Đề tài Thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở tỉnh Bắc Giang

I. Phần mở đầu : 1.1 Lý do chọn đề tài : Sau khi giải quyết vấn đề an ninh lương thực, ngành sản xuất rau quả Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần đáng kể trong quá trình phát triển và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nâng cao đời sống cho người dân nông thôn. Với ưu thế về sự đa dạng của điều kiện sinh thái cả về tài nguyên đất cũng như thời tiết khí hậu và sự phong phú về kinh nghiệm truyền thống của từng địa phương và đặc biệt là sự quan tâm của Đảng và nhà nước, sản xuất rau quả ở Việt Nam nói chung và các vùng sản xuất rau quả nói riêng có một số thuận lợi rất cơ bản., diện tích và sản lượng những năm gần đây có sự gia tăng nhanh chóng. Trong số các cây thực phẩm thì dưa chuột bao tử là cây trồng ngắn ngày, cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến rau quả xuất khẩu được nhiều quốc gia ưa thích. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dưa chuột bao tử là cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả có nhiều vitamin A, B, B6, E và đặc biệt có nhiều men tiêu hoá làm cho quá trình đồng hoá và hấp thụ thức ăn được tốt hơn. Nhận thức được vai trò đó của dưa chuột bao tử, những năm gần đây đã có nhiều cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước đã khảo sát nghiên cứu và chọn Việt Nam là nơi sản xuất dưa chuột bao tử làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu sang nước ngoài. Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123 nghìn ha đất nông nghiệp, 110 nghìn ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất ở, còn lại là các loại đất khác. Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản. Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển công nghiệp - dịch vụ. Đất nông nghiệp của tỉnh, ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận. Tỉnh đã có kế hoạch chuyển hàng chục nghìn ha trồng lúa sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh những thuận lợi như trên, việc kinh doanh dưa chuột bao tử của tỉnh Bắc Giang còn gặp nhiều khó khăn. Trước hết về trình độ khoa học kỹ thuật của người nông dân còn thấp, công tác quản lý thị trường của nhà nước cũng chưa đáp ứng với yêu cầu của từng ngành. Vì thế năng suất và hiệu quả của cây dưa chuột bao tử chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của nó. Vì thế việc nghiên cứu tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở tỉnh Bắc Giang, từ đó tìm ra giải pháp nhằm góp phần phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế của cây trồng dưa chuột bao tử của tỉnh là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tế. Xuất phát từ thực tế đó, nhóm chúng tôi đã chọn nội dung “ Thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở tỉnh Bắc Giang” làm đề tài nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu : Nghiên cứu và đánh giá thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở tỉnh Bắc Giang. Nghiên cứu, đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh. 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu : 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề kinh tế, kỹ thuật và tổ chức quản lý trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử với chủ thể là các nông hộ sản xuất dưa chuột bao tử, các đối tượng tham gia thị trường xuất khẩu dưa chuột bao tử như Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang, Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu GOC, Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu Đông Hải. 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu: - Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các vần đề lý luận, thực tiến và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang - Thời gian: Số liệu thu thập từ năm 2006 đến đầu năm 2010 1.4 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu : 1.4.1 Đặc điểm địa bàn : Huyện Lạng Giang nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Giang, có vị trí là cửa ngõ nối liền các tỉnh phía Đông Bắc với thành phố Bắc Giang. Huyện Lạng Giang có diện tích tự nhiên 246,06 km2. Dân số của huyện đến 2010 khoảng gần 250.000 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 42%. Với vị trí thuận lợi, hiện nay, Lạng Giang là một trong 4 huyện thành phố của tỉnh được xác định là vùng trọng điểm phát triển KT-XH. Nơi đây đã hình thành một số cụm công nghiệp và một số vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến nông sản. Điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu tốt, rất thích hợp cho việc trồng cây nông sản, đặc biệt là dưa chuột bao tử. 1.4.2 Phương pháp nghiên cứu : - Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: nghiên cứu 14 xã thuộc địa bàn huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang - Phương pháp thu thập số liệu - + Số liệu thứ cấp: * Thông qua các luận án, luận văn, sách báo và tạp chí liên quan. * Niên giám thống kê của tỉnh Bắc Giang đã được công bố * Niên giám thống kê của huyện Bắc Giang đã được công bố * Số liệu tổng quan chung của các xã trong huyện + Số liệu sơ cấp: Phiếu điều tra các nông hộ trồng dưa chuột bao tử trên địa bàn Huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang - Xử lý số liệu: sử dụng các phép toán học, phần mềm Excel

doc36 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 26/06/2013 | Lượt xem: 317 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở tỉnh Bắc Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần mở đầu : 1.1 Lý do chọn đề tài : Sau khi giải quyết vấn đề an ninh lương thực, ngành sản xuất rau quả Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, góp phần đáng kể trong quá trình phát triển và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nâng cao đời sống cho người dân nông thôn. Với ưu thế về sự đa dạng của điều kiện sinh thái cả về tài nguyên đất cũng như thời tiết khí hậu và sự phong phú về kinh nghiệm truyền thống của từng địa phương và đặc biệt là sự quan tâm của Đảng và nhà nước, sản xuất rau quả ở Việt Nam nói chung và các vùng sản xuất rau quả nói riêng có một số thuận lợi rất cơ bản., diện tích và sản lượng những năm gần đây có sự gia tăng nhanh chóng. Trong số các cây thực phẩm thì dưa chuột bao tử là cây trồng ngắn ngày, cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến rau quả xuất khẩu được nhiều quốc gia ưa thích. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dưa chuột bao tử là cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả có nhiều vitamin A, B, B6, E…và đặc biệt có nhiều men tiêu hoá làm cho quá trình đồng hoá và hấp thụ thức ăn được tốt hơn. Nhận thức được vai trò đó của dưa chuột bao tử, những năm gần đây đã có nhiều cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước đã khảo sát nghiên cứu và chọn Việt Nam là nơi sản xuất dưa chuột bao tử làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu sang nước ngoài. Bắc Giang có 382.200 ha đất tự nhiên, bao gồm 123 nghìn ha đất nông nghiệp, 110 nghìn ha đất lâm nghiệp, 66,5 nghìn ha đất đô thị, đất chuyên dùng và đất ở, còn lại là các loại đất khác. Nhìn chung, tỉnh Bắc Giang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản. Quốc lộ 1A mới hoàn thành tạo ra quỹ đất lớn có nhiều lợi thế cho phát triển công nghiệp - dịch vụ. Đất nông nghiệp của tỉnh, ngoài thâm canh lúa còn thích hợp để phát triển rau, củ, quả cung cấp cho thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận. Tỉnh đã có kế hoạch chuyển hàng chục nghìn ha trồng lúa sang phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao. Bên cạnh những thuận lợi như trên, việc kinh doanh dưa chuột bao tử của tỉnh Bắc Giang còn gặp nhiều khó khăn. Trước hết về trình độ khoa học kỹ thuật của người nông dân còn thấp, công tác quản lý thị trường của nhà nước cũng chưa đáp ứng với yêu cầu của từng ngành. Vì thế năng suất và hiệu quả của cây dưa chuột bao tử chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của nó. Vì thế việc nghiên cứu tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở tỉnh Bắc Giang, từ đó tìm ra giải pháp nhằm góp phần phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế của cây trồng dưa chuột bao tử của tỉnh là rất cần thiết và có ý nghĩa thực tế. Xuất phát từ thực tế đó, nhóm chúng tôi đã chọn nội dung “ Thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở tỉnh Bắc Giang” làm đề tài nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu : Nghiên cứu và đánh giá thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở tỉnh Bắc Giang. Nghiên cứu, đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh. 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu : 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề kinh tế, kỹ thuật và tổ chức quản lý trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử với chủ thể là các nông hộ sản xuất dưa chuột bao tử, các đối tượng tham gia thị trường xuất khẩu dưa chuột bao tử như Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang, Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu GOC, Công ty cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu Đông Hải. Phạm vi nghiên cứu: Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các vần đề lý luận, thực tiến và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Thời gian: Số liệu thu thập từ năm 2006 đến đầu năm 2010 Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu : 1.4.1 Đặc điểm địa bàn : Huyện Lạng Giang nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Giang, có vị trí là cửa ngõ nối liền các tỉnh phía Đông Bắc với thành phố Bắc Giang. Huyện Lạng Giang có diện tích tự nhiên 246,06 km2. Dân số của huyện đến 2010 khoảng gần 250.000 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 42%. Với vị trí thuận lợi, hiện nay, Lạng Giang là một trong 4 huyện thành phố của tỉnh được xác định là vùng trọng điểm phát triển KT-XH. Nơi đây đã hình thành một số cụm công nghiệp và một số vùng sản xuất nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến nông sản. Điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu tốt, rất thích hợp cho việc trồng cây nông sản, đặc biệt là dưa chuột bao tử. Phương pháp nghiên cứu : Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: nghiên cứu 14 xã thuộc địa bàn huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang Phương pháp thu thập số liệu + Số liệu thứ cấp: * Thông qua các luận án, luận văn, sách báo và tạp chí liên quan. * Niên giám thống kê của tỉnh Bắc Giang đã được công bố * Niên giám thống kê của huyện Bắc Giang đã được công bố * Số liệu tổng quan chung của các xã trong huyện + Số liệu sơ cấp: Phiếu điều tra các nông hộ trồng dưa chuột bao tử trên địa bàn Huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang Xử lý số liệu: sử dụng các phép toán học, phần mềm Excel… Phần II: Nội dung : 2.1 Cơ sở lý luận : 2.1.1 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của dưa bao tử : Cây sinh trưởng khỏe, phát triển nhanh, khả năng chống chịu bệnh, đặc biệt là các bệnh sương mai, đốm vàng trên lá tốt hơn, giảm được chi phí sản xuất do ít phải phun thuốc phòng trừ sâu bệnh. Sức cây bền, thời gian cho thu hoạch kéo dài nên đạt năng suất cao. Thực tế 3 vụ sản xuất vừa qua cho thấy năng suất trung bình đạt từ 1,5-1,6 tấn/sào, có hộ chăm sóc tốt, thu hái kịp thờ đã đạt tới 2,4 tấn/sào, cao hơn các giống khác từ 10-15%. Ưu điểm nổi bật là quả ra đồng đều về kích cỡ cho từng lứa nên dễ thu hái đạt chất lượng cao và có thể cung cấp cho chế biến nhiều loại sản phẩm theo kích thước quả: dưa bao tử, dưa trung tử, dưa 6-9 nên hiệu quả kinh tế đạt cao. Quả dưa màu xanh, thuôn đều nên ít bị thải loại; không biến màu sau vài ngày thu hoạch; vỏ dày, đặc ruột, nhiều gai vẫn giữ được sau khi rửa, ăn giòn. Dưa bao tử dễ chế biến, mẫu mã đẹp, chất lượng sản phẩm sau chế biến cao, giòn, giữ được hương vị đặc trưng, thích hợp cho cả dưa dầm dấm đóng lọ và dưa muối. Theo quy trình kĩ thuật áp dụng trên đồng đất miền Bắc, cây dưa chuột bao tử được gieo trồng một năm 2 vụ. Vụ xuân, từ 15/2 đến 28/2 dương lịch và kết thúc thu hoạch vào khoảng 30/5 dương lịch. Vụ đông, từ 20/9 đến 15/10 dương lịch và kết thúc thu hoạch vào khoảng 31/1 dương lịch năm tiếp theo. Tính từ lúc trồng, đến ngày thứ 30 là cây đã cho thu hoạch. Cây dưa chuột rất khoẻ và sinh trưởng nhanh, các loại sâu bệnh thường gặp chỉ là sâu đơn thuần như sâu xám, sâu xanh, sâu vẽ bùa; bệnh thì chỉ phòng ngừa sương mai, chết yểu, bệnh chết xanh. Kĩ thuật trồng cũng tương đối đơn giản, mọi người dân đều có thể làm được từ khâu xử lý hạt giống, ngâm ủ hạt, làm bầu, tra hạt vào bầu và đưa bầu ra ruộng… 2.1.2 Tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử : Dưa bao tử được sản xuất dưới sự kết hợp chặt chẽ giữa Hội nông dân, cán bộ khuyến nông và nhà thu mua trong việc tập huấn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, thông tin tuyên truyền và bao tiêu sản phẩm. Từ kết quả bước đầu, cây dưa chuột xuất khẩu được lãnh đạo địa phương và ngành chức năng đánh giá là cây trồng thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng một số đồng đất trên địa bàn huyện. Trồng 1 sào dưa chuột bình quân thu 1,5 tấn quả loại 1 và 3-400 kg loại 2, Công ty bao tiêu sản phẩm với giá cố định 3.000 đồng/kg loại 1; 2.200 đồng/kg loại 2 thì mỗi sào trung bộ thu được trên 5 triệu đồng/vụ, trừ đi chi phí ban đầu mỗi sào lãi ròng từ 3, 5 -3,7 triệu đồng. Có nhà trồng 2 sào mỗi vụ có thu nhập trên 7 triệu đồng trong 3 tháng. Ba công thức so sánh giữa trồng dưa, trồng ngô hoặc rau màu các loại được bà con nông dân đánh giá cao cây dưa. Hơn nữa, một ưu điểm vượt trội của trồng dưa chuột bao tử là có thể trồng quanh năm đặc biệt là vụ đông muộn, giúp giải quyết được việc làm thường xuyên khi nông nhàn. Ngoài lợi ích kinh tế trước mắt, việc trồng dưa bao tử đã giúp người dân quen hơn với sản xuất nông nghiệp hàng hoá - một điều vô cùng cần thiết khi nông nghiệp nước ta hội nhập. Dưa bao tử đòi hỏi rất cao về tiêu chuẩn kỹ thuật như kích thước, trọng lượng, màu sắc… do vậy đỏi hỏi người nông dân phải luôn tuân thủ đúng quy trình canh tác. Điều này là rất tốt cho những chương trình, dự án nông nghiệp hàng hoá sẽ được triển khai ở xã trong thời gian tới. 2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức sản xuất, kinh doanh dưa bao tử Thuận lợi trong sản xuất vụ này là thời tiết ít mưa tạo điều kiện cho nông dân làm đất trồng các loại rau màu đúng thời vụ. Giá các loại giống cây trồng, vật tư kỹ thuật nông nghiệp, nhất là phân bón giảm. Tại các địa phương, đạm u-rê đang được bán phổ biến ở mức giá 6,3 nghìn đồng/kg, giảm 300-400 đồng/kg so với vụ mùa và gần 3 nghìn đồng/kg so với vụ đông năm trước; phân tổng hợp NPK 3,3 nghìn đồng/kg, lân 2,4 nghìn đồng/kg, ka li 10,5-11 nghìn đồng/kg, giảm nhẹ so với vụ trước. Đặc biệt, Công ty cổ phần Vật tư kỹ thuật nông nghiệp Bắc Giang tiếp tục triển khai chương trình cung ứng phân bón trả chậm tạo điều kiện cho những hộ kinh tế khó khăn có đủ phân bón đầu tư thâm canh ngay từ đầu vụ. Nhận thức rõ vai trò của vụ đông nên chính quyền các cấp, ngành chức năng có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao. UBND tỉnh trích ngân sách hơn 4,2 tỷ đồng hỗ trợ nông dân trồng khoai tây chất lượng sạch bệnh và sử dụng phân bón Neb-26 với diện tích khoảng 1.500 ha nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Nhiều địa phương cũng dành hàng trăm triệu đồng hỗ trợ nông dân mở rộng diện tích cây trồng chủ lực, có giá trị kinh tế cao. Do ảnh hưởng của sự biến đổi khí hậu toàn cầu mà trong nhiều tháng qua không có mưa. Điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp. Các ao hồ chứa nước trên địa bàn bị khô hạn không có đủ nước tưới và có thể dẫn đến tình trạng cây bị chết do thiếu nước. Vì thế nguy cơ mất mùa đối với các loài cây công nghiệp trên địa bàn là hiện hữu. Từ năm 1998 đến nay chưa có năm nào hạn hán như năm này, các sông suối chính trên địa bàn huyện hầu như là khô cạn. Nước sinh hoạt còn không đủ dùng huống chi là nước dùng cho việc tưới tiêu. Điều đó có thể ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng dưa bao tử và một số cây trồng khác trên địa bàn huyện trong năm 2010. Năm nay mưa ít, tổng lượng mưa trung bình từ tháng 1 đến tháng 9 chỉ đạt 928,4 mm, bằng 77,6% so với bình quân cùng kỳ nhiều năm trước. Đây là nguyên nhân mực nước tại nhiều hồ, đập trên địa bàn hiện đạt thấp hơn nhiều so với dung tích thiết kế. Theo Chi cục Thuỷ lợi (Sở Nông nghiệp và PTNT), hiện chỉ có 4/24 hồ, đập đạt dung tích thiết kế, cá biệt có hồ chỉ đạt 17,3% dung tích thiết kế. Không chỉ nguồn nước tưới hạn chế, hệ thống kênh mương của hai công ty khai thác công trình thuỷ lợi lớn trên địa bàn là Cầu Sơn và Sông Cầu đang được cứng hoá hàng tháng phải cắt nước một thời gian dài phục vụ thi công gây không ít khó khăn cho việc cung cấp nước tưới thường xuyên liên tục cho cây trồng vụ đông. Tình hình sâu bệnh phát sinh gây hại trên cây trồng cũng là một trong những khó khăn lớn cho sản xuất vụ đông năm nay. Nguyên nhân là do người dân không có thói quen luân canh cây trồng trên cùng một thửa ruộng, công tác vệ sinh đồng ruộng không tốt, kỹ thuật chăm sóc cây trồng còn hạn chế (ít bón lót, chỉ bón thúc), chủ quan trong phòng trừ và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không theo nguyên tắc 4 đúng (đúng thuốc, đúng thời điểm, đúng nồng độ và đúng kỹ thuật); một số loại cây rau nhập khẩu thích nghi chưa cao với điều kiện thời tiết, khí hậu địa phương. Bà Đỗ Thị Luyến, Phó Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật nói: "Những năm trước do không làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh nên một số diện tích ngô bị bệnh héo khô, dưa bao tử bị nhiễm bệnh giả sương mai, cà chua bị héo xanh… làm giảm đáng kể năng suất cây trồng". 2.2 Cơ sở thực tiễn : * Tình hình sản xuất dưa bao tử trong nước và nước ngoài: Dưa bao tử được trồng ở nước ta từ lâu do cây dễ trồng, cho năng suất cao.Nhưng nhiều năm trước, dưa bao tử chưa được xem là cây trồng chính mà cây lúa được người dân chú trọng hơn. Chỉ khi đời sống người dân tăng lên thì được xem là cây trồng chính. Dưa bao tử được trồng ở rộng khắp các tỉnh thành phía bắc và trung đặc biệt ở Bắc Giang, Hà Tây, Hưng Yên, Hà Nam… với diện tích ngày càng tăng. Năm 2007, tổng công ty rau quả Việt Nam xuất khẩu 47,425 tấn dưa chuột hộp, 552 tấn dưa chuột đóng lọ thủy tinh. Năm 2008, tổng diện tích dưa là 1.685,56 ha. Sản lượng xuất khẩu đạt 70,478 tấn dưa chuột hộp và 1.718 tấn đóng lọ thủy tinh, tổng giá trị xuất khẩu đạt 7,98 triệu USD. Điều kiện sinh thái của Việt Nam, đặc biệt của miền Bắc rất thuận lợi cho trồng dưa bao tử, đây là ưu thế cạnh tranh của VN trên thì trường nước ngoài. Khu vực sản xuất chủ yếu là Đồng bằng sông Hồng 25,26% diện tích và 30,78 % sản lượng dưa cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long là 23,28% về diện tích và 25,46% về sản lượng. Dưa bao tử thực sự trở thành cây làm giàu cho nông dân, cho nông thôn. Tính đến nay, Dưa bao tử của nước ta đã có mặt trên 50 quốc gia cả những thị trường khó tính như Mỹ, EU. Theo điều tra IFPRI, hiện nay nước ta có hàng trăm nhà máy quy mô nhỏ và vừa, công suất trung bình khoảng 1000-1500 tấn nguyen liệu/năm. Đơn giá xuất khẩu sản phẩm dưa chuột trong quý I/2010 tiếp tục giảm nhẹ: Qua bảng giá FOB xuất khẩu dưa chuột có thể thấy giá xuất khẩu dưa chuột bao tử dầm dấm loại 720 ml sang Mông Cổ đã giảm 20% xuống còn 0,4 USD/lọ so với cùng kỳ 2009. Đơn giá xuất khẩu Dưa chuột trung tử dầm dấm720 ml sang Ukraina giảm 20% xuống còn 5,2 USD/thùng. Tuy nhiên, đơn giá xuất khẩu dưa chuột muối sang thị trường Nga tăng 39,3% đạt mức 0,39 USD/lọ. Có 31 thị trường nhập khẩu dưa chuột chế biến từ Việt Nam, tăng 12 thị trường so với 3T/2009. Đó là các thị trường như: Slovakia, Trung Quốc, NewZealand, Ôxtrâylia, Amenia, Singapo, Slovenia, Ixraen, Đan Mạch, Saudi Arabia, Bỉ và Belarut. Trong quý I/2010, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm dưa chuột chế biến sang thị trường Nga vẫn đạt cao nhất với hơn 4 triệu USD chiếm 53,8% tổng kim ngạch xuất khẩu dưa chuột ;giảm 41,5% so cùng kỳ năm 2009. Trong số các sản phẩm dưa chuột xuất khẩu thì kim ngạch xuất khẩu dưa chuột dầm dấm 720 ml đạt kim ngạch cao nhất với hơn 2,1 triệu USD. Tiếp đến là dưa chuột bao tử dầm dấm 720 ml đạt 1,2 triệu USD. Dưa chuột trung tử dầm dấm 1500 ml đạt 50,1 nghìn USD tăng 145,6%; dưa chuột bao tử dầm dấm vị hạt tiêu 500 ml đạt 118,1 nghìn USD tăng 116,6%; dưa chuột bao tử dầm dấm vị hành tây 500 ml đạt 118,1 nghìn USD tăng 71,5%;... 2.3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận : 2.3.1 Thực trạng sản xuất dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang: 2.3.1.1 Tình hình sản xuất dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện : a. Diện tích Bảng A1.1 – Diện tích dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lạng Giang giai đoạn 2007 – 2009 ( Nguồn số liệu thống kê huyện Lạng Giang ) Vùng 2007 2008 2009 2009/2007 DT CC DT CC SL CC SL CC Toàn huyện 120,28 100,00 136,44 100,00 148,2 100,00 27,92 23.21 Hương Sơn 45,10 37,50 49,57 36,33 50,1 33,76 5 11,08 Tân Thịnh 15,90 13,22 18,89 13,85 19,5 13,14 3,6 22,6 Hương Lạc 8,83 7,33 10,42 7,64 11,9 8,02 3,07 34,76 An Hà 2,73 2,27 3,35 2,46 5,2 3,5 2,47 90,47 Nghĩa Hòa 1,12 0,93 1,45 0,84 1,1 0,74 -0,02 -1,78 Nghĩa Hưng 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 0,00 _ Đào Mỹ 9,83 8,17 10,80 7,92 14,8 9,97 4,97 50,55 Tiên Lục 3,90 3,24 4,16 3,05 5,1 3,43 1,2 30,76 Xuân Hương 1,31 1,09 1,65 1,21 2,2 1,48 0,89 67,93 Thái Đào 2,74 2,28 3,26 2,39 3,9 2,63 1,16 42.33 Đại Lâm 0,30 0,25 0,60 0,44 0.66 0,44 0,36 120 Tân Hưng 5,26 4,37 6,14 4,50 6,24 4,2 0,98 18,63 Yên Mỹ 0,27 0,23 0,55 0,40 0,73 0,5 0,46 170,3 Quang Thịnh 23,00 19,12 25,90 18,98 26,95 18,2 3,95 17,17 Với tiềm năng về đất đai và đặc biệt là thổ nhưỡng rất thích hợp cho việc phát triển cây dưa chuột bao tử, diện tích dưa chuột bao tử của huyện đã giữ ở mức ổn định trên 100ha trong những năm qua. Bảng A1.1 cho thấy diễn biến về diện tích trồng dưa chuột bao tử trên địa bàn. So với năm 2007 tổng diện tích đất trồng dưa bao tử năm 2009 tăng 27,92 ha, với tốc độ phát triển 23,21%. Diện tích dưa chuột bao tử thời gian qua vừa tăng là do chuyển dịch một số đất xấu, đất kém hiệu quả, đất trồng lúa trước đây sang trồng dưa chuột bao tử, do chính quyền địa phương hoạt động khá hiệu quả trong việc khuyến khích hỗ trợ các nông hộ sản xuất dưa chuột bao tử. Tuy nhiên, cây dưa chuột bao tử được trồng tập trung ở các xã đồng bằng hoặc bán sơn địa, nơi có truyền thống, điều kiện đất đai tự nhiên phù hợp với việc phát triển cây dưa chuột bao tử. Đây là vùng có tỷ lệ lớn đất đai có thuộc nhóm đất thịt nhẹ, đất thịt pha có độ pH 6,5 – 7,5 ( đất có độ pH trung tính ), đất khá tơi, xốp, nhiều mùn, thích hợp cho cây dưa chuột bao tử phát triển. Một số công ty trong và ngoài nước đã tiến hành đưa dưa chuột bao tử giống của Pháp, Hà Lan vào sản xuất và thu mua để chế biến và xuất khẩu. từ đó, thị trường xuất khẩu dưa chuột bao tử cưa Lạng Giang đã được mở rộng và bắt đầu có nhiều giống dưa chuột bao tử có năng xuất cao được đưa vào sản xuất. Bảng A1.2 Diện tích dưa chuột bao tử chia theo mùa vụ trên địa bàn huyện Lạng Giang giai đoạn 2007 – 2009 Diễn giải Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 SL CC SL CC SL CC Cả năm 120,28 100 136,44 100 148,38 100,00 + Vụ xuân 49,12 40,84 59,12 43,33 61,3 41,31 + vụ đông 71,16 59,16 77,31 56,67 86,9 58,69 (Nguồn số liệu Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lạng giang) Diện tích gieo trồng dưa chuột bao tử tiếp tục tăng qua các năm. Vụ đông là vụ sản xuất quan trọng đối với cây dưa chuột bao tử của Lạng Giang. Bảng A1.2 cho thấy diện tích dưa chuột bao tử vụ đông năm 2007 là 71,16 ha chiếm 59,16%, năm 2008 là 71,31ha chiếm 56,67%, năm 2009 là 86,9 ha chiếm 58,69%. Như vậy diện tích dưa chuột bao tử vụ đông luôn cao hơn vụ xuân do vụ đông luôn có điều kiện thời tiết phù hợp với cây dưa chuột bao tử, do vậy cây trồng cho năng xuất cao hơn vụ xuân. Tuy nhiên, qua nhiều năm sản xuất người nông dân đã có kinh nghiệm hơn trong việc chăn bón và làm hạn chế sự tác động của thời tiết nên cơ cấu diện tích vụ đông và vụ xuân đã dần cân đối. b. Năng xuất và sản lượng dưa chuột bao tử của huyện thời kì 2007 – 2009: Mức độ đầu tư cho cây dưa chuột bao tử không đồng đều giữa các vùng, các xã dẫn đến năng xuất có sự khác biệt. Trong giai đoạn 2007 – 2009, năng xuất dư chuột bao tử của huyện Lạng Giang gia tăng nhưng không đáng kể, năng xuất dưa chuột bao tử năm 2009 so với năm 2007 đạt 109,2% và đạt 26,6 tấn/ha trong năm 2009. Mức năng xuất này đạt ở mức trung bình so với năng xuất dưa chuột bao tử trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Giang, nhưng lại tăng chậm và thấp hơn các tỉnh khác. Nguyên nhân chính là: Thứ nhất, theo cán bộ khuyến nông, tỷ lệ các hộ dùng giống và chăm bón không đúng kỹ thuật còn cao. Thứ hai, hầu hết đất trồng dưa chuột bao tử là đất được chủ động nước tưới nhưng không ổn định và phụ thuộc chủ yếu vào nước mưa. Một số xã có nhiều đồi núi thì hệ thống các công trình thủy lợi chưa thể đáp ứng được nhu cầu nước cho các cây trồng ngắn ngày trong đó có cây dưa chuột bao tử. Thứ ba, một số loại sâu bệnh như vàng lá, lở cổ rễ, chết ẻo, sâu ăn lá…bùng phát mạnh. Công tác bảo vệ thực vật vẫn còn nhiều hạn chế. Thứ tư, mức độ đầu tư cho sản xuất dưa chuột bao tử còn thấp đã lam hạn chế đến năng xuất dưa chuột bao tử ở huyện. Bảng A2.1 Năng xuất sản lượng dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lạng Giang giai đoạn 2007 – 2009 Vùng NS(tấn/ha) Sản lượng(tấn) 2009/2007 2007 2008 2009 2007 2008 2009 NS SL Toàn huyện 25,3 26,5 27,2 3043,0 3611,1 4439,9 107,5 145,9 Hương Sơn 29,5 32,0 32,3 1329,3 1587,2 1752,3 109,5 131,82 Tân Thịnh 18,8 19,5 19,97 298,8 369,1 432,4 106,2 144,7 Hương Lạc 17,9 18,3 19,00 158,1 190,8 235,3 106,14 148,83 An Hà 15,8 16,1 16,9 43,1 53,9 76,4 106,96 177,26 Nghĩa Hòa 15,8 17,0 18,6 17,7 19,5 28,6 117,72 161,58 Nghĩa Hưng _ _ _ _ _ _ _ _ Đào Mỹ 18,4 19,9 20.74 180,7 215,1 421,7 112,71 233,33 Tiên Lục 17,1 18,5 19,30 66.5 76,9 92,7 112,86 139,39 Xuân Hương 15,5 16,7 17,2 20,3 27,6 41,2 110,96 202,9 Thái Đào 18,4 19,9 20,87 50,3 65,0 71,8 113,42 142,74 Đại Lâm _ _ _ _ _ _ _ _ Tân Hưng 18,1 19,4 20,18 95,1 119,2 236,3 111,49 248,47 Yên Mỹ _ _ _ _ _ _ _ _ Quang Thịnh 34,0 34,2 35,07 783,0 886,8 1051,2 103,14 134,25 ( Nguồn số liệu thống kê huyện Lạng Giang) Bảng A2.2 Năng xuất sản lượng dưa chuột bao tử chia theo mùa vụ trên địa bàn huyện Lạng Giang giai đoạn 2007 – 2009 Diễn giải ĐVT Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 SL CC SL CC SL CC -Năng suất Tấn/ha +Vụ xuân 22,80 _ 24,37 _ 26,03 _ +Vụ đông 27,03 _ 28,07 _ 29,7 _ -Sản lượng Tấn 3043,0 100,00 3611,1 100 4439,9 100,00 +Vụ xuân 1119,81 36,80 1440,85 39,9 1929,06 43,44 +Vụ đông 1923,15 63,20 2170,30 60,1 2510,74 56,56 (Nguồn số liệu Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lạng Giang) Một số xã có năng xuất dưa chuột bao tử cao và ổn định chủ yếu là do có kinh nghiệm sản xuất dưa chuột bao tử, có trình độ thâm canh cao hơn: Hương Sơn, Hương Lạc, Tân Thịnh…Những xã có diện tích dưa chuột bao tử lớn và có tỷ lệ dưa chuột bao tử hàng hóa cao thì năng xuất luôn giữ được ở mức ổn định như: Hương Sơn, Tân Thịnh, Quang Thịnh. Mặc dù năng suất dưa chuột bao tử tăng chậm nhưng do diện tích trồng dưa chuột bao tử tăng lên làm cho sản lượng dưa chuột bao tử tăng đáng kể, sản lượng năm 2009 so với năm 2007 là 145,9%. Sản lượng dưa chuột bao tử năm 2009đạt 4439,9 tấn chiếm 27,8% sản lượng dưa chuột bao tử của tỉnh. Một số xã có sản lượng dưa chuột cao và ổn định là Hương Sơn, Hương Lạc, Tân Thịnh, Quang Thịnh…Tuy nhiên sản lượng dưa chuột bao tử vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến trên địa bàn huyện. Vì thế các nhà máy này vẫn phải thu mua dưa nguyên liệu từ các huyện, tỉnh khác và dưa chuột bao tử được sản xuất trên địa bàn rất được thị trường ưa thích. 2.3.1.2 Kết quả sản xuất của các nông hộ : a. Tình hình đầu tư sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ : Đặc điểm sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất dưa chuột bao tử Kết quả sản xuất phụ thuộc rất nhiều yếu tố đầu vào, bao gồm những yếu tố có thể kiểm soát được và những yếu tố không thể kiểm soát được. Để tìm ra các nhân tố làm ảnh hưởng tích cực đến sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ, đặc biệt là những nhân tố kiểm soát được, chúng ta xem xét những điểm khác nhau về đầu tư của nhóm hộ có năng suất khác nhau. Ta chia các hộ ra 3nhóm: Nhóm hộ sản xuất dưa chuột bao tử kém: dưới 550 Kg/sào Nhóm hộ sản xuất dưa chuột bao tử trung bình: 550 – 650 Kg/sào Nhóm hộ sản xuất dưa chuột bao tử khá giỏi: trên 650Kg/sào Bảng A3.1 Mức độ đầu tư các yếu tố trong sản xuất dưa chuột bao tử của các nhóm hộ ( tính bình quân 1 sào) Chỉ tiêu ĐVT Hộ kém Hộ trung bình Hộ khá Bình quân SL Khoảng tin cậy SL Khoảng tin cậy SL Khoảng tin cậy SL Khoảng tin cậy Số hộ 41 40 39 120 1.NS trung bình Ta/sào 462,43 26,10 613,08 15,21 737,15 24,87 604,22 24,00 2.Giống kg/sào 21,00 0,42 21,38 0,31 21,21 0,33 21,20 0,20 3.phân chuồng Tạ/sào 5,22 0,3 6,54 0,28 7,67 0,21 6,47 0,24 4.đạmUrê Kg/sào 20,89 0.20 22,34 0,24 24,32 0,21 22,51 0,28 5. lân Kg/sào 41,66 0,32 44,65 0,35 48,1 0,47 44,80 0,52 6. kali Kg/sào 14,13 0,04 14.44 0,04 14,86 0,08 14,47 0,06 7. vôi Kg/sào 20,79 0,20 22,26 0,20 2,07 0,24 22,37 0,27 8. thuốc hóa học 1000 đ/sào 236,33 3,74 208,78 4,00 191,78 5,05 212,29 4,11 9. CP làm đất 1000 đ/sào 71,01 0,29 74,03 0,40 77,63 0,54 74,22 0,54 10. Công lđ Ngày-người/sào 25,69 0,23 28,85 0,42 33,10 0,55 29,21 0,60 (Nguồn số liệu điều tra các hộ năm 2009- độ tin cậy 95% ) Tóm lại, mức độ đầu tư của các yếu tố đầu vào cho một sào dưa chuột bao tử chưa cao và có sự chênh lệch giữa các nhóm hộ, nhất là nhóm hộ có năng suất khá và năng suất kém. Mức độ thâm canh sản xuất dưa chuột bao tử của các nông hộ còn thấp so với yêu cầu. Đây là tiềm năng để có thể tăng năng suất dưa chuột bao tử trong thời gian tới. Tình hình đầu tư sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ Tuy là vùng chuyên sản xuất dưa chuột bao tử của tỉnh nhưng phương thức sản xuất của các hộ được tiến hành theo lối kinh nghiệm. Các yếu tố về giống, về khoa học kỹ thuật như mức độ đầu tư, quy trình kỹ thuật do trung tâm Khuyến Nông và Phòng Nông Nghiệp huyện chuyển giao. Mức độ đầu tư và cơ cấu đầu tư cho sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ được trình bày ở bảng A3.2 Bảng A3.2 Chi phí sản xuất dưa chuột bao tử của các nhóm hộ ( tính bình quân 1 sào) ĐVT: SL: 1000 đồng CC: % Chỉ tiêu Hộ kém Hộ trung bình Hộ khá Bình quân SL CC SL CC SL CC SL CC 1.Giống 136,00 8,25 143,90 8,34 158,90 8,64 146,08 8,42 2.Phân bón 555,71 33,72 604,73 35,05 656,31 35,69 604,75 34,84 3.Thuốc hóa học 236,33 14,34 208,78 12,10 191,78 10,43 212,66 12,25 4.CP làm đất 71,01 4,31 74,03 4,29 77,63 4,22 74,17 4,27 5.Công lđ 639,63 38,81 683,90 39,64 743,40 40,43 688,11 39,64 6. Khác 9,36 0,57 10,02 0,58 10,83 0,59 10,06 0,58 Tổng cộng 1648 100 1725,3 100 1838,8 100 1735,8 100 (Nguồn số liệu điều tra năm 2009) Chi phí sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ có sự gia tăng theo kết quả sản xuất. Bình quân mỗi hộ chi phí 1735,80 nghìn đồng/sào. Nhóm hộ khá có mức đầu tư cao nhất và hơn các nhóm hộ trung bình và kém. Chi phí của nhóm hộ trung bình là 1725,35 nghìn đồng/sào cao hơn nhóm hộ kém là 4,69% và ít hơn nhóm hộ khá là 6,58%. Mặc dù sự khác biệt về tổng đầu tư giữa các nhóm hộ là không lớn nhưng một số chi phí quan trọng lại có sự chênh lệch rõ rệt. Nhóm hộ sản xuất kém và trung bình là nhóm hộ có mức đầu tư thâm canh thấp hơn. Đặc biệt mức độ đầu tư về phân chuồng, phân bón hóa học còn thấp và chưa cân đối. Vì vậy, để tăng năng suất dưa chuột bao tử các hộ cần đầu tư thâm canh, nhất là đầu tư phân bón và đồng thời cần phổ biến kinh nghiệm, tiến bộ kỹ thuật cho các hộ về làm đất, mật độ gieo trồng hơp lý, phát hiện và phòng trừ sâu bệnh kịp thời và hiệu quả. b. Hiệu quả kinh tế sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ Kết quả và hiệu quả sản xuất dưa chuột bao tử luôn là mối quan tâm hàng đầu của các hộ. Do mức đầu tư và kinh nghiệm sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ khác nhau dẫn đến hiệu quả kinh tế sản xuất dưa chuột bao tử của các nhóm hộ cũng khác nhau. Ta có bảng số liệu điều tra như sau: Chỉ tiêu ĐVT Hộ kém Hộ TB Hộ khá BQ 1.NS TB Tạ/sào 462,43 613,08 737,15 604,22 2.GO 1000 đ 2293,50 2867,65 3380,08 2838,02 3.IC 1000 đ 1648,03 1725,35 1838,84 1735,80 4.VA 1000 đ 645,47 1142,30 1541,24 1102,22 5.VA/GO Lần 0,28 0,40 0,46 0,39 6.VA/IC Lần 0,39 0,66 0,84 0,63 7.GO/IC Lần 1,39 1,66 1,84 1,63 8.VA/công lđ 1000 đ 25,13 39,59 46,56 37,73 ( Nguồn số liệu điều tra các hộ năm 2009 ) Kết quả sản xuất dưa chuột bao tử ở các hộ là khá cao. Bình quân 1 sào sản xuất dưa chuột bao tử đem lại GO là 2838,02 nghìn đồng, VA là 1102,22 nghìn đồng. GO giữa các nhóm hộ có sự chênh lệch khá lớn, GO nhóm hộ sản xuất kém đạt 2293,50 nghìn đồng, hộ trung bình và nhóm hộ khá giỏi đạt cao hơn lần lượt là 23,74% và 25,03%. Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên: Thứ nhất, do chất lượng ( tỷ lệ loại quả I ) dưa chuột bao tử của các hộ khá giỏi đạt cao hơn nhóm hộ kém nên có giá bán cao hơn Thứ hai, năng suất dưa chuột bao tử thu được cao hơn Thứ ba, nhóm hộ khá, giỏi có kinh nghiệm sản xuất dưa chuột bao tử tốt hơn, đầu tư tốt hơn nên họ thường thu được quả dưa loại I nhiều hơn, dẫn đến bán được giá cao hơn. Tóm lại, sản xuất dưa chuột bao tử cho hiệu quả tương đối cao. Đầu tư về phân bón, vôi, công lao động có ảnh hưởng tích cực đối với việc nâng cao năng suất dưa chuột bao tử. Nếu được đầu tư và áp dụng các kỹ thuật tiến bộ thì hiệu quả sản xuất dưa chuột bao tử của các hộ còn cao hơn nữa. 2.3.2 Tình hình chế biến dưa chuột bao tử ở Bắc Giang : Song song với việc không ngừng mở rộng diện tích trồng cây dưa chuột xuất khẩu trên địa bàn tỉnh, các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất chế biến dưa chuột xuất khẩu cũng gia tăng nhanh chóng, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và hoạt động chế biến nông sản trên địa bàn. Tuy nhiên sản xuất chế biến dưa chuột xuất khẩu nói riêng và rau quả nói chung trên địa bàn tỉnh nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu về chế biến nông sản xuất khẩu trong giai đoạn hiện nay. Thực tế là doanh nghiệp, cơ sở chế biến dưa chuột xuất khẩu của tỉnh nhiều nhưng nhìn chung quy mô sản xuất nhỏ, đầu tư trung bình từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng, trình độ khoa học công nghệ thấp, sản xuất chưa ổn định, dây chuyền không đồng bộ. Chỉ có một vài doanh nghiệp có công nghệ chế biến hiện đại hoặc bán tự động, có quy trình sản xuất, sản phẩm một cách bài bản, còn lại là chế biến thủ công, nhất là các cơ sở chế biến. Hầu hết các doanh nghiệp đều phát triển từ mô hình kinh tế hộ gia đình, vốn hạn chế nên thường tận dụng mặt bằng sẵn có và ít có điều kiện đầu tư mở rộng nhà xưởng, lắp đặt công nghệ sản xuất hiện đại. Thậm chí ở các cơ sở sản xuất nhỏ, lẻ mà quy trình sản xuất từ khâu thu gom, sơ chế, đóng lọ, dán nhãn… đều làm bằng phương pháp thủ công. Dưa bao tử sau khi thu hoạch được dùng để chế biến ra nhiều loại sản phẩm khác nhau để phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Các sản phẩm sản xuất ra chủ yếu do các công ty chế biến trên địa bàn lân cận. Sản phẩm chủ yếu nhất là: Dưa chuột bao tử dầm dấm. Dưa bao tử được sản xuất thành nhiều loại sản phẩm khác nhau để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu nước ngoài.Còn một số ít sản phẩm được người dân trực tiếp sử dụng để chế biến thàh các món ăn phục vụ nhu cầu hàng ngày của mình. Dùng làm thực phẩm dùng cho xuất khẩu : dưa sau khi chế biến được xuất khẩu sang các nước khác.các sản phẩm thường là trung tử đóng lọ, dưa 6-9 dầm dấm đóng lọ, dưa muối nguyên quả v.v… Dùng làm thực phẩm tiêu dùng trong nước:các sản phẩm đóng lọ ngoài đem xuất khẩu còn được tiêu thụ ở thị trường trong nước.đặc biệt dưa dược dùng trực tiếp để chế biến làm các món ăn như: Món bao tử trộn dưa kiệu, Bao tử khìa nước dừa tiêu xanh, cá xào dưa bao tử 2.3.3 Tình hình tiêu thụ dưa chuột bao tử ở huyện : 2.3.3.1 Tình hình cung cấp dưa chuột bao tử cho các cơ sở chế biến : a/ Tình hình chung của huyện Lạng Giang là huyện có diện tích đất canh tác, sản lượng rau quả phục chế biến thuộc dạng cao của cả nước. Bao gồm các sản phẩm như dưa chuột bao tử, ớt xuất khẩu, cà chua xuất khẩu … đã thu hút các doanh nghiệp xuất khẩu, chế biến nông sản đầu tư sản xuất, hợp đồng thu mua sản phẩm. Diện tích sản xuất, sản lượng hàng hóa DCBT thực hiện theo hợp đồng. Diện tích sản xuất, sản lượng hàng hóa DCBT thực hiện theo hợp đồng Xã Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 DT (ha) SL (tấn) DT (ha) SL (tấn) DT (ha) SL (tấn) Hương Sơn 44.7 1317.1 49.6 1587.2 50.1 1752.3 Tân Thịnh 14.9 280.6 18.9 369.1 19.5 432.4 Hương Lạc 8.9 159.3 10.4 190.8 11.9 235.3 An Hà 2.7 43.1 3.4 53.9 5.2 76.4 Nghĩa Hòa 1.1 17.7 1.1 19.5 1.1 28.6 Đào Mỹ 9.9 181.7 10.8 215.1 14.8 421.7 Tiên Lục 3.8 64.5 4.2 76.9 5.1 92.7 Xuân Hương 1.3 20.4 1.7 27.6 2.2 41.2 Thái Đào 2.7 50.3 3.3 65.0 3.9 71.8 Tân Hưng 5.3 95.1 6.1 192.2 6.8 236.3 Quang Thịnh 23 783.0 25.9 886.8 27.6 1051.2 Toàn huyện 118.3 3012.8 136.4 3611.1 148.2 4439.9 ( Nguồn số liệu báo cáo các xã của huyện Lạng Giang) Thư vậy ta có thể thấy, năm 2007 toàn huyện có 118.3 ha đất canh tác thì dến năm 2009 đã có 148.2 ha đất canh tác được đưa vào sản xuất theo hợp đồng, tăng gần 1.3 lần so với năm 2007. Cùng với sự tăng lên về về diện tích đất trồng DCBT là sự tăng lên về sản lượng hàng hóa dưa chuột bao tử ở các xã cụ thể là năm 2007 sản lương dưa chuột bao tử mới đạt 3012.8 tấn mà đến năm 2009 con số đó đã lên tới 443.9 tấn tăng gấp gần 1.5 lần trong đó tăng mạnh nhất là tại xã Hương Sơn sản lượng đạt 1752.3 tấn chiếm 39.47% tổng sản lượng dưa chuột bao tử cả huyện năm 2009. Đây là dấu hiệu cho thấy cây dưa chuột bao tủ thích hợp với vùng đất Lạng Giang và được người nông dân trong huyện tập trung đưa vào sản xuất. Đến nay, tình sản xuất của công ty, cả doanh nghiệp xuất khẩu không ngừng tăng lên dẫn đến nhu cầu mở rộng nguồn cung ứng đã thực hiện và tận dụng ngay địa thế thuận lợi của mình là ở trên địa bàn có nguồn nguyên liệu dồi dào, tiết kiệm được chi phí vận chuyển. thêm vào việc giảm được chi phí các doanh nghiệp, các công ty xuất nhập khẩu dưa chuột bao tử nội tỉnh đã tăng giá mua dưa chuột bao tử của nông dân lên từ 100-200 đồng/kg nhằm tạo nguồn cung cấp nguyên liệu ỏn định cho chế biến ( có nghĩa là công ty mua dưa chuột bao tử của nông dân với mức giá 5.400 – 6.500 đồng /kg). Các công ty nội tỉnh khai thác nguồn tiềm năng này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi cho hoạt động thu gom dưa chuột bao tử phục vụ cho hoạt động xuất khẩu dưa chuột bao tử của tỉnh. Tóm lại, sản lượng dưa chuột bao tử của huyện càng ngày càng tăng.Sự tăng lên và ổn định về diện tích và sản lượng đặc biệt năng suất khá cao của cây dưa chuột bao tử được các hộ chú ýđầu tư thâm canh và mong muốn của họ là được mở rôm\ngj diện tích và làm ăn lâu dài với công ty xuất nhập khẩu nông sản. b/ Tình hình tiêu thụ dưa chuột bao tử của các hộ: Trên địa bàn huyện Lạng Giang thì dưa chuột bao tử là cây đem lại thu nhập cao hơn so với các loại cây trồng khác. Giá bán dưa chuột bao tử vào thời điểm thu hoạch thường thấp hơn thời điểm gieo trồng. giá bán bình quân loại I là 6500 đồng/kg và loại II là 3500 đồng/kg dưa chuột bao tử. Sản lượng dưa chuột bao tử tuy cao nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các nhà máy nằm trên địa bàn huyện như vậy, cây dưa chuột bao tử huyện đã trở thành mặt hàng có tiềm năng mở rộng và phát triển. Tình hình tiêu thụ dưa chuôt bao tử của các hộ được thể hiện qua bảng Chỉ tiêu SL (kg) % Sản lượng của các hộ 79518.63 100 1. Bán cho nhà máy theo hợp đồng 55742.56 70.10 2. Bán buôn cho các đại lý nhà máy 23776.07 29.90 (nguồn số liệu điều tra các hộ năm 2009) Hiện tại tình hình tiêu thụ dưa chuột bao tử của các hộ chủ yếu tồn tại dưới 2 dạng: (1) bán cho các nhà mây theo hợp đồng; (2) bán buôn cho tư thương, các tư thương này đóng vai trò như các như các đại lý thu mua cho các nhà máy. Trong hình thức tiêu thụ thì bán cho các nhà máy theo hợp đồng được các hộ dùng phổ biến, có đến trên 70% dưa chuột bao tử được thu mua qua hợp tác xã. Như vậy nhu cầu tiêu thụ của các nhà máy còn rất lớn và về phía nông dân vẫn còn một số hộ bán cho tư thương( chiếm 29.9% sản lượng thu hoạch) 2.3.3.2 Tình hình thu mua nguồn hàng cho xuất khẩu : Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang chế biến thu mua chủ yếu theo hình thức sau: ký hợp đồng với các đại lý thu mua ở từng địạ phương (đó là các hơp tác xã). Ngoài ra doanh nghiệp còn ký hợp đồng với các đại lý thu mua ở từng địa phương. - Thu gom từ các hộ nông dân: Ngay từ đầu vụ hợp tác xã đã thống nhất với các doanh nghiệp tiêu thụ dưa chuột bao tử cho các hộ nông dân, thống nhất về giá, chất lượng chủng loại thời gian giao hàng và phương thức thanh toán: Dưa loại I: đường kính 1.5 cm, dài 3.5 – 5cm giá 6.400 đồng/kg Dưa loại II: đường kính 2cm, dài 5 -6 cmgias 3.500 đồng/kg Phương thức thanh toán: 20 tấn thanh toán 1 lần băng tiền mặt. Quá trình thu gom dưa chuột bao tử của các công ty từ các hộ nông được thể hiện qua sơ đồ: Htx Thu gom Công ty thu mua đóng hộp và xuất khẩu Đầu tư Hộ nông dân Sơ đồ mạng lưới thu gom từ hộ trồng DCBT đươc triển khai ở huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang Theo sơ đồ này, các công ty (công ty vừa là nhà chế biến vừa tiêu thụ sản phẩm) sẽ hỗ trợ một phần vốn cho người trồng và hướng đẫn kỹ thuật trồng dưa chuột bao tử cho các hộ nông dân thông qua các hợp tác xã (HTX) sau đó công ty sẽ thu mua tại HTX sản phẩm này. HTX là trung gian bao tiêu sản phẩm dưa chuột bao tử cho các hộ nông dân nên việc ký kết hợp động kinh tế với doanh nghiệp được HTX trực tiếp đứng ra ký. Tùy theo từng tình hình cụ thể mà công ty tạm ứng trước một phần vốn theo đúng yêu cầu sản phẩm phục vụ chế biến xuất khẩu. Nội dung hợp đồng được ký kết cụ thể , rõ ràng về giá cả, số lượng , chất lượng, chủng loại, phương thức thanh toán và trách nhiệm mỗi bên. HTX được hưởng hoa hồng (tỷ lệ này ở mỗi xã khác nhau tùy vào số lượng, chất lượng sản phẩm loại I nhiều hay ít) từ phía công ty và từ các dịch vụ như điện nước khuyến nông… Khi giá thị trương biến động thì vẫn được trả theo giá đã ký kết trên hợp đồng, song nếu giá thị trường quá cao so với giá trên hợp đồng thì HTX đề nghị doanh nghiệp nâng giá thu mua cho các hộ nông dân) nếu doanh nghiệp chấp nhận. Nếu dưa chuột bao tử bị mất mùa thi doanh nghiệp sẽ đền bù đúng băng lợi nhuận thu được từ trồng cây trồng cũ. Ví dụ nếu nông dân mất mùa 1 sào dưa chuột bao tử thì doanh nghiệp sẽ đền bù bàng 1 sào ngô. HTX tổ chức điểm thu gom thuận lợi, theo dõi ghi chép tưng loại từng ngày và chịu trách nhiệm trực tiếp với bà con và thanh toán sau khi kết thúc vụ mua. Tình hình thu gom DCBT nguyên liệu trên địa bàn huyện Lạng Giang của các cơ sở chế biến Hình thức thu gom nguyên liệu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 SL (tấn) CC (%) SL (tấn) CC (%) SL (tấn) CC (%) 1.CtyCPCBTPXK Bắc Giang 1450.0 100.0 1500.0 100.0 1570.0 100.0 Thu gom từ các hộ nông dân 1144.5 78.9 1322.0 88.1 1472.2 93.77 Thu gom từ các đại lý thu mua 305.5 21.1 178.1 11.9 97.8 6.23 2.CtyCPCBTPXK Đông Hải 1032.8 100.0 1400.0 100.0 1680.0 100.0 Thu gom từ các hộ nông dân 695.4 67.3 1009.8 72.1 1399.1 83.28 Thu gom từ các đại lý thu mua 337.4 32.7 390.2 27.9 280.9 16.72 3.Cty CBTPXK GOC 280.0 100.0 381.1 100.0 6620 100.0 Thu gom từ các hộ nông dân - - - - - - Thu gom từ các đại lý thu mua 280.0 100.0 381.1 100.0 662.0 100.0 4.Cty TTNHH Viêt Nga 250.0 100.0 330.0 100.0 527.9 100.0 Thu gom từ các hộ nông dân - - - - - - Thu gom từ các đại lý thu mua 250.0 100.0 330.0 100.0 527.9 100.0 Tổng sản lượng 3012.8 100.0 3611.1 100.0 4439.9 100.0 Thu gom từ các hộ nông dân 1839.9 61.1 2331.8 64.6 2871.3 64.67 Thu gom từ các đại lý thu mua 1172.9 38.9 1279.3 35.4 1568.6 35.32 Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra từ các công ty XK rau quả ở tỉnh Qua bảng số liệu trên ta thấy sản lượng dưa chuột bao tử nguyên liệu mà các doanh nghiệp thu mua không ngừng tăng lên qua các năm. Trong đó hình thức mua của các hộ nông dân chiếm tỷ trọng lớn: năm 2007 là: 1839.9 (chiếm 61.1%); năm 2008 là 2331.8 (chiếm 64%); năm 2009 là: 2871.2 (chiếm 64.67%). Hình thức thu mua này dần được các doanh nghiệp sử dụng nhiều hơn bởi nó có những ưu điểm: Đối với các công ty lớn và đã có quá trình phát triển lâu dài như công ty CPCBTPXK Bắc Giang, việc sử dụng hình thức thu mua này sẽ tăng tính chủ động trong việc chuẩn bị nguồn hàng, giảm chi phí trung gian, giảm thời gian thu gom, giảm giá thành sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Đối với hộ nông dân ngoài lợi ích về tiêu thụ sản phẩm thông qua các hợp đồng, nông dân còn được cung cấp một phần vốn, giống cây dưa chuột bao tử và dịch vụ kỹ thuật. Nông dân có thể mua vật tư doanh nghiệp với giá hợp lý, đúng chủng loại và có chất lượng đảm bảo hơn. Nếu thực hiện tốt hình thức hợp đồng sẽ góp phần quan trọng để chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phát triển nhanh và bền vững, năng cao hiệu quả của các doanh nghiệp, ổn định sản xuất, đời sống của nông dân ngày càng được cải thiện. Ngoài các ưu điểm trên hình thức thu mua này còn có các hàn chế đòi hỏi các doanh nghiệp phải có năng lực kinh tế đủ mạnh Thu gom từ các đại lý thu mua: Hộ nông dân Đại lý thu gom Công ty thu mua chế biến, đóng hộp và xuất khẩu Sơ đồ mạng lưới thu gom từ các đại lý thu mua DCBT được trển khai ở huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang Hình thức này được sử dụng ít hơn so với hình thức thu gom từ các hộ nông dân vì nó có thêm chi phí đại lý thu gom. Hình thức này chủ yếu sử dụng ở các công ty nhỏ. Hình thức này có ưu điểm là công ty có quyền đòi hỏi về chát lượng hàng của mình mặt khác công tính sơ bộ giá thành để đạt được hiệu quả cao nhất. Ngoài ưu đểm đó thì có hạn chế là tăng chi phí trung gian nên giá dưa chuột bo tử cao hơn so với hình thức thu mua trực tiếp từ hộ nông dân. Mặc dù vậy, nhưng lượng dưa vẫn thiếu hụt cho dù sản lượng khá cao tiềm năng về ngành này còn được phát triển. 2.3.3.3 Kênh xuất khẩu Dưa chuột bao tử được xuất khẩu qua 2 kênh được thực hiện qua 2 kênh: kênh 1: xuất khẩu trực tiếp Ưu điểm: hàng được tập kết nhanh chóng Giảm bớt được các khâu trung gian Công ty có điều kiện tiếp cận trực tiếp với thị trường nên năm bắt được chính xác và kịp thời thông tin về sản phẩm, từ đó có biện pháp tác động thích hợp. Giúp công ty đỡ bị ép giá nên có lợi cho công ty và cho hộ nông dân. Công ty thu mua và chế biến sản phẩm Xuất khẩu Hộ nông dân Công ty XNK Sơ đồ kênh tiêu thụ xuất khẩu DCBT ở Lạng Giang Tuy nhiên có Hạn chế lớn nhất là khả năng kinh tế cần nguồn vốn lớn . Kênh 2: Xuất khẩu thông qua công ty xuất nhập khẩu. Các công ty không có khả năng xuất khẩu hết sản phẩm của mình và khả năng tìm kiếm hợp đồng khó khăn nên phải thông qua công ty XNK. Dưa chuột bao tử sau khi chế biến tạo thành sản phẩm đóng lọ được kiểm tra chất lượng theo tiêu chuẩn HACCP rồi vận chuyển tới công ty XNK. Ưu điểm: Sản phẩm được kiểm tra kỹ qua nhiều khâu trước khi đóng hàng để xuất khẩu, khác phục hạn chế về yêu cầu nguông tài chínhđược san sẽ qua nhiều đối tượng tham gian nên lợi nhuận không lớn, bị động trong nắm bắt sự phản hồi của khách hàng, năng lực tiếp thị yếu. Mặt khác, doanh nghiệp cũng như các hộ nông dân thường phải sức ép về giá cả của chất lượng sản phẩm, đưa ra các phương án kế hoạch kinh doanh chậm. Kết quả nghiên cứu đầu mối tiêu thụ của các công ty xuất khẩu dua bao tử được thể hiện qua bảng: Các hình thức tiêu thụ DCBT của các doanh nghệp ở Lạng Giang Hình thức tiêu thụ Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 GT CC GT CC GT CC -XK trực tiếp 106.561 63.86 135.516 67.11 154.562 66.43 -Công ty XNK 60.308 36.14 66.427 32.89 78.124 33.57 - TT nội địa khác 13.012 - 17.012 - 28.164 - Tổng giá trị XK 166.869 100 201.943 100 232.686 100 Tổng doanh thu 179.881 - 218.955 - 260.85 - Tỷ lệ GTXK trong tổng DT 92.77 - 92.23 - 89.2 - Nguồn: tổng hợp số liệu điều tra từ các công ty XNK rau quả ở huyện Qua bảng trên ta thấy, các công ty XNK đã rất cố gắng trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài, nhất là việc tổ chức xuất khẩu trực tiếp nên giá trị xuất khẩu dưa chuột chiếm tỷ trọng lớn ( đạt khoảng 90%). Đây là một thế mạnh của công ty, có đội ngũ marketing qua đào tạo bài bản. Bên cạnh đó các công ty vẫn tiếp tục mở rộng thêm nhiều thị trường mới hứa hẹn sự phát triển mạnh mẽ ngành sản xuất dưa chuột bao tử trong tương lai. 2.4 Giải pháp nhằm phát triển việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở tỉnh Bắc Giang : Trên cơ sở phân tích tình trạng sản xuất dưa chuột bao tử ở tỉnh Bắc Giang, chúng tôi đã đưa ra một số giải pháp như sau: 2.4.1. Quy hoạch vùng chuyên canh sản xuất dưa chuột bao tử hàng hóa : Cây dưa chuột bao tử có thể trồng trên một diện tích rộng ở các xã đồng bằng, chân đất trồng lúa, thuận lợi cho việc tưới tiêu vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao, vừa góp phần cải tạo đất. 2.4.2. Giải pháp về kỹ thuật: Theo chúng tôi các biện pháp kỹ thuật cần áp dụng trong thời gian tới là: - Về giống: Nên sử dụng giống cây có thời gian sinh trưởng ngắn, phẩm chất tốt, sai quả, cho quả chất lượng tốt, khả năng chống sâu bệnh cao. - Phân bón: Việc bón phân phải đảm bảo các điều kiện: bón đúng thời lượng, đúng quy trình và đúng thời gian. Cây dưa chuột bao tử rất cần bổ sung lượng đạm, lân, kali và vôi để sinh trưởng và phát triển nhưng với lượng hợp lý. - Công chăn sóc: Công chăm sóc nhiều còn thể hiện ở việc xới dất, bón phân, làm cỏ làm cho dất đúng yêu cầu kỹ thuật hơn, đất tơi xốp hơn thuận lợi cho việc phát triển của cây dưa. - Diệt trừ cỏ và bảo vệ thực vật: Địa phương cần thành lập đội làm bảo vệt thực vật để dự báo và phòng chống sâu bệnh. Ngoài biện pháp sử dụng thuốc hóa học cần kết hợp các biện pháp khác như xử lý hạt giống, luân canh mùa vụ… - Nước tưới: Cần tăng cường công tác thủy lợi, tưới tiêu nước đầy đủ cho cây. - Bố trí thời vụ: Cây dưa chuột bao tử chỉ cho năng suất cao trong điều kiện thời tiết khí hậu thích hợp. Cho nên việc lựa chọn thời vụ là việc làm đầu tiên cần được tiến hành. Lịch gieo trồng ở Bắc Giang thường được tiến hành như sau: - Vụ đông: Bố trí trên chân đất 2 vụ lúa gieo từ 15/9 đến 25/9 - Vụ xuân: Bố trí trên đất mạ mùa và diện tích đất cấy lúa có cốt đất cao, thời gian gieo hạt từ 30/1 đến 15/2. 2.4.3. giải pháp về đất đai: Cần thực hiện tốt công tác “đồn điền, đồn thửa”, chuyển dịch tích tụ ruộng đất để nang cao quy mô sử dụng đất, tạo nên các trang trại. 2.4.4. giải pháp về cơ sở hạ tầng: - về thủy lợi: Phát triển thủy lợi và đảm bảo tưới tiêu nước chủ động, phát huy tối đa công suất các hồ, đập, các trạm bơm hiện có, nhanh chóng hoàn thiện hệ thống kênh mương nội đồng, triển khai các công trình thủy lợi… - Về giao thông: Cần chú trọng phát triên hệ thống giao thông nội đồng tạo điều kiên thuận lợi cho việc sản xuất dưa chuột bao tử. 2.4.2.5. giải pháp về công tác khuyến nông: Thường xuyên mở các lớp khuyến nông cho các hộ trồng dưa chuột bao tử, giới thiệu các mô hình dưa chuột bao tử hiệu quả trên địa bàn. Đồng thời cần nâng cao chất lượng và số lượng đội ngũ khuyến nông viên hoặc những người làm công tác khuyến nông tại cơ sở. 2.4.2.6. Giải pháp về vốn: Nhà nước cần hỗ trợ về vốn, khuyến khích người dân phát triển sản xuất. 2.4.2.7. Giải pháp về thị trường tiêu thụ và chế biến sản phẩm: Về xuất khẩu: Cần làm tôt hơn nữa khâu quản lý chất lượng sau thu hoạch thông qua các hình thức sau: - Đầu tư cho công tác nghiên cứu, lai tao giống nhằm hạn chế việc nhập khẩu dưa chuột bao tử và hạn chế sự lệ thuộc vào nước ngoài. - Tổ chức các đoàn tham quan học hỏi mô hình sản xuất hiệu quả cao và quy trình bảo quản sau thu hoạch. - Tăng cường công tác mời gọi các DN chế biến nông sản về tỉnh - Tổ chức mạng lưới tiêu thụ dưa chuột bao tử hiệu quả, phát triển cơ sở hạ tàng như kho hàng, bến bãi… Về thị trương xuất khẩu: Cần coi trọng hơn nũa công tác dự báo, dự tính và mở rộng thị trường xuất khẩu - Tổ chức nguồn nguyên liệu ổn định, nắm vững giá cả và hướng dẫn người nông dân sản xuất - Tăng cường chất lượng quản lý và phổ biến các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm - Tích cực tham gia hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế nhằm quảng bá và giới thiệu sản phảm - Tăng cường kiểm dịch thực vật trước khi xuất khẩu sang nước ngoài, nâng cao chất lượng dưa chuột bao tử xuất khẩu. - Tập trung đầu tư xây dựng kỹ năng marketting, xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu dưa chuột bao tử Bắc Giang - Tăng cường hoạt đọng liên doanh, liên kết hợp tác đầu tư nhằm tranh thủ vốn, kinh nghiệm, KHKT của bạn hàng trong và ngoài nước. 2.4.2.8. Giải pháp về chuyển đổi cơ cấu cây trồng và hệ thống canh tác: Một số cây trồng, công thức canh tác cho hiệu quả kinh tế thấp và tác động xấu đến môi trường cần chuyển đổi. Các chân ruộng cho năng suất thấp không chủ động hoàn toàn trong việc tưới tiêu, các hộ mạnh gian chuyển sang trồng luân canh với cây dưa chuột bao tử. Phần III. Kết Luận Là một tỉnh miền núi phía Bắc, tuy nằm sát thủ đô Hà Nội, nhưng Bắc Giang vẫn là một tỉnh thuần nông, đông dân, lao động trong ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản còn chiếm tới 76,58% tổng số lao động toàn tỉnh, đất đai lại hạn chế, vốn đầu tư ít tăng trưởng kinh tế ở mức thấp. Chính vì vậy cần tích cực tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, phát huy hơn nữa tiềm năng, lợi thế của địa phương, đồng thời đề ra các chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng tâm là việc vô cùng cần thiết. Nhờ chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và mạnh dạn áp dụng các loại giống nông sản mới Bắc Giang đang từng bước phát triển với nhiều thế mạnh đặc biệt là việc trồng chế biến dưa bao tử. Nhiều năm nay, dưa bao tử xuất khẩu trở thành thế mạnh và là cây trồng chính trong vụ đông, vụ xuân trên những cánh đồng của tỉnh Bắc Giang. Cây dưa chuột bao tử không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế với bà con nông dân trong tỉnh mà mô hình trồng dưa bao tử đã và đang được nhân rộng ra nhiều tỉnh thành khác.Ngoài lợi ích kinh tế trước mắt, việc trồng dưa bao tử đã giúp người dân quen hơn với sản xuất nông nghiệp hàng hoá - một điều vô cùng cần thiết khi nông nghiệp nước ta hội nhập. Dưa bao tử đã và đang là cây trồng mang lại cho Bắc Giang một làn gió mới trong kinh tế hộ gia đình. Đối với những người dân Bắc Giang thì cây dưa chuột bao tử đã trở thành cây trồng được tập trung nhằm phát triển kinh tế hộ, nâng cao nguồn thu nhập cho bà con nông dân và đáp ứng một lượng lớn dưa chế biến phục vụ nhu cầu trong nước và nhu cầu xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Thời gian tới, với những hiệu quả đã được chứng minh mong rằng các cấp, các ngành cần quan tâm hơn nữa để giúp bà con tỉnh Bac Giang có thể thoát nghèo từ cây dưa chuột bao tử. Trên đây là bài làm của chúng em. Do tầm hiểu biết còn hạn hẹp nên bài làm còn nhiều sai sót, mong thầy cùng các bạn đóng góp ý kiến để chúng em hoàn thiện bài của mình hơn.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc_thuc_trang_san_xuat_che_bien_va_tieu_thu_dua_chuot_bao_tu_o_tinh_bac_giang_5829.doc
Tài liệu liên quan