 65. VQG Yodon 32 93 6 9 - 0 66. Yên Bái 2 89 1 733 189 7 26.70 26.70 7 Tổng cộng 505 1580 16259.13 926 26357 4802 282 1549.74 61.37 1488.37 0 282 0 0 0 Cùng kỳ năm trước 792 4,746.72 So sánh 36% 33% (Nguồn từ cục thống kê) 4.2 Diện tích rừng bị chặt phá trái phép tăng báo động. Diện tích rừng bị chặt phá và cháy tăng gấp 2,6 lần cùng kỳ năm trước. Tổng cục thống kê cho thấy trong hai tháng đầu năm 2010 diện tích rừng bị cháy và phá lên tới1.210,8 ha, gấp 2,6 lần so với cung kỳ năm trước. Trong đó diện tích rừng bị cháy 1029,4 ha, gấp 2,7 lần, diện tích rừng bị chặt phá 181,4 ha giảm 42 %. Những tỉnh có diện tích rừng bị chặt phá nhiều nhất gồm Bình Phước 671ha (tăng gấp 7 lần so với cùng kỳ năm ngoái), Kon Tum 54ha (tăng 7 lần), Ninh Thuận 35ha (tăng 4 lần), Gia Lai 84ha (tăng gấp 3,5 lần), Lâm Đồng 170ha (tăng 3 lần)... Hình 2: 160ha rừng phòng hộ khu vực hồ Núi Cốc (Thái Nguyên)  nay đã bị khai thác. Theo Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm Lê Văn Thăng, một số vụ phá rừng trọng điểm còn đe dọa nghiêm trọng đến cảnh quan và việc bảo vệ, phòng chống thiên tai của rừng, điển hình như vụ chặt trắng 160ha rừng phòng hộ khu vực Hồ Núi Cốc (Thái Nguyên); vụ phá 386ha rừng phòng hộ ven biển, diễn ra từ năm 2001, để nuôi trồng thủy sản tại Tràng Cát (Hải An, Hải Phòng), trong khi đây là khu vực rừng do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trồng bằng nguồn tài trợ của Nhật Bản. Và mới đây nhất là tình trạng phá rừng, bao chiếm đất để trồng cây công nghiệp rồi sang nhượng trái phép ở Đắk Nông, Bình Phước, Bình Thuận.. Hình 3: Chặt phá rùng Cục Kiểm lâm nhận định, mặc dù tổng số vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng có giảm so với trước (khoảng 34%), song, mức độ vi phạm lớn hơn và diễn biến phức tạp. Các hành vi chặt phá rừng trái phép gia tăng đáng kể, có những vụ huy động tới 200-300 người có tổ chức dùng gậy, đá chống đối và hành hung các lực lượng kiểm lâm, làm nhiều người bị thương. Đặc biệt, tại các vùng trọng điểm ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ chưa triển khai các biện pháp giải quyết có hiệu quả. 4.3 Tình hình phá rừng, khai thác lâm sản trái phép Theo nhận định của Cục Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN-PTNT) tại Hội nghị Sơ kết một năm thực hiện Chỉ thị số 12 của CP về việc tăng cường các biện pháp cấp bách bảo vệ và phát triển rừng (Hà Nội, ngày 9/8), dù số vụ phá rừng và khai thác gỗ trái phép giảm 12% kể từ năm 2000, tình trạng phá rừng vẫn xảy ra nghiêm trọng ở một số địa phương. Đáng lo ngại là vẫn còn tới 14/56 tỉnh có rừng tồn tại tình trạng phá rừng, thậm chí, tình trạng này còn gia tăng trong năm qua (20-25%), mà điển hình là Thừa Thiên - Huế, Phú Thọ, Thái Nguyên, Kiên Giang với gần 40%, Thanh Hóa 26%... Các vụ phá rừng trọng  điểm tập trung tại các tỉnh Tây Nguyên, Bình Thuận, Bình Phước...  Trong khi đó, lực lượng kiểm lâm luôn có lý do là thiếu về quân số, yếu về trang thiết bị; còn chính quyền cấp cơ sở thì buông lỏng quản lý. Nhiều địa phương do e ngại trách nhiệm đã gây khó khăn cho lực lượng kiểm lâm trong việc thống kê các thiệt hại về rừng. Chính vì vậy, nhiều vụ việc đã không được báo cáo kịp thời dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Sơ lược về phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Diện tích rừng trên lãnh thổ Việt Nam Phạm vi nghiên cứu: Trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp lý luận: Nghiên cứu về rừng và diện tích rừng ở Việt Nam xem có những vai trò tác dụng gì đối với môi trường và nền kinh tế của nước nhà. Phương pháp điều tra: Điều tra, tìm hiểu lấy số liệu về rừng và diện tích rừng ở nước ta. Phương pháp trực quan: Phân tích các số liệu dẫn chứng, tổng hợp để đưa ra biện pháp cải thiện tình trạng rừng ở nước ta hiện nay. CHƯƠNG IV: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG 1. Nguyên nhân dẫn đến diện tích rừng bị suy giảm. -Việt Nam là một nước có diện tích rừng lớn, vào mùa khô thi nhiêt độ cao từ 37oc- 39oc nên rất dễ xảy ra cháy rừng. Một số diện tích rừng lớn chưa giao, chưa cho tổ chức, cá nhân thuê, rừng chưa có chủ, tạm thời giao cho Ủy Ban Nhân Dân Xã quản lý cũng là một trong những nguyên nhân khiến rừng bị chặt phá. Những diện tích này chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, núi đá có nhiều khó khăn trong việc quản lý và bảo vệ rừng. -Để phục vụ phát triển kinh tế, nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh phát hiện vẫn tồn tại ở Việt Nam như phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản, phá rừng lấy đất trồng cà phê, cao su, khai thác khoáng sản một cách tùy tiện... Mặt khác, công tác quy hoạch, kế hoạch không theo kịp và hệ thống quản lý của nhà nước còn nhiều bất cập. Đa số người dân sống gần rừng là đồng bào dân tộc thiểu số đã quen với cuộc sống du canh, du cư và đốt rừng làm nương rẫy nên dễ gây ra cháy rừng và làm cho diện tích rừng bị suy giảm. -Nguyên nhân của tình trạng vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng diễn biến phức tạp là do dân số tại chỗ, dân di cư tự do ở các vùng có rừng tăng nhanh, quỹ đất lâm nghiệp bị xâm hại. Giá gỗ rừng tự nhiên tăng cao, buôn bán gỗ trái pháp luật mang lại lợi nhuận lớn, có thu nhập ngay nên kích thích người dân khai thác gỗ. Giá nông sản tăng cao kích thích phá rừng lấy đất sản xuất nông nghiệp. Về chủ quan chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã ở những nơi trọng điểm phá rừng chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng thiếu tích cực, thường xuyên. Thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức bảo vệ rừng, đấu tranh chống các hành vi vi phạm, điều tra, xử lý kẻ cầm đầu. Cán bộ, cơ quan công quyền cơ sở một số nơi có biểu hiện vì lợi ích cục bộ, làm ngơ, thậm chí tiếp tay cho hành vi vi phạm. Cấp xã thiếu phương tiện và kinh phí để tổ chức các hoạt động bảo vệ rừng. Các lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đang quản lý trên 6.504.373ha nhưng năng lực quản lý bảo vệ rừng hạn chế, không đủ sức bảo vệ rừng được giao, tình trạng này tương tự đối với số diện tích do cấp xã quản lý là 2.537.441ha. Chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác đang quản lý 4.076.959ha rừng hầu hết có quy mô nhỏ không thể tự tổ chức lực lượng bảo vệ rừng.Nhiều địa phương đã cho phép triển khai các dự án cải tạo rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng; xây dựng các công trình thủy điện chưa tính toán toàn diện, không chú trọng công tác tuyên truyền tạo tâm lý trong một bộ phân dân cư sợ thiếu đất nên đã tổ chức bao chiếm đất, phá rừng. Các địa phương cho phép thành lập với số lượng ngày càng tăng các xưởng chế biến lâm sản phân tán trong rừng, gần rừng nhưng lại thiếu kiểm tra, giám sát các hoạt động và nguồn gốc gỗ nguyên liệu nhập xưởng để một số lợi dụng trở thành tụ điểm thu gom gỗ trái phép. Chính sách, qui định về quản lý đất lâm nghiệp và rừng còn nhiều bất cập. Xử lý vi phạm ở nhiều nơi chưa nghiêm; một số chế tài xử lý vi phạm còn nhẹ, chưa phát huy tác dụng răn đe. Lực lượng kiểm lâm mỏng, địa vị pháp lý hạn chế, trang thiết bị, phương tiện chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao. Cán bộ kiểm lâm địa bàn còn thiếu, phải kiêm nhiệm nhiều xã. Một số kiểm lâm địa bàn thiếu năng lực, chưa tham mưu kịp thời cho chính quyền các biện pháp bảo vệ rừng. Một bộ phận giao động trước khó khăn, thậm chí có biểu hiện tiêu cực, bị mua chuộc, tiếp tay cho hành vi trái pháp luật. -Cơ sở vật chất, phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng của Việt Nam còn hạn chế, chưa áp dung những phương tiện chữa cháy tiên tiến nên khi có cháy rừng xảy ra thì rất khó để dập tắt và tiếp cân nơi xảy ra cháy kho khăn. 2. Biện pháp bảo vệ rừng. 2.1. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, nâng cao nhận thức về quản lý bảo vệ rừng. - Xây dựng các chương trình về thông tin - giáo dục - truyền thông, phổ biến kiến thức về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng nhằm nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng của các chủ rừng, chính quyền các cấp, các ngành và toàn xã hội. - Đổi mới phương pháp tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận thông tin, nhất là đối với đồng bào dân tộc sống ở vùng sâu, vùng xa. Đưa kiến thức cơ bản về bảo vệ tài nguyên rừng vào chương trình giảng dạy ở cấp tiểu học và trung học. In ấn, phát hành các tài liệu tuyên truyền để phân phát cho các cộng đồng, xây dựng các bảng tuyên truyền ở những khu vực công cộng, trên giao lộ, cửa rừng... - Vận động các hộ gia đình sống trong và gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng; xây dựng và thực hiện các quy ước bảo vệ rừng ở cấp xã. 2.2. Quy hoạch, xác định lâm phận các loại rừng ổn định. - Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức rà soát, lập quy hoạch 3 loại rừng của địa phương; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát quy hoạch rừng ngập mặn ven biển đảm bảo an toàn bảo vệ môi trường ven biển và phát triển nuôi trồng thủy sản hợp lý, tổng hợp quy hoạch ba loại rừng quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể ba loại rừng toàn quốc; - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát danh mục hệ thống rừng đặc dụng để ổn định đến năm 2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong năm 2006. Trên cơ sở đó, xác định thứ tự ưu tiên đầu tư cho các khu rừng đặc dụng theo Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. - Xác định ranh giới ba loại rừng trên bản đồ và thực địa; hoàn thành việc đóng cọc mốc, cắm biển báo ranh giới rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đầu nguồn vào năm 2010. 2.3. Hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật. - Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Thiết lập cơ chế, tổ chức quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo ngành và liên ngành hợp lý để quản lý, bảo vệ rừng có hiệu quả. - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan rà soát, hệ thống hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về bảo vệ và phát triển rừng; sửa đổi, bổ xung, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ rừng, chính quyền các cấp và người dân trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Trên cơ sở đó, xây dựng chiến lược khung pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020, tạo hành lang pháp lý ổn định trong hoạt động lâm nghiệp. - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xây dựng chính sách về bảo vệ rừng theo hướng đảm bảo lợi ích của những người làm nghề rừng, những người trực tiếp tham gia bảo vệ rừng, tạo động lực thu hút đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng. Trong đó, sớm sửa đổi chính sách về quyền hưởng lợi của chủ rừng theo Quyết định 187/TTg của Thủ tướng Chính phủ; chính sách giao, cho thuê rừng, khoán bảo vệ rừng; chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng lâm nghiệp trước hết là nâng cao tỷ trọng vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng từ nguồn vốn thuộc chương trình 661 lên mức 15% - 20% tổng vốn chương trình; chính sách khuyến khích nhập khẩu gỗ nguyên liệu và trồng rừng nguyên liệu thay thế gỗ rừng tự nhiên. - Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục rà soát và sắp xếp các lâm trường quốc doanh; đồng thời triển khai ngay các phương án bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp thu hồi từ các lâm trường quốc doanh, không để tình trạng rừng trở thành vô chủ. Trao quyền tự chủ về kinh doanh và tài chính cho các nông, lâm trường quốc doanh sau khi sắp xếp lại. 2.4. Nâng cao trách nhiệm của chủ rừng, chính quyền các cấp và sự tham gia của các ngành, các tổ chức xã hội vào bảo vệ rừng. a) Đối với chủ rừng. - Chủ rừng phải chịu trách nhiệm bảo vệ rừng được Nhà nước giao, cho thuê theo quy định hiện hành của pháp luật. Những chủ rừng quản lý trên 500ha rừng phải có lực lượng bảo vệ rừng của mình. Hình 4: chủ rừng tự quản lý rừng - Xây dựng các chương trình, đề án bảo vệ rừng trên diện tích được giao, được thuê đảm bảo bố trí các nguồn lực không để rừng bị xâm hại trái pháp luật. b) Đối với Uỷ ban nhân dân các cấp. - Thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng theo quy định tại Luật bảo vệ và phát triển rừng. Tổ chức các lực lượng truy quét lâm tặc phá rừng tại địa phương. Ngăn chặn kịp thời các trường hợp khai thác, phá rừng và lấn chiếm đất rừng. Chỉ đạo xử lý nghiêm khắc các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và những người bao che, tiếp tay cho lâm tặc. Những địa phương để xảy ra tình trạng phá rừng trái phép thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp phải kiểm điểm làm rõ trách nhiệm và bị xử lý theo quy định. - Tổ chức khôi phục lại diện tích rừng bị phá, lấn chiếm trái quy định của pháp luật trong thời gian qua. - Tiến hành kiểm tra, cưỡng chế tất cả những người di dư tự do ra khỏi các vùng rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. - Hoàn thành giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vào năm 2010. c) Đối với lực lượng Công an. - Bộ Công an chỉ đạo công an các tỉnh, thành phố hỗ trợ và phối hợp thường xuyên với lực lượng kiểm lâm trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng theo một cơ chế thống nhất; tổ chức điều tra nắm chắc các đối tượng phá rừng, kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép, đặc biệt phải triển khai các biện pháp kiên quyết trừng trị thích đáng; ngăn chặn triệt để tình trạng chống người thi hành công vụ; phối hợp với các lực lượng có liên quan truy quét bọn phá rừng và kiểm tra, kiểm soát lưu thông lâm sản. Rà soát và xử lý dứt điểm các vụ án hình sự tồn đọng trong lĩnh vực bảo vệ rừng. d) Đối với lực lượng Quân đội. - Huy động các đơn vị quân đội ngăn chặn các điểm nóng về phá rừng: Bộ Quốc phòng chỉ đạo các Quân khu, Quân đoàn, Bộ tư lệnh Biên phòng; Bộ chỉ huy quân sự và Bộ chỉ huy biên phòng các tỉnh phối hợp với chính quyền địa phương xác định những khu vực rừng đang là điểm nóng về phá rừng, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ để tổ chức các đơn vị quân đội đóng quân, chốt giữ, xây dựng địa bàn quốc phòng an ninh gắn với bảo vệ rừng, bố trí lực lượng, phương tiện thường trực sẵn sàng tham gia các đợt truy quét chống chặt phá rừng. Sau khi giải quyết căn bản ổn định tình hình phá rừng trái phép trong một thời gian, các đơn vị quân đội bàn giao việc bảo vệ rừng cho chính quyền địa phương để tiếp tục duy trì công tác bảo vệ rừng. Tuy nhiên, ở những khu vực có vị trí quan trọng về quốc phòng, thì có thể giao quản lý rừng lâu dài cho các đơn vị quân đội. - Huy động các đơn vị quân đội tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng ở những khu vực rừng có nguy cơ cháy rừng cao như: U Minh, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh phải có phương án để huy động lực lượng quân đội đóng quân trên địa bàn bố trí lực lượng thường trực, canh phòng và sẵn sàng chữa cháy rừng vào các tháng mùa khô cao điểm. Quân đội phải chủ động phương án tăng cường lực lượng, huấn luyện và diễn tập tại các khu vực này, phải coi chống lửa rừng như chống giặc để bảo vệ địa bàn quốc phòng. - Huy động lực lượng quân đội tham gia trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng: Bộ Quốc phòng và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu chính sách thu hút các đơn vị quân đội tham gia trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng. Các đơn vị quân đội duy trì lực lượng bộ khung chỉ huy, lực lượng lao động chủ yếu sử dụng lực lượng nghĩa vụ quân sự. Sau khi rừng khép tán có thể bàn giao cho chính quyền để giao cho người dân quản lý bảo vệ, kinh doanh hoặc giao cho các đơn vị quân đội tiếp tục quản lý kinh doanh theo dự án và quy định của pháp luật. -Mở rộng diện tích rừng giao cho các đơn vị quân đội (nhất là các Đồn Biên phòng) tổ chức quản lý, bảo vệ; xây dựng các tuyến đường an ninh quốc phòng gắn với công tác bảo vệ rừng hai bên đường dọc tuyến biên giới; hải đảo và các khu vực rừng ở vùng sâu, vùng xa. d) Đối với lực lượng Quân đội. - Huy động các đơn vị quân đội ngăn chặn các điểm nóng về phá rừng: Bộ Quốc phòng chỉ đạo các Quân khu, Quân đoàn, Bộ tư lệnh Biên phòng; Bộ chỉ huy quân sự và Bộ chỉ huy biên phòng các tỉnh phối hợp với chính quyền địa phương xác định những khu vực rừng đang là điểm nóng về phá rừng vận động và giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng cho các thành viên; phát hiện, đấu tranh, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật; tổ chức các phong trào quần chúng tham gia bảo vệ và phát triển rừng. 2.5. Củng cố tổ chức, nâng cao năng lực của lực lượng kiểm lâm. - Đổi mới tổ chức lực lượng kiểm lâm theo Luật bảo vệ và phát triển rừng để kiểm lâm gắn với chính quyền, với dân, với rừng, thực hiện chức năng tham mưu cho chính quyền địa phương, tổ chức bảo vệ rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo đảm chấp hành pháp luật trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Bố trí kiểm lâm địa bàn ở 100% các xã có rừng để tham mưu cho chính quyền cơ sở trong công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp, theo dõi chặt chẽ diễn biến rừng; kịp thời phát hiện, ngăn chặn ngay từ đầu những vụ vi phạm. Từng bước tăng biên chế cho lực lượng kiểm lâm để bảo đảm định mức bình quân 1.000ha rừng có 1 kiểm lâm. Hình 5: kiểm lâm với công tác bảo vệ rừng. - Tăng cường trang thiết bị cho kiểm lâm gồm các phương tiện hoạt động phù hợp với địa bàn rừng núi, hệ thống thông tin liên lạc, thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng. - Ban hành một số chính sách về kinh phí cho hoạt động nghiệp vụ, tiền lương, chế độ thương binh, liệt sỹ, cơ chế sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ để trấn áp lâm tặc. Ban hành tiêu chuẩn ngạch công chức kiểm lâm vào năm 2006. - Đánh giá nhu cầu đào tạo về quản lý bảo vệ rừng, lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ và chính trị cho các đối tượng. Xây dựng chiến lược đào tạo về bảo vệ rừng đến năm 2010. Tổ chức các chương trình trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý, bảo vệ rừng. 2.6. Hỗ trợ nâng cao đời sống người dân. - Đẩy mạnh việc giao rừng và đất lâm nghiệp, khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư sống chủ yếu bằng nghề lâm nghiệp, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc; đồng thời hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ rừng. -Sớm hoàn thành chủ trương giải quyết đất ở, đất sản xuất, hỗ trợ nhà ở cho đồng bào dân tộc đang gặp nhiều khó khăn, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, chương trình định canh định cư, quy hoạch và tổ chức thực hiện các dự án ổn định vùng kinh tế mới để người dân có thu nhập từ sản xuất, sớm ổn định cuộc sống, giảm bớt sự lệ thuộc vào thu nhập từ các hoạt động khai thác rừng trái pháp luật... - Rà soát ổn định diện tích canh tác nương rẫy theo phong tục tập quán của đồng bào ở một số khu vực, từng bước chuyển sang phương thức canh tác thâm canh, cung cấp giống cây trồng phù hợp với lập địa, có hiệu quả kinh tế cao và hướng dẫn kỹ thuật cho đồng bào. Nghiên cứu chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho đồng bào tương đương với thu nhập từ canh tác quảng canh nương rẫy hiện nay (tương đương khoảng 1 đến 1,5 tấn thóc/hécta/năm) trong thời gian 3 đến 5 năm, cung cấp giống cây rừng và một số vật tư cần thiết khác cho đồng bào dân tộc tại chỗ để chuyển căn bản họ sang trồng rừng, đồng thời cho họ được hưởng 100% sản phẩm rừng. 2.7. Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng. - Lắp đặt và khai thác có hiệu quả trạm thu ảnh viễn thám phục vụ cho công tác dự báo, cảnh báo cháy rừng và theo dõi diễn biến rừng. - Xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng, bảo vệ rừng (đường băng, chòi canh, hồ chứa nước, trạm bảo vệ, đường tuần tra...) ở các khu rừng đặc dụng, phòng hộ, các vùng trọng điểm đã được xác định về phá rừng và cháy rừng. - Đầu tư xây dựng các Trung tâm huấn luyện, đào tạo chuyên ngành cho lực lượng bảo vệ rừng. - Trang bị phương tiện đáp ứng yêu cầu công tác hiện trường cho các Hạt Kiểm lâm trên toàn quốc, trước mắt tập trung đầu tư cho các Hạt Kiểm lâm ở những vùng trọng điểm. 2.8. Ứng dụng khoa học công nghệ. -Ứng dụng công nghệ tin học, GIS, viễn thám vào công tác quản lý bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp. - Thiết lập và sử dụng có hiệu quả mạng máy tính chuyên ngành; xây dựng phần mềm quản lý, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và các vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. - Xây dựng, tổ chức thực hiện quy trình giám sát, điều tra đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng. - Nghiên cứu, ứng dụng công nghệ phòng cháy, chữa cháy rừng; xây dựng và tổ chức thực hiện các quy trình, quy phạm kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng. 2.9. Tài chính. - Nghiên cứu và xây dựng quy chế tăng cường nguồn lực tài chính và thu hút các nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ rừng; ban hành cơ chế tài chính đầu tư cho các khu rừng đặc dụng, phòng hộ. - Đổi mới cơ chế cấp phát tài chính từ ngân sách nhà nước; xây dựng định mức chi phí thường xuyên về quản lý bảo vệ rừng tính theo quy mô diện tích và yêu cầu thực tế. - Xây dựng cơ chế về đóng góp tài chính cho hoạt động bảo vệ rừng từ các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng. - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Uỷ ban nhân dân các tỉnh đáp ứng đủ vốn đầu tư cho các dự án, chương trình về bảo vệ và phát triển rừng được duyệt với tổng kinh phí 2.077 tỷ đồng bao gồm: đầu tư cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng 502 tỷ đồng; khoán bảo vệ 4,5 triệu hécta rừng đặc dụng, phòng hộ 1.250 tỷ đồng; hoạt động nghiệp vụ, công trình và trang thiết bị bảo vệ rừng 225 tỷ đồng; xây dựng cơ sở và huấn luyện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực về bảo vệ rừng 100 tỷ đồng. 2.10. Hợp tác quốc tế. - Triển khai thực hiện tốt các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Công ước về buôn buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp - CITES; Hiệp định ASEAN về chống ô nhiễm khói bụi xuyên biên giới - haZE; Diễn đàn hổ toàn cầu - GTF,...) - Thu hút các nguồn vốn ODA và các hỗ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ rừng. - Xây dựng và thực hiện các thỏa thuận song phương về hợp tác bảo vệ rừng liên biên giới với các nước Lào và Cămpuchia. PHẦN C: KẾT LUẬN CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ VỀ RỪNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. KIẾN NGHỊ Diện tích rừng nước ta đang có chiều hướng tăng lên, tuy nhiên chất lượng ngày càng giảm. Để rừng ngày càng tốt tươi không những về mặt diện tích che phủ mà cả chất lượng rừng, cần có những biện pháp hữu hiệu. Vấn đề đặt ra ở đây là phải có sự góp sức của cả hai phía: Nhà nước và nhân dân. Nhà nước phải có những chính sách mới phù hợp nhằm thúc đẩy bảo vệ rừng và phát triển bền vững, đồng thời nâng cao nhận thức cho người dân về giá trị của rừng đối với cuộc sống của họ để họ tích cực tham gia vào việc bảo vệ rừng và trồng rừng. Ở nhiều địa phương, người dân từng nói thiết tha rằng, trước hết Nhà nước cần thực hiện một cách nghiêm túc mọi điều luật về bảo vệ rừng, nói Nhà nước là nói đến tất cả các cấp (xã, huyện, tỉnh và Trung ương và các lâm trường, đơn vị lâm nghiệp quốc doanh). Không thể để tồn tại bất kỳ sự nhân nhượng nào đối với các vụ tàn phá rừng; dù bất kỳ lý do gì nếu đã phạm luật đều phải xử lý. Sự nhân nhượng đã thể hiện khá phổ biến ở nhiều vụ việc vi phạm luật, xâm phạm đến rừng mà không được xử lý nghiêm minh. Điều đó dẫn đến việc khó kiểm soát, ngăn chặn việc xâm phạm rừng đang diễn ra tại nhiều địa phương. Bất kỳ công trình xây dựng nào cũng phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường. Trên thực tế, rất nhiều dự án đầu tư, đặc biệt là các công trình xây dựng hạ tầng cơ sở (đường giao thông, đập nước, khu công nghiệp, hệ thống trang trại, nông trường, ao, đầm nuôi trồng thuỷ sản,...) đã không thực hiện đánh giá tác động môi trường. Những vụ việc không nghiêm túc chấp hành luật như vậy đã gây nên các hậu quả dây chuyền. Nhiều nơi rừng bị xâm hại mà không ngăn chặn được cũng là hậu quả tiếp theo của việc không nghiêm minh nói trên. Một số khu dân cư mới đang mọc lên dọc đường Trường Sơn, khi con đường chưa kịp hoàn nghiêm trọng về môi trường của sự việc này sẽ diễn ra như thế nào, chúng ta đã có thể dự đoán trước được. Về phía nhân dân địa phương, nhiều điển hình tốt về trồng và bảo vệ rừng ở khắp đất nước đã nói lên rằng khi người dân nhận thức được vai trò quan trọng của rừng đối với cuộc sống của bản thân và cả cộng đồng thì họ sẵn sàng tập trung mọi sức lực và kinh nghiệm để bảo vệ rừng và phát triển rừng một cách bền vững. Như “Việc huy động người dân địa phương tham gia chữa cháy rất hiệu quả bởi họ có kinh nghiệm, thông thạo đường đi, dập lửa hiệu quả dù chỉ bằng những công cụ thô sơ. Khi tham gia chữa cháy, cần huy động nhiều thành phần nên rất cần sự thống nhất trong chỉ đạo và chỉ huy các lực. 2. KẾT LUẬN: Phát triển mạnh các chương trình nghiên cứu ứng dụng các sản phẩm phi gỗ cho việc phát triển sinh kế đối với người dân sống gần rừng và dựa vào rừng, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất việc phá rừng. Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng cần phải được tiếp cận và tiến hành gắn liền với các biện pháp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội để "người dân có thể dựa được vào rừng để sống, nhưng cũng có biện pháp bảo vệ và phát triển rừng có hiệu quả nhất" như tinh thần ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thời gian gần đây. Quy hoạch, sản xuất, khai thác tài nguyên rừng phải đi đôi với bảo vệ, bồi đắp tài nguyên rừng. Đối với những vùng rừng núi còn gặp nhiều khó khăn về mọi mặt, cần có giải pháp chuyển đổi cơ cấu kinh tế thích hợp, giảm sức ép đối với rừng từ các hoạt động khai thác thái quá có tính huỷ hoại. Nói tóm lại, để bảo vệ, khai thác và phát triển tài nguyên rừng - món quà của sự cấu thành chức năng tự nhiên của thiên nhiên ban tặng - rất cần thiết phải hoàn chỉnh và thực thi ngay một chiến lược đồng bộ, có tính khả thi về tài nguyên rừng. Song hành với việc nâng cao nhận thức thông qua công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục thiết thực, đòi hỏi phải có một khung khổ pháp lý cụ thể cho các khâu trong quy trình bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; đồng thời cần phải đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên trách đủ mạnh, có tinh thần trách nhiệm và khả năng tác nghiệp cao, được đầu tư thoả đáng và trang bị phương tiện kỹ thuật chuyên ngành hiện đại. Vấn đề có ý nghĩa mấu chốt trong việc thực hiện Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2001 - 2010 nhằm đạt được mục tiêu đề ra là nâng độ che phủ của rừng ở nước ta lên 43%, bảo vệ tính đa dạng sinh học và tính ổn định, bền vững của quá trình phát triển tài nguyên rừng thì nhất thiết phải đặt sự nghiệp bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường sống là bộ phận cấu thành hữu cơ không thể thiếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, của chiến lược công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Trong đó, cần chú trọng hơn nữa đến đổi mới cơ chế chính sách nhằm chuyển mạnh một cách hiệu quả ngành lâm nghiệp theo hướng lâm nghiệp xã hội - lâm nghiệp cộng đồng, huy động được mọi nguồn lực và lực lượng xã hội tham gia quản lý, bảo vệ rừng vì lợi ích trực tiếp của cộng đồng. Đây là một trong những hướng đi thiết thực nhằm ngăn chặn và đẩy lùi những thảm họa như đã từng xảy ra với rừng U Minh./. Tài liệu tham khảo: trang web: www. Google.com Trang web: www. Tailieu.com.vn MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docde tai thuc trang rung o Viet Nam hien nay.doc
Tài liệu liên quan