Đề tài Tìm hiểu thực trạng bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU 1.1. Lí do chọn đề tài. "Bình đẳng giới" chính là bình đẳng nam nữ và là một trong những vấn đề cơ bản của quyền con người. Xã hội ngày càng phát triển và văn minh thì bình đẳng giới càng được chú trọng và thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống - xã hội, trong đó có lĩnh vực quản lí. Bình đẳng giới trong hoạt động quản lí, không đơn giản là nam - nữ có số lượng ngang nhau tham gia vào quản lí; cũng không có nghĩa coi nam, nữ là giống nhau, không tính đến yếu tố tâm sinh lý, yếu tố xã hội của từng giới trong hoạt động quản lí. Bình đẳng giới trong hoạt động quản lí thể hiện ở chỗ nam và nữ cùng có vị thế xã hội như nhau khi tham gia và thực hiện quản lí; sự tương đồng và khác biệt của nam và nữ (dưới góc độ giới và giới tính) được thừa nhận và được coi trọng như nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của từng giới; cả cán bộ nam và cán bộ nữ đều có cơ hội, nghĩa vụ và quyền lợi như nhau trong quá trình thực hiện quản lí, được hưởng các lợi ích bình đẳng như nhau theo các nguyên tắc nhất định. Vấn đề bình đẳng giới đã và đang trở thành mối quan tâm chung của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định đây là một trong những mục tiêu quan trọng trong chương trình phát triển của nước nhà. Sinh thời Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn: "Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ sao cho ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo". Hiện nay Việt Nam là một trong những nước được Liên hợp quốc đánh giá cao trong việc nỗ lực rút ngắn khoảng khách bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm, kinh tế, chăm sóc sức khoẻ sinh sản/ kế hoạch hoá gia đình. Một trong những lĩnh vực đáng chú ý hơn đó là vấn đề giới trong lãnh đạo quản lý. Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội và trong quản lý nhà nước. Chỉ thị 37/CT-T.Ư ngày 16-5-1994 khẳng định: "Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ". Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước là một bảo đảm để các vấn đề giới được phản ánh trong quá trình ra quyết định, là sự khẳng định về năng lực, trí tuệ của mình. Tuy nhiên, kết quả đó chỉ là bước đầu, nó chưa thực sự mang tính bền vững và đang đặt ra nhiều vấn đề cần lời giải đáp. Qua thực tế cho thấy, công tác quy hoạch cán bộ nữ chưa được các cấp ủy đảng chú trọng đúng mức, bản thân cán bộ nữ chưa phát huy hết vị trí, vai trò trong công tác quản lí, còn mang tính thụ động; nhận thức về giới còn hạn chế. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên tôi nghiên cứu thực trạng bình đẳng giới trong quản lý ở nước ta, qua đó đề xuất một vài kiến nghị nhằm góp phần cải thiện sự bình đẳng giới trong lĩnh vực này 1.2. Mục đích nghiên cứu. Tìm hiểu thực trạng bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam hiện nay.Từ đó đề xuất một vài kiến nghị nhằm góp phần cải thiện sự bình đẳng giới trong lĩnh vực quản lí ở nước ta hiện nay. 1.3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu. * Đối tượng Nghiên cứu về thực trạng bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam hiện nay. * Khách thể nghiên cứu: Những người phụ nữ Việt Nam tham gia công tác lãnh đạo, quản lý. * Phạm vi nghiên cứu: + Truy cập internet với các trang web có liên quan . + Các văn bản, các báo cáo của các tổ chức như văn phòng quốc hội, Bô nội vụ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. + Những bài viết về chủ đề phụ nữ và bình đẳng giới trên các trang báo điện tử + Các sách báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan tới: Tạp chí Xã hôi học, Tạp chí Giáo dục và lý luận, tạp chí khoa học xã hội 1.4. Phương pháp nghiên cứu. Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng ba nhóm phương pháp nghiên cứu cơ bản: 1.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết. Mục đích nhằm phân tích, thu thập thông tin khách quan, khoa học để tổng hợp cơ sở lý luận của đề tài, là cơ sở là công cụ nền tảng cho vấn đề cần nghiên cứu. 1.4.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. 1.4.2.1. Phương pháp điều tra. Là phương pháp cơ bản, với việc xây dựng và sử dụng mẫu phiếu điều tra về thự trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực chính tri – xã hội. 1.4.2.2. Phương pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm. Nghiên cứu các báo cáo tổng kết của các kỳ họp Quốc hội của Đảng và nhà nước, từ các chỉ thị của các cấp chính quyền, các công văn, chính sách của Đảng và nhà nước ta về vấn đề bình đẳng giới trong quản lí, lãnh đạo của đất nước. 1.4.2.3. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia. Lấy ý kiến của các chuyên gia về mẫu phiếu, cách xử lí, phân tích các số liệu thu thập được . 1.4.3. Nhóm phương pháp toán học. Sử dụng các phương pháp toán học để xử lí các số liệu thu được từ mẫu phiếu điều tra, từ đó đưa ra những kết quả và sự đánh giá chính xác. Luận văn chia làm 3 chương, dài 29 trang

doc29 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 10/06/2013 | Lượt xem: 1934 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tìm hiểu thực trạng bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN I. MỞ ĐẦU Lí do chọn đề tài. "Bình đẳng giới" chính là bình đẳng nam nữ và là một trong những vấn đề cơ bản của quyền con người. Xã hội ngày càng phát triển và văn minh thì bình đẳng giới càng được chú trọng và thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống - xã hội, trong đó có lĩnh vực quản lí. Bình đẳng giới trong hoạt động quản lí, không đơn giản là nam - nữ có số lượng ngang nhau tham gia vào quản lí; cũng không có nghĩa coi nam, nữ là giống nhau, không tính đến yếu tố tâm sinh lý, yếu tố xã hội của từng giới trong hoạt động quản lí. Bình đẳng giới trong hoạt động quản lí thể hiện ở chỗ nam và nữ cùng có vị thế xã hội như nhau khi tham gia và thực hiện quản lí; sự tương đồng và khác biệt của nam và nữ (dưới góc độ giới và giới tính) được thừa nhận và được coi trọng như nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của từng giới; cả cán bộ nam và cán bộ nữ đều có cơ hội, nghĩa vụ và quyền lợi như nhau trong quá trình thực hiện quản lí, được hưởng các lợi ích bình đẳng như nhau theo các nguyên tắc nhất định. Vấn đề bình đẳng giới đã và đang trở thành mối quan tâm chung của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao bình đẳng giới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định đây là một trong những mục tiêu quan trọng trong chương trình phát triển của nước nhà. Sinh thời Hồ Chủ tịch đã từng căn dặn: "Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc và giúp đỡ sao cho ngày càng nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việc lãnh đạo". Hiện nay Việt Nam là một trong những nước được Liên hợp quốc đánh giá cao trong việc nỗ lực rút ngắn khoảng khách bình đẳng giới trong giáo dục, việc làm, kinh tế, chăm sóc sức khoẻ sinh sản/ kế hoạch hoá gia đình. Một trong những lĩnh vực đáng chú ý hơn đó là vấn đề giới trong lãnh đạo quản lý. Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội và trong quản lý nhà nước. Chỉ thị 37/CT-T.Ư ngày 16-5-1994 khẳng định: "Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ". Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước là một bảo đảm để các vấn đề giới được phản ánh trong quá trình ra quyết định, là sự khẳng định về năng lực, trí tuệ của mình. Tuy nhiên, kết quả đó chỉ là bước đầu, nó chưa thực sự mang tính bền vững và đang đặt ra nhiều vấn đề cần lời giải đáp. Qua thực tế cho thấy, công tác quy hoạch cán bộ nữ chưa được các cấp ủy đảng chú trọng đúng mức, bản thân cán bộ nữ chưa phát huy hết vị trí, vai trò trong công tác quản lí, còn mang tính thụ động; nhận thức về giới còn hạn chế. Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên tôi nghiên cứu thực trạng bình đẳng giới trong quản lý ở nước ta, qua đó đề xuất một vài kiến nghị nhằm góp phần cải thiện sự bình đẳng giới trong lĩnh vực này Mục đích nghiên cứu. Tìm hiểu thực trạng bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam hiện nay.Từ đó đề xuất một vài kiến nghị nhằm góp phần cải thiện sự bình đẳng giới trong lĩnh vực quản lí ở nước ta hiện nay. 1.3. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu. * Đối tượng Nghiên cứu về thực trạng bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam hiện nay. * Khách thể nghiên cứu: Những người phụ nữ Việt Nam tham gia công tác lãnh đạo, quản lý. * Phạm vi nghiên cứu: + Truy cập internet với các trang web có liên quan . + Các văn bản, các báo cáo của các tổ chức như văn phòng quốc hội, Bô nội vụ, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. + Những bài viết về chủ đề phụ nữ và bình đẳng giới trên các trang báo điện tử + Các sách báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan tới: Tạp chí Xã hôi học, Tạp chí Giáo dục và lý luận, tạp chí khoa học xã hội… 1.4. Phương pháp nghiên cứu. Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng ba nhóm phương pháp nghiên cứu cơ bản: 1.4.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết. Mục đích nhằm phân tích, thu thập thông tin khách quan, khoa học để tổng hợp cơ sở lý luận của đề tài, là cơ sở là công cụ nền tảng cho vấn đề cần nghiên cứu. 1.4.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn. 1.4.2.1. Phương pháp điều tra. Là phương pháp cơ bản, với việc xây dựng và sử dụng mẫu phiếu điều tra về thự trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực chính tri – xã hội. Phương pháp nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm. Nghiên cứu các báo cáo tổng kết của các kỳ họp Quốc hội của Đảng và nhà nước, từ các chỉ thị của các cấp chính quyền, các công văn, chính sách của Đảng và nhà nước ta về vấn đề bình đẳng giới trong quản lí, lãnh đạo của đất nước. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia. Lấy ý kiến của các chuyên gia về mẫu phiếu, cách xử lí, phân tích các số liệu thu thập được…. 1.4.3. Nhóm phương pháp toán học. Sử dụng các phương pháp toán học để xử lí các số liệu thu được từ mẫu phiếu điều tra, từ đó đưa ra những kết quả và sự đánh giá chính xác. PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU. Chương I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niêm cơ bản về giới. 1.1. khái niệm giới. Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được.  1.2. Khái niệm giới tính  Là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ. Giới tính là những đặc điểm đồng nhất mà khi chúng ta sinh ra đã có và không thể thay đổi được. Khái niệm quan hệ giới:  Là các mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới, đặc biệt là cách thức phân chia quyền lực giữa nam và nữ. 1.4. Khái niệm vai trò giới:  Là những hoạt động khác nhau mà xã hội mong muốn phụ nữ và nam giới thực hiện. 1.5. Khái niệm phân công lao động trên cơ sở giới:  Là sự phân công việc và trách nhiệm khác nhau giữa phụ nữ và nam giới 1.6. Khái niệm bình đẳng giới:  Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới. Phụ nữ và nam giới có vị thế bình đẳng như nhau và cùng: + Có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các nguyện vọng của mình. + Có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồn lực xã hội và thành quả phát triển. + Được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. 2. Khái niệm quản lí. Trong tất cả các lĩnh vực của dời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nổ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lí nào đó. Ngày nay, thuật ngữ quản lí đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất. Có người cho quản lí là hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Cũng có người cho quản lí là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nổ lực cá nhân và nhằm đạt được mục đích của nhóm. “ Quản lí là quá trình làm việc cùng nhau thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích tổ chức”(P. hersey – K. B Hard, 1995:12) Định nghĩa chung nhất về quản lí đó là: “Quản lí là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể lên đối tượng theo một quy trình nhất định nhằm đạt hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” (Học viện CTQGHCM, 2000: 321) 3. Nội dung quản lí trong lĩnh vực chính trị. Khoản 1, 2, 3, 4 điều 11 Luật Bình đẳng giới qui định bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị như sau: - Nam, nữ bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, tham gia họat động xã hội. - Nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức. - Nam, nữ bình đẳng trong việc tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị–xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội–nghề nghiệp. - Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức. 4. Vai trò của phụ nữ trong quản lí. Số phụ nữ tham gia quản lý nhà nước hiện nay đã tăng nhiều so với trước đây nhưng tỷ trọng lại có xu hướng giảm. Bên cạnh đó, phụ nữ chủ yếu đảm nhiệm cấp phó.           Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội và trong quản lý nhà nước. Chỉ thị 37/CT-T.Ư ngày 16-5-1994 khẳng định: "Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội là một yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ". Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước là một bảo đảm để các vấn đề giới được phản ánh trong quá trình ra quyết định, là sự khẳng định về năng lực, trí tuệ của mình.           Phụ nữ Việt Nam chiếm 51,48% số dân và 48% lực lượng lao động toàn xã hội, và chiếm khoảng 20% cán bộ làm công tác lãnh đạo và quản lý nhà nước các cấp từ Trung ương đến cơ sở. Trong đó, số nữ Ủy viên Trung ương Ðảng khóa VII là 12, khóa VIII tăng lên 18 (tuy vậy khóa IX lại còn 12). Ở cấp tỉnh, tỉnh ủy viên là nữ cũng tăng từ 182 ở khóa VII lên 280 trong khóa VIII. Phụ nữ tham gia các cấp ủy địa phương đạt 10-11%, trong đó bí thư, phó bí thư, ủy viên thường vụ đạt từ 3% đến 8%. Phần lớn các chị tham gia thường vụ cấp ủy đều được phân công công tác kiểm tra và dân vận. Về chính quyền, trong khóa VIII, tỷ lệ nữ Bộ trưởng và tương đương chiếm 13,1%, nữ Thứ trưởng và tương đương chiếm 7,4%; nữ vụ trưởng, vụ phó và tương đương chiếm 13%. Chủ tịch UBND cấp tỉnh, huyện và xã có khoảng 1,6% là nữ. Phó Chủ tịch UBND là 2 - 4%. Khóa 1999 - 2004, số nữ là đại biểu HÐND cấp tỉnh chiếm 22,5%, cấp huyện chiếm 20,7%, cấp xã chiếm 17%. Nữ đại biểu QH khóa X là 26,22%, khóa XI là 27,31%. Việt Nam là nước có tỷ lệ nữ đại biểu QH cao thứ hai trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương (sau New Zealand). Sự gia tăng số lượng nữ tham gia quản lý nhà nước chứng tỏ chất lượng, trình độ cán bộ lãnh đạo của nữ giới ngày càng nâng cao. Hiện nay, phụ nữ chiếm tỷ lệ 61% những người có trình độ cao đẳng, 34% những người có trình độ đại học, 30% những người có trình độ thạc sĩ, 21% những người có trình độ tiến sĩ và 4% những người là tiến sĩ khoa học. Mặt bằng học vấn này đã giúp phụ nữ tham gia ngày càng tốt hơn công tác quản lý nhà nước. Theo đánh giá của Văn phòng QH, việc tham gia xây dựng pháp luật và chính sách, đóng góp ý kiến cho công tác quản lý nhà nước và tọa đàm với cử tri của các nữ đại biểu QH ngày càng có chất lượng. Vì vậy, các chị càng thêm tự tin, trình bày ý kiến đại diện cho người dân và cho chính giới nữ trong các kỳ họp của QH. Hiện nay, số cán bộ công chức (CBCC) nữ tham gia công tác quản lý nhà nước trong hệ thống chính quyền các cấp nhiều hơn so với trước: Một Phó Chủ tịch nước, ba Bộ trưởng, 26 thứ trưởng và tương đương, hai Chủ tịch UBND, 22 Phó Chủ tịch UBND tỉnh. Tuy nhiên, tỷ lệ CBCC nữ tham gia lãnh đạo ở cấp bộ, vụ còn thấp, mới khoảng 8 - 15%, chưa tương xứng lực lượng lao động và năng lực đóng góp của phụ nữ. Trong thực tế, phụ nữ Việt Nam đang có mặt ở hầu hết cơ quan quản lý hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp. Phụ nữ chiếm 50,3% số người làm công ăn lương và 32,4% các chủ doanh nghiệp.           Trong số hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, có khoảng 15% do phụ nữ đứng đầu hoặc nắm giữ cương vị chủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp của một số ngành: dệt, may mặc, giày dép, thực phẩm, đồ uống... chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông - vận tải, xây dựng, khai khoáng... có 20% người quản lý doanh nghiệp là nữ. Trong số 900 nghìn hộ kinh doanh gia đình, có 27% do phụ nữ điều hành.           Mặc dù Ðảng, Nhà nước đã có chủ trương cụ thể, chính sách rõ ràng, song tỷ lệ nữ CBCC tham gia quản lý nhà nước còn ít. Tỷ lệ nữ CBCC là lãnh đạo trong các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành và các cơ quan nghiên cứu khoa học lại càng thấp. Hơn nữa, nữ lãnh đạo thường chỉ liên quan các lĩnh vực xã hội. Rất hiếm nữ CBCC làm lãnh đạo trong lĩnh vực quản lý kinh tế, kế hoạch, nghiên cứu khoa học. Tỷ lệ cán bộ nữ trong các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở chỉ chiếm khoảng 10 - 11%. Trong các cấp ủy đảng, số nữ CBCC giữ vị trí trọng trách rất ít. Tỷ lệ trung bình nữ CBCC ở vị trí chủ chốt như bí thư, phó bí thư, ủy viên thường vụ chỉ khoảng 3-8% ở mọi cấp. Phần lớn các ủy viên thường vụ trong các cấp ủy đảng chỉ được phụ trách những công việc hành chính liên quan đến động viên hơn là những nhiệm vụ chiến lược. Sự khác biệt này đã hạn chế ảnh hưởng của phụ nữ trong nhiều lĩnh vực công tác. So với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, số lượng nữ ở các cương vị quản lý nhà nước chưa tương xứng vai trò, vị trí và những đóng góp của họ trong các hoạt động phát triển. Trước đây, tỷ lệ nữ CBCC tham gia quản lý nhà nước trong ngành công nghiệp chiếm gần 20%, nay giảm xuống còn 10%. Có thể nói, đội ngũ cán bộ nữ giảm sút không chỉ ở các cơ quan dân cử mà còn ở các bộ, ngành và cơ quan chính quyền. Sự thiếu hụt cán bộ nữ trên một số lĩnh vực quan trọng làm cho việc hoạch định kế hoạch, chính sách không có tiếng nói đại diện của phụ nữ, dẫn đến thực hiện bình đẳng giới về mọi mặt chưa đạt kết quả mong muốn.           Cán bộ nữ đã ít, lại bị hạn chế bởi tuổi về hưu và tuổi đề bạt. Hiện nay, cơ cấu tuổi của cán bộ nữ khá cao, hầu hết cán bộ nữ làm quản lý đều ở tuổi trên dưới 50, trong khi nhiều nữ thanh niên hiện nay ngại làm chính trị, chỉ thích làm chuyên môn. Trong khi tỷ lệ cán bộ nữ vốn đã thấp, thì lãnh đạo là nữ chủ yếu đảm nhiệm cấp phó giúp cho trưởng (nam). Ở những vị trí này, phụ nữ không có thực quyền, quan niệm trọng nam, khinh nữ vẫn còn phổ biến và coi phụ nữ chỉ là "giúp việc" cho nam giới. Còn có hiện tượng xem xét, cất nhắc chị em vào các vị trí lãnh đạo diễn ra khó khăn hơn so với nam giới. Trong một cơ quan, phụ nữ thường bị nhìn nhận xét nét hơn, cơ quan chủ quản chưa nhận thấy ở chị em một cách đầy đủ những điểm mạnh nổi bật về chuyên môn, uy tín.           Hiện nay, đội ngũ nữ chỉ chiếm 4% giáo sư, 25% tiến sĩ và 9% số người được trao tặng các giải thưởng về khoa học - công nghệ, chứng tỏ việc đào tạo nhân lực trong giới nữ chưa tương xứng yêu cầu của sự nghiệp giải phóng phụ nữ và nguyện vọng chị em. Những năm qua, tuy số lượng phụ nữ tham gia quản lý nhà nước tăng lên về con số tuyệt đối, song tỷ trọng lại có xu hướng giảm. Chương II. THỰC TRẠNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG QUẢN LÍ Ở VIỆT NAM Thực trạng về bình đẳng giới trong quản lí ở Việt Nam. Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành các chủ trương, chính sách về bình đẳng giới để phụ nữ Việt Nam có cơ hội phát huy tài năng của mình và tham gia những vị trí lãnh đạo chủ chốt các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các địa phương, các đơn vị, doanh nghiệp… Hàng loạt văn bản pháp luật được ban hành nhằm nâng cao vị thế của phụ nữ trong xã hội và thực hiện bình đẳng giới như Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới. Đặc biệt, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã quy định rõ phụ nữ có quyền bầu cử, ứng cử, cũng như các cơ chế để đảm bảo phụ nữ được thực hiện những quyền đó. Gần 2 thập kỷ qua, Việt Nam luôn có một Phó Chủ tịch nước là nữ. Trong Quốc hội, tỷ lệ nữ đại biểu 3 nhiệm kỳ gần đây đều đạt trên 25%. Tỷ lệ đại biểu nữ từ năm 2005 đến 2011 tại các cơ quan dân cử ở địa phương, như Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tăng từ 22,3% lên 23,8%, cấp huyện tăng từ 20,1% lên 23,2%; cấp xã tăng từ 16,6% lên 20,1%. Mặc dù tỷ lệ này chưa cao, nhưng đã chứng minh được vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc đảm nhận những trọng trách quan trọng trong bộ máy cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Bảng 1: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam qua các kỳ bầu cử Nhiệm kỳ Nữ Đại biểu Tổng số Đại biểu Tỷ lệ nữ/ Tổng số Khoá XII (2007-2011) 127 493 25,76% Khoá XI (2002-2007) 136 498 27.31% Khoá X (1997-2002) 118 450 26.22% Khoá IX (1992-1997) 73 395 18.48% Khoá VIII (1987-1992) 88 496 17.74% Khoá VII (1981-1987) 108 496 21.77% Khoá VI (1976-1981) 132 492 26.83% Khoá V (1975-1976) 137 424 32.31% Khoá IV (1971-1975) 125 420 29.76% Khoá III (1964-1971) 62 366 16.94% Khoá II (1960-1964) 49 362 13.54% Khoá I (1946-1960) 10 333 3.00% Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam khẳng định: “So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, vị thế của phụ nữ Việt Nam đứng trong tốp đầu. Có thể ít chỗ này, hạn chế chỗ nọ, nhưng tựu trung lại thì chỉ số phát triển giới và phụ nữ tham gia Quốc hội của chúng ta đứng đầu trong 8 nước có Nghị viện ở Đông Nam Á. Còn ở châu Á- Thái Bình Dương, chúng ta cũng đứng hàng thứ 4. Và trên toàn thế giới, trong tất cả 155 nước được xếp hạng thì chúng ta ở trong nhóm khá”. Ngoài việc tham gia vào bộ máy cơ quan Nhà nước, phụ nữ Việt Nam còn tham gia vào các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức nghề nghiệp và đặc biệt tham gia vào hầu hết các ngành nghề, công việc, kể cả những lĩnh vực trước đây chỉ dành cho nam giới. Với hơn 50% tỷ trọng lao động trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, đội ngũ cán bộ nữ khoa học, phụ nữ nông dân đã đóng góp rất lớn vào thành tựu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sự đóng góp của đội ngũ lao động nữ trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh dịch vụ cũng là động lực để phát triển kinh tế. Nhiều chị đã phấn đấu vươn lên, giữ những cương vị chủ chốt trong hoạt động quản trị doanh nghiệp. Đội ngũ nữ trí thức Việt Nam đã có bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, với 36,64% trong khoa học tự nhiên; 43,42% trong lĩnh vực khoa học nông - lâm - thủy sản; 33% trong khoa học công nghệ. Ngày càng có nhiều tập thể và cá nhân khoa học nữ có công trình nghiên cứu được nhận giải thưởng VIFOTEC của Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam, Giải thưởng Kovalevskaia... Nhiều nhà khoa học nữ đã lập ra các hội nghề nghiệp, câu lạc bộ, trung tâm nghiên cứu, tư vấn để tiếp tục phát huy trí tuệ, tài năng của mình đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, bất bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và là rào cản đối với sự phát triển của phụ nữ. Theo đánh giá của Ban tổ chức Trung ương, sau 5 năm tổng kết Chỉ thị 37 và 2 năm thực hiện Nghị quyết số 11 của Bộ chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng, chính quyền, đại biểu dân cử vẫn còn thấp, chưa ổn định. Để phụ nữ ngày càng khẳng định vị thế của mình trong gia đình và xã hội, nhất là vai trò trong quản lý lãnh đạo, các cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến cơ sở, cần nhìn nhận, đánh giá đúng vị trí và tài năng của phụ nữ cũng như sự đóng góp của họ để đưa vị thế xã hội của người phụ nữ Việt Nam lên một tầm cao mới. Theo số liệu của Hội Phụ nữ, tỷ lệ nữ trong các tổ chức Đảng nhiệm kỳ 2010-2015 cấp T.Ư là 8,57%, tỉnh/thành là 11,37%, quận/huyện 15,01%, xã/phường 18,01%, tăng không đáng kể so với nhiệm kỳ trước và không đạt tiêu chuẩn 15% ở cấp T.Ư và tỉnh/thành. Còn trong Quốc hội, nhiệm kỳ 2011-2016 chỉ đạt 24,4%. Đây là nhiệm kỳ thứ 2 tỷ lệ nữ Đại biểu Quốc hội bị tụt giảm. Nhiệm kỳ 2002-2007 là 27,3%, nhiệm kỳ 2007-2011 là 25,76%. Bảng 2: Tỷ lệ phân bố nữ đại biểu trong một số cơ quan của Quốc hội Đơn vị Khoá 2002-2007 Khoá 2007 - 2011 Nữ Nam Nữ Nam Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng 43,2 56,8 28,2 71,8 Hội đồng dân tộc 43,6 56,4 56,4 43,6 Uỷ ban về các vấn đề xã hội 40,5 59,5 37,5 62,5 Uỷ ban pháp luật 11,7 88,3 14,3 85,7 Uỷ ban đối ngoại 17,6 82,4 16,7 83,3 Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường 19,4 80,6 32,4 67.6 Uỷ ban quốc phòng và an ninh 2,6 97,4 0 100 Uỷ ban kinh tế và ngân sách/Uỷ ban kinh tế 12,5 87,5 8,3 91,7 Uỷ ban tư pháp 14,7 85,3 Uỷ ban tài chính-ngân sách 11,4 88,6 Bảng 3: Tỷ lệ phụ nữ tham gia hội đồng nhân dân các cấp Các cấp Khoá 1999-2004 Khoá 2004-2011 Nữ Nam Nữ Nam Tỉnh/thành phố 22,33 76,67 23,8 76,2 Quận/huyện 20,12 79,88 23,2 76,8 Xã/phường 16,56 83,44 20,1 79,9 Nguồn: Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam, 2004. Bảng 4: Tỷ lệ nữ chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân các cấp (%) Nhiệm kỳ 1999-2004 Nhiệm kỳ 2004-2011 Chức danh Cấp tỉnh Cấp huyện Cấp xã Cấp tỉnh Cấp huyện Cấp xã Chủ tịch 1,64 5,46 3,46 1,56 3,92 4,09 Phó chủ tịch 8,19 11,42 5,57 26,56 19,64 10,61 Như vậy có một nghịch lý, bất chấp sự nỗ lực tuyên truyền của Hội LHPN Việt Nam và Vụ Bình đẳng giới – Bộ LĐTBXH, càng hô hào bầu cử cho đại biểu nữ, tỷ lệ càng tụt giảm. Tỷ lệ phụ nữ tham gia chính trị còn quá nhỏ so với tổng số “một nửa thế giới”. Tuy nhiên, phụ nữ giữ vị trí chủ chốt trong cơ quan Đảng, dân cử và chính quyền còn ít ỏi, hiếm hoi hơn nữa. Ở cấp T.Ư nhiệm kỳ 2011-2016 chỉ có 1 nữ Ủy viên Bộ Chính trị và 2 nữ Bí thư. Cấp địa phương, phụ nữ là Bí thư Tỉnh ủy, Huyện ủy và Đảng ủy xã chỉ đạt 0,25%; 5,5% và 7,25%. Thậm chí, 9/35 tỉnh thành không có nữ lãnh đạo chủ chốt. “Không chỉ là tỷ lệ thấp, chủ yếu giữ chức “phó”, mà phụ nữ còn được giao cho các mảng “chung chung” ở lĩnh vực xã hội nên tiếng nói của phụ nữ trong quá trình lập pháp và quyết định những vấn đề thiết yếu như kinh tế, ngân sách, đối ngoại, an ninh quốc gia càng hạn chế” – bà Ngô Thị Thu Hà - Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ giáo dục và nâng cao năng lực cho phụ nữ nói. Bà Hà chỉ ra một trong những nguyên nhân khiến phụ nữ ít được đề bạt lên vị trí cao hơn là vì Luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu của phụ nữ sớm hơn nam giới (55 tuổi với nữ và 60 tuổi với nam). Điều này trái với khoản 4, điều 11, Luật Bình đẳng giới: “Nam nữ bình đẳng về chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí, quản lý, lãnh đạo của cơ quan tổ chức”. Đồng thời cũng mâu thuẫn với Nghị quyết 11-NQ/TƯ của Bộ Chính trị: “Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm. Trong nhiệm kỳ Công đoàn 2008-2010 (cấp cơ sở), 2008 – 2013 (cấp trên cơ sở), tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở và cấp trên cơ sở chiếm tỷ lệ 26.6%; Trong đó số nữ là Chủ tịch, Phó Chủ tịch công đoàn cơ sở, trên cơ sở là 14%, số nữ tham gia UBKT công đoàn các cấp là 29%. Tỷ lệ nữ tham gia BCH Công đoàn các cấp hiện nay ở khối viễn thông thấp, chỉ khoảng 25%. Khối bưu chính khoảng 48%. Tuy nhiên tại một số đơn vị viễn thông, công ty cổ phần, liên doanh, TNHH số nữ tham gia BCH Công đoàn rất ít. Đòi hỏi công đoàn các cấp cần quan tâm hơn nữa trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ để tăng cường sự tham gia của nữ trong hoạt động công đoàn ở các đơn vị này.Trong nhiệm kỳ Công đoàn 2008-2010 (cấp cơ sở), 2008 – 2013 (cấp trên cơ sở), tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở và cấp trên cơ sở chiếm tỷ lệ 26.6%; Trong đó số nữ là Chủ tịch, Phó Chủ tịch công đoàn cơ sở, trên cơ sở là 14%, số nữ tham gia UBKT công đoàn các cấp là 29%. Tỷ lệ nữ tham gia BCH Công đoàn các cấp hiện nay ở khối viễn thông thấp, chỉ khoảng 25%. Khối bưu chính khoảng 48%. Tuy nhiên tại một số đơn vị viễn thông, công ty cổ phần, liên doanh, TNHH số nữ tham gia BCH Công đoàn rất ít. Đòi hỏi công đoàn các cấp cần quan tâm hơn nữa trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ để tăng cường sự tham gia của nữ trong hoạt động công đoàn ở các đơn vị này. Đến năm 2001 số cán bộ nữ có học hàm học vị là gần 18.000 người song tỷ lệ những người chủ trì các đề tài, dự án khoa học và công nghệ các cấp, nhất là cấp nhà nước là rất thấp. Trong giai đoạn 1991 – 1995 trong tổng số trên 500 đề tài thuộc 31 chương trình KHCN trọng điểm cấp nhà nước chỉ có 21 cán bộ nữ đảm đương cương vị chủ trì đề tài (chiếm dưới 4%). Ơ giai đoạn sau 1996 – 2000, số phụ nữ chủ trì đề tài tuy có tăng lên tới 10% song vẫn còn rất thấp và chưa phản ánh đúng năng lực và khả năng đóng góp của phụ nữ trong những nhiệm vụ khoa học và công nghệ quan trọng tầm quốc gia . (Báo cáo của Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường, 2005). Năm 2008 - 2009 trong ngành khoa học xã hội có hai nữ phó giáo sư, tiến sỹ là chủ nhiệm đề tài cấp nhà nước. Tình trạng phổ biến hiện nay là nữ cán bộ khoa học là lực lượng tham gia (đôi khi là lực lượng chính) vào các công trình khoa học công nghệ cấp nhà nước, còn người chủ trì các công trình này chủ yếu lại là cán bộ nam. Điều nghịch lý là trong nhiều trường hợp, trình độ năng lực và kiến thức khoa học công nghệ của phụ nữ đã không thua kém nam giới, thậm chí chính những người đang điều hành các công trình này. Bảng 11: Tỷ lệ nam, nữ giữ các chức danh, học vị khoa học Chức danh 1999 2004 2006 Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Thạc sĩ 29,11 70,89 39,1 60,9 30,53 69,47 Tiến sĩ khoa học 13,04 86,96 17,50 82,50 9,76 90,2 Tiến sĩ 15,44 84,58 17,02 82,98 Giáo sư 4,3 95,70 3,10 96,90 5,10 94.90 Nguồn: Hội đồng chức danh giáo sư, Bộ Giáo dục-Đào tạo qua các năm Nguyên nhân của thực trạng. Có khá nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng phụ nữ ít tham gia quản lí, và dưới đây là một số nguyên nhân cơ bản. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giữa phụ nữ và nam giới không có sự khác biệt về mặt xã hội, mà chỉ có sự khác biệt về mặt sinh học. Tuy nhiên, trong thực tế, cho đến bây giờ các định kiến giới vẫn còn tồn tại và có thể gặp ở nhiều nhóm xã hội: cả phụ nữ và nam giới, cả trong cán bộ lãnh đạo - những người có vai trò quyết định đối với việc hoạch định và thực hiện chính sách đối với phụ nữ và người dân. Vậy thế nào là định kiến giới? Các định kiến giới là một tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, một cộng đồng cụ thể nào đó gán cho là thuộc tính của nam giới hay phụ nữ. Các quan niệm này thường sai lệch và hạn chế những điều mà một cá nhân có thể làm. Ví dụ: một số định kiến coi phụ nữ là phụ thuộc, yếu đuối, thụ động, dịu dàng và thứ yếu. Một số định kiến coi nam giới là độc lập, mạnh mẽ, có năng lực, quan trọng hơn và là người ra quyết định tốt hơn; hoặc "trai anh hùng, gái thuyền quyên", hay "trai tài, gái sắc". Trong thực tế, những đặc điểm tính cách này không chỉ của riêng nam giới hay phụ nữ, mà cả nam giới và phụ nữ đều có thể mang những đặc điểm này. Tuy nhiên, những đặc tính đó lại thường bị gán cho nam hay nữ dưới góc độ phê phán và làm cho họ bị thiệt thòi xét theo một khía cạnh nào đó. Ví dụ, người ta hay cho rằng: phụ nữ không đủ mạnh để làm lãnh đạo, hay nam giới không có khả năng chăm sóc con cái. Chính định kiến đó đã hạn chế phụ nữ hoặc nam giới tham gia vào những công việc mà họ có khả năng hoàn thành một cách dễ dàng. Các định kiến giới hiện nay không chỉ gây bất lợi cho phụ nữ mà ngay cả nam giới cũng bị bất lợi, như hạn chế cơ hội của nam giới tham gia vào công việc chăm sóc gia đình hay lựa chọn một hành vi lành mạnh là không hút thuốc hay không uống nhiều rượu. Một trong những định kiến giới biểu hiện khá rõ là gắn phụ nữ với vai trò gia đình, coi việc nội trợ, chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái là của phụ nữ. Đáng chú ý là, hiện nay nhiều người đang cổ suý cho tư tưởng đưa phụ nữ quay trở về với gia đình. Từ suy nghĩ đó nhiều phụ nữ đã bị hạn chế trên con đường học tập, lao động, phấn đấu và vươn lên trong sự nghiệp, giảm khả năng đóng góp nhiều hơn về sức lực và trí tuệ cho xã hội. Nhìn bề ngoài của cuộc sống hầu như thấy rằng phụ nữ đã được “lên ngôi”, họ được bình đẳng lắm rồi. Trong tư tưởng của nam giới, với tư cách là người chồng, có lẽ cũng khá nhiều người ủng hộ vợ tham gia hoạt động xã hội. Nhưng không ít nam giới cho phép vợ “thoải mái” tham gia công việc xã hội nhưng vẫn phải làm tốt việc nhà. Đàn ông Việt Nam có định kiến giới gì đâu! Nhưng vấn đề là họ muốn vợ của họ vừa là người xuất sắc ở cơ quan, vừa là người bà, người mẹ chăm chỉ trong gia đình. Trong tình hình hiện nay, do yêu cầu công việc, nhiều phụ nữ phải đầu tư nhiều thời gian mới nâng cao được chuyên môn, nghiệp vụ. Nếu chỉ cần có thêm một ít thời gian trong ngày công việc của họ sẽ tốt hơn, có thể đem lại rất nhiều lợi ích cho nhiều người. Nếu vừa làm tốt bổn phận trong gia đình vừa làm tốt công việc xã hội thì như vậy, nhiều phụ nữ phải gánh vác gấp đôi trách nhiệm, bởi họ không những làm việc để kiếm thu nhập, mà còn là người chủ yếu đảm đương các vai trò làm mẹ, làm vợ trong gia đình. Nếu xét tương quan thời gian lao động trong một ngày giữa phụ nữ và nam giới cho thấy, thời gian lao động của phụ nữ nhiều hơn, bởi họ phải làm các công việc gia đình nhiều hơn (thời gian làm việc trung bình của phụ nữ là 13 giờ/ngày trong khi của nam giới chỉ khoảng 9 giờ). Do vậy, phụ nữ ít có thời gian để học tập, nghỉ ngơi, giải trí và tham gia hoạt động xã hội so với nam giới. Gánh nặng công việc gia đình đã làm cho nhiều phụ nữ không thể vươn xa trong sự nghiệp. Chúng ta đều biết ở thời kỳ CNH – HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như nam giới, phụ nữ cần phải có kiến thức chiều sâu, trình độ ngoại ngữ, tin học, sự nhạy bén và lăn lộn thực tế cuộc sống... Trong khi đó, công việc gia đình vẫn là trách nhiệm nặng nề của người phụ nữ. Và cũng chính vì vậy mà hậu quả là nhiều người phụ nữ giỏi giang, được học hành tử tế đã phải nhường bước cho chồng và lui về chăm sóc gia đình, để giữ tròn hạnh phúc. Vì những lý do gia đình mà nhiều phụ nữ chấp nhận tụt hậu, hoặc phấn đấu có chừng mực, chỉ ở mức độ hoàn thành công việc. Đó cũng là lý do cùng được đào tạo như nhau mà nam giới phát triển tốt hơn, có vị trí cao hơn, được học hành đào tạo chuyên môn cao hơn. Đó cũng là nguyên nhân tụt hậu của giới nữ trong giáo dục, đào tạo, trong khoa học, công nghệ và cả trong lãnh đạo và quản lý. Tại không ít tổ chức, cơ quan, một số phụ nữ không được đề bạt làm lãnh đạo (ngay cả khi người phụ nữ này có trình độ và kinh nghiệm phù hợp) bởi mọi người vẫn cho rằng, chỉ có nam giới mới nên làm việc “đại sự”, phụ nữ thì chỉ nên làm việc công việc nhẹ nhàng để có thời gian dành cho gia đình. Tư tưởng này không chỉ ở người dân, mà cả trong lãnh đạo, và đặc biệt ngay cả trong một bộ phận phụ nữ cũng có định kiến với giới nữ của mình. Ngoài hiện tượng níu kéo áo nhau ở một số phụ nữ, thì vấn đề ở đây vẫn là do định kiến giới, coi nam giới ở vị trí lãnh đạo tốt hơn là phụ nữ nên trong các kỳ bầu cử, những người gạt phụ nữ khỏi danh sách bầu cử có khi không phải là nam, mà lại là nữ. Không ủng hộ phụ nữ làm công tác xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý còn thấp, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ. Phụ nữ chiếm tỷ lệ không thua kém trong nhiều ngành nghề và học tập trong các trường, lớp đào tạo (đại học 47,23%; cao đẳng 50,01%), nhưng số nữ tham gia lãnh đạo, quản lý đạt tỷ lệ thấp. Nữ lãnh đạo, quản lý ở cấp Trung ương, cấp vụ trở lên và cán bộ nữ chủ chốt cấp tỉnh hiện nay hầu hết ở độ tuổi trên 50; tỷ lệ cán bộ nữ cấp phòng ở huyện, quận giảm... tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XII thấp hơn tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XI (khóa XI là 27,31%, khóa XII là 25,76%). Công việc gia đình và thiên chức làm mẹ cũng gây bất lợi cho phụ nữ trong tuyển dụng lao động. Theo Sở LĐ &TBXH TP Hà Nội, cho biết, trong hàng trăm doanh nghiệp ở Hà Nội, từ đầu năm đến nay, chỉ có 4 trong số hàng trăm doanh nghiệp đăng ký sử dụng nhiều lao động nữ. Đó mới chỉ là đăng ký. Vì nhận một phụ nữ vào làm, sự đóng góp của phụ nữ cho lợi nhuận của doanh nghiệp chưa thấy đâu đã thấy phải chi ra rất nhiều thứ như, chế độ thai sản, giờ cho con bú, xây nhà vệ sinh ... Chính vì điều này mà ngay cả chủ doanh nghiệp là nữ cũng rất ngại khi nhận lao động nữ. Mặc dù ở những xí nghiệp đông lao động nữ, doanh nghiệp đó được miễn giảm thuế thu nhập và được tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi. Nhưng vấn đề miễn, giảm thuế và tiếp cận vốn ưu đãi không phải doanh nghiệp nào cũng biết được thủ tục để tiếp cận. Trong mục tuyển dụng lao động đăng trên các báo cho thấy, nhiều công ty chỉ tuyển lao động nam mặc dù công việc đó cũng phù hợp với phụ nữ, hoặc có những thông báo tuyển dụng cùng một công việc như nhau, ngành học nhưnhau, nhưng yêu cầu đối với nữ phải có bằng tốt nghiệp loại khá, giỏi, cònnam chỉ cần tốt nghiệp loại trung bình. Một số giải pháp nâng cao bình đẳng giới trong quan lí ở Việt Nam. Một là, nâng cao nhận thức về bình đẳng giới cho người dân, cộng đồng và xã hội thông qua công tác tuyên truyền về giới góp phần thay đổi nhận thức về giới. Những hình ảnh phụ nữ gắn với vai trò xã hội, nam giới làm công việc gia đình đang dần làm thay đổi nhận thức trong công chúng rằng, nam hoặc nữ đều có thể làm bất cứ công việc gì phù hợp với khả năng của họ nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội mà không có sự phân định rõ ràng cho một giới nào khác. Từ nhận thức giới được thay đổi thông qua hình tượng giới, hành vi giới sẽ thay đổi dần theo hướng tiến bộ bình đẳng nam nữ. Một mặt chúng ta khẳng định khả năng trí tuệ của hai giới như nhau nhưng mặt khác chúng ta cũng thừa nhận sự khác biệt về giới tính để đưa phụ nữ vào đúng vị trí, làm tốt chức năng của mình. Phụ nữ ngày nay trong xu thế phát triển sẽ ngày càng bộc lộ những phẩm chất mới. Tất cả những phẩm chất ấy cần được phát huy, nếu không bị định kiến trói buộc thì sẽ trở thành sự tiến bộ, phát triển và họ sẽ đóng góp được rất nhiều cho sự phát triển của đất nước. Hai là, để có thể phát huy được vai trò và khả năng của phụ nữ, các dịch vụ xã hội dành cho gia đình cần được phát triển một cách rộng rãi và phù hợp với thu nhập để phụ nữ dễ dàng được tiếp cận. Tạo điều kiện cho phụ nữ đầu tư sản xuất, kinh doanh, cải thiện thu nhập, có tiếng nói trong gia đình và từ đó ít lệ thuộc hơn vào người chồng. Khắc phục về cơ bản tình trạng bất bình đẳng trong một số lĩnh vực như: quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở, các phúc lợi xã hội, chế độ bảo hiểm … Ba là, phụ nữ cần được giảm bớt gánh nặng gia đình. Muốn vậy, không chỉ chia sẻ, nam giới cần phải tham gia vào công việc gia đình cùng với phụ nữ. Tuy nhiên, trong khi bình đẳng giới đang là một quá trình thì việc nam giới chia sẻ công việc gia đình với phụ nữ cũng có một ý nghĩa to lớn. Chính sự chia sẻ và cảm thông của người chồng đã làm cho nhiều người phụ nữ đạt được thành công trong sự nghiệp. Bốn là, lãnh đạo ở những cơ quan, đơn vị có nhiều phụ nữ cần được nâng cao nhận thức giới để từ đó có được công bằng giới trong tuyển dụng, đào tạo, đề bạt. Đặc biệt, trên phạm vi toàn xã hội, cần tạo điều kiện để người phụ nữ có thời gian làm công việc gia đình, không nên coi phụ nữ cũng như nam giới trong việc phân công, đòi hỏi, yêu cầu mà không tính đến việc người phụ nữ phải thực hiện thiên chức làm mẹ. Năm là, đối với bản thân phụ nữ, cũng cần có sự kết hợp hài hòa chức năng xã hội và gia đình. Bởi đây là nét đặc trưng của phụ nữ nước ta. Là phụ nữ thường phải có gia đình, phải sinh con và nuôi dạy con. Đối với phụ nữ, dung hòa giữa gia đình và công việc xã hội là điều không mấy dễ dàng. Tuy nhiên đã có nhiều phụ nữ biết cách giải quyết tốt hai chức năng này và đã trở thành người mẹ hiền, vợ đảm, lại là nhà quản lý giỏi, nhà khoa học thành đạt. Kinh nghiệm của họ mà nhiều phụ nữ cần học tập là, cố gắng thu xếp một cách khoa học để vừa có thời gian cho gia đình, vừa hoàn thành tốt công việc xã hội. Các giải pháp trên đây tưởng chừng không khó lắm khi thực hiện, nhưng thực sự đây là cả một vấn đề đòi hỏi phải có sự thống nhất cao trong tư tưởng và hành động của các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo, quản lý, của người dân, đặc biệt của cả nam và nữ. Bởi vì, như Bác Hồ đã từng nói, trọng trai, khinh gái là thói quen mấy ngàn năm để lại, nó ăn sâu trong nếp nghĩ việc làm của người dân…, giải phóng phụ nữ đó là cuộc cách mạng to và khó. Bottom of Form PHẦN III. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 1. KẾT LUẬN Bình đẳng giới đã mở ra cơ hội cho phụ nữ phát huy sáng tạo, đóng góp công sức, trí tuệ cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những kế quả bước đầu, do nhiều nguyên nhân, công tác bình đẳng giới vẫn còn nhiều bất cập. Nhận thức, thái độ và hành vi mang tính định kiến giới vẫn tồn tại ngay trong cán bộ công chức. Khoảng cách giữa quy định của pháp luật về bình đẳng giới với việc thực thi còn khá lớn, nhiều cán bộ vẫn lúng túng trong việc lồng ghép giới vào các lĩnh vực đang quản lý hoặc đang thực hiện. Chênh lệch về tỷ lệ nam nữ tham gia quản lý, lãnh đạo ở các cấp còn cao (bằng 1/3 nam giới). Tỷ lệ nữ lao động phổ thông và công nhân chưa qua đào tạo cao hơn nam giới 1,5 lần. Lao động nữ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chỉ bằng 42% so với lao động nam, thu nhập chỉ bằng 80% nam giới… Đấu tranh cho mục tiêu bình đẳng giới là việc làm thường xuyên và không ít khó khăn. Bởi trở ngại, nhiều khi lại ở chính phụ nữ. Theo tài liệu của Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam xuất bản năm 2004 thì "bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới". Với khái niệm này thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam, nữ từ thái cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằng con số hoặc tỷ lệ 50/50 mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho nam, nữ phát triển toàn diện. Đồng thời tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con và gánh vác phần lớn lao động gia đình... “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, mỗi giới có vai trò riêng của mình. Song để phụ nữ được bình đẳng với nam giới, không thể chỉ nghĩ giản đơn là chuyện “hôm nay anh nấu cơm, quét nhà, rửa bát; ngày mai em rửa bát, quét nhà, nấu cơm. Quyền bình đẳng của phụ nữ phải được giải quyết trên cơ sở các biện pháp tổng hợp về kinh tế, văn hóa xã hội”. Nhưng quan trọng nhất vẫn là phụ nữ cần biết bứt phá ra khỏi những ràng buộc mang tính định kiến của xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh thời từng nói: “Giành lại quyền bình đẳng cho phụ nữ là cuộc cách mạng lâu dài, to lớn và khó nhất. Phụ nữ muốn được bình đẳng không phải bảo Đảng và Chính phủ hay nam giới giải quyết mà phải tự đấu tranh phấn đấu giành lấy”. Bình đẳng là một trong những quyền cơ bản của phụ nữ một nước độc lập, tự do. Nhưng muốn được bình đẳng, phụ nữ cần phải học. Học để có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân đạo, để tự tin khẳng định mình. Chỉ có tự do, bình đẳng, phụ nữ mới thoát khỏi những rào cản mang tính định kiến của xã hội, mới có điều kiện phát huy sáng tạo cá nhân mà thể hiện được tài năng, nhiệt tình cống hiến ngày càng nhiều hơn cho đất nước. .ấn đề nâng cao năng lực của nữ trí thức trước hết là ở trong gia đình. Họ phải nhận được sự ủng hộ từ phía gia đình, chồng con. Đó là sự thay đổi rất lớn về “giá trị” trong gia đình từ truyền thống sang hiện đại, từ chỗ nam giới chỉ chấp nhận phụ nữ làm những công việc gia đình đến việc chấp nhận phụ nữ mang trí tuệ của mình phục vụ và lãnh đạo xã hội. Trong các cuộc điều tra xã hội học của chúng tôi, khi phải chọn lựa giữa hai giá trị gia đình và công việc, phụ nữ thường chọn gia đình. Khác với nam giới, phần lớn phụ nữ cho rằng đạt được thành tích hoặc chức vụ lãnh đạo cũng tốt, không được cũng không sao, nhưng chăm sóc một gia đình êm ấm là trách nhiệm của họ. Yếu tố giới, đặc thù giới ảnh hưởng không nhỏ đến vai trò và nhận thức của phụ nữ nói chung và nữ trí thức nói riêng. Vì lẽ đó, hầu hết nữ trí thức đã phải trăn trở trước câu hỏi lớn của đời mình : sự nghiệp hay gia đình ? trong khi nam trí thức có thể thanh thản cống hiến cho sự nghiệp của mình với một niềm tự hào chính đáng và một hậu phương vững mạnh sau lưng. Trên thực tế đã có những bi kịch gia đình khi nữ trí thức đam mê với công việc. Cái giá phải trả để “vẹn cả đôi đường” khiến nữ trí thức phải cố gắng gấp bội so với nam trí thức. Định kiến giới, phong tục tập quán còn ảnh hưởng đáng kể làm hạn chế tỷ lệ và chất lượng làm việc của nữ trí thức. Chẳng hạn, ngược với sự tự tin của nam giới, phụ nữ thường hay tự ti, cứ nghĩ rằng chắc là mình không làm được việc. Phụ nữ trí thức còn gặp cản trở, sự ganh ghét từ phía nam đồng nghiệp và từ chính phụ nữ đồng nghiệp. Trong khi đó, người lãnh đạo nhiều khi cũng lại có ý nghĩ rằng, việc này thì nam giới làm sẽ tốt hơn phụ nữ. Trong nhiều trường hợp, nếu được đặt đúng vị trí thì phụ nữ cũng phát huy như nam giới, thậm chí tốt hơn do phụ nữ chu đáo và có tinh thần trách nhiệm cao. Phụ nữ trí thức phải chịu quá trình đào tạo đứt đoạn trong khi nam giới có quá trình đào tạo liên tục. Tình trạng này đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển trí tuệ, thể lực và khả năng sáng tạo của nữ trí thức. Thậm chí có một số nữ thanh niên do tích cực học đến khi đạt được bằng cấp cao thì lại vướng phải một khó khăn là khó lấy chồng do quan niệm của hầu hết nam giới là không muốn lấy vợ có học thức cao hơn mình. Tính cách và phẩm chất giới (kiên nhẫn, khiêm tốn, vị tha) là những thuận lợi cho sự hình thành và biểu lộ tri thức của phụ nữ. Tham gia vào khoa học vừa là dịp thử thách năng lực, phẩm chất của phụ nữ, vừa là cơ hội tốt cho sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ. Tuy nhiên, tư duy khái quát, hệ thống, tính duy lý, sự kiên nhẫn tìm tòi trong khoa học ở phụ nữ thường mâu thuẫn với xúc cảm, sự lo lắng, quan tâm đến các việc nhỏ nhặt, phân tán. So với nam giới, phụ nữ thường ít tính quyết đoán mạnh mẽ trong một số trường hợp. Điều này cũng cản trở phụ nữ trong công việc. Phụ nữ ít điều kiện giao tiếp như nam giới. Điều này làm hạn chế họ trong việc thu thập những thông tin cần thiết cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, quản lý và ứng xử. Tạo điều kiện làm việc toàn diện và đánh giá đúng nữ trí thức là tầm nhìn văn hoá của nhà lãnh đạo chiến lược trong vấn đề nữ trí thức. Do tính quy luật “nhân vô thập toàn” nghĩa là, không ai là toàn thiện, toàn mỹ cả; cho nên, mô hình độc quyền nam giới hoặc độc quyền nữ giới trong khoa học đều trả giá đắt, trong khi đó các mô hình hỗn hợp cân xứng giới đều hợp lý, hợp tình vì đều tạo điều kiện cho sự bổ sung lẫn nhau của năng lực giới. ưu thế của nữ giới sẽ bổ sung cho hạn chế của nam giới và ngược lại. Trên đây là một số vấn đề chính yếu về đội ngũ nữ trí thức Việt Nam. Hy vọng là qua cuộc Hội thảo này, chúng ta sẽ tìm được các giải pháp hữu hiệu và công bằng hơn cho nữ trí thức để họ vừa có thể đóng góp cao nhất cho đất nước và gia đình vừa phát triển được cá nhân trong sự phát triển chung của dân tộc. 2. KIẾN NGHỊ. .Về phía xã hội:           - Thứ nhất: cải cách thể chế để tạo lập quyền và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới. Cải cách pháp lý sẽ tăng cường bình đẳng giới rõ nét nhất qua: Luật hôn nhân gia đình, luật chống bạo hành, bạo lực, quyền về đất đai, luật lao động, quyền chính trị. Việc này sẽ tạo môi trường cho sự bình đẳng về cơ hội và quyền lực, hai yếu tố thiết yếu để đạt được bình đẳng giới trên các phương diện khác như giáo dục, y tế và tham gia chính trị. Điều này Việt Nam chúng ta đã và đang thực hiện tốt (thể hiện ở các văn bản luật đã được thông qua và có hiệu lực thi hành, tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XII là 33,1%...); cần phát huy, nỗ lực tăng tỉ lệ nữ ở Hội đồng nhân dân 3 cấp và các cơ quan quản lý nhà nước. Cung cấp các dịch vụ tạo thuận lợi cho việc tiếp cận dành cho phụ nữ, như: hệ thống trường lớp, cơ sở y tế, chương trình cho vay vốn…           - Thứ hai: Đẩy nhanh phát triển kinh tế nhằm khuyến khích tham gia và phân bố nguồn lực công bằng hơn. Phát triển kinh tế có xu hướng làm tăng năng suất lao động và tạo nhiều cơ hội việc làm cho phụ nữ, thu nhập cao hơn, và mức sống tốt hơn. Đầu tư có trọng điểm vào cơ sở hạ tầng và giảm bớt chi phí cá nhân cho phụ nữ khi thực hiện vai trò của họ trong gia đình sẽ có thể giúp họ có thêm thời gian để tham gia vào các hoạt động khác, dù là để tạo thu nhập hay làm công tác xã hội. Điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành của phụ nữ. Thiết kế chính sách thị trường lao động phù hợp, như về nghỉ đẻ, sa thải, dưỡng bệnh, nghỉ bắt buộc… trong việc sinh đẻ để tạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội tham gia công việc trên thị trường,  đồng thời chăm sóc gia đình. Cung cấp bảo trợ xã hội, an sinh xã hội phù hợp.           - Thứ ba: Thực hiện những biện pháp thiết thực nhằm khắc phục sự phân biệt giới trong việc làm chủ các nguồn lực và tiếng nói chính trị.  Nhà nước nên thiết lập một môi trường thể chế bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng đến các nguồn lực và dịch vụ công cộng cho cả nam và  nữ. Tăng cường tiếng nói của phụ nữ (sử dụng sáng kiến, ý tưởng) trong quá trình hoạch định chính sách.           Ngoài ra có thể:           - Mở rộng các quan hệ hợp tác giao lưu, vừa phù hợp với xu hướng thời đại, vừa chia sẻ, trao đổi được kinh nghiệm quốc tế trong việc giài quyết các vấn đề về giới, đồng thời lại mở ra nhiều cơ hội học tập, làm việc cho phụ nữ. Tạo điều kiện trao đổi cởi mở các ý tưởng với phụ nữ, nâng cao tính minh bạch trong hoach định chính sách.           - Triển khai giáo dục vấn đề về giới, bình đẳng giới và phát triển phổ biến trong xã hội           - Phát huy vai trò của tổ chức Hội phụ nữ, nhất là ở cơ sở.           Các chiến lược này không chỉ có thể vận dụng vào quản lý xã hội ở cấp vĩ mô mà cón có thể vận dụng cụ thể vào hoạt động quản lý ở từng cơ sở. Về phía cá nhân người phụ nữ:           Mỗi thời kỳ có những cơ hội và yêu cầu mang tính lịch sử, muốn có thể khẳng định và phát huy vai trò của mình, bản thân người phụ nữ trước hết phải ý thức được đầy đủ vai trò về giới của mình, mới có thể nắm bắt được những cơ hội, cùng với xã hội, hướng tới cách ứng xử bình đẳng giới. Muốn vậy, phụ nữ hiện đại cần nỗ lực nhiều mặt:           - Có tri thức, văn hoá. Chúng ta đang hướng tới phát triển nền kinh tế tri thức, phụ nữ khi có tri thức sẽ có bản lĩnh hơn và có nhiều cơ hội lựa chọn hơn trong cuộc sống. Chẳng hạn như khi công nghệ thông tin phát triển, nhiều công việc yêu cầu sử dụng máy tính tăng lên, đây sẽ là cơ hội tốt cho những phụ nữ biết sử dụng vi tính nhưng lại sẽ trở thành rào cản cho những người không biết sử dụng.           - Có ý thức cầu tiến, độc lập - Sống có mục đích           - Có khả năng giao kết thân thiện. Một số nghiên cứu hiện nay thừa nhận mối quan hệ giữa sự tham gia tích cực của phụ nữ vào đời sống xã hội với sự giảm bớt mức độ tham nhũng - Có kỹ năng sống: tự tin, sáng tạo, biết hoạch định kế hoạch, biết đối mặt với áp lực, biết chăm sóc bản thân …           - v.v…           Để có được những điều này phụ nữ nên chịu khó học hỏi ở nhà trường, các tổ chức, đội nhóm, nhà văn hóa, câu lạc bộ…Tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội để tích lũy tri thức và kinh nghiệm sống. Mở rộng các mối quan hệ giao lưu giao tiếp trong xã hội. Tạo thói quen suy nghĩ tích cực,  sẵn sàng chia sẻ, siêng năng lao động, rèn luyện và chăm sóc sức khoẻ cho bản thân. Người phụ nữ Việt Nam hiện đại trong thời kỳ mới nếu được sự hỗ trợ tích cực từ phía khách quan, cùng với những nỗ lực chủ quan sẽ có cơ hội đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, tạo vị thế cho bản thân. Và hi vọng là họ sẽ không còn gặp những trở ngại về giới trong việc tìm cho mình một cuộc sống hạnh phúc do những quan điểm không phù hợp nào đó, không còn phải băn khoăn trăn trở trong sự lựa chọn giữa sự nghiệp và gia đình, không còn gặp những rào cản không cần thiết từ các chính sách xã hội. Phụ nữ – dù trong thời đại nào cũng luôn có những vị trí không thể thay thế. “Bên cạnh ánh sáng lung linh của các vì sao còn có ánh sáng êm dịu và huyền bí của tâm hồn người phụ nữ” (Victor Hugo).

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docphu_nu_viet_nam_tham_gia_lanh_dao_quan_ly_7928.doc
Tài liệu liên quan