Đồ án Chất lượng giáo dục Đại học hiện tại ở Việt Nam. Thực trạng và những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học

Trong thời gian gần đây, nhiều người đã bày tỏ lo ngại về tình trạng giáo dục nói chung và giáo dục Đại học nói riêng. Lo ngại rằng Việt Nam đang đứng trước tình trạng tụt hậu so với nước ngoài, mặc dù đã sau hơn 30 năm thống nhất đất nước. Phải thừa nhận rằng, để tình trạng giáo dục Đại học như hiện nay là do lỗi của cả một hệ thống, cần phải có thời gian để khắc phục. Việc khắc phục này không phải chỉ trong một sớm một chiều.Nếu chúng ta quá vội vàng thì không thể có những bước đi đúng đắn để đưa nền giáo dục nói chung và giáo dục Đại học nói riêng đi đúng quỹ đạo mà các nước tiên tiến, phát triển đang tiến bước . Trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay việc các trường Đại học chuyển mình là rất quan trọng. Nhất là khi chúng ta ra nhập tổ chức thương mại Thế giới. Trong bối cảnh này có thể nói giáo dục Đại học đang đứng trước một “sân chơi” lớn. Một “sân chơi” đầy sống động mà có thêm một nhân vật mới nữa là “thị trường”.Do vậy như lời của GS Piere Dariulat: “ Đối với giáo dục Đại học của Việt Nam cần phải có một cuộc cách mạng, không đơn giản chỉ là những bước cải tổ nhỏ dần dần, từng bước như chúng ta vẫn đang làm” Với chút hiểu biết của mình và cũng đóng vai trò là người trong cuộc. Trên đây em đã nêu ra thực trạng và một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học. Bài viết này có sử dụng một số tài liệu và bài viết của GS.TS Nguyễn Đình Phan cùng với một số trang báo điện tử khác. Em xin cảm ơn GS.TS Nguyễn Đình Phan đã hướng dẫn và giúp đỡ em để hoàn thành đề án môn học này.

doc25 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 1422 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đồ án Chất lượng giáo dục Đại học hiện tại ở Việt Nam. Thực trạng và những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mục lục A-Lời mở đầu Hiện nay, khi mà nền kinh tế phát triển nhu cầu một xã hội có nền tri thức cao đang dần trở nên quan trọng. Không còn là mới mẻ khi nhắc đến cụm từ phổ cập giáo dục Đại học so với nhiều nước trên thế giới. Nhưng ở nước ta hiên nay giáo dục Đại học vẫn là vấn đề còn nhiều bất cập. Trong những năm gần đây đời sống của người dân được nâng cao, nhu cầu học tập nói chung và học Đại học nói riêng của thế hệ trẻ ngày càng tăng cao. Số lượng các trường Đại học cũng tăng cao kéo theo đó là số lượng người đi học Đại học cũng không ngừng gia tăng . Đó là những dấu hiệu đáng mừng tuy nhiên phải đau lòng khi nói rằng hiện nay giáo dục của nước ta chỉ mới là phát triển về số lượng nhưng còn chưa chú trọng đến chất lượng. Chất lượng giáo dục đại học là vấn đề được xã hội quan tâm nhất hiện nay. Đặc biệt, khi nước ta gia nhập WTO cạnh tranh về nguồn nhân lực là rất lớn. Nếu không có bước chuyển mình nâng cao chất lượng giáo dục thì nguồn nhân lực nước ta khó có thể cạnh tranh được với các nguồn nhân lực của các nước khác. Và thực trạng sinh viên gia trường không làm đúng chuyên ngành vẫn sẽ mãi là bài toán khó giải không chỉ riêng của một cấp nào. Là một sinh viên năm cuối của một trường Đại hoc. Cũng có thể nói là một người trong cuộc, người chịu ảnh hưởng của nền giáo dục hiện tại. Em cảm nhận được tầm quan trọng của chất lượng giáo dục Đại học và cũng có rất nhiều suy nghĩ về vấn đề này. Do vậy em quyết định chọn đề tài: “Chất lượng giáo dục Đại học hiện tại ở Việt Nam. Thực trạng và những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học” làm đề án môn học. Hy vọng sẽ có được cái nhìn toàn diện và góp phần nhỏ bé của mình trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học nước nhà. Và em cũng xin chân thành cảm ơn thầy GS.TS Nguyễn Đình Phan đã giúp đỡ em hoàn thành đề án môn học này. B- Nội dung chính I) Chất lượng giáo dục Đại học, các tiêu chuẩn đánh giá và vai trò của giáo dục Đại học 1.Chất lượng giáo dục Đại học Quyết định 38/2004/QD-BGD và ĐT 2/12/2004 xác định: “ Chất lượng giáo dục Đại học là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của trường Đại học”. Ta cũng có thể hiểu chất lượng giáo dục Đại học là: Mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng nhu cầu xã hội, các đặc tính vốn có là phẩm chất đạo đức, sức khỏe, kiến thức, phương pháp, kỹ năng nghề nghiệp của sinh viên ra trường. Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 2.Các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Đại học Để đánh giá chất lượng giáo dục Đại học người ta cũng có các tiêu chuẩn và các tiêu chí riêng. Cụ thể là ta xem xét dựa trên 10 tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng giáo dục Đại học. Đó là các tiêu chuẩn: Sứ mạng và mục tiêu của các trường Đại học. Tổ chức và quản lý. Chương trình đào tạo. Các hoạt động đào tạo. Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên. Sinh viên. Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Hoạt động hợp tác Quốc tế. Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác. Tài chính và quản lý tài chính. 3. Vai trò Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Nó nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và phát triển nhân tài. Đào tạo ra những con người có phẩm chất đạo đức, có sức khoẻ, có kiến thức, phương pháp, kỹ năng lành nghề khi ra trường. Đáp ứng được các nhu cầu của xã hội và các yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. II) Thực trạng của chất lượng giáo dục Đại học ở Việt Nam 1. Những thành tựu đạt được Giáo dục Đại học của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã có rất nhiều cố gắng, đặc biệt trong 20 năm đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam đề xướng và lãnh đạo. Đánh giá về những thành tựu của giáo dục và đào tạo trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc làn thứ X đã khẳng định “Giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn. Cơ sở vật chất được tăng cường, quy mô đào tạo được mở rộng”. Trong những thành tựu chung của ngành giáo dục và đào tạo, giáo dục Đại học có những tiến bộ rõ nét: Quy mô phát triển mạnh mẽ, ngành nghề đào tạo đa dạng. Chất lượng không ngừng được nâng lên. Tính đến cuối năm 2006 cả nước đã có 311 trường Đại học, cao đẳng và được phân bố khắp mọi miền đất nước. Ngoài những trường Đại học truyền thống được thành lập ở các đô thị lớn, những năm gần đây hầu như tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước( kể cả các tỉnh miền núi) đều có trường Đại học, cao đẳng. Đầu năm học 2006-2007 cả nước đã có hơn 5 triệu sinh viên Đại học, cao đẳng. Đặc biệt trong nhiều thập kỉ qua nhiều mô hình trường mới trong đào tạo Đại học như trường dân lập, trường tư thục, trường Đại học trực thuộc địa phương, cao đẳng cộng đồng ra đời và phát triển. Giáo dục đại học đã đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho giai đoạn vừa qua. Giai đoạn khởi đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Đáp ứng phần lớn nhu cầu học tập của nhân dân. Trong những năm đổi mới vừa qua, cơ cấu tổ chức của các trường Đại học Việt Nam đã có sự biến đổi theo hướng tiến bộ và đạt được một số thành tích chủ yếu sau: Cơ cấu tổ chức của các trưòng Đại học phát triển theo hướng thực hiện khá tốt các chức năng của trường và đa dạng hoá, đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo .Nhiều trường Đại học đang phấn đấu từ trường đơn ngành trở thành trường đa ngành, nhiều trường đã thành lập và đưa vào hoạt động có hiệu quả các viện các trung tâm nghiên cứu khoa học, tư vấn, chuyển giao công nghệ, nhiều trường đẩy mạnh hoạt động của bộ phận khảo thí, thanh tra giáo dục. Cơ cấu tổ chức bắt đầu chuyển đổi từ chỗ theo mô hình của cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang mô hình theo cơ chế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa . Trong rất nhiều năm, cơ cấu tổ chức của trường Đại học được tổ chức theo mô hình kế hoạch hoá tập chung mà đặc trưng chủ yếu của nó là: trường đơn ngành, tập chung bao cấp từ nhà nước, trường không có quyền tự chủ, bộ giao chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu tuyển sinh cũng như tổ chức thi tuyển sinh, quy định mức học phí…Nhưng trong những năm đổi mới vừa qua, trường đã bắt đầu thực hiện mô hình chuyển đổi theo cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa mà đặc trưng chủ yếu của nó là: Tổ chức trường theo hướng đa ngành để đáp ứng nhu cầu xã hội, được giao một số quyền tự chủ về tổ chức nhân sự, về nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học Cơ cấu tổ chức của trường được hình thành và thực hiện theo quy trình hợp lý và theo đúng văn bản pháp quy.Quy trình hợp lý đó là sự bổ nhiệm của cơ quan quản lý đối với cán bộ quản lý được thực hiện dựa trên cơ sở lấy phiếu tín nhiệm của cán bộ công nhân viên và thông qua cấp uỷ Như vậy cơ chế quản lý là yếu tố quyết định cơ cấu tổ chức của trường, ngược lại cơ cấu tổ chức của trường tác động mạnh mẽ tới cơ chế quản lý của trường và cơ chế quản lý giáo dục Đại học. 2. Những tồn tại của chất lượng giáo dục Đại học và nguyên nhân Bước vào giai đoạn mới của sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới WTO, những đòi hỏi đối với đào tạo rất lớn. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X một lần nữa khẳng định: “ Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước”. Văn kiện Đại hội còn chỉ rõ: “ Đổi mới hệ thống giáo dục Đại học và sau Đại học, gắn đào tạo với sử dụng, trực tiếp phục vụ chuyển đổi cơ cấu lao động, phát triển nhánh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành”. Những yêu cầu trên mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề cập cũng chính là những bức xúc trong giáo dục Đại học ở nước ta hiện nay. Chất lượng đào tạo toàn diện nhìn chung còn thấp, chưa đảm bảo được nguồn nhân lực kỹ thuật cho sự phát triển với tốc độ cao như hiện nay. Theo ý kiến đánh giá của các nhà quản lý giáo dục và đào tạo, các chuyên gia trong và ngoài nước về giáo dục đào tạo đại học chưa đạt yêu cầu có nhiều nguyên nhân. Đó là các nguyên nhân như chương trình đào tạo, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất kỹ thuật… Trong bài viết này em muốn nêu lên mặt yếu của chất lượng giáo dục Đại hoc và phân tích theo các tiêu chí sau: Chương trình đào tạo và các môn học ở bậc Đại học Chương trình đào tạo và các môn học ở bậc Đại học quá cồng kềnh.Có quá nhiều môn học( hơn 200 đơn vị học trình). Trong khi đó, thông thường các trường Đại học trên thế giới chỉ yêu cầu sinh viên tiếp thu khoảng 120 tín chỉ mà thôi.Có quá nhiều môn học bắt buộc và ít môn tự chọn. Nội dung của các môn học và chương trình đào tạo chưa được cập nhật. Chưa sát nhập với thực tế. Nhiều môn thậm chí còn không liên quan tới ngành học. Chương trình đào tạo lại mang tính duy nhất làm cho sinh viên không thể chuyển sang ngành khác sau khi đã đăng ký học một chương trình đào tạo. Tức là thiếu đi sự linh hoạt trong việc chuyển đổi giữa các ngành đào tạo. Các môn học và chương trình đào tạo không xây dựng dựa trên những kết quả học tập mong đợi của sinh viên.Sự bất cập về chương trình đã khiến những sinh viên Việt Nam khi ra trường vừa ‘bội thực’ về kiến thức nhưng ‘thiếu vẫn hoàn thiếu’ các kỹ năng thông thường về nghề nghiệp đó là các kỹ năng như: Kỹ năng giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, giao tiếp và viết bằng tiếng Anh, quản lý dự án, tư duy phê phán… Trong những nghiên cứu thực tế những năm gần đây, của nhiều nhà nghiên cứu và trong thực tế sử dụng sinh viên tốt nghiệp các trường Đại hoc, cao đẳng mới tốt nghiệp ra trường cho thấy những bức xúc về vấn đề chất lượng đào tạo. Hàng năm chúng ta cho ra trường với số lượng không nhỏ sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng. Tuy nhiên số sinh viên được bố trí công ăn việc làm đúng chuyên ngành đào tạo lại không nhiều. Rất nhiều người làm việc không dùng đến bằng cấp được đào tạo. Mặc dù có rất nhiều hội chợ việc làm cho sinh viên, thanh niên dược tổ chức nhưng người lao động vẫn không tìm kiếm được việc làm vì không đáp ứng được yêu cầu chất lượng công việc của những nhà sử dụng. Đó là hậu quả của chương trình đào tạo của chúng ta, kể cả chương trình khung do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành. Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ giảng viên Đây là vấn đề nhức nhối và đáng quan tâm.Đội ngũ giảng viên thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng. Giảng viên chưa cập nhật kiến thức chuyên ngành liên quan đến chương trình đào tạo, nội dung môn học, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu . Giảng viên dạy quá nhiều nhưng lương thấp phải làm thêm thiếu thời gian để nâng cao phương pháp giảng dạy cập nhật nôi dung môn học, và thiếu cả thời gian tiếp xúc sinh viên nghiên cứu. Cơ chế thưởng chủ yếu dựa trên thời lượng bài giảng dạy và thâm niên công tác, chưa thực sự khuyến khích giảng viên thực hiên nghiên cứu. Thực tế theo các chuyên gia thì giảng viên Việt Nam phải thực hiện giảng dạy quá nhiều thời gian, khoảng trên 20 giờ một tuần nhưng lương thấp. Thêm vào đó, không có khen thưởng để khuyến khích họ cải tiến phương pháp giảng dạy. Rất ít giảng viên gặp gỡ sinh viên ngoài phạm vi lớp học. Ngoài ra phần việc tuyển giảng viên từ những sinh viên tốt nghiệp của chính trường mình( rất phổ biến ở nhiều trường Đại học của Việt Nam hiện nay) lại đang cản trở môi trường nghiên cứu năng động. Như vậy, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và đội ngũ giảng viên không đáp ứng được công cuộc đổi mới. Ai cũng biết nhân tố con người quyết định tất cả, nhưng nhân tố con ngưòi trong trường đại học chưa được xem xét đúng mức từ những năm cuối của thập kỉ 80 của thế kỉ trước trở về đây. Thời gian gần đây trong các trường Đại học (kể cả các trường có bề dày truyền thống ) hiện tượng hẫng hụt và thiếu các giảng viên là điều dễ thấy, nhất là đội ngũ giảng viên có chất lượng cao thiếu nghiêm trọng. Lý do chính là thiếu quan tâm đầu tư . Trước những năm 80 của thế kỉ trước việc chọn người gửi đi đào tạo tại các nước Xã hội chủ nghĩa rất được coi trọng kết quả là chúng ta có đội ngũ giảng viên làm lòng cốt cho việc đào tạo đại học và sau đại học cho đến ngày nay. Tuy nhiên từ khi bước vào thời kì đổi mới đặc biệt từ năm 1991 ( lúc Liên Xô va Đông Âu sụp đổ) quan hệ giao lưu Quốc tế thay đổi lớn đội ngũ nhân viên, giảng viên đào tạo trước đây tỏ ra bất cập, vì phần lớn không có điều kiện tiếp xúc các môi trường đại học Âu -Mỹ. Đội ngũ này không được trang bị lại ngoại ngữ một cách nghiêm túc, không được trang bị them kiến thức và không có mối quan hệ hợp tác trong nghiên cứu khoa học. Rõ ràng giáo viên ít có điều kiện tiếp xúc với trình độ phương Tây. Do vậy học tro do họ đào tạo ra vì thế không theo kịp trình độ của thời đại. Đội ngũ giảng viên hiện nay phần lớn được đào tạo trong nước nhược điểm lớn của họ là không thông thạo ngoại ngữ ít vôn liếng văn hoá của các nước Phương Tây và ít có mối quan hệ với các trường Đại học các viện nghiên cứu Âu -Mỹ. Nếu đội ngũ này không được nâng cấp thì sự hẫng hụt và thiếu giảng viên có chất lượng là điều khó tránh khỏi. Giảng dạy và học tập ở bậc Đại học Phương pháp giảng dạy kém hiệu quả: diễn thuyết, thuyết trình, ghi nhớ một cách máy móc, giao ít bài tập về nhà, ít có sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên. Sinh viên học quá nhiều trên lớp mỗi ngày và quá nhiều môn trong một học kỳ, không có thời gian để lĩnh hội tài liệu, và học tập tự nghiên cứu Thiếu chú trọng đến phát triển các kỹ năng thông thường và nghề nghiệp. Thiếu trang thiết bị học tập. Về vấn đề này chúng ta sẽ tìm hiểu ở một số các khía cạnh sau: Thứ nhất: Phương pháp giảng dạy lạc hậu Quá lâu trong tuyệt đại đa số các trường Đại học của chúng ta vẫn sử dụng phương pháp giảng dạy theo phương pháp truyền thống là thuyết trình, đây là kiểu truyền đạt thụ một chiều. Việc dạy học hiện nay vẫn là viết lên bảng, dùng phấn trắng. Sinh viên chỉ biết nghe tiếp thu, ghi chép, thiếu suy nghĩ, thiếu động não, sáng tạo.Đến các kỳ thi( kể cả hết môn học, hết học phần hay cuối khoá) là học thuộc lòng. Thậm chí nhiều năm qua, đã có câu ca trong dân gian về phương pháp giảng dạy không hợp thời này “ thầy đọc, trò ghi, đi thi mở sách”. Phương pháp giảng dạy này thực sự ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo. Giảng viên lười nghiên cứu mà chỉ cần đọc các giáo trình và lên diễn thuyết, sinh viên thụ động và chỉ biết nghe lời thầy. Điều này xem ra không khác gì phổ thông cấp 4 chứ không hẳn là sinh viên Đại học. Thứ hai: Việc học tập của sinh viên Việc học của sinh viên quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu học thuộc lòng mà không nhấn mạnh đến học khái niệm hoặc học ở cấp độ cao( như phân tích và tổng hợp). Sinh viên học thụ động như ghi chép và nhớ lại những thông tin đã học thuộc khi làm bài thi. Trình độ của sinh viên khi nghe giảng còn quá thấpđể tiếp thu bài giảng. Điều này ngược với các trường Đại học ở những nước phát triển nơi mà các chuyên đề nghiên cứu, các hội thảo chuyên ngành và các bài giảng trình bày bởi những người không thuộc trường luôn được sự hưởng ứng mạnh mẽ của các giảng viên của khoa. Phần lớn các sinh viên Việt Nam không sử dụng thành thạo tiếng Anh, ngôn ngữ khoa học hiện nay, điều này là một cản trở lớn đến khả năng của họ trong việc tiếp thu kiến thức từ các bài giảng của các chuyên gia nước ngoài. Thứ ba: Thiếu tài liệu giảng day Trong các cơ sở giáo dục và đào tạo nói chung, trong các trường Đại hoc nơi đào tạo các cán bộ kỹ thuật có trình độ cao nói riêng tài liệu giảng dạy bao gồm: Giáo trình, tài liệu tham khảo, sách hướng dẫn phải là “cẩm nang” của sinh viên. Tuy nhiên trên thực tế, ngoài những trường trọng điểm của Nhà nước được đầu tư ngân sách để viết giáo trình, mua tài liệu giảng dạy tương đối đầy đủ. Các trường không thuộc loại trên thì kinh phí dành cho lĩnh vực này rất hạn hẹp, chủ yếu các trường dành một phần không lớn để đầu tư.Nhiều trường Đại học chủ yếu là các trường ở xa trung tâm lớn và các trường mới thành lập tài liệu giảng dạy rất thiếu, sinh viên không có đủ tài liệu để học tập và nghiên cứu. Nhiều lý do dẫn tới thiếu tài liệu giảng dạy. Một phần do nguồn tài chính chưa đáp ứng, một phần do chưa nhận thức đúng về việc mang tính bắt buộc đáp ứng yêu cầu tài liệu giảng dạy để nâng cao trình độ cho giảng viên và cho sinh viên Thứ tư: Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị dạy học Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị dạy học không theo kịp yêu cầu. Thời gian vừ qua mặc dù là đã rất cố gắng trong việc đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho các trường Đại học, kể cả việc vay tiền để đầu tư như Chính phủ vay tiền của Ngân hàng Thế giới để thực hiện Dự án giáo dục Đại học, nhưng vẫn chưa thể so sánh được với trường Đại học nước ngoài. Trang thiết bị, phòng học, các thư viện, phòng thí nghiệm ở các Đại học rất yếu kém vừa không cập nhật vừa không có hệ thống. Vào mạng ở các trường Đại học ở nước ngoài, chưa nói tới các nước Âu-Mỹ, chỉ riêng các trường Đại học lớn ở Nga, Trung Quốc-các nước vừa chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, họ cũng có nhiều thư viện điện tử, nhiều kho dữ liệu rất phong phú cho sinh viên, giảng viên sử dụng. Còn đối với nước ta có quá ít các thư viện điện tử, kho dữ liệu cho sinh viên và giảng viên sử dụng. Cũng không nhiều trường Đại học có trang Web mang nội dung học thuật để cho các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và sinh viên truy cập.Trong thời đại điện tử, với khẩu hiệu hô hàotự học, học suốt đời mà lại thả nổi việc sử dụng phương tiện hiên đại như thế cho sinh viên, thì còn có gì biện minh được về chính sách phát triển Đại học của đất nước? Đánh giá kết quả học tập của sinh viên và hiệu quả của nhà trường. Kết quả học tập mong đợi của sinh viên chưa được xác định và nêu rõ ở các cấp độ trường, khoa, ngành đào tạo, và môn học. Hiệu quả trường, chất lượng ngành đào tạo và môn học không được đánh giá dựa trên kết quả học tập của sinh viên. Thiếu cơ sở hạ tầng nghiên cứu về trường. Theo các chuyên gia, hiện nay giáo dục Đại học của Việt Nam hiện không có cơ chế phản hồi về giảng dạy và học tập cho mục đích cải tiến. Trên thế giới người ta thực hiện đánh giá sinh viên một cách thường xuyên và liên tục. Một giảng viên khi lên lớp sẽ có bảng đánh giá từng sinh viên theo rất nhiều tiêu chí như mức độ làm bài tập về nhà, mức độ phát biểu, có đến lớp không, khả năng làm việc theo nhóm như thé nào…Trong khi đó ở Việt Nam không đánh giá thường kỳ. Sinh viên ít khi có bài tập về nhà, nếu có thì không tính điểm hoặc giáo viên không ghi nhận xét cho sinh viên. Nhiều trường việc đánh giá thường chỉ thực hiện vào cuối kỳ qua một bài kiểm tra duy nhất. Ông Tom Vallely, giám đốc chương trìnhViệt Nam tại Trường Quản lý John F.Kenndy thuộc Đại hoc Havard cho rằng các trường Đại học ở Việt Nam hiện nay không đào tạo đủ kỹ sư, công nhân và các nhà quản lý có trình độ “ các bạn đang bắt đầu đối mặt với tình trạng thiếu nhân công có tay nghề”, ông Vallely nói. Ngay cả những sinh viên ưu tú cũng nhận thấy chương trình giảng dạy ở Việt Nam còn thua kém so với các nước châu Á khác. Theo ông Adam Sitkoff- giám đốc phòng thương mại Mỹ ở Việt Nam nhận định “Việt Nam cần có những cải cách giáo dục mạnh mẽ nếu các bạn muốn cạnh tranh và thu hút nguồn việc làm có lương bổng cao và cơ hội thăng tiến tốt, các bạn cần một lực lượng nhanh nhạy và được đào tạo tốt”. Chúng ta không thể phủ nhận điều đó bởi lẽ điều đó là đúng với thực tế ở Việt Nam hiện nay và nhất là khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập. Cuối cùng em muốn nhắc đến lời phát biểu của ông Vallely rằng: “ Những bạn trẻ có thể bứt phá thi đậu Đại học rất thông minh. Họ chỉ không được đào tạo tại các trường mà thôi. Và nếu điều này không thay đổi, Việt Nam có thể chỉ đang tự lừa dối chính mình”. Đúng vậy, bởi lẽ để trở thành sinh viên Đại học là điều rất khó và là mơ ước của nhiều người. Sẽ phải là những bạn trẻ rất thông minh, ham học hỏi. Nhưng chính môi trường, điều kiện học tập của Việt Nam hiện nay nhiều khi lại làm mất đi hoặc hạn chế khả năng sáng tạo của sinh viên. Và đây vẫn là bài toán khó giải và đang tìm lời giải đáp. 3. Xu hướng phát triển giáo dục Đại học ở Việt Nam Có thể nói chất lượng giáo dục Đại học ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập. Nhưng chúng ta vẫn có quyền tin vào tương lai. Tin rằng giáo dục Đại học Việt Nam sẽ đạt đẳng cấp khu vực. Bởi lẽ trong những năm gần đây, nền giáo dục Đại học ở Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản sau: Chuyển từ đáp ứng nguồn nhân lực cho cơ quan nhà nước sang việc đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho nền kinh tế thị trường đa thành phần. Chuyển từ việc chỉ phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước dành cho giáo dục sang việc sử dụng các nguồn vốn khác nhau. Chuyển từ kế hoạch hoá tập trung sang phi tập trung ở cấp tỉnh và cấp ngành. Chuyển từ cấp học bổng cho mọi sinh viên sang việc yêu cầu sinh viên đóng học phí. Chuyển từ chuyên môn hoá đơn ngành sang đa ngành, đa lĩnh vực. Giáo dục Đại học Việt Nam cũng đang thay đổi theo yêu cầu của xu thế toàn cầu hoá: Đại chúng hoá Về mặt quốc gia, giáo dục Đại học là phương tiện phát triển nguồn nhân lực và cũng là để duy trì và phát triển nền kinh tế cũng như thúc đẩy tính thống nhất dân tộc và kết dính xã hội. Mặc dù chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa quy mô và chất lượng nhưng không vì thế mà Việt Nam thu hẹp quy mô của giáo dục Đại học. Vấn đề là cần tìm giải pháp để tăng quy mô cho hợp lý và cân đối về cơ cấu trình độ, vùng miền và nghề nghiệp. Thị trường hoá Quy mô tăng kéo theo chi phí cho giáo dục Đại học tăng đã gây áp lực lớn cho ngân sách. Vì vậy không có cách nào khác là phải cơ cấu lại giáo dục Đại học với sự tham gia của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Việt Nam đã đi theo hướng này nhưng còn chậm chạp và chưa có nhiều kết quả. Trên thế giới hiện nay, ngân sách nhà nước chỉ tập trung lo cho việc nâng cao dân trí, còn càng lên bậc học cao thì càng mở rộng trách nhiệm xã hội. Việt Nam chúng ta chưa thay đổi được tư duy này, cũng có nghĩa là giáo dục Đại học chưa đi đúng quy luật, ít nhất là nguồn đầu tư tài chính. Đa dạng hoá Việc chuyển từ Đại học đơn ngành sang đa ngành, đa lĩnh vực được nhiều trường đại học thực hiện. Ngay cả trường đại học sư phạm sau một thời gian dài đào tạo đơn ngành, nay nếu chưa chuyển sang đa ngành thì cũng đã mở thêm nhiều ngành phi sư phạm, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học cũng như nhu cầu nhân lực của thị trường. Quốc tế hoá Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, viễn thông và tự do hoá thương mại trong dịch vụ giáo dục, một bộ phận sinh viên, giảng viên, cơ sở đào tạo và chương trình giảng dạy đã vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia. Nhiều sinh viên Việt Nam đã ra nước ngoài học tập và nghiên cứu, nhiều trường quốc tế liên kết và đào tạo tại Việt Nam, xu thế du học tại chỗ đang ngày càng tăng. Phát triển giáo dục Đại học ở các nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng trong những thập niên đầu thế kỷ XXI với sự tác động ngày càng mạnh mẽ của của quá trình toàn cầu hoá đã và đang đặt ra cơ hội phát triển chưa từng có đồng thời là những thách thức to lớn về chất lượng và hiệu quả giáo dục đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững của các quốc gia. Vượt qua thách thức không chỉ là yêu cầu mà còn là đòi hỏi cáp bách của mỗi quốc gia.Trong đó nước ta không nằm ngoại lệ trong cuộc ganh đua quyết liệt vừa hợp tác vừa cạnh tranh trong thế giới hiện đại. 4.Việc áp dụng HTQLCL ISO 9001:2000 đối với các trường Đại học 4.1. Sự cần thiết và vai trò của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 đối với các trường Đại học Giáo dục Đại học là một quá trình dạy và học, do đó có thể áp dụng nguyên tắc và phương pháp quản lý của ISO 9000 vào quản lý chất lượng giáo dục Đại học. Xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 được coi là sự lựa chọn giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường Đại học. Vì đây là hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, có nhiều ưu điểm và không chỉ áp dụng phổ biến ở các doanh nghiệp công nghiệp mà còn được áp dụng ở các trường Đại học, các tổ chức quản lý hành chính công. Việc áp dụng hệ thống này mang lại một số lợi ích và các tác dụng trên các mặt chủ yếu sau: Thay đổi tư duy và thói quen quản lý cũ về chất lượng đào tạo, thực hiện quản lý chất lượng đào tạo có cơ sở khoa học hơn. Quản lý chất lượng đào tạo hướng tới khách hàng và thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Thực hiện đồng bộ các biện pháp tác động tới toàn bộ quá trình hình thành chất lượng từ khâu đầu vào, quá trình dạy và học đến khi sinh viên tốt nghiệp ra trường. Xác định rõ trách nhiệm và phát huy vai trò của mọi người và của mọi bộ phận trong trường đối với việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo. Quản lý theo các văn bản pháp quy, các quy định của nhà trường do đó tạo điều kiện nâng cao hiệu lực và hiệu quả của quản lý. Vì vậy có thể nói việc xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 là một bước ngoặt trong quản lý chất lượng đào tạo và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Đại hoc. 4.2.Một số vấn đề cần lưu ý khi xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 : Một là : Cần coi giáo dục Đại học là một hoạt động dịch vụ mà khách hàng là: Sinh viên, phụ huynh, tổ chức sử dụng sinh viên khi ra trường( các doanh nghiệp, tổ chức, cơ quan nhà nước). Sản phẩm của dịch vụ đào tạo là sinh viên tốt nghiệp với phẩm chất đạo đức, sức khoẻ, kiến thức, kỹ năng. Hai là : Xác định đúng đối tượng và phạm vi xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 Ba là : Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của lãnh đạo trường mà trước hết là của hiệu trưởng. Đây là nguyên tắc quan trọng của quản lý chất lượng theo ISO 9000. Nó có ý nghĩa quyết định đối với thực hiện thành công hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000. Bốn là : Nhận diện đúng quá trình đào tạo và xây dựng đầy đủ văn bản quản lý cho mọi khâu, mọi công việc của quá trình đào tạo. Đây là yêu cầu và nội dung cơ bản của xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000. Việc làm này nó thể hiện sự quán triệt đầy đủ nguyên tắc quản lý theo quá trình. Có thể xác định các khâu cơ bản của quá trình đào tạo theo sơ đồ sau: Chính sách chất lượng, mục tiêu chất lượng, sổ tay chất lượng Quá trình dạy và học Quá trình Phục vụ dạy và học Đầu vào (tuyển sinh) Đầu ra (sinh viên tốt nghiệp) Đo lường, Phân tích và cải tiến Xã hội 4.3.Các bước xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 Bước 1: Tìm hiểu và lựa chọn hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000. Xác định đối tượng và phạm vi xây dựng và áp dụng hệ thống này. Bước 2: Thiết lập hệ thống tổ chức chỉ đạo cho việc áp dụng ISO 9001:2000 như: Thành lập ban chỉ đạo Thành lập tổ công tác Mời tổ chức tư vấn. Bước 3: Đào tạo cán bộ chủ chốt, cán bộ trong tổ công tác ISO9001:2000 của trường. Bước 4: Đánh giá thực trạng của trường so với tiêu chuẩn của hệ thống quản lý chất lượng ISO9001:2000. Bước 5:Thiết kế và lập hệ thống văn bản quản lý chất lượng theo ISO 9001:2000. Bước 6: Đánh giá nội bộ chuẩn bị cho đánh giá chứng nhận. Bước 7: Tiến hành đánh giá chứng nhận. Bước 8: Cấp giấy chứng nhận. Duy trì và phát huy tác dụng của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 sau khi đã được chứng nhận. Mục đích và yêu cầu xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 Mục đích: Đảm bảo, duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo Đại học đáp ứng yêu cầu của xã hội. Yêu cầu: + Xây dựng tiêu chuẩn và quy trình tiến hành từng công việc trong đào tạo. Từ đó tăng cường và đổi mới công tác quả lý đào tạo đi vào nề nếp và khoa học. + Mọi thành viên và mọi tổ chức trong trường cần thực hiện các tiêu chuẩn và quy định đó. Như vậy việc xây dựng và thực hiện hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 là sự lựa chọn giải pháp hữu hiệu nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Đại học. III) Mục tiêu và các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học 1.Mục tiêu Em xin giới thiệu mục tiêu chung của đề án đổi mới giáo Đại học Việt Nam vừa được Chính Phủ thông qua. Việc đổi mới giáo dục Đại học Việt Nam sẽ có 6 mục tiêu cụ thể: Hoàn chỉnh mạng lưới các cơ sở giáo dục Đại học, có sự phân tầng về chức năng, nhiệm vụ đào tạo, đảm bảo hợp lý cơ cấu trìn độ, ngành nghề, vùng miền, phù hợp với chủ chương xã hội hoá giáo dục, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội. Phát triển các chương trình GDĐH theo định hướng nghiên cứu và định hướng nghề nghiệp -ứng dụng. Đảm bảo sự liên thông giữa các chương trình trong toàn hệ thống. Xây dựng và hoàn thiện các giải pháp đảm bảo chất lượng và hệ thống kiểm định GDĐH. Xây dựng một vài trường Đại học đẳng cấp Quốc tế. Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 200 sinh viên trên 1 vạn dân vào năm 2010 và 450 sinh viên trên 1 vạn dân vào năm 2020. Trong đó khoảng 70-80% sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp-ứng dụng, khoảng 40% sinh viên ngoài công lập. Nâng tầm đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý GDĐH . Đảm bảo tỷ lệ sinh viên trên giảng viên không quá 20. Đến năm 2010, có ít nhất 40% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ và 25% đạt trình độ tiến sĩ. Đến năm 2020 có ít nhất 60% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ và 35% đạt trình độ tiến sĩ. Nâng cao rõ rệt quy mô và hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học. Các trường đại học lớn phải là các trung tâm nghiên cứu khoa học mạnh khoa học của cả nước, nguồn thu từ các hoạt động khoa học công nghệ sản xuất và dịch vụ đạt tối thiểu 15% tổng nguồn thu của các cơ sở Giáo dục đại học vào năm 2010. Và 25% vào năm 2020. Hoàn thiện chính sách phát triển theo hướng đảm bảo quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục đại học, sự quản lý của nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với giáo dục đại học. 2. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học Để thực hiện các mục tiêu trên cần có biện pháp để thực hiện. Sau đây em đưa ra một số các giải pháp sau: Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý . Đội ngũ cán bộ giảng dạy và đội ngũ cán bộ quản lý Đại học quyết định sự tồn tại và phát triển của trường. Không có chương trình tiên tiến có thể nhập được, không có tiền và cơ sở vật chất có thể vay hoặc huy động được, nhưng không có đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý sẽ không có nội lực, để phát triển . Đội ngũ cán bộ giảng dạy, và cán bộ quản lý sẽ là yếu tố cấu thành và yếu tố quản lý vận hành cơ cấu tổ chức và bộ máy và các trường Đại học. Do đó, cần có giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý. Đó là: Thu hút đội ngũ cán bộ tốt : Trước hết chính phủ phải công khai rõ ràng và rộng rãi mục tiêu và kế hoạch cho nghiên cứu và đào tạo, thể hiện rõ quyết tâm thực hiện mục tiêu. Đây là điều kiện tiên quyết để có thể thu hút được đội ngũ cán bộ có năng lực. Hơn nữa, khi có nhu cầu tuyển người phải công bố một cách rộng rãi trên toàn quốc thậm chí ở cả nước ngoài tới đồng nghiệp người Việt bằng các phương tiện thích hợp. Công việc tuyển dụng phải được thực hiện bởi hội đồng tuyển dụng với thành phần không chỉ bao gồm cán bộ của trường mà phải có những thành viên ngoài trường như cán bộ của các trường Đại học khác, các viện nghiên cứu trong các lĩnh vực công nghiệp… Thái độ trung lập của hội đồng tuyển dụng này phải được làm rõ và hiển nhiên là tham ô, gian lận, thiên vị và ưu đãi cho người thân phải bị cấm trong quá trình xét tuyển. Các quy đinh tuyển dụng phải được thông báo một cách rõ ràng: yêu cầu về phẩm chất và kinh nghiệm triển vọng về lương bổng và sự nghiệp, quyền và nghĩa vụ. Tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý: Ở nhiều trường đại học, không ít cán bộ giảng dạy chí có trình độ cử nhân, không sử dụng được ngoại ngữ, không tham gia nghiên cứu khoa học vẫn được giảng dạy Đại học . Không ít cán bộ quản lý chưa qua lớp đào tạo về quản lý giáo dục vẫn làm công tác quản lý đào tạo. Do đó không thể đảm bảo chất lượng đào tạo. Vì vậy, cần xây dựng tiếu chuẩn cụ thể cho từng chức danh giảng dạy và quản lý. Có cơ chế sang lọc và thưởng phạt với cán bộ giản dạy và cán bộ quản lý (CBGD và CBQL). Hiện nay đang có hiện tương chảy máu chất xám và thiếu yên tâm gắn bó với trường của cán bộ giảng dạy trong các trường Đại học. Nguyên nhân của tình hình trên một phần do chưa có cơ chế quản lý thich hợp, một phần do thu nhập của cán bộ giảng dạy các trường Đại học còn thấp . Do vậy mỗi trường cần có quyền sang lọc và thưởng phạt đội ngũ CBGD và CBQL của mình. Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ giáo viên. Đề đáp ứng yêu cầu thay đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học công nghệ cần thiết phải đào tạo và đào tạo lại bao gồm cả tự đào tạo với bất cứ loại CBGD và CBQL nào. Hiện nay, đang tồn tại 2 loại cán bộ: Một là, cán bộ trẻ tuổi đời dưới 45, nhiều người được đào tạo ở các nước tiên tiến hoặc chương trình tiến tiến, số này có trình độ tiếng Anh và vi tính khá, nhưng hạn chế về thực tế Việt Nam; Hai là, cán bộ đã trên 45 tuổi có kinh nghiệm nhưng trình độ Tiếng Anh và vi tính còn hạn chế. Do đó, cần có chương trinh kế hoạch đào tạo cụ thể. Có thể thực hiện cơ chế : nhà nước, nhà trường và cá nhân cùng đóng góp kinh phí để nhiều người được đi đào tạo ở nước ngoài. Tăng cường phát triển hệ thống quản lý chất lượng ở các trường Đại học. Thực hiện kiểm định chất lượng Đai học. Chất lượng đào tạo là vấn đề cơ bản, cấp bách và nổi cộm hiện nay của giáo dục Đại học Việt nam nó là vấn đề sống còn của các trường Đại học. Hệ thống quản lý chất lượng là hệ thông quản lý để định hướng và kiểm soát các trường Đại học về chất lượng. Nó là tổ chức, là công cụ, là phương tiện để thực hiện mục tiêu, chức năng quản lý chất lượng đào tạo tại các trường Đại học. Trong những năm đổi mới vừa qua ở một số trường Đại học đã bắt đầu hình thành HTQLCL đào tạo. đó là xây dựng và thực hiện HTQLCL ISO 9001: 2000 và thực hiện kiểm định chất lượng theo 10 tiêu chuẩn và 53 tiêu chí của Bộ giáo dục và đào tạo quy định. Hiện nay, cả nước có 20 trường Đại học đã kiểm định chất lượng. Kiểm định chất lượng đã có tác dụng tự đánh giá và đánh giá của tổ chức đánh giá ngoài đối với thực hiện các tiêu chuẩn và tiêu chí chất lượng của một trường Đại học do Bộ quy định. Nhờ đó đã tạo ra động lực để nâng cao chất lượng của trường Đai học được đánh giá. Để tăng cường và phát triển HTQLCL trong các trường Đại học cần tăng nguồn lực và tăng tính chuyên nghiệp cho bộ phận khảo thí và cho công tác kiểm định chất lượng ; Đôi khi với kiểm định chất lượng của trường cần thực hiện kiểm định chương trình đào tạo. Đổi mới cơ cấu đào tạo và hoàn thiện mạng lưới cơ sở GDĐH. Ưu tiên mở rộng quy mô các chương trình định hướng nghề nghiệp - ứng dụng; Áp dụng quy trình đào tạo mềm dẻo, liên thông, kết hợp mô hình truyền thống với mô hình đa giai đoạn để tăng cơ hội học tập và phân tầng trình độ nhân lực ; chuyển đổi một số cơ sở GDĐH công lập sang bán công, tư thục, hoàn thiện mô hình trương CĐ cộng đồng và xây dựng quy chế chuyển tiếp, đào tạo với trường Đại học, củng cố các Đại học Mở để có thể mở rộng quy mô của hai loại trường này. Khuyến khích mở cơ sở GDĐH trong các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn, sáp nhập trở lại cơ sở GDĐH với các cơ sở nghiên cứu khoa học để gắn kết chặt trẽ đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, kinh doanh. Tập trung đầu tư, huy động chuyên gia trong và ngoài nước và có cơ chế phù hợp để xây dựng trường ĐH đẳng cấp quốc tế. Đổi mới nội dung phương pháp và quy trình đào tạo Nhấn mạnh tới cơ cấu phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí : trang bị cách học ; phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học.Lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước . Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Đổi mới cơ chế giao chỉ tiêu tuyển sinh theo hướng gắn với điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo, yêu cầu sử dụng nhân lực, nhu cầu học tập của nhân dân và tăng quyền tự chủ của các cơ sở GDĐH . Cải tiến tuyển sinh theo hướng áp dụng công nghệ đo lường giáo dục hiện đại. Chấn chỉnh công tác tổ chức đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ. Đổi mới tổ chức triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ. Nhà nước nên đầu tư nâng cấp, xây dựng mới một số cơ sở nghiên cứu mạnh trong các cơ sở GDĐH. Khuyến khích thành lập các cơ sở nghiên cứu, các doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong các cơ sở GDĐH .Đồng thời quy định cụ thể nhiệm vụ nghiến cứu khoa học của giảng viên, gắn việc đào tạo nghiên cứu sinh với việc thực hiện đề tài nghiền cứu khoa học và công nghệ. Bố trí tối thiểu 1% ngân sách hàng năm để các cơ sở GDĐH thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ được quy đinh trong Luật khoa học và công nghệ. Đổi mới huy động nguồn lực và cơ chế tài chính Theo đó nhà nước đàu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho giáo dục Đại học tập trung đầu tư xây dựng một số cơ sở dùng chung như trung tâm dữ liệu quốc gia, hê thống thư viện điện tử, phòng thí nghiệm trọng điểm. ký túc xá và các cơ sở văn hoá, thể dục thể thao. Nhà nước có chính sách ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đầu tư và lĩnh vực giáo dục ; bảo đảm quyền sở hữu theo pháp luật và các quyền lợi về vật chất và tinh thần của nhà đầu tư. Chính sách học phí, học bổng, tín dụng SV sẽ được xây dựng lại trên cơ sở xác lập những nguyên tắc chia sẻ chi phí giáo dục đào tạo giữa nhà nước, người học và công đồng . Nhà nước thực hiện sự trợ giúp toàn bộ hoặc một phần học phí đối với các đối tượng chính sách, người nghèo và cấp trực tiếp cho người học. Điểm đổi mới nữa là nghiên cứu áp dụng quy trình phân bổ ngân sách dựa trên sự đánh giá của xã hội đối với cơ sở GDĐH . Thực hiện hạch toán thu – chi đối với cơ sở GDĐH công lập, tạo điều kiện để cơ sở áp dụng có quyền tự chủ cao trong thu- chi theo nguyên tắc lấy các nguồn thu bù đủ các nguồn chi hợp lý, có tích luỹ cần thiết để phát triển cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu . Bổ sung, hoàn chỉnh các quy chế về tài chính đối với các cơ sở GDĐH ngoài công lập. Đổi mới cơ chế quản lý Theo đó, sẽ chuyển các cơ sở GDĐH công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ, có pháp nhân đầy đủ, có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về đào tạo, nghiên cứu, tổ chức, nhân sự và tài chính. Xoá bỏ cơ chế bộ chủ quản, xậy dựng cơ chế đại diện sở hữu nhà nước đối với các cơ sở GDĐH công lập. Bảo đảm vai trò kiểm tra, giám sát của cộng đồng chất lượng GDĐH. Quản lý nhà nước tập trung vào việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển, chỉ đạo triển khai hệ thông đảm bảo chất lượng và kiểm định GDĐH; hoàn thiện môi trường pháp lý ; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, điều tiết vĩ mô cơ cấu và quy mô GDĐH. Giải pháp về hội nhập quốc tế Cần lưu ý đến việc triển khai việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài ; tiếp thu có chọn lọc các chương trình đào tạo tiên tiến quốc tế; đạt được thoả thuận về tương đương văn bằng, chương trình đạo tạo với các cơ sở GDĐH trên thế giới ; khuyến khích các hình thức liên kết đào tạo về chất lượng cao, trao đổi với giáo viên, chuyên gia với nước ngoài ; khuyến khích giáo viên người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy ở Việt Nam, khuyến khích du học tại chỗ. Tạo cơ chế thuận lợi để các nhà đầu tư, các cơ sở GDĐH có uy tín trên thế giới mở cơ sở GDĐH quốc tế tại VN hoặc liên kết giáo dục Đại học tại cơ sở giáo dục ở VN. Trên đây là những mục tiêu và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học. Việt Nam muốn thoát khỏi cảnh tự “ lừa dối” mình và muốn có những trường Đại học tiên tiến, có đẳng cấp quốc tế thì ngay từ bây giờ cần có sự tham gia của tất cả các thành viên, các bên có liên quan thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Có như vậy mỗi sinh viên khi được đào tạo ở các trường Đại học ở Việt Nam mới vững tin và tự hào vào chính khả năng của mình khi tham gia làm việc cho dù ở bất kỳ ở nơi đâu. C-Kết luận Trong thời gian gần đây, nhiều người đã bày tỏ lo ngại về tình trạng giáo dục nói chung và giáo dục Đại học nói riêng. Lo ngại rằng Việt Nam đang đứng trước tình trạng tụt hậu so với nước ngoài, mặc dù đã sau hơn 30 năm thống nhất đất nước. Phải thừa nhận rằng, để tình trạng giáo dục Đại học như hiện nay là do lỗi của cả một hệ thống, cần phải có thời gian để khắc phục. Việc khắc phục này không phải chỉ trong một sớm một chiều.Nếu chúng ta quá vội vàng thì không thể có những bước đi đúng đắn để đưa nền giáo dục nói chung và giáo dục Đại học nói riêng đi đúng quỹ đạo mà các nước tiên tiến, phát triển đang tiến bước . Trong thời kỳ hội nhập kinh tế hiện nay việc các trường Đại học chuyển mình là rất quan trọng. Nhất là khi chúng ta ra nhập tổ chức thương mại Thế giới. Trong bối cảnh này có thể nói giáo dục Đại học đang đứng trước một “sân chơi” lớn. Một “sân chơi” đầy sống động mà có thêm một nhân vật mới nữa là “thị trường”.Do vậy như lời của GS Piere Dariulat: “ Đối với giáo dục Đại học của Việt Nam cần phải có một cuộc cách mạng, không đơn giản chỉ là những bước cải tổ nhỏ dần dần, từng bước như chúng ta vẫn đang làm” Với chút hiểu biết của mình và cũng đóng vai trò là người trong cuộc. Trên đây em đã nêu ra thực trạng và một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục Đại học. Bài viết này có sử dụng một số tài liệu và bài viết của GS.TS Nguyễn Đình Phan cùng với một số trang báo điện tử khác. Em xin cảm ơn GS.TS Nguyễn Đình Phan đã hướng dẫn và giúp đỡ em để hoàn thành đề án môn học này. Tài liệu tham khảo Đề cương bài giảng môn quản lý chất lượng dịch vụ của GS.TS Nguyễn Đình Phan Tạp chí tia sáng Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X Báo cáo giáo dục và thời đại Luật giáo dục Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục Đại hocViệt Nam giai đoạn 2006-2020, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá doanh nghiệp. Báo cáo tóm tắt của Bộ giáo dục đào tạo tại Hội nghị Hiệu trưởng của trường đại học, cao đẳng (20/5/2006) Tạp chí công nghệ Các trang web www.Vietnamnet.vn www.tiasang.com.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docN0124.doc
Tài liệu liên quan