Đề tài Xây dựng hệ thống hỗ trợ kết hợp với du lịch lữ hành tại Việt Nam

Mở rộng marketing ra ngoài nước: - Trước khi khách về nước nên để lại những ấn tượng tốt đẹp về những ấn tượng tốt của khách với Việt Nam và nhờ chính khách hàng quảng bá cho dịch vụ du lịch trong nước.không ai hiểu rõ hơn những sản phẩm dịch vụ hơn những người khi họ đã dùng rồi. - Marketing hiệu quả ra bên ngoài nước dùng các phương tiện thông tin đại chúng.

doc35 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 17/06/2014 | Lượt xem: 703 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Xây dựng hệ thống hỗ trợ kết hợp với du lịch lữ hành tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tiêu dùng du lịch. Những đặc điểm quan trọng nhất là: +Nhu cầu tiêu dùng trong du lịch là những nhu cầu đặc biệt bao trùm: Nhu cầu hiểu biết kho tàng văn hoá, lịch sử, nhu cầu vãn cảnh thiên nhiên, nhu cầu khám phá những điều mới lạ. +Tiêu dùng du lịch thoả mãn các nhu cầu hàng hoá( thức ăn, hàng hoá mua sắm, hàng lưu niệm…) và đặc biệt là các nhu cầu về dịch vụ nơi ở vận chuyển hành khách, y tế thông tin. +Việc tiêu dùng các dịch vụ và một số hàng hoá diễn ra đồng thời với việc sản xuất ra chúng.trong du lịch không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hóa đến cho khách và ngược lại, tự khách du lịch phải đến nơi có hàng hoá. +Việc tiêu dùng du lịch chỉ thoả mãn những nhu cầu thứ yếu đối với con người. +Tiêu dùng du lịch thường xảy ra theo thời gian. Qua những đặc điểm du lịch trên ,ta thấy vai trò của kinh doanh du lịch quốc tế như sau: 4.1/ Du lịch quốc tế tạo nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho đất nước. Thật vậy, năm 1998, Mêhico đã thu được 7,8 tỷ USD, đứng thứ 2 về thu nhập của cả nước, đứng thứ 14 thế giới về thu nhập từ du lịch. Ngoại tệ thu đựoc từ du lịch quốc tế góp phần cải thiện cán cân thanh toán của đất nước và thường được sử dụng để mua sắm thiết bị máy móc cần thiết cho qúa trình tái sản xuất xã hội. Do vậy, du lịch quốc tế góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng thu nhập quốc dân. 4.2/ Tạo điều kiện cho đất nước phát triển du lịch. Cũng như ngoại thương, du lịch quốc tế tạo điều kiện cho đất nước phát triển du lịch, tiêt kiệm lao động xã hội khi xuất nhập khẩu một số mặt hàng. Nhưng xuất khẩu theo đường du lịch quốc tế có lợi hơn nhiều so với ngoại thương. Trước hết, một phần rất lớn đối tượng mua bán quốc tế là các dịch vụ (lưu trữ, bổ sung, trung gian …) Do vậy,xuất khẩu của du lịch quốc tế còn là hàng ăn uống, hoa quả, rau xanh, hàng lưu niệm. Như vậy, xuất khẩu qua du lịch quốc tế là : “xuất khẩu tại chỗ” hàng hoá, dịch vụ, những hàng hoá không thể hay khó xuất khẩu được qua con đường ngoại thương thông thường, mà nếu muốn xuất khẩu chuũn phải đầu tư nhiều chi phí cho việc đóng gói, bảo quản và vận chuyển mà giá cả lại thấp hơn. Việc xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế luôn đảm bảo thực hiện doanh thu lớn hơn nếu cùng xuất khẩu những hàng hoá đó theo đường ngoại thương vì hàng hóa xuất khẩu theo đường du lịch quốc tế theo giá bán lẻ còn nếu xuất khẩu hàng hoá đó bằng con đuờng ngoại thương thì giá này lại là giá bán buôn. Xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế không tốn chi phí vận chuyển quốc tế, tốn chi phí đóng gói và bảo quản hơn xuất khẩu ngoại thương vì nó được vận chuyển trong phạm vi đất nước du lịch, Bên canh đó, xuất khẩu theo đường kinh doanh du lịch quốc tế không phải tốn chi phí trong hoạt động xuất khẩu do trả thuế xuất khẩu cũng như tốn các chi phí về bảo hiểm. 4.3/ Tiết kiệm thời gian và tăng vòng quay của vốn đầu tư: Do đặc điểm của tiêu dùng du lịch là: Khách hàng phải tự vận động đến nơi có hàng hoá và dịch vụ chứ không phải vận chuyển hàng hoá đến với khách nên tiết kiệm được thời gian làm tăng nhanh vòng quay của vốn đầu tư, do đó thu hồi vốn nhanh và có hiệu quả. Ngoài ra khi thu hồi vốn đầu tư vào du lịch quốc tế thực chất đã “Xuất khẩu” được nguyên vật liệu và lao động.Nguyên vật liệu ở đây thường không phải là đối tượng xuất khẩu theo đường ngoại thương. 4.4/ Du lịch quốc tế là phương pháp quảng cáo không mất tiền cho đất nước du lịch chủ nhà: Khi khách tới khu du lịch, khách có điều kiện làm quen với một số mặt hàng ở đó, khi trở về khách có thể yêu cầu cơ quan ngoại thương nhập khẩn mặt hàng đó về quốc gia mình. Theo cách này, du lịch quốc tế góp phần tuyên truyền cho nên sản xuất của nước du lịch chủ nhà. Hơn nữa hình ảnh của nước chủ nhà sẽ được khách sau khi về giới thiệu lại cho những người khác làm tăng hình ảnh của đất nước chủ nhà cho các đơn vị quốc tế và làm tăng xuất nhập khẩu của đất nước chủ nhà. 4.5 Mở rộng và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Sự phát triển của du lịch quốc tế có ý nghĩa quan trọng đến việc mở rộng và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Các mối quan hệ này chủ yếu theo các hướng: Ký kết hợp đồng và trao đổi khách giữa các nước tổ chức và hãng du lịch; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực vay võn phát triển du lịch; hợp tác trong lĩnh vực cải tiến mối quan hệ tiền tệ trong du lịch quốc tế. Bên cạnh đó, du lịch quốc tế góp phần thúc đẩy các quốc gia bảo tồn các di sản văn hoá dân tộc, bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên xã hội. Du lịch quốc tế cũng kích thích các ngành nghề khác phát triển như: Giao thông vận tải, thông tin liên lạc, khách sạn, y tế, xây dựng. Du lịch quốc tế có vai trò quan trọng trong việc giáo dục tinh thần quốc tế cho các dân tộc, làm cho mọi người thấy được sự cần thiết phải phát triển và củng cố các mối quan hệ quốc tế. Du lịch quốc tế góp phần là cho các dân tộc gần gũi nhau hơn , bình thường hoá quan hệ quốc tế và tăng thêm phần hữu nghị giữa các dân tộc. 5.Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch quốc tế Ngày nay với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, lĩnh vực dịch vụ đã đống vai trò quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh doanh xã hội của các nước đang phát triển cũng như các nước phát triển .Năm 1970, dịch vụ chiếm 55% tổng sản phẩm của các nước đang phát triển. Đến năm 1990, tỉ trọng của dịch vụ đã tăng lên tới 65%, trong đó phần lớn là sự tăng trưởng của các ngành tham gia vào thương mại quốc tế. Chính vì vậy, việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh doanh dịch vụ quốc tế nói chung và kinh doanh du lịch quốc tế nói riêng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó giúp khắc phục, hạn chế những tác động xấu đến những lĩnh vực kinh doanh du lịch quốc tế, đồng thời góp phần thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này. Có thể liệt kê một vài yếu tố ảnh hưởng đến kinh doanh du lịch quốc tế: +Sự tăng cầu của người tiêu dùng về du lịch do thu nhập tăng. +Sự tăng cầu của các hãng về du lịch. +Khả năng cung ứng của các nhà cung cấp dịch vụ du lịch. +Giá cả và chất lượng dịch vụ du lịch. +Việc thiểu hoá và việc bảo tồn nguyên vật liệu cũng là một nguyên nhân khiến cho tỉ trọng ngành du lịch tăng lên biểu hiện ở đầu ra công nghiệp. +Thay đổi kỹ thuật đã nuôi dưỡng khả năng tồn tại và khả năng tiếp xúc với nhau của cá hãng kinh doanh du lịch cách xa trên thế giới. +Sự phát triển của các công ty đa quốc gia. +Việc xoá bỏ hoặc lập các hàng rào chắn các quy định cũng tạo ra điều kiện cho ngành du lịch phát triển ở tầm cỡ quốc tế. +Sự can thiệp của chính phủ. +Sự phát triển thương mại trên phạm vi quốc tế. +Việc tiêu chuẩn các dịch vụ du lịch được cung cấp. +Các cơ hội cho việc đặc thù hoá các dịch vụ du lịch được cải tạo, chẳng hạn thông qua việc ký kết các hợp đồng với một hãng lập trình nước ngoài để thiết kế hệ thống kế toán đặc thù. +Cuộc cách mạng thông tin là trung taâ của toàn bộ quá trình, cụ thể là dưới dạng máy tính hoá và việc trao đổi thông tin qua mạng. Sự đổi mới kỹ thuật trong lĩnh vực máy tính và sự truyền bá nhanh chóng của nó đã và đang cách mạng hoá tốc độ và khối luợng của chyển đổi thông tin nhiều lần trong cùng một thế hệ. Các dịch vụ kinh doanh du lịch đòi hỏi sự gặp mặt trực tiếp giữa người mua và người bán ngày càng giảm .sự thay đổi nhanh chóng của hệ thống thông tin và mạng lưới liên lạc, sự hoạt động của các dịch vụ không còn phụ thuộc vào sự có mặt mạng tính địa lý của nó nữa. Các công ty đa quốc gia có thể bán các dịch vụ mà không cần đầu tư trực tiếp, tuy nhiên đầu tư trực tiếp và sản lượng tiêu thụ các dịch vụ qua các thực thể của họ dường như là một phương thức được ưa chuộng. Mặc dù các rào chắn kỹ thuật và chính sách đang giảm đối với các dịch vụ song trên thực tế với số lượng và các hình thức của các rào chắn dịch vụ như hiện nay thì các rào chắn dịch vụ này vẫn còn cao hơn nhiều so với rào chắn hàng hóa thông thường khác. Các rào chắn này tồn tại dưới dạng: +Kiểm soát trực tiếp di chuyển dịch vụ du lịch qua biên giới. +Hạn chế các dự án đầu tư liên quan trực tiếp đến dịch vụ du lịch. +Không khuyến khích thương mại thông qua các thủ tục hành chính, thuế khoá và các tiêu chuẩn sở hữu. Cả hai đối tượng là các hãng cung cấo dịch vụ và các khách hàng tiềm năng đều đòi hỏi việc được xoá bỏ các hàng rào này. +Sự không khuyến khích của chính phủ đối với việc cung cấo và tiêu thụ các sản phẩm du lịch quốc tế. Tuy nhiên sau khi vào WTO chính phủ việt nam đã có nhiều sửa đổi được cụ thể hoá trong quyển: Những qui định mới nhất về nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam(NXB Thanh niên) dày 208 trang, được in thành ba thứ tiếng Việt - Anh - Pháp. Sách tập hợp những văn bản pháp luật mới nhất của Nhà nước trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh như Pháp lệnh số 24/1999/PL-UBTVQH về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, Nghị định số 21/2001/NĐ-CP. _Du lịch quốc tế: Các trở ngại đối với việc kinh doanh du lịch ở nước ngoài gồm hai hình thức cơ bản: Các hàng rào hạn chế xâm nhập và những khó khăn của việc cung cấp dịch vụ ở nước ngoài. Các hàng rào hạn chế xâm nhập thường được xem là yếu tố để đảm bảo an ninh quốc gia,an ninh kinh tế. Chính phủ thường đưa ra các biện pháp, chính sách để bảo hộ mạnh mẽ đối với hoạt động dịch vụ trong nước. Các quy định bắt buộc các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải bỏ ra một khoản chi phí lớn hơn so với các nhà cạnh tranh nội địa, không cho phép tự do cạnh tranh trong một số lĩnh vực dịch vụ. Như bất cứ một loại hình kinh doanh, một lĩnh vực kinh doanh nào khác, lĩnh vực kinh doanh du lịch cũng chịu sự tác động, sự chi phối của môi trường kinh doanh du lịch quốc tế. Mỗi một quốc gia, mỗi một khu vực đều có những đặc trưng khác nhau về môi trường kinh doanh. Mỗi quốc gia có một môi trường luật pháp, môi trường kinh tế, môi trường kinh tế, môi trường chính trị, môi trường văn hoá, môi trường cạnh tranh khác nhau. Mặt khác các nhân tố, các điều kiện của môi trường kinh doanh cũng rất phong phú, đa dạng và luôn biến đổi khá phức tạp. Sự thay đổi đó có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế. Nó đòi hỏi các nàyh kinh doanh du lịch quốc tế phải nắm vững được đặc điểm, sự thay đổi của các yêu tố thuộc môi trường kinh doanh nhằm có biện pháp,hướng đi thích hợp để nâng cao hiệu quả, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh du lịch của mình. 6/Kinh nghiệm phát triển hoạt động du lịch quốc tế ở một số nước trên thế giới: 6.1. Đặc điểm thị trường du lịch quốc tế: Thị trường du lịch là một bộ phận cấu thành đặc biệt của thị trường hàng hoá bao gồm toàn bộ những mối quan hệ và cơ chế kinh tế có liên quan tới thời gian, điều kiện và phạm vi năng lực thực hiện dịch vụ và đáp ứng các nhu cầu xã hội về du lịch. Nói đến thị trường du lịch quốc tế là nói đến sản xuất trao đổi sản phẩm, dịch vụ du lịch. Là đối thoại giữa người sản xuất và người tiêu dùng trong đó người tiêu dùng được thoả mãn nhu cầu của mình về các sản phẩm hay dịch vụ du lịch, còn người sản xuất thông qua tiếp xúc với khách hàng mà định hướng cho hoạt động kinh doanh của mình sao cho thu được hiệu quả kinh tế tối đa. Nói một cách chi tiết và đầy đủ hơn thì thị trường du lịch quốc tế là lĩnh vực cụ thể trong lưu thông hàng hoá, dịch vụ du lịch, là tổng hợp các điều kiện thực hiện các sản phẩm hàng hoá đó về kinh tế (gồm các yếu tố nhờ cung cấp giá cả…) kỹ thuật và tâm lý xã hội. Mỗi yếu tố đều có vai trò nhất định trong việc cấu thành thị trường du lịch. Thị trường du lịch quốc tế mang tính độc lập tương đối so với thị trường hàng hoá nói chung vì nó thực hiện dịch vụ hàng hoá của ngành du lịch… Thị trường du lịch quốc tế mang tính độc lập tương đối so với thị trường hàng hoá nói chung vì nó thực hiện dịch vụ hàng hoá của ngành du lịch. Do sản phẩm của du lịch quốc tế không thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác nên trên thị trường không có sự chuyển dịch của hàng hoá khách du lịch muốn tiêu dùng sản phẩm du lịch phải tới nơi có sản phẩm, một số hàng hoá của tiêu dùng và sản xuất chúng diễn ra đồng thời tại một địa điểm. Thị trường du lịch quốc tế cũng như các thị trường hàng hoá thông thường đều chịu chi phối của các qui luật kinh tế như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, qui luật giá cả, nhưng do có những đặc điểm riêng biệt nên thị trường du lịch xuất hiện muộn hơn so với các thị trường hàng hoá khác. Thị trường du lịch là tập hợp của cung, cầu về sản phẩm du lịch (trong đó chủ yếu là dịch vụ) và các mối quan hệ để xác định giá cả giữa chúng. Một đặc điểm tiếp theo của thị trường du lịch quocó tế đó là thị trường du lịch quốc tế chịu sự tác động của các điều kiện kinh tế, điều kiện giao thông, không khí hoà bình ổn định trong nước độ an toàn đối với du khách, tính ổn định của thị trường du lịch bị ảnh hưởng rất lớn bởi các điều kiện trên. Cụ thể là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng châu Á gây suy thoái kinh tế ở nhiều nước châu Á đã làm cho người ta ít đi du lịch nước ngoài hơn. Người châu Âu chỉ thích đi du lịch các nước châu Âu và người châu Á không muốn đi du lịch ở các nước ngoài châu á với lý do tiết kiệm chi phí. Người Mỹ sẽ ít đi cu lịch các nước đạo hồi hơn vì lo ngại tình trạng khủng bố của phong trào Hồi giáo quá khích. Vì lý do đó thị trường du lịch Mỹ la tinh và vùng Caribe sẽ được lời nhờ thu hút được du hách Hoa Kỳ đến thăm do sự thuận tiện về mặt địa lý, tường đồng với văn hoá Mỹ và tình hình chính trị khá ổn định.. 6.2. Kinh nghiệm phát triển hoạt động du lịch quốc tế của một số nước trên thế giới . Du lịch được người ta vĩ như một ngành công nghiệp không khói. Ngành du lịch đã và đang góp phần tích cực trong sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia. Ngành du lịch góp phần tăng thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm, thúc dẩy nhiều ngành kinh tế khác cùng phát triển…Chúng ta có thể tổng hợp một số kinh nghiệm quản lý, kinh doanh du lịch ở một số nước như sau: 1.Coi trọng chiến lược, kế hoạch và các chính sách thúc đẩy phát triển du lịch. Kinh nghiệm của “Cường quốc” du lịch trên thế giới cho thấy, muốn phát triển du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế hàng đầu thì phải đặt nó trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Chiến lược ưu tiên phát triển du lịch phải thông qua một hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ nhằm huy động mọi nguồn lực để thực hiện, đưa du lịch phát triển với tốc độ cao và vững chắc. Hệ thống cơ chế chính sách phải xuất phát từ những đặc trưng của du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hoá cao, mang tính toàn cầu hoá, khu vực hoá. Du lịch càng phát triển thì tính chất xã hội hoá của nó càng cao, sự liên ngành và phạm vi hoạt động của nó càng rộng rãi. Ngoài ra, cơ chế và các chính sách phát triển du lịch phải thích ứng với điều kiện lịch sử, tận dụng được thời cơ và vận dụng ở từng thời điểm. Trong hệ thống chính sách thì chính sách ổn định chính trị, kinh tế trong nước là chính sách cơ bản, quyết định hàng đầu cho việc phát triển du lịch. Chẳng hạn ở Ấn Độ, sự thất bại của “Năm du lịch Ấn Độ 1991” trước hết là do sự bất ổn định của tình hình chính trị và kinh tế trong nước với sự kiện thủ tướng Rajiv Gabdhi bị ám sát, tiếp đến xung đột phe phái, tình trạng lộn xộn ở một số bang, thêm vào đó là hạ tầng cơ sở yếu kém đưa đến hậu quả là một số khách quốc tế tới thăm giảm 30% so với năm trước. Thường thì ở các nước có du lịch phát triển, ngành du lịch được hình thành dựa trên cơ sở tận dụng được những lợi thế so sánh, nhưng thời gian đầu sức mạnh của nó thể hiện nhiều ở vụ thế phát triển chứ chưa ở thực lực. Trên cơ sở xác định như vậy, các nước này cớ sự ưu tiên thúc đẩy du lịch phát triển tạo thế cho ngành du lịch, sau khi đạt đến độ phát triển nhất định, nó sẽ mang lại tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả chính trị, văn hoá xã hội cũng phát triển. Du lịch muốn phát triển phải dựa vào cơ sở nguồn tài nguyên du lịch… Song nguồn tài nguyên ấy, lúc đầu tồn tại phần nhiều ở dạng tiềm năng. Muốn tiềm năng du lịch biến thành khả năng, thành sản phẩm du lịch, nhất thiết phải có sự ưu tiên đầu tư cho nó, bao gồm: đầu tư đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch, ưu tiên cho việc chuyên môn hóa, hiện đại hoá trong ngành du lịch…Đây là những nội dung cơ bản trong việc ưu tiên phát triển ngành du lịch hiện nay. Tổ chức du lịch thế giới, trong một bài báo năm 1987, đã nhận xét Kinh tế du lịch ở một số nước phát triển mạnh, không phải là sự ngẫu nhiên, đột xuất mà do nhà nước đã quan tâm đặt mục tiêu đưa Du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng trong quốc sách của mình. Nước Pháp trở thành một trong những điểm du lịch số một thế giới, năm 1996 thu hút 61,5 triệu lượt khách nước ngoài đến du lịch, phục vụ 230 triệu lượt người pháp đi du lịch các vùng trong nước, tổng thu nhập du lịch chiếm 10% GDP cả nước: du lịch nước Pháp đã tạp ra trên 2 triệu việc làm cho xã hội. Sở dĩ nước Pháp đạt được kết quả như vậy là do từ khâu xây dựng kế hoạch đến chính sách ưu tiên phát triển du lịch đã tập trung vào các mục tiêu rất cụ thể: an toàn du lịch cao, vệ sinh môi trường tốt, chiến lược tiếp thị quảng cáo năng động sản phẩm du lịch đa dạng, chất lượng cao đáp ứng thị hiếu…đủ sức cạnh tranh với các nước châu âu khác như ý, Tây Ban Nha… Du lịch của Inđônêxia có bước iến nhảy vọt trong vòng 10 năm (1895-1995) vì có một số chiến lược phát triển du lịch rất toàn diện,gồm 10 điểm: đẩy mạnh công tác tiếp thị, tăng cườn khuyến mại sản phẩm du lịch ra nước ngoài, giao thông thuận tiện đến cá điểm du lịch, đa dạng hoá sản phẩm du lịch, chú trọng đến phát triển du lịch phù hợp với các đối tượng khách hàng, kiện toàn mối quan hệ giữa ngành du lịch với giao thông vận tải, an ninh quốc gia, giáo dục đào tạo, quản lý lực lượng làm du lịch, khuyến khích tư nhân đầu tư vào phát triển du lịch; phát triển du lịch đồng bộ; giáo dục mọi người dân hiểu rõ tầm quan trọng của du lịch. Nhờ đặt kế hoạch phát triển du lịch trong chiến lược quốc gia nên có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành du lịch với các ngành kinh tế, văn hoá. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng đưa du lịch của Indonexia trong những năm gần đây đạt được những thành tựu đáng kế.Du lịch Indonesia đã đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho quốc gia khoảng 3-4 tỷ USD mỗi năm. Indonesia đã đề ra và đang thực hiện kế hoạch khuyến khích phát triển du lịch 1993-2003 với tên gọi là “Thập kỷ du lịch Indonesia”. Chính sách du lịch được hướng vào thị trường các nước có tiềm năng lớn đặc biệt là Nhật bản, Đài loan, Australia và các nước ASEAN. Singapo cũng có bước tiến dài trên con đường phát triển du lịch. Với nỗ lực của Cục xúc tiến du lịch SANGAPORE(STPB), của các cơ quan hữu quan chính phủ và các doanh nghiệp, Singapore được dự kiến xây dựng thành một thủ đô của du lịch, một bức tranh sinh động và hấp dẫn của ngành công nghiệp trong tương lại không xa. Viễn cành tương lai đó sẽ được thực hiện qua 6 định hướng chiến lược: +Xác định lại vị trí của ngành du lịch. +Phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm. +Phát triển du lịch như một ngành công nghiệp. +Quy hoạch không gian phát triển du lịch. +Hợp tác cùng có lợi. +Phấn đấu xây dựng một cường quốc du lịch. Về tổng thể, 6 định hướng chiến lược đó hình thành một mô hình kiến trúc tầm chiến lược, phác thể để phát triển du lịch trong thế kỷ 21. 2.Chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Bất cứ lĩnh vực nào cũng muốn phát triển đều phải đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật. Đối với du lịch cũng vậy, muốn phát triển, trước hết các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc phải hiện đại. Hiện nay, ở nhiều nước, công nghệ thông tin du lịch đang được ứng dụng phổ biến, như ở Mỹ, lao động trong các cơ sở thông tin du lịch chiếm đến 37% lao động của ngành du lịch, ở Anh chiếm 35%, ở Pháp chiếm 35,1%,ở Đức chiếm 30% Các nước trong vùng Đông nam Á như INDONESIA, trong vòng 10 năm (1985-1994) số lượng du khách quốc tế tăng bình quân 20,5%/năm do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là: Nhà nước trung ương và địa phương đã chú trọng đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ phát triển du lịch. Các nước khác như Singapore, Thái Lan, Malaysia… cũng đều có cả một quá trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vì vậy mà du lịch của họ đạt nhiều kết quả. Trong xây dựng cơ sở vật chất chuyên ngành, ngoài việc chú trọng xây dựng khách sạn phải chú ý xây dựng cơ sở vui chơi, giải trí, các khu du lịch và các quần thể du lịch ( như Trung Hoa Cẩm Tú của Trung Quốc. Trung tâm giải trí ở Cao Nguyên Genting Malaysia, thế giới thiên đàng địa ngục của Singapore…) để giữ khách lưu lại lâu hơn, tăng nguồn thu nhập và tăng khả năng hấp dẫn khách đến nhiều lần. Các nguồn vốn để thực hiện chủ yếu là liên doanh với nước ngoài, vốn vay là huy động trong dân. Để đảm bảo cân đối trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, phải coi trọng công tác quy hoạch là công tác hàng đầu, gắn qui hoạch du lịch với quy hoạch kinh tế xã hội của cả nước và của từng địa phương. Đồng thời với quy hoạch phải lo dự án đầu tư để thực hiện đồng bộ. Malaysia và Singapore có kinh nghiệm về quy hoạch và tổ chức quản lý thực hiện quy hoạch. Ở đây trên cơ sở quy hoạch kinh tế xã hội nói chung, họ tiến hành quy hoạch từng vùng, từng khu vực thường là quy hoạch cả không gian (mô hình) và làm dự án cụ thể. Từ đó mới đề ra chính sách để đầu tư (đấu thầu, cho thuê trọn gói, cổ phần). Do vậy, những khu công nghiệp mới, các thành phố đều gắn với các điểm du lịch. Đam bảo được tính đồng bộ trong quy hoạch xây dựng. Thực tiễn của các nước có Ngành du lịch phát triển lâu năm, cũng như một số nước có ngành du lịch mới phát triển mạnh đều có sự ưu tiên đầu tư cơ sở vật chát kỹ thuật du lịch. Hàn Quốc coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn nên đã đầu tư vào xây dựng khách sạn. Năm 1990, Hàn Quốc có 399 khách sạn lớn với tổng số 4000 buồng, thu hút 2,9 triệu lượt khách nước ngoài, doanh thu từ du lịch 3,43 tỷ USD; năm 1991 đưa thêm 195 khách sạn mới với 18 nghìn buồng vào hoạt động. Malaysia là cường quốc du lịch ở Đông Nam á cũng thực hiện ưu tiên đầu tư rất lớn cho du lịch, tạo ra nhiều bãi biển đẹp, cung cấp nhiều thực phẩm phong phú và các món ăn ngon. Chính phủ Malaysia mạnh dạn đầu tư các khoản tiền lớn vào việc trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, tận dụng địa hình nhiều đảo cùng các danh lam thắng cảnh khác, hoàn thành sân bay mới… Hiện nay, Malaysia có 10nghìn buồng khách sạn, với tốc độ tăng buồng khách sạn hàng năm tới10%. Ở Trung Quốc 10 năm trở lại đây, Nhà nước và chính quyền địa phương các tỉnh, thành phố đều coi trọng đến đầu tư các công viên, nâng cấp giao thông vận tải, thông tin liên lạc đạt chuẩn quốc tế. Hiện nay, Trung Quốc có khoảng 450 nghìn buồng khách sạn với tốc độ tăng trưởng buồng khách sạn trên 5%/năm. 3. Chiến lược sản phẩm du lịch Các nước đều chú trọng thực hiện chiến lược sản phẩm đặc thù, chất lượng tốt, giá thành hạ để nâng cấp sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh. Chiến lược sản phẩm như vậy, đặc biệt là chiến lược sản phẩm du lịch, phu thuộc vào công tác quản lý hệ thống doanh nghiệp đào tạo cơ sở vật chất kỹ thuật. Hệ thống doanh nghiệp du lịch nước ngoài bao gồm các hãng công ty du lịch (lữ hành), doanh nghiệp khách sạn và các doanh nghiệp dịch vụ du lịch khác, hoạt động chuyên môn hoá theo ngành nghề. Trong quản lý doanh nghiệp , kinh nghiệm đáng chú ý của nước ngoài là phân loại doanh nghiệp và phân hạng khách sạn để nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh donah. Trong quá trình hoạt động đã hình thành các hiệp hội du lịch, hiệp hội khách sạn hoặc Hiệp hội hỗn hợp nhiều loại hình doanh nghiệp trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc trên toàn thế giới, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Ví dụ hiệp hội du lịch Hàn Quốc thành lập từ năm 1963, nay có 1939 hội viên (2389 hãng lữ hành, 480 khách sạn) Hiệp hội du lịch Châu Á Thái Bình Dương (PATA) thành lập từ năm 1951 bao gồm các thành viên là 2000 tổ chức lữ hành, 95 cơ quan du lịch quốc gia và dịa phương, 65 hãng hàng không và tàu biển. 557 khách sạn, 434 đại lý du lịch: ngoài ra còn có 1600 hãng lữ hành, khách sạn là thành viên của 79 chi hội thuộc 40 quốc gia trên thế giới… Các quốc gia các địa phương dựa vào những lợi thế so sánh để taọa nên những sản phẩm độc đáo, đa dạng, hấp dấn khách đến du lịch và du khách với các sản phẩm du lịch độc đáo nên đã thu hút số lượng khách ngày một đông. tại Băngkok (Thái Lan) có các cửa hàng mĩên thuế bán các sản phẩm truyền thống giá rẻ, chất lượng cao, các mặt hàng xa xỉ phẩm của các nước nổi tiếng, các loại quần áo hợp mốt của các nhà thiết kế có tên tuổi, nhằm thu hút khách du lịch. Tư tuởng chỉ đạo hoạt động du lịch của Thái Lan là: Luôn tìm cách thoả mãn nhu cầu của khách hàng về vật chất tinh thần và tâm lý. Khẩu hiệu phục vụ khách hàng là gây ấn tượng tốt cho khách hàng ngay từ bước chân đầu tiên đến Thái Lan và làm cho khách hàng hài lòng đến điểm cuối cùng, 80% số người nước ngoài vào Thái Lan chỉ cần ghi tên là xong. 4/Tăng cường tiếp xuc tiếp thị du lịch: Mục đích của xúc tiến là tăng cường quảng cáo trong du lịch nhằm giới thiệu, hình thành, định hướng các sản phẩm du lịch của đất nước đối với du khách, xúc tiến , tuyên truyền quảng cáo là một chi phí nhưng rất cần thiết trong du lịch, hiệu quả rất lớn , khó lượng hóa. Tổ chức du lịch thế giới chẳng những quan tâm đến số thu nhập ngoại tệ do du lịch mang lại, sự tiến bộ của giao thông - vận tải, thông tin liên lạc … mà còn theo dõi sát ngân sách chi cho xúc tiến của các thành viên khuyến khích các nước đẩy mạnh xúc tiến du lịch. Xúc tiến du lịch được các nước rất chú ý, nhà nước tài trợ chi phí rất lớn và cho thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu. Nhiều nước có cơ quan xúc tiến du lịch với các tên gọi khác nhau như: Malaysia, Singapore có cục xúc tiến du lịch, Hàn quốc có Liên doàn du lịch quốc gia. Theo tổ chức Du lịch Thế giới : Ngân sách xúc tiến du lich của các nước hàng năm đều tăng. Ngân sách du lịch của 84 nước là hội viên tổ chức du lịch thế giới vào đầu thập kỷ 80 đã lên tới 2000 triệu USD/năm(2tỷ), 43 nước báo cáo con số cụ thể về tổng ngân sách chi cho xúc tiến năm 1991 là 1,312 tỷ USD , năm 1992 là 1,416 tỷ.Năm 1882, Tây Ban Nha chi 85 triệu USD cho xúc tiến, Pháp 72 triệu, Anh 60 triệu, Úc 51 triệu, Mêhico 34 triệu. Để chuẩn bị cho năm du lịch 1994 cho tuyên truyền quảng cáo; Chính phủ Singapore đã chi 100 triệu USD cho giai đoạn 1996 - 2000 để phát động chiến dịch xây dựng Singapore thành thủ đô du lịch. Theo các nhà phân tích quốc tế thì 1USD bỏ ra cho tuyên truyền quảng cáo du lịch sẽ thu về bình quân 500USD; tuy nhiên tuỳ theo các yếu tố văn hoá, lịch sử, khí hậu, thắng cảnh, dịch vụ… chỉ số này chỉ có sự khác nhau giữa các vùng. Ví dụ vùng Châu Á - Thái Bình Dương nếu có 1USD bỏ ra cho quảng cáo du lịch sẽ chỉ thu được 150 USD nhưng ở Châu Âu lại lên đến 635 USD. Nếu xúc tiến du lịch bị xem nhẹ, lơ là sẽ đưa đến tình trạng kinh doanh giảm sút. Trong vòng 10 năm liên tiếp (1975-1985) nước Pháp có số khách quốc tế đến du lịch đứng hàng thứ hai thế giới ( sau Mỹ). Năm 1985 đạt số lượng cao nhất 28 triệu lượt khách, thu nhập 10,150 tỷ USD. Nhưng 1986 bị tụt xuống cón 9.5 tỷ USD, đứng thứ 4 sau Mỹ, Tây Ban Nha và Italia. Một trong những nguyên ngân chính đưa tới thu nhập giảm sút thu nhập là sự yếu kém trong xúc tiến du lịch. Ngay từ năm 1992, nước Pháp trở lại vị trí hàng đầu, đón 43 triệu lượt khách thu 103 tỷ Frace. Bộ trưởng giao thông, thiết bị, nhà ở và du lịch Pháp đánh giá nguyên nhân thắng lợi đầu tiên là nhờ đẩy mạnh xúc tiến du lịch. Các biện pháp hữu hiệu nhất mà các nước thường sử dụng đó là: + Lập hình ảnh đại diện tại các nước bạn, đó là các đại sứ quán là những khu phố của người trong nước. +Các hội chợ, các thế vận hội… 5. Phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và xã hội, đảm bảo phát triển bền vững. Hầu hết các nước trong quá trình phát triển du lịch đều chú ý bảo vệ môi trường xã hội, tăng cường quản lý, khai thác tính đặc thù của dân tộc . Bởi vậy trong quá trình phát triển du lịch, Việt Nam cần chú trọng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, nét đẹp truyền thống; quản lý môi trường theo pháp luật. Thái Lan hiện đang phải điều chỉnh định hướng phát triển du lịch đã đề ra trong những năm 1980, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và hoạt động Sextour, mà lành mạnh dần hoạt động du lịch. Trong phát triển du lịch hiện nay đặt ra nhiều vấn đề không thể xem nhẹ ô nhiễm môi trường, rác thải, tắc nghẽn giao thông… Giữa du lịch và môi trường có mối quan hệ nhân quả. Du lịch là một ngành rất nhạy cảm với môi trường, chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường ô nhiễm, tác động, hạn chế đến khả năng phát triển . Ở Sip, sau 10 năm vùng thiên nhiên đẹp đã nhất biến mất bởi tiếng ồn ào, huyên náo, của các sàn nhảy disco, khách sạn, nhà hàng… trong công viên quốc gia Ambosdi Kênia các chú báo Gêpa buộc phải thay đổi thời gian săn mồi ban ngày để tránh các đoàn xe chở khách du lịch. Tại Luân Đôn, hè đường được thiết kế xây dựng từ thế kỷ 13 hư hỏng nặng do khách thăm quan du lịch với 17 ngàn người một ngày dẫm lên. II/Khái luận về hiệu quả trong kinh doanh du lịch quốc tế: 1/Khái niệm và nội dung của kinh doanh du lịch quốc tế: Khái niệm về kinh doanh du lịch quốc tế: +Kinh doanh là quá trình tổ chức sản xuất lưu thông mua bán hàng hoá trên thị trường nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế và xã hội. Kinh doanh du lịch cũng như mọi loại hình kinh doanh khác nghĩa là gồm các bước tổ chức sản xuất hàng hoá du lịch ký kết các hợp đồng kinh tế du lịch, tổ chức thực hiện hợp đồng, thanh quyết toán hợp đồng. Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam năm 1999: “kinh doanh du lịch là việc thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch hoặc thực hiện dịch vụ du lịch trên thị trường nhằm mục đích sinh lời” Tuy du lịch đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng kinh doanh du lịch ra đời muộn hơn nhiều, mốc đánh dấu là sự thành lập hãng lữ hành Thomas Cook vào giữa thế kỷ XIX và kinh doanh du lịch trên thế giới chỉ thực sự phát triển mạnh vào những năm 50 của thế kỷ XX sau khi kết thúc chiến tranh. Ở Việt Nam sau khi xoá bỏ chế độ hành chính bao cấp, nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự hoạch toán kinh doanh đầy đủ, rõ ràng và sự nghiệp đổi mới đất nước đã có sự khởi sắc (từ năm 1986). Từ đó đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, cũng từ đó mà hoạt động kinh doanh du lịch thực sự phát triển, từ sau năm 1990 năm du lịch Việt Nam. Hiện nay, ngành du lịch nước ta đã có một cơ sở vật chất gồm hàng nghìn khách sạn hàng trăm công ty du lịch, các dịch vụ du lịch ngày càng phong phú và đa dạng nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp đủ để đón và phục vụ hàng triệu khách du lịch quốc tế một năm. 2. khái niệm về hiệu quả kinh doanh. 2.1 Khái niệm Hiệu quả theo quan điểm của lý thuyết hệ thống là một phạm trù phản ánh yêu cầu các quy luật tiết kiệm thời gian. Quy luật này hoạt động theo nhiều phương thức sản xuất xã hội, vì vậy phạm trù này cũng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất xã hội. Vì vậy phạm trù này cũng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất xã hội. Ở đâu và lúc nào, con người cũng muốn hoạt động hiệu quả nhất. Trong phân tích kinh tế, hiệu quả kinh tế được phản ánh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế - kỹ thuật được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa nguồn lực đầu ra và nguồn lực đầu vào của hệ thống sản xuất xã hội, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực và tạo ra các lợi ích nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội. Hiệu quả kinh tế được hiểu là trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được kết quả kinh doanh cao nhất với chi phí thấp nhất. Khác với các ngành kinh tế quốc dân khác khi nói tới hiệu quả du lịch ta phải xét trên cả hai mặt hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả xã hội thể hiện ý chí góp phần bảo vệ xã hội, tăng cường sức khoẻ cho người dân lao động từ đó tăng tuổi thọ và khả năng làm việc cho nhân dân. Hiệu quả xã hội của du lịch còn thể hiện ở mức đóng góp xã hội, khả năng làm việc của dân cư vùng du lịch, nâng cao hiểu biết về xã hội, mức độ bảo vệ tài nguyên môi trường. Hiệu quả kinh tế: thể hiện ở mức độ tận dụng các yếu tố sản xuất và các tài nguyên du lịch trong khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ra một khối lượng hàng hóa và dịch vụ có chất lượng cao để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch và chi phí ít nhất và nhằm bảo vệ môi trường. Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường, hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan kết quả sản xuất và chi phí sản xuất. Còn đối với hoạt động kinh doanh du lịch, tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế được thực hiện qua mục tiêu đảm bảo thu nhập( bằng cả ngoại tệ và bản tệ) cao nhất với chi phí lao động sống và lao động vật hoá thấp nhất (Trong điều kiện kinh tế có lợi nhuận cho ngành và cho nền kinh tế quốc dân. 2.2 Phân loại hiệu quả kinh doanh du lịch quốc tế. Tuỳ thuộc vào nội dung và mục đích nghiên cứu khác nhau người ta phân hiệu quả du lịch quốc tế thành các loại khác nhau. +Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. +Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài. Hiệu quả trước mắt đánh giá hiệu quả phục vụ với một lượng khách du lịch nhất định trong một thời gian nhất định( thường dưới 1 năm) và thu về một số ngoại tệ (hay bản lề) lớn hơn chi phí bỏ ra. Chỉ tiêu này thường áp dụng cho các nhà doanh nghiệp có khả năng phục vụ thấp, thu hồi vốn nhanh và hoạt động không ổn định. Hiệu quả lâu dài: Cũng như hiệu quả trước mắt song được xác định trong một thời gian dài hơn (thường trên một năm). Chỉ tiêu này áp dụng cho doanh nghiệp có quy mô lớn, hoạt động ổn định và có khả năng mở rộng thị trường. + Hiệu quả tổng thể và hiệu quả bộ phận. Hiệu quả bộ phận: Là hiệu quả được xác định trên từng thị trường khách mà công ty phục vụ trong tổng thể các thị trường. Hiệu quả tổng thể: là tổng thể các hiệu quả bộ phận, là hiệu quả được tính cho toàn bộ hệ thống. Sự cần thiết của việc đánh giá hiệu quả kinh tế trong kinh doanh du lịch quốc tế Với mọi ngành kinh tế quốc dân thì việc nâng cao được hiệu quả kinh tế đều là vấn đề được đánh giá cao. Do việc đánh giá được hiệu quả kinh tế sẽ xác định được độ tăng trưởng của ngành cũng như có các chính sách điều chỉnh kịp thời làm tăng hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh tế cao chứng tỏ mức đầu tư có lợi, tránh lãng phí vốn và các tiềm lực khác… Đạt được hiệu quả kinh doanh cũng chứng tỏ một bước phát triển mới của ngành kinh tế quốc dân. Khi đánh giá được hiệu quả kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá hiện nay. Đó là một trong những con đường tốt nhất để tiết kiệm chi phí nhưng đạt hiệu quả cao nhất. Hơn nữa, việc đánh giá đúng và có những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh sẽ làm Việt Nam tiết kiệm thời gian đuổi kịp các nước trong khu vực vì tận dụng được vốn một cách có hiệu quả nhất. Tất cả các công cuộc đổi mới chỉ có ý nghĩa khi và chỉ khi nó đạt hiệu quả cao nhất và hoàn thành kịp tốc độ phát triển của các nước. Hiệu quả kinh doanh cũng thể hiện một phần chất lượng trong công tác quản lý đồng bộ dẫn tới tạo nên một nền kinh tế phát triển. Với hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế, hiệu quả kinh doanh chứng tỏ hiệu quả quản lý, tổ chức xây dựng các chiến lược phát triển du lịch của đất nước đó cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp du lịch trong nước. Du lịch quốc tế phát triển sẽ giúp cho cả các ngành khác phát triển như giao thông vận tải, thông tin liên lạc, sản phẩm dịch vụ … Hơn nữa nó tạo được sức lan toả của đất nước ra thế giới. Nó sẽ góp phần làm cân bằng hơn cán cân tiền tệ bằng việc thu ngoại tệ vào trong nước thông qua các sản phẩm dịch vụ du lịch. Nó góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người trong nước do phần lớn các dịch vụ sản xuất trong nước đều là những sản phẩm tự có riêng từng vùng để tạo sự khác biệt trong từng nước nên nguồn lao động chưa được đào tạo cũng được sử dụng. Do vậy đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngành du lịch quốc tế là cần thiết và thiết thực với sự phát triển xã hội và kinh tế trong nước nhất là các nước đang phát triển như nuớc ta. Chương II THỰC TRẠNG SỰ LIÊN HỆ GIỮA SẢN PHÂM DỊCH VỤ VÀ KINH DOANH DU LỊCH I/Những số liệu thể hiện hiệu quả của ngành du lịch Việt Nam: Những năm gần đây số người nước ngoài vào Việt Nam tăng cao với số lượng ngày càng lớn. Có thể đưa ra một vài số liệu như sau: Số dự án vốn FDI đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đối với ngành du lịch tính từ năm 1988 đến năm 2006 là 164 dự án chiếm 2,64% số dự án được đầu tư nhưng số vốn đầu tư đã là 3289 tỷ USD chiếm 5.09% tổng số vốn đầu tư cho các ngành trong nước. Thêm nữa số vốn đầu tư thực hiện đạt 2,317 tỷ USD chiếm tỷ trọng 8.05 chỉ thua các ngành công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên đây là các ngành đặc thù nên nếu xét trên phương diện sử dụng đồng vốn một cách có hiệu quả thì ngành này cũng đứng ở vị trí cao. Xét qua khía cạnh lượng khách tham quan ta sẽ thấy rõ hơn vấn đề này. Năm 2006 số lượng khách đến vì mục đích du lịch là 2.068.875 người số người đến với việt nam với mục đích khác là 1.514.611 người. Như vậy tổng số lượng khách du lịch đạt 3.583.486. Năm 2007 lượng khách du lịch quốc tế tăng ước đạt 4,2 triệu lượt người tăng17,2 % so với năm 2006 và thu nhập do du lịch tạo ra là 56 nghìn tỷ đồng gấp 9.8% so với năm 2006. Và riêng hai tháng đầu năm 2008 khách du lịch đến Việt Nam tăng 15% so với cùng kỳ năm 2007. Cũng trong 2 tháng đầu năm nhiều hội chợ triển lãm và công tác xúc tiến quảng bá du lịch được triển khai rộng khắp ở các thành phố lớn như: Năm du lịch quốc gia Mekong - Cần thơ tại thành phố Cần Thơ; chương trình Du lịch về cội nguồn năm 2008 tại Yên Bái, Phú Thọ; khai hội Yên Tử ở Quảng Ninh và khai hội chùa Hương ở Hà Tây. Về mặt giá cả, đại diện một số công ty du lịch ở Hà Nội cho biết mặc dù giá tour tăng 20% song lượng khách đi tour mùa lễ hội vẫn không giảm, thậm chí còn tăng 10% so với năm ngoái. Yên Tử, Chùa Hương là một trong những danh lam thắng cảnh thu hút đông đảo du khách trong cả nước. Các doanh nghiệp du lịch đều có cố gắng tăng cường phục vụ khách du lịch như thúc đẩy chương trình dịch vụ du lịch, mở rộng mạng lưới các điểm mua sắm, ăn uống đạt chuẩn du lịch, hoàn chỉnh chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành du lịch với đề tài Chương trình quảng bá xúc tiến du lịch và Chương trình liên kết hợp tác phát triển du lịch với các tỉnh thành bạn. Tất cả các số liệu và chính sách trên thể hiện một bước phát triển lớn trong ngành du lịch Việt Nam. Thể hiện một bước đi mới trong con người việt trong quá trình hội nhập. Nó cũng thể hiện chính phủ Việt Nam bước đầu đã đáng giá đúng tầm quan trọng của du lịch quốc tế trong quá trình phát triển đất nước . ­ Những thay đổi của Việt Nam sau khi vào WTO: Sau khi vào WTO chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều cam kết có lợi nhằm phát triển ngành du lịch nước nhà cụ thể là các cam kết sau: - Phần lớn các điều khoản đều hướng tới việc mở cửa thị trường gồm dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụ điều hành tour du lịch tuy nhiên không cam kết trong mục hướng dẫn viên du lịch. - Đối với dịch vụ lữ hành và điều hành tour du lịch Việt Nam chỉ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thành lập liên doanh đối với đối tác Việt Nam, không hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh. Đối xử quốc gia: Việt Nam không hạn chế ngoại trừ hướng dẫn Viên du lịch trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải là người Việt Nam. - Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép cung cấp dịch vụ Inbound và lữ hành nội địa đối với khách vào du lịch Việt Nam như một phần của du lịch đưa khách vào du lịch Việt Nam . ­ Một số lưu ý: +Mở cửa thị trường: - Không cho phép doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài( phù hợp với Điều 51 luật du lịch) - Không hạn chế vốn nước ngoài trong liên doanh (Luật du lịch Việt Nam-2005 chưa có) - Chưa cam kết cho phép thành lập chi nhánh (Điều 42 Luật Du Lịch) - Không hạn chế đối tác Việt Nam trong liên doanh (Điều 51 Luật Du Lịch) + Đối xử quốc gia: - Không cam kết cho phép doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cung cấp dịch vụ Outbound. Như vậy Việt Nam cũng đã có một số thay đổi để mở cửa thị trường du lịch với vốn đầu tư nước ngoài. Điều này không những mở cửa được thị trường trong nước mà còn mở rộng thị trường vốn. Điều này sẽ giúp ích rất nhiều đối với tình trạng khan hiếm vốn của nước ta hiện nay. Như vậy thông qua phần tìm hiểu một vài nét về các thành tựu đạt được của Việt Nam về du lịch quốc tế ta có thể thấy rằng du lịch quốc tế là một lĩnh vực khai thác tiềm năng và đang được khai quật. Tuy vậy nó vẫn có những hạn chế nhất định trong quá trình thực hiện cụ thể là những vấn đề sau: - Chưa phát huy được hết khả năng tiềm tàng của ngành du lịch. - Hiện tượng người nước ngoài sau khi đến Việt Nam một lần mà không quy trở lại.Theo thống kê 80% số khách nước ngoài không quay lại Việt Nam. - Vẫn có những khâu gây ấn tượng xấu trong lòng khách nước ngoài khi tham gia du lịch tại Việt Nam. - Chưa có một sự thống nhất giữa những dịch vụ khác nhau trong một khu vực. Điều này gây ra hiện tượng dịch vụ vừa thừa vừa thiếu chưa đáp ứng được hết nhu cầu của khách du lịch. Có những vấn đề trên là do những hạn chế của ngành du lịch cụ thể là: Hạn chế về khách quan: 1. Tình hình cơ sở hạ tầng trong nước còn chưa phát triển: Đây là vấn đề gây bức xúc cho khách du lịch nước ngoài khi đến Việt Nam. Tình hình đường xá chưa được đảm bảo khiến cho khách nước ngoài trở nên e ngại khi đến du lịch Việt Nam. Hơn nữa tắc đường thường xuyên xảy ra gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý người nước ngoài sợ quay trở lại Việt Nam trong thời gian ngắn. Khách sạn ở một vài nơi chưa đáp ứng được hết nhu cầu của khách du lịch trong mùa đông đúc. Điều này gây ra một vài tình trạng bất ổn như vốn đầu tư thường xuyên giót vào những khu du lịch lớn mà chưa đáp ứng được hết nhu cầu du lịch của cả nước khiến lãng phí vốn trong tình trạng nơi thừa nơi thiếu. Như tại miền trung,thực tế có rất nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, nhất là các khu đô thị và khu du lịch sinh thái biển rừng gắn với các di sản văn hoá thế giới trong và ngoài nước. Nhiều di sản nổi tiếng trong khu vực như rừng quốc gia, Phong Nha - Kẻ Bàng, cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình huế, phố cổ Hội An, khu di tích Mỹ Sơn. Đà Nẵng cũng là nơi duy nhất có bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Champa được xây dựng từ năm 1915… Thế nhưng, thực tế là du khách đến với miền trung còn rất ít, chỉ vì hệ thống giao thông chưa thuận lợi, các chuyến bay đến Đà Nẵng còn hạn chế, các khách sạn chưa đủ chuẩn cao cấp quốc tế…Chỉ riêng đợt cao điểm kỷ niệm 33 năm ngày giải phóng Đà Nẵng mà rất nhiều người muốn đến tham quan nghỉ dưỡng không thể nào đăng ký được chuyến bay, hoặc tìm khách sạn rất khó khăn. Ông Trần Minh Cả, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng đã lưu ý các nhà đầu tư quan tâm đến tình hình du lịch của Quảng Nam. Trong thời gian qua, tỉnh cũng đã có những cố gắng giữ chân khách, nói nôm na là làm sao “moi tiền của du khách”. “Tuy nhiên, thực trạng hiện nay, du khách đến Quảng Nam chưa biết chi tiền vào đâu vì không có gì để mà chi”, ông Cả nói. Bởi vì trung tâm phát triển nhất khu vực miền Trung là Quảng Nam, có sân bay Đà Nẵng, là sân bay quốc tế nhưng các chuyến bay thẳng quốc tế đến đây hầu như chưa có. Các chuyến bay từ hai đầu đất nước là TPHCM và Hà Nội đến Đà Nẵng cũng chưa phong phú. Ông Cả cho biết, tính toán cho thấy cứ 4 du khách đến Việt Nam thì chỉ có 1 du khách đến miền Trung. Vấn đề là dù có 2 khách đến miền Trung chăng nữa thì hạ tầng cũng chưa đủ để đáp ứng. Thời gian lưu trú của du khách, theo khảo sát cũng chỉ cao nhất là 2 ngày, vì họ không biết làm gì, chơi gì, mua sắm gì. Hạn chế chủ quan: 2. Chưa hoàn thiện trong công tác quản lý và để tình trạng nhận thức người trong nước chưa cao: Khi được hỏi một người nước ngoài đến Việt Nam họ thấy như thế nào về con người Việt Nam (ưu tiên hỏi những người không đi theo tour mà đi tự túc do họ đi nhiều nơi hơn và có những đánh giá sát hơn do họ làm trực tiếp mọi khâu) thì có một vài người trả lời rằng người Việt Nam chưa thân thiện cứ nhìn thấy họ là nghĩ kiếm được tiền. Cảnh tượng người dân ở hai bờ bến đục bến trong (chùa hương) xin tiền boa của du khách nước ngoài đã trở nên phổ biến như một cảnh tượng tự nhiên diễn ra thậm chí còn chê đắt rẻ với khách nước ngoài. Điều này gây ra một sự phản cảm hết sức với người nước ngoài và khi họ đem những hình ảnh đó về nước truyền bá lại họ sẽ nghĩ sao về Việt Nam? Hay tại Đà Nẵng những người khách nước ngoài ở đây luôn luôn phải chịu sự quấy rầy của cò mồi từ đi xe ôm đến gánh hàng rong. Thật sự đó chỉ là những con sâu làm rầu nồi canh trong du lịch tại Việt Nam thế nhưng nó lại khiến cho hình ảnh của du lịch Việt Nam với thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng.Vẫn biết có thể người nước ngoài chi rộng rãi hơn người Việt Nam nhưng nếu cứ để tình trạng này về lâu về dài sẽ khiến cho cái nhìn thiếu thiện cảm của người nước ngoài với Việt Nam càng tăng ảnh hưởng xấu đến thị trường du lịch chung của cả nước. 3. Chưa phát huy được hết thị trường trong cả nước Phần lớn các tua du lịch trong nước của các công ty trong nước đều có lịch trình như nhau và có cùng một cách thể hiện như nhau chỉ khác biệt đôi chút về giá. Điều này làm mất đi tính đa dạng trong nền du lịch Việt Nam và chưa phát huy được hết lợi thế cạnh tranh của ngành du lịch trong nước với thế giới. Các công ty du lịch không chủ động tạo ra được những nét khác biệt dựa trên ưu thế của từng vùng du lịch như miền biển chỉ có các dịch vụ như tham quan làng chài, tắm biển, các dịch vụ mua sắm và đi đảo. Thế nhưng những ưu thế khác của các vùng biển như người dân miền biển, khí hậu của các vùng biển thì các trung tâm du lịch chưa khai thác hết được. Điều này gây ra sự lãng phí không khai thác đượ chết các tiềm năng tự có của ngành du lịch các vùng. 4. Chưa có chính sách liên kết các dịch vụ tại từng địa phương Các dịch vụ du lịch của từng địa phương còn rời rạc mà chưa có sự đồng bộ hoá. Như khi khách nước ngoài đến Việt Nam họ không chỉ cần nơi ăn ở, phương tiện đi lại và các dịch vụ du lịch trong nước mà còn cần các dịch vụ liên quan đến cá nhân như dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, y tế…. 5. Chưa có sự quy hoạch đồng bộ gây tổn hại đến các di tích ảnh hưởng đến doanh thu lâu dài của ngành du lịch: Khi phát triển nền du lịch trong nước, nước ta đã mắc phải hiện tượng chạy theo lợi nhuận trước mắt mà không để ý đến hậu quả lâu dài. Kết quả là hàng loạt những khách sạn, nhà nghỉ và các vùng nhà dân mở ra gây ảnh hưởng đến phong cảnh của khu du lịch. Như vùng núi Tam đảo chỉ sau một thời gian ngắn, nhà dân đã khiến cho vùng núi trở nên nhộn nhịp nhưng lại mất đi vẻ tự nhiên của vùng núi ấy. Có một vài khách du lịch khi được phỏng vấn đã chỉ cho em xem cảnh tượng trong sách hướng dẫn du lịch và hình ảnh họ chụp được ở nơi đến là hai cảnh tượng khác nhau rất xa. Như vậy Việt Nam đang đi trên con đường hội nhập và phát triển, những thành công trong lãnh vực du lịch trong nước hết sức phát triển tuy nhiên vẫn còn những hạn chế không tránh khỏi. Điều này sẽ khiến cho Việt Nam có một cái nhìn toàn diện hơn trong chặng đường phát triển của mình. Về phần em là một sinh viên của trường Kinh Tế Quốc Dân em chỉ có thể nêu ra một số giải pháp mang tính vĩ mô giúp cho ngành du lịch Việt Nam thoát khỏi một số hạn chế đã nêu ở trên. CHƯƠNG III Một số giải pháp đưa ra một hệ thống hỗ trợ hoàn chỉnh ª Về phần trong nước: 1. Nâng cao tinh thần của người dân với khách quốc tế và ngành du lịch trong nước; - Thực hiện những biện pháp quảng bá cho du lịch Việt Nam cho những người dân ở vùng du lịch cho họ thấy được tầm quan trọng của việc tôn trọng và phục vụ khách nước ngoài ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước. - Các công ty du lịch nên có biện pháp liên kết những người dân ở từng vùng tạo nên những nét đặc trưng của sản phẩm du lịch vừa khiến cho người dân kiếm thêm thu nhập vừa làm giảm chi phí như việc tại vùng biển có những người dân tạo những chiếc thuyền con cho trẻ em chơi và có rất nhiều trẻ em bỏ học ngày chỉ giúp đỡ bố mẹ công việc rỗi không.Nếu biết tận dụng cả hai nguồn này thì việc kiếm thêm thu nhập và giảm chi phí giới thiệu các làng chài là điều có thể làm được. - Có những biện pháp quản lý hiệu quả khi đưa khách nước ngoài du lịch như thuê những sinh viên hoặc những người tình nguyện đi bảo vệ cho khách du lịch khỏi sự lôi kéo của những người dân thiếu ý thức. 2. Có những biện pháp hỗ trợ cho người nước ngoài tại Việt Nam: Không ai hiểu Việt Nam hơn người Việt Nam nên việc giải quyết các vấn đề liên quan đến cơ sở hạ tầng có thể đưa ra cho những người trong nước giải quyết. Như việc thiếu các cơ sở hạ tầng nên kêu gọi vốn đầu tư từ nước ngoài hay ngay trong nhân dân, mở rộng chính sách đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực du lịch. Hay trong việc tắc đường có thể lập một trang web hướng dẫn đi đường cho người nước ngoài. Không chỉ là những chỉ dẫn bình thường như muốn đến A thì đi đến qua đường nào mà trang web này tập hợp những con đường hay tắc vào những thời gian nhất định, từ đó đưa ra con đường đi tốt nhất cho du khách. Hoàn thiện hệ thống dịch vụ cho người nước ngoài tại Việt Nam như việc các công ty du lịch có thể liên kết với các trung tâm dịch vụ trong lĩnh vực đào tạo, liên kết. Tại Việt Nam chưa có một hệ thống hoàn chỉnh trong vấn đề này. Việc một người nước ngoài yêu cầu một người giúp việc nhà thường khiến cho các trung tâm trở nên bối rối. Các trung tâm dịch vụ nên suy nghĩ mở thêm các dịch vụ cho người nước ngoài đổi mới hệ thống dịch vụ để tạo ra sự khác biệt cho mỗi lần khách đến Việt Nam. ª Ngoài nước: Mở rộng marketing ra ngoài nước: - Trước khi khách về nước nên để lại những ấn tượng tốt đẹp về những ấn tượng tốt của khách với Việt Nam và nhờ chính khách hàng quảng bá cho dịch vụ du lịch trong nước.không ai hiểu rõ hơn những sản phẩm dịch vụ hơn những người khi họ đã dùng rồi. - Marketing hiệu quả ra bên ngoài nước dùng các phương tiện thông tin đại chúng. Phụ lục: Các tài liệu đã sử dụng: Chuyên đề luận văn: Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh du lịch quốc tế tại công ty du lịch và tư vấn đầu tư quốc tế. 1. Marketing - Ngô Minh Cách, Phạm Minh Thắng - NXB Thống kê 1994 2. Giáo trình kinh doanh quốc tế-PTS ĐỖ ĐỨC BÌNH - NXB Giáo dục1997 3. Giáo trình kinh tế du lịch – Khoa du lịch khách sạn ĐHKTQD 4. Trang web của tổng cục du lịch Việt Nam 5. Trang web của bộ kế hoạch và đầu tư Việt Nam. 6. Trang web của nhà nước chính phủ Việt Nam 7. DU lịch và kinh doanh du lịch.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc33069.doc
Tài liệu liên quan