Đề tài Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp Việt nam từ năm 1990 đến nay

Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK, có thể khẳng định sự tồn tại khách quan hết sức đa dạng, phức tạp của rủi ro, tổn thất xảy ra khi thực hiện hợp đồng. Những biến động về giá cả, sự thay đổi về chất lượng, số lượng, những rủi ro trong thanh toán, vận tải, những nguy cơ rủi ro, tổn thất từ môi trường tự nhiên, chính trị, môi trường cạnh tranh, những thay đổi về cơ chế chính sách điều hành kinh doanh XNK của nhà nước, những yếu kém trong năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tất cả cùng hoà quyện, đan xen vào nhau tạo thành một môi trường kinh doanh XNK ngày càng trở nên bất định. Tuy vậy, kinh doanh XNK vẫn là lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn nếu doanh nghiệp biết cách phòng ngừa, hạn chế rủi ro, tổn thất. Thực tế phức tạp, đa dạng của rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK đòi hỏi phải có sự phối hợp tích cực giữa doanh nghiệp và nhà nước. Nhà nước cần quan tâm tới các giải pháp vĩ mô còn doanh nghiệp nên tập trung nhiều hơn tới các giải pháp vi mô mang tính chất nghiệp vụ, tổ chức, quản lý.

doc97 trang | Chia sẻ: Kuang2 | Ngày: 23/08/2017 | Lượt xem: 66 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Thực trạng về rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp Việt nam từ năm 1990 đến nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Khắc phục rủi ro, tổn thất là những biện pháp nhằm khoanh lại rủi ro, tổn thất không để rủi ro, tổn thất trở thành nguyên nhân gây rủi ro, tổn thất tiếp theo tránh tạo ra rủi ro, tổn thất dây chuyền hoặc là những biện pháp giảm thiệt hại tới mức thấp nhất có thể và khôi phục lại nhanh chóng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chia sẻ rủi ro, tổn thất là biện pháp đề ra nhằm chia nhỏ rủi ro, tổn thất cho mọi người thông qua các quỹ hỗ trợ rủi ro hoặc thông qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Di chuyển rủi ro, tổn thất là biện pháp chuyển giao rủi ro, tổn thất cho người khác gánh chịu thông qua thay đổi trách nhiệm với tài sản khi thực hiện hợp đồng mua bán hay hợp đồng tín dụng. 2. Sự cần thiết và lợi ích của các biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất trong thực hiện hợp đồng XNK. a) Sự cần thiết Hạn chế rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK là việc làm hết sức cần thiết đối với an toàn trong kinh doanh của doanh nghiệp. Các biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất không những đảm bảo hiệu quả kinh doanh của một thương vụ mà còn đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sự cần thiết phải thiết lập các biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất được thể hiện ở các mặt sau: Một là, mục tiêu của mọi doanh nghiệp khi thực hiện hợp đồng XNK là nhằm thu được lợi nhuận tối ưu, tức là mức lợi nhuận cao nhất đạt được khi đảm bảo được các mục tiêu khác. Để đạt được lợi nhuận cao, doanh nghiệp phải tiến hành đồng thời hai biện pháp: Thứ nhất là tăng doanh thu, thứ hai là giảm chi phí. Tăng doanh thu thường đòi hỏi phải tăng quy mô của hợp đồng (cũng có trường hợp tăng doanh thu nhờ vào biến động của tỷ giá song doanh nghiệp hoàn toàn bị động trong tình huống này), đến lượt nó việc tăng quy mô lại hàm chứa những nguy cơ rủi ro lớn hơn cho quá trình thực hiện hợp đồng. Do đó, cách thứ hai là giảm chi phí, trong đó có các chi phí xử lý rủi ro, tổn thất, tỏ ra chủ động hơn và đem lại hiệu quả kép cho doanh nghiệp là giảm chi phí và tăng độ an toàn trong kinh doanh. Vì vậy, tất yếu phải có biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất. Hai là, an toàn trong kinh doanh là yêu cầu thiết thực cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trên thị trường đầy nguy cơ rủi ro, bất trắc. Muốn an toàn cần phải giảm thiểu rủi ro, tổn thất có thể tác động tới doanh nghiệp. Để làm được điều này, doanh nghiệp không còn cách nào khác ngoài việc thiết lập các biện pháp hạn chế cho từng nhóm rủi ro tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của nó. Ba là, rủi ro, tổn thất gây thiệt hại nặng nề về tài sản, con người và đôi khi doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm pháp lý về sản phẩm đối với khách hàng mà nhiều khi trách nhiệm pháp lý này còn gây hậu quả nghiêm trọng hơn cả những thiệt hại về tài sản. b) Lợi ích Hạn chế rủi ro, tổn thất là biện pháp nhằm làm cho rủi ro, tổn thất ít xảy ra và nếu xảy ra thì cũng ít nghiêm trọng. Với ý nghĩa đó, hạn chế rủi ro, tổn thất làm tăng hiệu quả kinh doanh bằng cách giảm chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan tới rủi ro. Hạn chế rủi ro, tổn thất cũng góp phần tăng uy tín doanh nghiệp trên thị trường. Một doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, không liên quan đến các vụ lừa đảo, tranh chấp sẽ dễ dàng tiếp cận nguồn vốn và mở rộng quan hệ kinh doanh. Thông qua đó, công việc kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra trôi chảy, dễ dàng hơn. Ngoài ra, hạn chế rủi ro, tổn thất còn là cơ sở để các doanh nghiệp chấp nhận mạo hiểm nhằm thu lợi nhuận lớn trong một số lĩnh vực kinh doanh có nguy cơ rủi ro, tổn thất cao. Hơn nữa, hạn chế rủi ro, tổn thất làm cho môi trường kinh doanh được cải thiện loại trừ được nhiều nguy cơ rủi ro, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh XNK. Như vậy, các biện pháp phòng ngừa hạn chế rủi ro, tổn thất góp phần biến cơ hội kinh doanh thành kết quả hiện thực, giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ trong kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận tối đa nhưng vẫn an toàn. 3. Quan điểm, phương hướng của các doanh nghiệp và Nhà nước Việt Nam về hạn chế rủi ro, tổn thất trong kinh doanh XNK a) Quan điểm Trước sự đa dạng phức tạp của rủi ro, tổn thất trong kinh doanh XNK mà đặc biệt là trong quá trình thực hiện hợp đồng, hiện đang có nhiều quan điểm khác nhau về hạn chế rủi ro, tổn thất trong lĩnh vực này. Quan điểm 1: Hạn chế rủi ro, tổn thất là biện pháp cơ bản chủ động tích cực nhằm cải thiện môi trường kinh doanh XNK, giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh duy trì sự phát triển bền vững. Trước kia, khi nền kinh tế Việt Nam chưa hội nhập vào kinh tế thế giới, tư tưởng chủ đạo của các doanh nghiệp là rủi ro, tổn thất xảy ra là do sự thiếu may mắn, do thiên định nên có xu hướng chấp nhận rủi ro một cách thụ động. Chuyển sang kinh tế thị trường, phải đối mặt với mức độ ngày càng tăng của rủi ro, tổn thất trong kinh doanh XNK, các doanh nghiệp đã đổi mới cách nhìn về các sự cố bất lợi một cách bản chất và thực tế hơn. Do đó, quan điểm trên đã dần phổ biến. Quan điểm 2: “Phòng hơn chống” rủi ro, tổn thất xảy ra trong kinh doanh XNK. Phòng rủi ro, tổn thất là sử dụng biện pháp mang tính kỹ thuật, tổ chức nhằm ngăn chặn nguy cơ rủi ro, né tránh rủi ro có thể xảy ra. Chống rủi ro, tổn thất là biện pháp được sử dụng sau khi rủi ro, tổn thất đã xảy ra làm hạn chế thiệt hại về người và của. Nếu phòng ngừa được rủi ro, doanh nghiệp sẽ tránh được cả những rủi ro không được bảo hiểm đầy đủ. Do đó phòng ngừa rủi ro là biện pháp ưu việt hơn chống rủi ro. Quan điểm 3: Kết hợp chặt chẽ giữa mạo hiểm và tạo lập các biện pháp an toàn trong kinh doanh XNK Rủi ro, tổn thất tồn tại khách quan, do đó muốn tham gia vào hoạt động kinh doanh XNK doanh nghiệp buộc phải chấp nhận rủi ro, tổn thất, điều cơ bản là sự chấp nhận ấy là thụ động hay chủ động còn tùy thuộc vào thái độ của doanh nghiệp. Chấp nhận rủi ro, mạo hiểm là một trong những phẩm chất, chỉ tiêu đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên chấp nhận rủi ro ở đây là dựa trên nền tảng của tầm nhìn xa trông rộng, suy diễn lôgic, dự báo, dự đoán mọi tình huống có thể xảy ra bằng cách kết hợp chặt chẽ giữa mạo hiểm với an toàn trong kinh doanh. Quan điểm 4: Nhà nước và doanh nghiệp cùng phòng chống, hạn chế rủi ro, tổn thất trong kinh doanh XNK. Nguy cơ rủi ro, tổn thất xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, ở cả tầm vĩ mô và vi mô. Do đó, từng doanh nghiệp dù muốn cũng không thể hạn chế một số loại rủi ro, tổn thất có nguyên nhân khách quan từ cơ chế chính sách, môi trường chính trị.... Bởi thế các doanh nghiệp cần có sự hỗ trợ từ phía chính phủ và các hiệp hội ngành hàng. Quan điểm 5: Xây dựng hệ thống đồng bộ liên hoàn về tổ chức và nghiệp vụ nhằm hạn chế rủi ro, tổn thất Rủi ro, tổn thất hết sức đa dạng, phức tạp và có thể xảy ra ở mọi hoạt động trong kinh doanh XNK. Cho dù biện pháp hạn chế có hoàn thiện đến đâu thì doanh nghiệp cũng không thể nào phòng tránh được hoàn toàn rủi ro, tổn thất xảy ra. Do vậy, để biện pháp hạn chế phát huy tối đa tác dụng, cần thống nhất công tác quản lý và các hoạt động nghiệp vụ của doanh nghiệp trong hạn chế phòng ngừa rủi ro, tổn thất. b) Phương hướng cơ bản Trước tình hình rủi ro, tổn thất trong kinh doanh XNK ngày càng gia tăng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã đưa ra một số phương hướng cơ bản về hạn chế rủi ro, tổn thất trong kinh doanh XNK như sau: Thứ nhất, hình thành hệ thống bảo hiểm đủ tin cậy dưới sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu bảo hiểm hàng hóa XNK ngày càng tăng. Bảo hiểm hàng hóa XNK cho đến bây giờ vẫn được coi là biện pháp phòng chống, hạn chế rủi ro chủ yếu chưa thể thay thế bởi những tác dụng cơ bản của nó. Tuy nhiên còn quá nhiều lĩnh vực mà bảo hiểm vẫn bỏ ngỏ, do đó, mặc dù được hình thành từ năm 1964 nhưng Bảo hiểm Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu và chưa tạo dựng được niềm tin với khách hàng. Thứ hai, hình thành các biện pháp tổ chức điều hành quản lý rủi ro một cách có hệ thống từ Trung ương đến địa phương, từ cơ quan quản lý đến doanh nghiệp kinh doanh nhằm đảm bảo an toàn kỹ thuật, an toàn vệ sinh cho nguồn hàng XNK. Thiếu tổ chức của các cơ quan Trung ương sẽ tạo ra sự manh mún, vô chính phủ, mạnh ai nấy làm, gây khó khăn cho quá trình thực hiện hợp đồng. Thứ ba, phát triển hoàn thiện hệ thống kỹ thuật an toàn trên quan điểm “phòng hơn chống” nhằm chủ động ngăn chặn, phòng ngừa rủi ro, tổn thất, giảm thiểu nguy cơ rủi ro. Hệ thống này bao gồm các quy định về an toàn trong vận chuyển, an toàn trong sử dụng ngoại tệ, mở L/C... Thứ tư, hoàn thiện các biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất được tiến hành song song với các biện pháp thúc đẩy kinh doanh XNK. Các doanh nghiệp Việt Nam thường quan tâm tới việc tập trung nguồn lực để phát triển kinh doanh, mở rộng thị trường mà quên đi rằng mình đang phải đối mặt với nhiều rủi ro, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc. Kết hợp các biện pháp hạn chể rủi ro và các biện pháp thúc đẩy kinh doanh sẽ giúp họ đạt được hiệu quả cao nhất trong kinh doanh XNK. II. Thực trạng biện pháp hạn chể rủi ro, tổn thất trong thực hiện hợp đồng XNK được vận dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam 1. Các biện pháp được áp dụng phổ biến Thực trạng phổ biến của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là chưa quan tâm đúng mức tới rủi ro và các biện pháp hạn chế chúng. Do vậy, doanh nghiệp Việt Nam chỉ tập trung vào một số biện pháp có tính truyền thống như mua bảo hiểm hàng hóa XNK, áp dụng các biện pháp an toàn trong kỹ thuật tổ chức thực hiện hợp đồng, đào tạo bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ. 1.1. Bảo hiểm hàng hóa XNK Bảo hiểm thường được coi là một sách lược để giảm tính không chắc chắn của một bên là người được bảo hiểm, thông qua sự chuyển giao những rủi ro hay ít nhất là một phần nào đó những thiệt hại kinh tế mà người được bảo hiểm bị tổn thất tới một bên khác là người bảo hiểm. Với ý nghĩa đó, bảo hiểm hàng hóa XNK chính là phương pháp xử lý rủi ro, tổn thất xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nhờ đó, việc chuyển giao, phân tán rủi ro giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác được thực hiện thông qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các công ty bảo hiểm. Vai trò của bảo hiểm hàng hóa XNK với tư cách là một biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất chủ yếu của các doanh nghiệp kinh doanh XNK Việt Nam được thể hiện ở một số mặt sau: - Công ty bảo hiểm bồi thường tổn thất cho các rủi ro đã được mua bảo hiểm gây ra tổn thất cho hàng hóa XNK. Thực tiễn kinh doanh bảo hiểm hàng hóa XNK ở các công ty bảo hiểm Việt Nam cho thấy tỷ lệ bồi thường luôn ở mức cao khoảng 60-70%. Chỉ tính riêng giá trị bồi thường tổn thất của Tổng công ty(TCT) Bảo hiểm Việt Nam từ năm 1994 đến năm 2000, con số này lên tới 23,635 triệu USD trong tổng phí bảo hiểm thu được từ nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK là 36,77 triệu USD, chiếm 64,3%. Bảng 9: Bảo hiểm bồi thường tổn thất cho hàng hóa XNK ở Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam giai đoạn 1994 - 2000 Chỉ tiêu Năm Số tiền bảo hiểm hàng hóa XNK (triệu USD) Tổng phí bảo hiểm hàng hóa XNK (tr.USD) Tỉ lệ phí bình quân (%) Tổng giá trị tổn thất được bồi thường (tr.USD) So sánh tổn thất và số tiền được bảo hiểm (%) So sánh giá trị tổn thất và tổng phí bảo hiểm (%) 1994 1310 5,376 0,41 2,041 0,16 37,97 1995 1129 4,563 0,4 2,376 0,21 52,07 1996 1161 5,655 0,46 4,257 0,37 75,28 1997 1161 5,288 0,48 4,50 0,37 80,37 1998 1177 5,680 0,38 3,801 0,32 67,04 1999 1316 4,936 0,36 3,7 0,28 74,96 2000 1462 5,282 0,42 3,21 0,22 60,77 Tổng 8716 36,77 23,635 0,27 64,28 Nguồn: Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam Từ bảng trên, có thể thấy mức bồi thường cho hàng hóa XNK thuộc trách nhiệm của bảo hiểm trung bình là 3,4 triệu USD/năm. Con số này có ý nghĩa thực sự to lớn đối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK. Các khoản bồi thường từ bảo hiểm giúp doanh nghiệp vượt qua những khó khăn về mặt tài chính, khắc phục hậu quả của rủi ro và nhanh chóng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh. - Bảo hiểm hàng hóa XNK đòi hỏi cả người bảo hiểm lẫn người được bảo hiểm phải nghiên cứu rủi ro, tổn thất, xác định nguyên nhân và từ đó đề ra các biện pháp kiểm soát ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro, góp phần hạn chế rủi ro, tổn thất xảy ra. Theo TCT Bảo hiểm Việt Nam, nguyên nhân chủ yếu gây ra tổn thất cho hàng hóa XNK trong quá trình chuyên chở đường biển là do những sự cố, tai nạn trên biển, còn những rủi ro do bao bì không phù hợp với tuyến đường vận chuyển, do xếp dỡ ít xảy ra hơn. Bảo hiểm hàng hóa XNK là biện pháp được áp dụng thường xuyên nhất trong các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên khi ký kết hợp đồng, các doanh nghiệp thường lựa chọn XK theo điều kiện FOB, NK theo điều kiện CIF. Do đó, quyền mua bảo hiểm và thuê tàu thuộc về phía đối tác nước ngoài. Vì vậy có thể nói, thực tế nhiều năm qua cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam chưa tạo được thế chủ động trong áp dụng biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất này. Bảng 10: Tỷ trọng kim ngạch XNK tham gia bảo hiểm trong nước Năm Tổng kim ngạch Kim ngạch tham gia BH trong nước Tỷ trọng (%) XK (tr.USD) NK (tr.USD) XK (tr.USD) NK (tr.USD) XK (tr.USD) NK (tr.USD) 1995 5,449 8,155 0,197 1,916 3,28 23,48 1996 7,256 11,144 0,221 2,370 3,04 21,27 1997 9,185 11,592 0,272 2,132 2,29 18,39 1998 9,361 11,527 0,358 2,188 3,82 18,98 1999 11,540 11,622 0,428 2,211 3,71 19,02 2000 14,300 15,222 0,666 3,535 4,66 23,26 Nguồn: Thông tin thị trường bảo hiểm số 3 - 8/2001 Nếu so sánh tổng kim ngạch XK, NK qua các năm với kim ngạch XNK tham gia bảo hiểm trong nước, ta thấy có độ chênh rất lớn. Các doanh nghiệp XNK chỉ mua bảo hiểm 20% trị giá hàng NK; 3,4% trị giá hàng XK tại các Công ty bảo hiểm Việt Nam, phần còn lại rơi vào các Công ty bảo hiểm nước ngoài. Theo tính toán của các chuyên gia VINARE hàng năm phí bảo hiểm bị chuyển ra nước ngoài lên tới 70 triệu USD. Do đó, có thể khẳng định rằng giá trị hàng hóa XNK được bảo hiểm tại Việt Nam rất thấp và các doanh nghiệp Việt Nam thường bị động trong giành quyền mua bảo hiểm để hạn chế rủi ro, tổn thất trong thực hiện hợp đồng XNK . 1.2. Các biện pháp về kỹ thuật, tổ chức thực hiện hợp đồng Về mặt kỹ thuật nghiệp vụ, các doanh nghiệp đã thận trọng hơn trong soạn thảo ký kết hợp đồng. Nhiều doanh nghiệp để tránh rủi ro, tổn thất khi thực hiện đã xây dựng cho mình hợp đồng mẫu. Ngoài ra, họ còn sử dụng các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng như cầm cố, bảo lãnh, thế chấp, đặt cọc, phạt vi phạm hợp đồng, các biện pháp đảm bảo thanh toán như sử dụng L/C xác nhận, bảo lãnh ngân hàng, lựa chọn đồng tiền thanh toán ổn định. Về mặt tổ chức thực hiện hợp đồng, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm hơn đến sự ổn định của số lượng và chất lượng nguồn hàng. Để đảm bảo nguồn hàng cho XK, nhiều doanh nghiệp đã ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với nông dân, đề ra các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt và quy định rõ ràng về chất lượng sản phẩm. Khâu đóng gói bao bì cũng được chú trọng. Kiểm tra chất lượng được tiến hành ở hai cấp, cấp cơ sở và cấp cửa khẩu. Đây chính là biện pháp để giải thoát trách nhiệm khi có những rủi ro về chất lượng có thể xảy ra với hàng hóa sau này. 1.3. Đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ Công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cũng được tăng cường trong vài năm trở lại đây. Bằng chứng là số lượng cán bộ tham gia các khóa học chuyên ngành và ngắn hạn tại trường Đại học Ngoại thương - cái nôi đào tạo cán bộ XNK cho cả nước, ngày càng tăng. Đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ giúp người kinh doanh XNK tăng cường khả năng nhận dạng, phòng tránh và xử lý rủi ro. 2. Đánh giá về các biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất chủ yếu áp dụng tại các doanh nghiệp XNK Việt Nam Nếu đối chiếu với thực trạng rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK mà các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt trong thời kỳ 1990 đến nay thì các biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất đã được vận dụng có phần đơn giản. ở hầu hết các doanh nghiệp, bảo hiểm là giải pháp duy nhất để doanh nghiệp khắc phục hậu quả của rủi ro. Trong khi đó, thực tế là bảo hiểm không phải là phương pháp hoàn hảo, phương pháp duy nhất để hạn chế rủi ro, tổn thất bởi vì có rất nhiều rủi ro, tổn thất không thuộc phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm và nhiều rủi ro, tổn thất không được bảo hiểm. Hơn nữa bảo hiểm đề cập đến ở đây chỉ là bảo hiểm hàng hóa XNK, tức là bảo hiểm những rủi ro xảy ra với hàng hóa gây tổn thất trong quá trình chuyên chở hàng hóa XNK chứ không bao trùm bảo hiểm trong các lĩnh vực khác như bảo hiểm rủi ro tỷ giá, bảo hiểm rủi ro trong thanh toán, bảo hiểm cho các sản phẩm nông nghiệp... Ngoài ra, một vấn đề cần lưu ý nữa là các doanh nghiệp Việt Nam thường nhường quyền mua bảo hiểm và thuê tàu cho đối tác nước ngoài. Vì thế họ không thể kiểm soát tuyệt đối việc phía bên kia mua bảo hiểm của công ty nào, năng lực tài chính ra sao, mua theo điều kiện nào... Đồng thời, khi tổn thất xảy ra, việc khiếu nại người bảo hiểm cũng có thể gặp nhiều khó khăn hơn do những phiền phức về thủ tục pháp lý, bất đồng ngôn ngữ, xa cách địa lý... Do đó, mặc dù đã, đang và vẫn sẽ là biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất quan trọng nhưng bảo hiểm hàng hóa XNK rõ ràng không phải là giải pháp tối ưu nhằm phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro, tổn thất trong thực hiện hợp đồng XNK. Bên cạnh đó, công tác đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cũng mới chỉ được thực hiện chủ yếu ở các doanh nghiệp lớn. Các khóa học đào tạo bổ sung thường có tính chất ngắn hạn nên chưa thể tạo được nền tảng cơ bản đủ vững chắc về chuyên môn nghiệp vụ để có thể phòng tránh, hạn chế rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nhìn lại thực trạng rủi ro, tổn thất trong kinh doanh XNK hơn 10 năm qua, có thể khẳng định các biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất của các doanh nghiệp Việt Nam còn quá nghèo nàn, đơn điệu so với thực tiễn phức tạp của hoạt động kinh doanh XNK. Rủi ro, tổn thất tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau, từ những rủi ro, tổn thất từ môi trường tự nhiên, môi trường chính trị, môi trưòng cạnh tranh, chính sách cơ chế quản lý, năng lực chuyên môn nghiệp vụ đến rủi ro, tổn thất về số lượng, chất lượng, giá cả, tỉ giá, rủi ro trong thanh toán quốc tế, trong chuyên chở hàng hoá XNK và trong tranh chấp kiện tụng, tất cả đều đòi hỏi phải hình thành và triển khai nhiều biện pháp hạn chế hữu hiệu hơn nữa ở cả cấp vi mô và vĩ mô. III. một số kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK 1. Các giải pháp từ phía nhà nước: Trong môi trường kinh doanh XNK đầy rủi ro, bất trắc như hiện nay, để các doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động kinh doanh một cách an toàn nhà nước cần tăng cường vai trò định hướng, quản lý giám sát song song với hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm tạo môi trường kinh doanh thông thoáng và ổn định. 1.1 Xây dựng và định hướng thực hiện chiến lược phát triển kinh doanh XNK Trong định hướng phát triển XNK thời kỳ 2001-2010, chính phủ Việt nam đề ra mục tiêu tăng trưởng XK hàng hoá bình quân là 15%/ năm, tăng trưởng NK 14%/ năm. Để thực hiện mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế, từng doanh nghiệp phải điều hành tốt hoạt động kinh doanh XNK của mình, từng hợp đồng phải được thực hiện có hiệu quả, không thua lỗ và tránh rủi ro, tổn thất gây hậu quả nặng nề cho doanh nghiệp và Nhà nước. Qua hai năm thực hiện chiến lược, các mục tiêu trên đều không đạt được. Năm 2001, XK tăng 4,5%, NK tăng 2,3%; 6 tháng đầu năm 2002, XK chỉ đạt 95,7% so với cùng kỳ năm 2001 và chỉ bằng 44,4% kế hoạch 2002, NK đạt 107,4% do với cùng kỳ năm 2001 và chỉ bằng 47,7% kế hoạch. Nhiều lô hàng XK sang EU bị trả lại và tiêu huỷ, các hợp đồng XK gạo, cà phê thường xuyên bị thua lỗ vì gía cả lên xuống thất thường và nguồn hàng không ổn định. Thực hiện các hợp đồng NK xăng dầu, phân bón tại nhiều thời điểm bị thua lỗ trầm trọng. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do dự đoán dự báo kinh tế chưa chính xác, công tác nghiên cứu thị trường, thu thập và xử lý thông tin ở cấp bộ ngành còn nhiều yếu kém; việc triển khai kiểm soát chiến lược chưa được quan tâm đúng mức. Do đó, từ phía Nhà nước, cần phải triển khai một số biện pháp cụ thể sau: - Xác định mục tiêu phải xem xét đến bối cảnh của tình hình kinh tế thế giới và các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh XNK của doanh nghiệp, để từ đó đề ra mục tiêu chiến lược phù hợp với năng lực của các doanh nghiệp, tránh tình trạng nhiều doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng do Nhà nước giao là để đạt kế hoạch không tính đến hiệu quả và bất chấp rủi ro, tổn thất. - áp dụng các phương pháp xây dựng và thực hiện chiến lược tiên tiến trên cơ sở hoàn thiện công tác dự báo, dự đoán, thu thập phân tích, xử lý dữ liệu cập nhật thông tin kinh tế nhằm giúp các doanh nghiệp lường trước những biến động về giá cả, thị trường nhờ đó chủ động phòng tránh rủi ro có thể xảy ra. - Xây dựng các phương án thúc đẩy thực hiện các kế hoạch chiến lược như tăng đầu tư tạo nguồn hàng XK ổn định, khuyến khích doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm với nông dân nhằm tạo thế chủ động trong tìm kiếm chân hàng khi thực hiện hợp đồng XNK; chủ động tìm kiếm mở rộng thị trường để phân tán rủi ro, tránh tình trạng quá phụ thuộc vào một khu vực thị trường. 1.2. Đổi mới hoàn thiện chính sách quản lý và cơ chế điều hành kinh doanh XNK Công tác quản lý và điều hành kinh doanh XNK trong những năm qua đã có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận song vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, gây khó khăn cho quá trình thực hiện hợp đồng XNK. Thủ tục hải quan, thủ tục hành chính trên thực tế còn rườm rà, chưa rõ ràng; các văn bản pháp luật còn nhiều chồng chéo, mâu thuẫn nhau, hay thay đổi, thói nhũng nhiễu, quan liêu, tắc trách, tùy tiện, sự yếu kém về năng lực phẩm chất của một bộ phận cán bộ công chức luôn gây trở ngại không nhỏ tới hoạt động kinh doanh XNK của các doanh nghiệp. Vì vậy, trong thời gian tới Nhà nước cần: - Ban hành các quy định chi tiết hơn về thủ tục hải quan, quy định rõ ràng về tỷ lệ kiểm tra, miễn kiểm tra, phân định rõ ràng trách nhiệm của Hải quan trong việc ra quyết định thông quan, nộp thuế, kiểm tra sau thông quan... - Loại bỏ những quy định không rõ ràng, chồng chéo, mâu thuẫn nhau để giúp doanh nghiệp không phải lúng túng trong việc quyết định tuân thủ văn bản pháp luật nào. Cải tiến công tác ban hành pháp luật, xây dựng chính sách từ khâu thảo luận đến khâu ban hành chính thức nhằm hạn chế tối đa những sai sót, mập mờ, không khả thi, thiếu thống nhất đặc biệt là các văn bản dưới luật, từng bước đổi mới, hoàn thiện công tác hành chính, triển khai cấp phép, cấp mã số thuế gọn nhẹ, nhanh chóng. - Nâng cao hiệu quả cấp hạn ngạch tự động bằng cách thiết lập kênh thông tin chính xác để Bộ Thương mại nắm được tình hình sử dụng hạn ngạch của doanh nghiệp, nghiêm cấm tình trạng bán lại hạn ngạch cho các doanh nghiệp nước ngoài (điển hình là bán cho doanh nghiệp Trung Quốc như trong thời gian qua) khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam khác không có hạn ngạch để XK. - Đổi mới quan điểm, tư duy, nhận thức, nâng cao phẩm chất đạo đức cán bộ công chức, từ đó cải tiến công tác nhân sự của bộ máy hành chính cồng kềnh, thiếu năng lực, bảo thủ, quan liêu cửa quyền. - Quản lý chặt chẽ một cách hợp lý các đầu mối buôn bán quốc tế. Khuyến khích phát triển kinh doanh XNK không có nghĩa là thả nổi và quản lý chặt không có nghĩa là hạn chế kinh doanh. Để hạn chế rủi ro, tranh mua, tranh bán gây thiệt hại cho uy tín của các doanh nghiệp Việt Nam, Nhà nước cần: Quy định các tiêu chuẩn doanh nghiệp được quyền tham gia kinh doanh XNK. Các tiêu chuẩn này có nội dung phản ánh năng lực thực sự và uy tín của doanh nghiệp. Tăng cường kiểm tra giám sát kinh doanh bằng chế độ kiểm toán, báo cáo tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp về mặt tài chính khi cần thiết. Có sự phân biệt mức độ quản lý với từng loại kinh doanh ngành hàng khác nhau. Đối với một số mặt hàng XNK chủ lực có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển kinh tế và đời sống nhân dân, cần phải quản lý chặt đầu mối kinh doanh và ngăn chặn rủi ro có thể xảy ra cho doanh nghiệp. 1.3. Đẩy mạnh công tác dự báo, dự đoán những biến động của môi trường kinh doanh quốc tế, tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin thị trường. Nhà nước chủ động trong nghiên cứu dự đoán nguy cơ rủi ro từ môi trường tự nhiên, môi trường chính trị, luật pháp và môi trường cạnh tranh, từ đó định hướng cho các doanh nghiệp có các biện pháp phòng tránh, đối phó. Cụ thể là: - Đối với những nguy cơ rủi ro từ môi trường tự nhiên, Nhà nước phải đưa ra dự báo tình hình thời tiết trong cả một giai đoạn và những tác động của biến đổi khí hậu lên nguồn hàng, từ đó chỉ đạo công tác thu mua dự trữ, ổn định nguồn hàng XK; Cảnh báo các cơ quan giao thông, thông báo cho mọi người kinh doanh XNK trên các phương tiện thông tin đại chúng về các hiện tượng bất thường của thời tiết có thể xảy ra góp phần giúp các doanh nghiệp có kế hoạch vận chuyển hàng hóa cho phù hợp. - Đối với những biến động trong môi trường cạnh tranh, cung cầu giá cả trên thị trường thế giới, cần thiết lập kênh thông tin cập nhật, dễ dàng tiếp cận cho các doanh nghiệp, ví dụ như xây dựng các trang Web chuyên cung cấp thông tin về một chủng loại mặt hàng, thị trường, về các nhà cung cấp và khách hàng, từ đó giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc đánh giá, dự đoán, dự báo về biến động của giá cả nhằm tránh những rủi ro về giá. Ngoài ra, Nhà nước cần tạo mọi điều kiện cho việc hình thành các hiệp hội ngành hàng, các tổ chức xúc tiến thương mại thông qua việc hình thành khung pháp lý, quy định cơ chế hoạt động và hỗ trợ tài chính ban đầu. Các hiệp hội, tổ chức này có chức năng chủ yếu là dự báo thị trường, hỗ trợ thông tin, tư vấn rủi ro, tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho các doanh nghiệp thành viên. 1.4. Thành lập ngân hàng XNK nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong phòng chống hạn chế rủi ro về thanh toán Hiện tại, đề án thành lập ngân hàng XNK Eximbank đang được Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước và Quỹ hỗ trợ phát triển tham gia soạn thảo. Việc xúc tiến thành lập Eximbank là hết sức cần thiết vì khi Eximbank ra đời, nghiệp vụ chủ yếu của nó sẽ là bảo hiểm tín dụng XK. Nghiệp vụ này giúp doanh nghiệp có thể tránh được những rủi ro bất ngờ từ thanh toán các khoản tín dụng khi bán hàng cho người NK. Theo kinh nghiệm của các Eximbank ở nhiều quốc gia, nghiệp vụ bảo hiểm tín dụng XK ở Việt nam nên được triển khai dưới nhiều hình thức như: - Bảo hiểm tín dụng XK ngắn hạn: Hình thức này cung cấp tín dụng trước và sau khi giao hàng, áp dụng với khoản tín dụng không vượt quá 180 ngày. - Bảo hiểm tín dụng XK trung và dài hạn: Loại bảo hiểm này được sử dụng để đảm bảo các khoản tín dụng thời gian dài (³ 3 năm). - Bảo hiểm rủi ro do tỷ giá hối đoái: Loại bảo hiểm này được áp dụng để phòng sự biến động về tỷ giá hối đoái ảnh hưởng tiêu cực đến trị giá hàng hóa bán chịu tính bằng ngoại tệ. 1.5. Tăng cường tài trợ cho các biện pháp hạn chế rủi ro và bồi thường tổn thất trong kinh doanh XNK Nhà nước có thể tài trợ một phần chi phí phòng ngừa, hạn chế rủi ro, tổn thất của doanh nghiệp bằng cách hỗ trợ cho doanh nghiệp chi phí huấn luyện an toàn, xây dựng phương án kinh doanh an toàn, tuyên truyền về nguy cơ rủi ro... Ngoài ra Nhà nước cũng có thể hỗ trợ một phần chi phí rủi ro thông qua cơ chế bù giá, bù lỗ cho các hợp đồng XNK theo chỉ tiêu Nhà nước đã giao cho doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên đây chỉ là giải pháp mang tính tình thế trước mắt nhằm hỗ trợ về mặt tài chính cho doanh nghiệp khi xảy ra rủi ro về giá cả, thị trường. Về lâu dài, biện pháp này sẽ gây tâm lý ỷ lại và không bình đẳng giữa doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Trên đây là một số kiến nghị về giải pháp vĩ mô. Hy vọng rằng thực hiện tốt các giải pháp này sẽ đem lại những kết quả tích cực trong hạn chế rủi ro, tổn thất cho thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp Việt Nam. 2.Các giải pháp từ phía doanh nghiệp XNK 2.1 Các giải pháp mang tính kĩ thuật 2.1.1 Phòng tránh rủi ro trong thực hiện hợp đồng XNK ngay từ khi đàm phán, ký kết Hợp đồng là “luật cao nhất” giữa hai bên mua- bán vì nó quy định trực tiếp quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Rủi ro, tổn thất trong kinh doanh XNK hầu hết phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng nhưng trong rất nhiều trường hợp mầm mống của rủi ro, tổn thất lại phôi thai ngay từ khi đàm phán, ký kết do những sơ hở của các điều khoản quy định trong hợp đồng. Chính vì vậy, biện pháp chủ động phòng tránh rủi ro, tổn thất trong thực hiện hợp đồng XNK hiệu quả nhất chính là đưa vào hợp đồng các điều khoản hạn chế rủi ro. Qua phân tích thực trạng rủi ro,tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK của các doanh nghiệp Việt nam, có thể đưa ra một số giải pháp mang tính kỹ thuật nghiệp vụ như sau: Rủi ro có thể gặp phải Nguyên nhân gây rủi ro Biện pháp hạn chế rủi ro 1.Chất lượng - hợp đồng không quy định rõ ràng về phẩm chất - quy định cụ thể trong hợp đồng về: phương pháp xác định chất lượng: theo mẫu, tiêu chuẩn phẩm cấp, quy cách. giá trị pháp lý của giấy chứng nhận chất lượng để làm căn cứ miễn trách nếu rủi ro xảy ra thời gian, địa điểm,phương pháp, cơ quan kiểm tra chất lượng - bao bì rách, hỏng, không phù hợp với hàng hoá - quy định cụ thể trong hợp đồng về vật liệu, hình thức,kích cỡ số lớp, đai nẹp phù hợp với hàng hoá và tuyến đường chuyên chở - hàng là hàng mau hỏng, tuyến đường chuyên chở qua nhiều vùng khí hậu khác nhau - quy định đặc biệt về bao bì, cách thức xếp dỡ bảo quản hàng hoá trong quá trình vận chuyển 2. Số lượng - hàng bị hao hụt tự nhiên - quy định tỉ lệ miễn trừ hợp lý - nguồn hàng không ổn định về số lượng, hao hụt dọc đường - quy định dung sai - bao bì rách, vỡ - quy định cụ thể điều khoản bao bì về vật liệu, kích cỡ, số lớp, đai nẹp. 3. Giá cả - biến động của giá cả đầu ra - biến động của giá cả đầu vào - đưa vào hợp đồng các phương pháp quy định giá như : giá quy định sau- giá xác định khi thực hiện hợp đồng giá linh hoạt- giá xác định khi kí kết nhưng được điều chỉnh nếu vượt qua ngưỡng quy định giá di động- giá được tính toán vào lúc thực hiện hợp đồng trên cơ sở giá quy định ban đầu 4. Thanh toán - Người mua không thanh toán, không mở L/C, chậm mở L/C, trả thiếu tiền, trả chậm - quy định biện pháp đảm bảo thanh toán: phat vi phạm nghĩa vụ mở L/C phạt vi phạm do trả chậm, trả thiếu mở L/C xác nhận, bảo lãnh thanh toán(letter of guarantee) - người bán không giao hàng - quy định người bán mở bảo đảm thực hiện hợp đồng ( performance bond hoặc standby L/C ) - bộ chứng từ không hợp lệ, làm người bán không nhận được tiền, người mua không nhận được hàng -quy định rõ ràng nội dung và hình thức của các chứng từ giao hàng, chứng từ tài chính trong điều khoản thanh toán -nghiên cứu kĩ năng lực tài chính của đối tác 5. Vận tải - tai nạn, sự cố hàng hải - cướp biển - mua bảo hiểm hàng hoá XNK, thuê tàu đủ khả năng đi biển, quy định về tuổi tàu, lựa chọn tuyến đường chuyên chở an toàn - lừa đảo trong thương mại hàng hải - thuê tàu của hãng tàu có uy tín,biết rõ quốc tịch, nguồn gốc con tàu 2.1.2 Lựa chọn bảo hiểm cho rủi ro: Bảo hiểm hàng hoá XNK : Bảo hiểm hàng hoá XNK là biện pháp truyền thống để hạn chế rủi ro, tổn thất. Tuy nhiên, việc mua bảo hiểm đúng cho đối tượng bảo hiểm lại là một nghệ thuật không đơn giản chút nào. Bảo hiểm chỉ phát huy tác dụng là một biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất khi doanh nghiệp mua đúng bảo hiểm – tức là mua bảo hiểm theo điều kiện nào để khi tổn thất xảy ra sẽ đươc bồi thường và tiết kiệm chi phí nhất. Do tính chất khác nhau của từng loại hàng hoá, nên khi mua bảo hiểm doanh nghiệp cần lưu ý đến tính chất hàng hoá, quy cách đóng gói, tuyến đường vận chuyển. Dưới đây là một số loại hàng hoá XNK phổ biến và các điều kiện bảo hiểm thường được áp dụng: Bảng 12: Các điều kiện bảo hiểm cho một số loại hàng hoá XNK phổ biến Mặt hàng Đặc tính Điều kiện bảo hiểm (ĐKBH) nên áp dụng *Than Dễ bắt lửa FPA + ĐKBH nóng, tự bốc cháy *Quặng Phát nhiệt cao FPA + ĐKBH nóng, tự bốc cháy *Gỗ Dễ hút ẩm, nứt nẻ, cong vênh, mối mọt, cháy FPA *Phốt phát Dễ hút ẩm FPA + ĐKBH chi phí sấy *Nitrat , potesium Hoà tan trong nước FPA *Dầu công nghiệp Dễ cháy, nhiễm điện, dễ nổ, dễ nhiễm bẩn do cặn bẩn trong giếng dầu ĐKBH dầu chở xá + BH rủi ro nhiễm bẩn sản phẩm dầu + BH nóng, tự bốc cháy *Hoá chất -đóng bao -lỏng, không bao bì - Bao bì dễ hư hỏng, rách vỡ, dễ hút ẩm - Dễ nhiễm bẩn, hao hụt - WA + BHRR mưa,nước ngọt, không giao hàng hoặc AR - WA + BHRR dễ nhiễm bẩn, thiếu hàng *Bông thô Dễ nhiễm bẩn dễ hút ẩm, mục nát, dễ bị ôxy hoá, tự bốc cháy AR + bảo hiểm hư hỏng từ nơi xuất xứ(do mưa bùn gây ra trước khi gửi hàng) *Len Dễ hút ẩm, mục nát,ôxy hoá, dễ cháy AR *Hàng dệt Rủi ro mất trộm, không giao hàng , dễ cháy, hút ẩm dễ hỏng, đứt sợi AR hoặc WA + bảo hiểm mất trộm, không giao hàng *Da, da thuộc Dễ đổ mồ hôi, nóng lây bẩn do tiếp xúc với hàng khác trộm cắp, không giao hàng WA+ BHRR nước ngọt, nước biển hoặc AR *Máy móc Dễ hỏng hóc bộ phận AR+điều khoản thay thế phụ tùng *Sắt thép Dễ gỉ, han FPA hoặc AR *Hàng đông lạnh, thịt và hải sản khác Dễ ôi thiu, dễ ảnh hưởng của quá trình hoạt động sinh trưởng của vi sinh FPA *Đồ hộp Dễ mất cắp, gỉ, nhãn bị mốc, bong AR + bảo hiểm nhãn hiệu (label clause) *Hạt Dễ ẩm, đọng sương, đổ mồ hôi, dễ phát triển thành cây, độ thuỷ phần cao WA+BHRR mưa, nước ngọt, độ ẩm hàng hoá+BHRR đổ mồ hôi, nóng Ghi chú: - WA : ĐKBH miễn tổn thất riêng ( ICC-1963) FPA : ĐKBH tổn thất riêng ( ICC-1963) AR : ĐKBH mọi rủi ro ( ICC-1963) Bảo hiểm rủi ro do tỷ giá và giá cả hàng hoá biến động: Bảo hiểm rủi ro tỷ giá Để bảo hiểm cho rủi ro tỷ giá, doanh nghiệp có thể áp dụng một trong số các cách sau: Bảo hiểm kỳ hạn: bảo hiểm kỳ hạn là sự thoả thuận về việc chuyển đổi hai đơn vị tiền tệ vào một ngày quy định trong tương lai theo tỷ giá hối đoái được xác định khi hai bên ký hợp đồng bảo hiểm . Giả sử sau khi ký hợp đồng XNK dự đoán tỷ giá giảm, người XK bị lỗ vì khi quy đổi, số nôi tệ thu về ít hơn ban đầu. Người XK có thể tránh rủi ro này bằng cách bán kỳ hạn ở sở giao dịch một lượng ngoại tệ bằng với trị giá hợp đồng với tỉ giá bằng tỉ gía ở thời điểm ký hợp đồng xuất nhập khẩu. Nếu tỷ giá giảm, hợp đồng XK bị lỗ nếu tính theo tỉ giá mới nhưng hợp đồng bán kỳ hạn lại lãi đúng một khoản bằng khoản lỗ. Trường hợp ngược lại, dự đoán tỷ giá tăng, người NK mua kỳ hạn một lượng ngoại tệ với tỉ giá bằng tỉ giá khi ký hợp đồng . Mua hợp đồng quyền chọn (Option contract): Hợp đồng quyền chọn có hai loại: hợp đồng quyền chọn mua (call option) và hợp đồng quyền chọn bán (put option). Hợp đồng quyền chọn mua (quyền chọn bán) cho phép mua( bán ) một lượng ngoại tệ với giá quy định trước bất kể tỷ gía trên thị trường biến động như thế nào trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng. Người mua hợp đồng quyền chọn có thể lựa chọn thực hiện hợp đồng hoặc có thể huỷ hợp đồng và phải trả một khoản phí gọi là phí chọn mua (phí chọn bán). Nhà kinh doanh XNK có thể sử dụng nghiệp vụ này để bảo hiểm rủi ro tỉ giá. Dự đoán tỷ giá tăng, người NK sẽ bất lợi do số nội tệ phải bỏ ra mua ngoại tệ để thực hiện hợp đồng NK tăng, anh ta có thể mua quyền chọn mua với tỷ giá bằng tỷ giá khi ký hợp đồng. Nếu dự đoán đúng, người mua bị lỗ trong hợp đồng XNK nhưng lại lãi trong hợp đồng quyền chọn. Nếu dự đoán sai, người mua có thể huỷ hợp đồng và chỉ phải trả phí chọn mua. Dự đoán tỷ giá giảm, người XK sẽ bất lợi, anh ta có thể mua quyền chọn bán với tỷ giá bằng tỷ giá khi ký hợp đồng. Nếu dự đoán đúng, người bán bị lỗ trong hợp đồng XNK nhưng lại lãi trong hợp đồng quyền chọn. Nếu dự đoán sai, người bán có thể huỷ hợp đồng và chỉ phải trả phí chọn bán. Bảo hiểm rủi ro do giá cả nguyên vật liệu đầu vào biến động: Để tránh rủi ro này, nhà kinh doanh XNK có thể tham gia vào các giao dịch ở Sở giao dịch hàng hoá như giao dịch kỳ hạn, giao dịch khống, nghiệp vụ tự bảo hiểm. Giao dịch kỳ hạn là giao dịch trong đó giá cả được ấn định vào lúc ký kết hợp đồng nhưng việc giao hàng và thanh toán đều được tiến hành sau một kỳ hạn nhất định nhằm mục dích thu lợi nhuận do chênh lệch giá giữa lúc ký kết hợp đồng với lúc giao hàng. Nghiệp vụ tự bảo hiểm là biện pháp kỹ thuật thường được các nhà buôn nguyên liệu, các nhà sản xuất áp dụng nhằm tránh những rủi ro do biến động giá cả làm thiệt hại đến số lãi dự tính bằng cách lợi dụng giao dịch khống trên Sở giao dịch. Ví dụ, một thương nhân mua một lượng lạc vào tháng 8, dự tính 3 tháng sau sẽ bán lại để thu lãi bình thường trong kinh doanh. Sợ rằng đến tháng 11 giá lạc sẽ hạ và thương vụ sẽ lỗ nên ngay từ tháng 8 khi mua vào, thương nhân đó đến sở giao dịch để bán khống một lượng lạc ngang với lượng mua vào theo giá của tháng 8 và hạn giao là tháng 11. Đến tháng 11, thương nhân bán lượng lạc theo giá thị trường lúc đó, đồng thời cũng đến Sở giao dịch thanh toán chênh lệch giá của hợp đồng bán khống. Nếu giá ở tháng 11 hạ hơn giá tháng 8 thì thương nhân này bị lỗ trong giao dịch hiện vật nhưng lãi trong giao dịch khống và ngược lại. Lãi của hợp đồng này bù cho lỗ của hợp đồng kia làm cho thương nhân này không bị tác động của biến động giá cả. Tuy nhiên, ở Việt nam các biện pháp này khó có thể được thực hiện ở thời điểm hiện tại khi SGD mới đang ở giai đoạn phôi thai. 2.2 Các biện pháp mang tính tổ chức quản lý 2.2.1 Giám sát thực hiện hợp đồng: Rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK đem lại những sự kiện bất lợi, những thiệt hại cho người kinh doanh XNK. Do đó, để thực hiện hợp đồng một cách trôi chảy, thuận lợi, doanh nghiệp cần giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện hợp đồng . Hoạt động giám sát hợp đồng là tập hợp các công việc mà mỗi bên cần phải thực hiện để đảm bảo rằng phía mình và phía đối tác có thực hiện các nghĩa vụ như đã cam kết trong hợp đồng. Các nghĩa vụ của mỗi bên thường được thực hiện tại những thời điểm khác nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng. Do đó, cần thiết lập hệ thống nhắc nhở tại các thời điểm thích hợp để các bên có thể thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, thông qua đó theo dõi tiến độ và các công đoạn nhằm đạt hiệu quả cao, tối ưu hoá quy trình thưc hiện hợp đồng XNK. Giám sát hợp đồng liên quan đến viêc nhận dạng và theo dõi chuỗi sư kiện và hành động khi đến thời điểm hành động hoặc khi cần phải hành động. Nhờ đó, giám sát thực hiện hợp đồng tập trung vào quản lý ở những khâu quan trọng của quá trình thực hiện hợp đồng nhằm phòng ngừa rủi ro, tổn thất. Nội dung của giám sát thực hiện hợp đồng XNK phải căn cứ vào nội dung của hợp đồng xuất nhập khẩu. Thông thường, các điều khoản hợp đồng cần giám sát chặt chẽ là: khối lượng hàng hoá : chủng loại, số lượng từng chủng loại chất lượng hàng hoá : hiện trạng chất lượng, thời gian, địa điểm, phương pháp kiểm tra chất lượng, chỉ định cơ quan giám định bao bì hàng hoá : loại và chất lượng bao bì, người cung cấp bao bì, thời điểm và địa điểm cung cấp bao bì chỉ định tàu / cảng: đặc điểm tàu, thời gian đến cảng bốc hàng, tuyến đường vận chuyển chứng từ cần thiết cho thông quan gía cả: nếu giá cả thị trường biến động và giá là giá quy định sau hoặc giá di động hay giá trượt, theo dõi thời điểm, địa điểm để gặp gỡ nhau đàm phán lại giá thanh toán: thời điểm mở L/C , tiến độ thanh toán, khiếu nại: thời gian khiếu nại, chứng từ cần lập khi khiếu nại, giải quyết khiếu nại Để tiến hành giám sát hợp đồng, doanh nghiệp có thể sử dụng một loạt phương pháp như : lập hồ sơ theo dõi hợp đồng, phiếu giám sát hợp đồng và các phương pháp sử dụng máy tính điện tử để quản lý thông tin. Giám sát thực hiện hợp đồng giúp doanh nghiệp nhận diện được những khâu công việc có thể phát sinh rủi ro, tổn thất, từ đó có thể đưa ra các quyết định ngăn chặn rủi ro hoặc nếu rủi ro đã xảy ra thì có các biện pháp khoanh vùng, giảm thiểu tổn thất. Sau đây là một ví dụ về tình huống có thể phát sinh trong quá trình vận chuyển xếp dỡ: Rủi ro với chất lượng hàng hoá Nguyên nhân Biện pháp khoanh lại rủi ro, tổn thất Hàng bị hấp hơi đi qua vùng nhiệt độ khác nhau sử dụng chất hút ẩm Hàng bị lây bẩn lây hại tiếp xúc với hàng hoá khác tách phần hàng bị tổn thất và bị lây bẩn lây hại ra khỏi hàng còn nguyên vẹn Hàng bị rách,vỡ, chảy bao bì hỏng đóng gói lại, thay bao bì Hàng bị bẹp, cong, vênh va chạm trong vận chuyển, xếp dỡ chèn lót cẩn thận 2.2.2 Xây dựng bộ phận chuyên trách có chức năng quản lý rủi ro, tổn thất Bộ phận này sẽ tập trung vào công tác nhận dạng, đánh giá và đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của rủi ro xảy ra với doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK . Cụ thể là: Nghiên cứu, phân tích, nhận dạng rủi ro trong thực hiện hợp đồng Nghiên cứu, nhận dạng rủi ro là quá trình liên tục và có hệ thống nhằm xác định các rủi ro, bất trắc của doanh nghiệp. Các hoạt động nhận dạng nhằm thu thập, phát hiện thông tin về rủi ro , các yếu tố mạo hiểm, nguy cơ rủi ro. Nghiên cứu, nhận dạng rủi ro bao gồm một số nội dung cơ bản sau: nghiên cứu về rủi ro nghiên cứu về đối tượng rủi ro xây dựng bảng liệt kê về rủi ro phân tích hiểm hoạ Đo lường rủi ro, tổn thất Đo lường có vai trò quan trọng vì nó ảnh hưởng tới việc phân bổ các nguồn lực cho quản lý và kiểm soát rủi ro,tổn thất. Đo lường giúp doanh nghiệp biết được rủi ro đó xảy ra nhiều hay ít, mức độ và tác hại của rủi ro, tổn thất và những ảnh hưởng của nó đến khả năng tài chính của doanh nghiệp . Các phương pháp đo lường có thể được sử dụng: phương pháp định lượng: cân, đong, đo, đến, tính toán, thống kê phương pháp địng tính : đo lường tổn thất dựa trên cơ sở kinh nghiệm, suy đoán tổn thất, tính toán tình huống tương tự, giả định, thăm dò Phương pháp định lượng thường được sử dụng sau khi rủi ro đã xảy ra gây tổn thất và tổn thất đó là tổn thất hữu hình, có thể xác định được bằng phương pháp vật lý thông thường. Phương pháp định tính được sử dụng cả trước khi rủi ro xảy ra lẫn sau khi rủi ro đã xảy ra . Đối với các doanh nghiệp Việt nam hiện nay, cần đẩy mạnh áp dụng phương pháp định tính vì nó mang tính tích cực hơn cho quá trình quản lý rủi ro của doanh nghiệp . Ví dụ cụ thể về áp dụng phương pháp định tính để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro trong thanh toán quốc tế của doanh nghiệp : Bước 1: Liệt kê các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro trong thanh toán quốc tế A: tỷ giá hối đoái B: sai sót trong bộ chứng từ thanh toán C: yếu kém về nghiệp vụ ngân hàng D: ý thức thực hiện hợp đồng của đối tác E: phương thức thanh toán Bước 2 : Xác định phương pháp đo lường: phương pháp so sánh liên hoàn phương pháp cho điểm. Nếu mức độ ảnh hưởng lớn hơn : điểm số đạt được là 3 Nếu mức độ ảnh hưởng bằng nhau : điểm số đạt được là 1 Nếu mức độ ảnh hưởng nhỏ hơn : điểm số đạt được là 0 Bước 3 : Lập bảng so sánh liên hoàn theo mức độ ảnh hưởng của nhân tố tác động tới rủi ro trong khâu thanh toán quốc tế của doanh nghiệp : A B C D E Tổng điểm Xếp thứ bậc ưu tiên A 0 1 0 0 1 4 B 3 3 1 3 10 1 C 1 0 0 0 1 4 D 3 1 3 3 8 2 E 3 1 3 0 7 3 Số điểm trung bình 5,4 Bước 4: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố Từ bảng so sánh có thể kết luận như sau: nguyên nhân chủ yếu của rủi ro trong thanh toán quốc tế là do sai sót trong bộ chứng từ thanh toán, tiếp đến là do ý thức thực hiện hợp đồng, phương thức thanh toán. Yếu tố tỉ giá hối đoái và yếu kém về nghiệp vụ ngân hàng có mức độ ảnh hưởng như nhau. Do đó, doanh nghiệp nên quan tâm nhiều tới khâu lập bộ chứng từ thanh toán và giám sát chặt chẽ tiến độ thanh toán. Xử lý rủi ro, tổn thất: Xử lý rủi ro, tổn thất là triển khai tổng hợp các biện pháp cần thiết để ngăn chặn kịp thời rủi ro,tổn thất . Xử lý rủi ro, tổn thất có thể bao trùm các nội dung sau: Kế koạch hành động : bao gồm toàn bộ hoạt động tác nghiệp của bộ phận liên quan khi rủi ro xảy ra Kế koạch tài chính: gồm khoản phải chi cho xử lý sơ bộ rủi ro, tổn thất như chi phí khắc phục, sửa chữa, cứu giữ thị trường, bồi thường thiệt hại Kế hoạch nhân lực: chuẩn bị nhân lực xử lý rủi ro, tổn thất, hành động nhanh, thống nhất, hiệu quả khi xảy ra rủi ro, tổn thất. Xử lý rủi ro, tổn thất gồm các bước cụ thể: khoanh lại rủi ro, tổn thất: không làm rủi ro,tổn thất lan rộng cả về phạm vi lẫn mức độ trầm trọng để không trở thành nguyên nhân gây rủi ro, tổn thất khác. Tuỳ loại rủi ro, tổn thất mà người ta sử dụng biện pháp khoanh lại khác nhau. Ví dụ: rủi ro về chất lượng do lây bẩn lây hại thì phải tách riêng phần hàng bị tổn thất để xử lý và tiến hành giám định ngay để có căn cứ khiếu nại. Tìm kiếm biện pháp kĩ thuật : khôi phục giá trị sử dụng, giá trị thương mại của hàng hoá Giám sát xử lý rủi ro, tổn thất: đảm bảo quá trình xử lý hiệu quả Di chuyển rủi ro, tổn thất: khiếu nại người bảo hiểm nếu hàng hoá được bảo hiểm Tài trợ rủi ro tổn thất: Là biện pháp trích lập quỹ để : Xây dựng kế hoạch phục hồi kinh doanh: là tổng thể các biện pháp khả thi để hạn chế hậu quả lâu dài nếu rủi ro, tổn thất xảy ra Thực hiện kế hoạch phục hồi kinh doanh : Biện pháp khẩn cấp: bảo đảm an toàn, bảo vệ hàng hoá, chứng từ Thông báo cho khách hàng, bạn hàng về kế hoạch Xử lý tai biến: hỏi ý kiến chuyên gia, phân công nhiệm vụ Thực hiện chươnng trình cứu giữ thị trường , quan hệ bạn hàng Tái đầu tư kinh doanh Kiểm tra,đánh gía lại kế hoạch 2.3 Nhóm biện pháp mang tính chiến lược: 2.3.1 Tăng cường hoàn thiện kế hoạch chiến lược kinh doanh XNK Kế hoạch hoá chiến lược kinh doanh XNK là quá trình phân tích, nhận định các nguồn lực bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để đưa ra chiến lược nhằm tiến hành một cách có hệ thống các khâu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong suốt thời gian dài. Hoàn thiện kế hoạch chiến lược kinh doanh XNK bao hàm nội dung xây dựng chiến lược, thực hiện chiến lược, giám sát và điều chỉnh chiến lược kinh doanh. Với ý nghĩa này, chiến lược kinh doanh XNK giúp doanh nghiệp định hướng được mục tiêu,cơ cấu tối ưu nguồn lực để đạt được mục tiêu đó, đồng thời công tác giám sát luôn được chú trọng, từ đó ổn định bạn hàng, ổn định thị trường, luôn chủ động trong hạn chế phòng ngừa tối đa rủi ro, tổn thất có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK. 2.3.2 Xây dựng hệ thống kênh thông tin cập nhật nhằm xử lý kịp thời và có hiệu quả trước những biến động của giá cả, thị trường. Để làm được điều này, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống thông tin ở cả hai cấp: Cấp doanh nghiệp: doanh nghiệp cần giải quyết ba vấn đề Thu hút được nhân viên có trình độ chuyên môn cao, biết thu thâp, khai thác, tổng hợp, phân tích và xử lý thông tin. Trang bị máy móc thiết bị, công nghệ cho thu thập, lưu trữ, xử lý thông tin Hoàn thiện cơ chế quản lý, điêù hành về thu thập tìm kiếm và bảo mật thông tin. Cấp ngành hàng: doanh nghiệp cần tham gia vào các hiệp hội ngành hàng để tạo ra sự liên kết thông tin giữa các doanh nghiệp cùng ngành. Ngoài ra, trước khi đàm phán, kí kết , tiến hành giao dịch tại một khu vực thị trường, doanh nghiệp nên sử dụng các dịch vụ tư vấn để có những thông tin cần thiết về thị trường và tham khảo ý kiến các chuyên gia về khu vực thị trường đó. Qua đó, doanh nghiệp có thể biết được yếu tố nào là quan trọng với đối tác, phía Việt nam hay mắc phải những sai lầm gì, quy định về luật pháp của thị trường đó ra sao. Biện pháp này rất hữu hiệu trong phòng tránh, hạn chế rủi ro, tổn thất. 2.3.3 Trau dồi kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và trình độ quản lý của cán bộ trong doanh nghiệp Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần phải được tiến hành thường xuyên liên tục vì trình độ chuyên môn nghiệp vụ là nhân tố quyết định nhất tới hiệu quả của các biện pháp hạn chế rủi ro, tổn thất. Mọi hoạt động trong doanh nghiệp đều nằm dưới sự giám sát, điều hành của con người, do đó một doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ vững mạnh tinh thông nghiệp vụ và trình độ quản lý tốt sẽ là vũ khí lợi hai trong phát triển kinh doanh an toàn. Các lĩnh vực cần đặc biệt chú ý tới trong đào tạo là kiến thức về luật pháp nước đối tác, tập quán quốc tế, nghiệp vụ ngoại thương, văn hoá kinh doanh, tiếng Anh, Tin học. Để làm được điều này, doanh nghiệp có thể kết hợp nhiều biện pháp như tổ chức đào tạo tại doanh nghiệp, cử người tham gia các khoá học chuyên ngành ngắn hạn và dài hạn tại các trường đại học, thi tìm hiểu kiến thức nghiệp vụ. Kết luận Quá trình thực hiện hợp đồng XNK bao giờ cũng là quá trình gian nan, vất vả, nhiều thử thách. Nó gian nan, vất vả ở sự phức tạp riêng có của hoạt động kinh doanh XNK, nhiều thử thách ở những nguy cơ rủi ro, tổn thất luôn tiềm ẩn trong từng khâu của quá trình thực hiện hợp đồng. Qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK, có thể khẳng định sự tồn tại khách quan hết sức đa dạng, phức tạp của rủi ro, tổn thất xảy ra khi thực hiện hợp đồng. Những biến động về giá cả, sự thay đổi về chất lượng, số lượng, những rủi ro trong thanh toán, vận tải, những nguy cơ rủi ro, tổn thất từ môi trường tự nhiên, chính trị, môi trường cạnh tranh, những thay đổi về cơ chế chính sách điều hành kinh doanh XNK của nhà nước, những yếu kém trong năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tất cả cùng hoà quyện, đan xen vào nhau tạo thành một môi trường kinh doanh XNK ngày càng trở nên bất định. Tuy vậy, kinh doanh XNK vẫn là lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn nếu doanh nghiệp biết cách phòng ngừa, hạn chế rủi ro, tổn thất. Thực tế phức tạp, đa dạng của rủi ro, tổn thất trong quá trình thực hiện hợp đồng XNK đòi hỏi phải có sự phối hợp tích cực giữa doanh nghiệp và nhà nước. Nhà nước cần quan tâm tới các giải pháp vĩ mô còn doanh nghiệp nên tập trung nhiều hơn tới các giải pháp vi mô mang tính chất nghiệp vụ, tổ chức, quản lý. Rủi ro, tổn thất đã, đang và sẽ mãi tiềm ẩn song hành với quá trình thực hiện hợp đồng XNK. Do đó, không thể kể hết những rủi ro, tổn thất đã xảy ra và càng không thể dự đoán được chính xác những rủi ro, tổn thất sẽ xảy ra. Hy vọng rằng khoá luận này đã đưa ra được bức tranh khái quát khá đầy đủ và toàn diện về rủi ro, tổn thất của các doanh nghiệp XNK Việt Nam hơn một thập kỷ qua và một số biện pháp hạn chế phòng ngừa hữu hiệu rủi ro, tổn thất có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Qua đó, khoá luận đã góp một phần dù là nhỏ bé trong việc nhìn nhận một vấn đề còn đang bỏ ngỏ, chưa được sự quan tâm của nhiều người.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docthao khoa luan.doc
  • docloi cam on.doc
  • docmuc luc.doc
  • doctai lieu tham khao.doc
Tài liệu liên quan