Khóa luận Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Hà Nội

LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I 5 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 5 I. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5 1. Ngân hàng thương mại và hoạt động cơ bản của một Ngân hàng thương mại 5 2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 6 II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7 1. Đầu tư dự án 7 2. Sự cần thiết phải thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 10 III. TRÌNH TỰ VÀ NỘI DUNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 14 IV. CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG 20 1. Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư 20 2. Các nhân tố ảnh hưởng. 21 CHƯƠNG II 23 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG 23 TMCP Á CHÂU HÀ NỘI 23 I. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU HÀ NỘI 23 1. Đôi nét về Ngân hàng TMCP Á Châu và Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 23 2. Tình hình kinh doanh của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội. 27 II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU HÀ NỘI 33 1. Tổ chức hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 33 2. Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 35 2. Tình hình tài chính. 38 2. Hiệu quả của dự án đầu tư. 44 III. MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU HÀ NỘI 50 1. Kết quả đạt được 50 2. Một số hạn chế còn tồn tại của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 52 3. Nguyên nhân 54 CHƯƠNG III 56 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU HÀ NỘI 56 I. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU HÀ NỘI 56 II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU HÀ NỘI 57 1. Một số định hướng cho công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 57 2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội 57 III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 63 1. Đối với Nhà nước, các Bộ, Ngành 63 2. Đối với Ngân hàng Nhà nước 63 3. Đối với chủ đầu tư 64 KẾT LUẬN 65

doc70 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 05/07/2013 | Lượt xem: 150 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Khóa luận Một số giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đúng mục đích hay không, và theo dõi tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình công nợ của khách hàng. - Kiểm kê tài sản thế chấp, cầm cố, tái thẩm định tài sản thế chấp, cầm cố. 1.8. Đối chiếu dư nợ. 1.9. Thu nợ- Tính lãi- Thu lãi. 1.10. Lưu trữ hồ sơ. 2. Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội Những nội dung tài chính được xem xét khi thẩm định dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại ngân hàng bao gồm: · Phân tích tình hình tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. · Tổng chi phí đầu tư và tổng nguồn vốn. Tổng nguồn vốn đầu tư dự án: Thẩm định chi phí đầu tư là phân tích, đánh giá mức chính xác trong tính toán nhu cầu về vốn đầu tư căn cứ vào nội dung các hạng mục công trình của dự án đầu tư, tổng dự toán công trình đã được phê duyệt, các biểu giá do Nhà nước quy định, giá cả thị trường... Nguồn vốn: Xem xét dự án đầu tư có thể sử dụng nguồn vốn nào để đáp ứng nhu cầu về chi phí đầu tư. · Xác định doanh thu theo công suất dự kiến. · Xác định chi phí đầu vào theo công suất có thể đạt được trong các năm trả nợ. · Khả năng trả nợ. Lợi nhuận ròng dùng để trả nợ. Tỷ lệ lợi nhuận = x 100% ròng dùng để trả nợ Tổng số lợi nhuận ròng. Nguồn trả nợ vay = Khấu hao cơ bản + Lợi nhuận ròng dùng để trả nợ + Nguồn khác. · Tính thời gian thu hồi vốn. Thời gian Tổng số vốn vay trung và dài hạn. = thu hồi vốn vay. Khấu hao cơ bản + Lợi nhuận trả nợ + Nguồn khác Thời gian thu Tổng số vốn đầu tư vào dự án. = hồi vốn đầu tư. Khấu hao cơ bản năm+Lợi nhuận trả nợ+Nguồn khác · Phân tích điểm hoà vốn. · Tính toán một số chỉ tiêu tài chính. Để có thể hiểu một cách đầy đủ các công việc liên quan đến việc thẩm định dự án đầu tư, tôi xin minh hoạ bằng một dự án đầu tư cụ thể. Tên dự án: Đầu tư mua tàu chuyên dụng chở container DEJA BHUM. Chủ dự án: Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam. I. Giới thiệu khách hàng. - Tên doanh nghiệp: Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam. Tên giao dịch quốc tế: Vietnam National Shipping Lines( VINA LINES). - Tổng giám đốc: ông Vũ Ngọc Sơn. - Trụ sở: 210- Khâm Thiên- Đống Đa- Thành phố Hà Nội. - Quyết định thành lập số: 250/ TTg của Thủ tướng Chính phủ cấp ngày 29/ 4/ 1995. - Giấy phép kinh doanh: 110- 462 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 06/ 12/ 1995. - Ngành nghề kinh doanh: § Kinh doanh vận tải biển. § Khai thác cảng. § Sửa chữa tàu biển. § Đại lý, môi giới, cung ứng dịch vụ hàng hải. § Xuất- nhập khẩu phương tiện, vật tư, thiết bị chuyên ngành vận tải. § Cung ứng lao động hàng hải cho các tổ chức trong và ngoài nước. - Vốn điều lệ: 1.065.588 tỷ VND. II. Nhu cầu vay vốn. - Số tiền vay: 900.000 USD trong khoản vay đồng tài trợ 3.800.000 USD. - Thời hạn: 5 năm. - Mục đích: đầu tư mua tàu chở container DEJA BHUM sức chở 555 TEU. - Hình thức tài trợ: đồng tài trợ do Ngân hàng TMCP Quân Đội làm ngân hàng đầu mối. III. Hoạt động kinh doanh và tài chính của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam trong quá khứ. 1. Tình hình hoạt động kinh doanh. Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam được thành lập từ năm 1995 theo mô hình Tổng Công ty 91 trên cơ sở tập trung các doanh nghiệp vận tải biển hàng đầu trong cả nước, các cảng biển và các đơn vị hoạt động kinh doanh dịch vụ hàng hải. Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là vận tải đường biển, khai thác cảng, sửa chữa tàu biển, cung cấp dịch vụ hàng hải, xuất- nhập khẩu phương tiện, vật tư, thiết bị hàng hải, cung ứng lao động hàng hải. Từ năm 1996 đến nay, sản lượng vận tải của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam liên tục tăng trưởng. Tổng Công ty được đánh giá là một Tổng Công ty 91 mạnh, hoạt động có hiệu quả. Tình hình hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty được thể hiện qua bảng số liệu thống kê sau: Bảng 4: Tình hình kinh doanh của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam. Đơn vị: triệu đồng. Chỉ tiêu. Năm 1996. Năm 1997. Năm 1998. Năm 199. Tổng doanh thu. Lợi nhuận. Vốn chủ sở hữu. 2.364.603 194.919 1.661.365 2.272.653 226.266 1.775.869 3.113.344 252.849 1.906.579 3.62.338 254.789 2.036.084 Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 1996, 1997, 1998, 1999- Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam. Năm 1996, tổng sản lượng vận tải của Tổng Công ty là 4,8 triệu tấn hàng hoá, đến năm 1999 con số này là 9,1 triệu tấn. Năm 1996, sản lượng hàng hoá bốc xếp tại các cảng biển của Tổng Công ty là 14 triệu tấn và 254.944TEU. Năm 1999, sản lượng hàng hoá bốc xếp tại các cảng là 17,5 triệu tấn và 390.617 TEU. Hiệu suất khai thác phương tiện và cảng biển cũng tăng đáng kể. Trong năm 1996- 1999, thực hiện chủ trương nâng cao năng lực vận tải và trẻ hoá đội tàu biển, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam đã đầu tư thêm 25 tàu với tổng trọng tải tăng thêm là 354.455 tấn, nâng tổng số tàu hiện có lên 74 chiếc tàu các loại, trong đó có 5 tàu Tổng Công ty đầu tư theo hình thức thuê mua, 20 tàu đầu tư bằng vốn tự có và vay ngân hàng gồm 6 tàu chuyên dụng chở container, 5 tàu dầu, số còn lại là tàu chở hàng khô với tổng giá trị đầu tư là 135 triệu USD. Ngoài việc đầu tư lớn vào đổi mới phương tiện để nâng cao năng lực vận tải và khả năng cạnh tranh trong kinh doanh vận tải, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam cũng thực hiện đầu tư nâng cấp, sửa chữa, xây dựng mới hệ thống cầu cảng nhằm tăng năng lực bốc xếp, tăng lượng hàng hoá thông qua. Tổng Công ty cũng quan tâm sắp xếp, tổ chức lại sản xuất giúp những đơn vị thành viên ổn định sản xuất, kinh doanh có lãi. Sau 5 năm kể từ ngày thành lập, hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam đạt được mức tăng trưởng khá. 2. Tình hình tài chính. Báo cáo tài chính của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam( số liệu đến ngày 31/ 12/ 1999) được tóm tắt qua bảng sau: Bảng 5: Tình hình tài chính của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam. Chi tiết. Năm 1997. Năm 1998. Năm 1999. Tài sản lưu động. Tài sản cố định. Tổng tài sản. Tổng khoản nợ ngắn hạn. Nợ dài hạn. Tổng nguồn vốn. 253.802.081 1.929.579.017 2.861.836.788 465.347.202 573.049.395 2.861.863.788 284.644.443 2.247.338.607 3.530.168.928 596.535.889 954.372.029 3.530.168.928 338.980.070 2.757.051.473 4.182.656.969 779.098.839 1.286.056.237 4.182.656.969 Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 1997, 1998, 1999- Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam. Qua bảng số liệu trên, nhìn chung tình hình tài chính của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam có các điểm đáng lưu ý sau: Tổng tài sản tăng khá nhanh chủ yếu do Tổng Công ty tăng cường đầu tư vào để trẻ hoá đội tàu và nâng cao năng lực vận chuyển và khả năng cạnh tranh. Tổng giá trị tài sản cố định tăng thêm trong năm 1999 gần 1.000 tỷ đồng theo nguyên giá. Nguồn vốn đầu tư tài sản cố định của Tổng Công ty chủ yếu từ nguồn vốn vay ngân hàng, do nguồn khấu hao dành cho việc tái đầu tư và mức tăng vốn chủ từ nguồn lợi để lại và nguồn do Ngân sách cấp khá thấp. Điều này làm cho tỷ lệ Nợ/ Vốn chủ sở hữu giảm. Tại thời điểm 31/ 12/ 1999, tỷ lệ này là 1/ 1, tỷ lệ này được đánh giá là khá cao nếu so với các doanh nghiệp Nhà nước hiện nay. Trong một vài năm tới, nhu cầu đầu tư của Tổng Công ty còn rất lớn mà chủ yếu là do đầu tư vào đội tàu, nguồn vốn đầu tư cũng vẫn chủ yếu là nguồn vốn vay và do lợi nhuận, khấu hao có thể sử dụng cho tái đầu tư, kể cả nguồn vốn Ngân sách cấp (nếu có) không tăng tương ứng. Hậu quả là chỉ tiêu an toàn tài chính của Tổng Công ty vẫn tiếp tục giảm. Nguồn khấu hao của toàn Tổng Công ty năm 1999 đạt khoảng 650 tỷ VND, tỷ lệ Nợ dài hạn/ Khấu hao là 1,98. IV. Dự án đầu tư. 1. Mô tả dự án đầu tư. Dự án đầu tư thực chất là việc mua con tàu chuyên dụng chở container DEJA BHUM với tổng số vốn đầu tư là 4.400.000 USD. - Tính hợp lý của dự án đầu tư. § Tăng khả năng vận tải của Tổng Công ty nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Hiện nay, nhu cầu vận tải hàng hoá bằng container rất lớn, có tới 70% lượng hàng hoá được vận chuyển bằng container. Trong đó Châu Á- Thái Bình Dương đã trở thành khu vực vận chuyển container lớn nhất trên thế giới, chiếm đến 65% tổng lượng hàng hoá vận chuyển trên toàn thế giới. Theo báo cáo nghiên cứu tình hình thị trường thuê- mua tàu container năm 1999 của MAERSK BROKER K/S, mức tăng trưởng của đội tàu container thế giới năm 1999 đạt 8,1%, tương đương với tổng công suất 4,3 triệu TEU. Căn cứ theo các hợp đồng đóng tàu container tại các xưởng đóng tàu trên thế giới, dự kiến mức tăng trưởng đội tàu container thế giới sẽ đạt 9,3% vào năm 2000. Mức độ tăng trưởng của đội tàu container thế giới được thống kê chi tiết qua bảng số liệu sau: Bảng 5: Mức tăng trưởng đội tàu container thế giới. Loại tàu (TEU). Tổng công suất năm 1998 (1000TEU). Tổng công suất năm 1999 (1000TEU). Tổng công suất năm 2000 (1000TEU). Tỷ lệ tăng trưởng 99/98 (%). Tỷ lệ tăng trưởng 00/99 (%). 200 - 649 650 - 899 900 – 1299 1300 - 1999 2000 - 2999 3000 - 4999 > 5000 211 156 465 675 901 1.139 465 224 175 492 746 957 1.181 560 227 177 501 770 997 1.248 818 6,6 12,0 5,8 10,5 6,2 3,7 20,4 1,1 1,3 1,8 3,2 4,1 5,7 46,0 Tổng cộng. 4012 4335 4737 8,1 9,3 Nguồn: Báo cáo tình hình thị trường thuê- mua tàu container năm 1999- MAERSK BROKER K/S. Nguyên nhân chính của sự tăng trưởng của đội tàu container là do nền kinh tế thế giới tăng trưởng khá, giao thương giữa các nước Châu Á, giữa Châu Á và phần còn lại của thế giới tăng mạnh do sự phục hồi của các nền kinh tế các nước Châu Á và Đông Nam Á. Ngoài các lý do kể trên còn một yếu tố quan trọng nữa góp phần làm tăng mạnh nhu cầu vận tải bằng container và gây lên sự thiếu hụt các loại tàu vận tải container đó là việc mở thêm các tuyến vận chuyển container tầm ngắn sử dụng tàu công suất 1.000- 2.000 TEU chạy Feeder để chuyển tải hàng hoá tới các cảng trung chuyển lớn và việc xây dựng hàng loạt cảng container của các nước trong khu vực. Tại Việt Nam, nhu cầu vận chuyển bằng container có tốc độ tăng trưởng rất mạnh. Năm 1989, tổng lượng hàng hoá vận tải của Việt Nam mới ở mức 21.000 TEU, đến năm 1999, con số này đã tăng lên khoảng gần 1.000.000 TEU, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 25%/ năm. Dự kiến đến năm 2005, tổng lượng hàng hoá vận tải bằng container có thể đạt 2.400.000 TEU. Như vậy, với việc đầu tư mua tàu chở container này, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá bằng container tại Việt Nam. § Củng cố thế cạnh tranh của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam trên thị trường. Trong giai đoạn từ năm 1996- 2000, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam đã đầu tư 7 tàu chở container loại từ 500- 1.500 TEU bằng nguồn vốn vay ngân hàng và thuê mua với tổng sức chở 4.241 TEU. Kết quả kinh doanh thực tế cho thấy hiệu suất khai thác các con tàu này đạt 80- 90%. Với đội tàu chở container hiện có, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam mới chỉ đáp ứng được khoảng 15% nhu cầu vận tải hàng xuất- nhập khẩu bằng container và 80% lượng hàng hoá vận tải nội địa. Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển bằng container, nâng cao năng lực vận tải và khả năng cạnh tranh đòi hỏi Tổng Công ty phải tiếp tục đầu tư phương tiện, trẻ hoá đội tàu. Việc đầu tư mua con tàu chuyên dụng chở container DEJA BHUM nhằm đáp ứng đòi hỏi đó. - Giá trị của dự án. Tổng giá trị của dự án đầu tư mua tàu chuyên dụng chở container DEJA BHUM là 4.400.000 USD bao gồm: Giá mua tàu: 4.200.000 USD. Chi phí sửa chữa sau khi tiếp nhận tàu: 200.000 USD. - Kế hoạch tài chính cho dự án. Theo dự kiến, dự án đầu tư sẽ được tài trợ bằng nguồn vốn vay ngân hàng và vốn tự có của Tổng Công ty, chi tiết như sau: Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam tìm kiếm một khoản vay 5 năm với tổng trị giá 3.780.000 USD của ngân hàng do Ngân hàng TMCP Quân Đội làm Ngân hàng đầu mối, các ngân hàng đồng tài trợ là Vietcombank, Ngân hàng TMCP Hàng Hải và Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội. Trong đó, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội tài trợ 900.000 USD. Bảng 6: Kế hoạch tài chính. Đơn vị: USD. Chỉ tiêu. Số tiền. Vốn chủ sở hữu. Vốn vay dài hạn. Tổng số. 620.000 3.780.000 4.400.000 Nguồn: Kế hoạch tài chính dự án đầu tư- Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam. - Phân tích Thế mạnh-Điểm yếu- Thời cơ- Nguy cơ(SWOT) của dự án đầu tư. Thế mạnh: Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trong ngành. Là một Tổng Công ty 91mạnh với các đơn vị thành viên đóng tại nhiều địa phương trong toàn quốc, VINALINES có quan hệ tốt với nhiều khách hàng và nhiều ngân hàng. Mặt khác, trong các năm qua, Tổng Công ty đã thực hiện tốt chủ trương nâng cao năng lực vận tải và trẻ hoá đội tàu biển, thực hiện đầu tư nâng cấp, sửa chữa xây dựng mới hệ thống cầu cảng. Do vậy, hiệu suất khai thác phương tiện và cảng biển của Tổng Công ty tăng lên đáng kể. Điểm yếu: Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam còn bị hạn chế về nguồn tài chính. Nguồn vốn đầu tư vào tài sản cố định của Tổng Công ty chủ yếu từ vay ngân hàng, nguồn vốn khấu hao dành cho việc tái đầu tư ; mức tăng vốn chủ sở hữu từ nguồn lợi để lại và nguồn vốn Ngân sách cấp khá thấp. Điều này làm cho tỷ lệ Nợ/ Vốn chủ sở hữu giảm. Mặt khác về chiều sâu, công tác tổ chức quản lý của Tổng Công ty vẫn còn nhiều điều bất cập cần phải sắp xếp, tổ chức lại. Cơ hội: Nhu cầu về vận chuyển hàng hoá bằng container tăng mạnh trong thời gian tới. Với dự án đầu tư mua thêm tàu chuyên dụng chở container, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam sẽ nâng cao hơn nữa năng lực vận tải và khả năng cạnh tranh của mình. Nguy cơ: Mặc dù nhu cầu vận chuyển hàng hoá bằng container có tốc độ tăng trưởng cao nhưng sự cạnh tranh giữa các hãng tàu vận chuyển container trên thế giới ngày càng trở nên khốc liệt. Nếu Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam không nâng cao chất lượng dịch vụ vận chuyển, trẻ hoá đội tàu thì nguy cơ bị tụt hậu là rất lớn. - Thị trường. + Thị trường tàu container của khu vực và thế giới. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 70% hàng hoá được vận chuyển bằng container, trong đó Châu Á - Thái Bình Dương đã trở thành khu vực vận chuyển container lớn nhất trên thế giới, chiếm 65% tổng lượng hàng hoá vận chuyển trên thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của phương thức vận chuyển hàng hoá bằng container trên toàn thế giới và đặc biệt là Châu Á mà trọng điểm là khu vực Đông Nam Á đã có ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu và sự tăng trưởng về trọng tải của đội tàu thế giới theo hướng container hoá. Cùng với sự phát triển phương thức vận chuyển hàng container, nhu cầu phát triển đội tàu trên thế giới cũng tăng lên nhanh chóng. + Thị trường tàu container Việt Nam. Tại Việt Nam, nhu cầu vận chuyển bằng container có tốc độ tăng trưởng rất mạnh. Năm 1989, tổng lượng hàng hoá vận tải của Việt Nam mới ở mức 21.000 TEU, đến năm 1999, con số này đã tăng lên khoảng gần 1.000.000 TEU, với tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 25%/ năm. Dự kiến đến năm 2005, tổng lượng hàng hoá vận tải bằng container có thể đạt 2.400.000 TEU. Đánh giá chung về tình hình đầu tư phát triển đội tàu của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam. Kể từ khi đi vào hoạt động đến nay, một trong những mục tiêu chiến lược phát triển quan trọng nhất của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam là đầu tư, phát triển đội tàu nhằm nhanh chóng trẻ hoá và cơ cấu lại đội tàu theo hướng chuyên dụng phù hợp với xu thế phát triển của các phương thức vận tải tiên tiến trên thế giới và trong khu vực. Để thực hiện mục tiêu này, Tổng Công ty và các đơn vị thành viên trong thời gian qua đã tập trung đầu tư nhiều tàu chuyên dụng để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá nội địa và hàng hoá xuất – nhập khẩu của đất nước. Trong số các tàu chuyên dụng nói trên, việc đầu tư đội tàu container là một trong những ưu tiên hàng đầu của Tổng Công ty nhằm bắt kịp với sự phát triển của xu thế container hoá trong vận tải biển trên toàn thế giới, đặc biệt là trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Trong 5 năm hoạt động( từ 1996- 2000) Tổng Công ty đã chiếm 15% thị phần vận chuyển hàng container xuất- nhập khẩu và 80% thị phần vận chuyển hàng container nội địa. 2. Hiệu quả của dự án đầu tư. Sau khi mua tàu, cơ quan Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam trực tiếp quản lý và khai thác. Theo dự án được duyệt, có 2 phương án: phương án cho thuê định hạn và kinh doanh vận tải tuyến đường Hải Phòng- Thành phố Hồ Chí Minh- Singapore. Trường hợp khai thác vận tải, Tổng Công ty sẽ phải giao tàu cho một đơn vị thành viên. Do vậy, theo đánh giá của Ngân hàng TMCP á Châu Hà Nội thì phương án cho thuê định hạn sẽ là phương án được chọn. Hiện nay, hầu hết các con tàu đã được đầu tư do cơ quan Tổng Công ty trực tiếp quản lý đều thực hiện cho thuê định hạn. Theo thông lệ, khi cho thuê định hạn( trừ trường hợp cho thuê với điều khoản đặc biệt) bên thuê tàu phải trả tiền thuê tàu được tính theo ngày hoạt động, chi phí cảng biển, dịch vụ hàng hải, biến bãi, xếp dỡ, thuê vỏ container, chi phí nhiên liệu. Bên cho thuê phải chịu các chi phí: chi phí khấu hao, chi phí bảo hiểm, tiền lương thuyền viên, tiền ăn, chi phí bảo dưỡng và sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn, chi phí nước ngọt, chi phí dầu mỡ bôi trơn. § Thu nhập của dự án. Dự án được tính với giá cho thuê tàu định hạn là 4.700 USD/ ngày, mức giá cho thuê tàu như vậy được đánh giá là khá thấp. Theo dự tính, số ngày khai thác trong năm là 320 ngày được tính bằng số ngày trong năm trừ số ngày dừng tàu để sửa chữa. Thời gian dừng tàu để sửa chữa lớn là 30 ngày, thời hạn lên đà là 2,5 năm/ lần. Mỗi tháng tàu phải dừng 2 ngày để sửa chữa thường xuyên. Thời gian dự phòng sửa chữa bất thường là 9 ngày/ năm. Như vậy, mỗi năm Tổng Công ty thu được số tiền từ việc cho thuê tàu là: 320 ngày x 4.700 USD = 1.504.000 USD. § Chi phí của dự án. - Chi phí khấu hao: Khấu hao theo đường thẳng, với thời hạn 5 năm, mỗi năm 880.000 USD. - Chi phí bảo hiểm: + Phí bảo hiểm P&I: 8.678 GRT x 3USD/GRT = 26.034 USD. + Bảo hiểm thân tàu: 4.400.000 USD x 1% năm= 44.000 USD. - Chi phí sửa chữa: + Trích trước sửa chữa lớn: 100.000 USD/ năm. + Chi phí sửa chữa thường xuyên: 100.000 USD/ năm. - Chi phí tiền lương, tiền ăn cho thuyền viên( biên chế 22 người). + Tiền lương: 66.000 USD/ năm. + Tiền ăn: 3,5USD/người/ngày= 24.640 USD/ năm. - Chi phí quản lý: 33.000 USD/ năm. - Chi phí nước ngọt: 24.000 USD/ năm. - Chi phí vật liệu, dầu mỡ phụ: Tổng khối lượng nhiên liệu tiêu hao x 2%. + Giá dầu mỡ phụ tình trung bình: 1.000 USD/ tấn. + Tiêu hao nhiên liệu: Hàng hải: 25,5 tấn FO và 1,5 tấn DO/ ngày. Tại cảng: 2,5 tấn DO/ ngày. Tổng chi phí vật liệu dầu mỡ phụ: 114.975 USD/ năm. Bảng 7: Tổng hợp thu nhập và chi phí. Thời hạn sử dụng con tàu: 7 năm. Thời hạn hoạt động: 320 ngày/ năm. Thời hạn cho thuê: 320 ngày/ năm. Giá cho thuê: 4.700 USD/ ngày. Thuế thu nhập: 25%. Thuế VAT: 5%. Chi tiết. Đơn vị Năm 1. Năm 2. Năm 3. Năm 4. Năm 5. Năm 6. Năm 7. Ngày cho thuê. Giá cho thuê. Doanh thu. Tổng chi phí. Khấu hao cơ bản. Trích SCL. Sửa chữa thường xuyên. Vật liệu, dầu mỡ phụ. Lương thuyền viên. Tiền định lượng. BHXY, BHYT, KPCĐ. Bảo hiểm tàu. Chi phí quản lý. Chi phí nước ngọt và chi khác. Lãi vay. Lãi trước thuế. Thuế thu nhập. Lãi sau thuế. Ngày. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. USD. 320 4.700 1.504.000 1.666.910 880.000 100.000 100.000 114.975 66.000 24.640 2.891 70.034 33.000 24.000 251.370 (162.910) 0 (162.910) 320 4.700 1.504.000 1.619.660 880.000 100.000 100.000 114.975 66.000 24.640 2.891 70.034 33.000 24.000 204.120 (115.660) 0 (115.660) 320 4.700 1.504.000 1.565.228 880.000 100.000 100.000 114.975 66.000 24.640 2.891 70.034 33.000 24.000 149.688 (61.228) 0 (61.228) 320 4.700 1.504.000 1.510.796 880.000 100.000 100.000 114.975 66.000 24.640 2.891 70.034 33.000 24.000 95.256 (6.796) 0 (6.796) 320 4.700 1.504.000 1.456.364 880.000 100.000 100.000 114.975 66.000 24.640 2.891 70.034 33.000 24.000 40.824 47.636 11.909 35.727 320 4.700 1.504.000 535.540 880.000 100.000 100.000 114.975 66.000 24.640 2.891 70.034 33.000 24.000 968.460 242.115 726.345 320 4.700 1.504.000 535.540 880.000 100.000 100.000 114.975 66.000 24.640 2.891 70.034 33.000 24.000 968.460 242.115 726.345 Nguồn: Tờ trình thẩm định khách hàng- Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội. Với mức lãi vay đầu tư là 7%/ năm cho năm đầu tiên của dự án, các năm tiếp theo tính ở mức 7,2%/ năm, kết quả tính toán tài chính của dự án ở bảng 7 cho thấy: Dự án bị lỗ trong 4 năm đầu tiên do mức khấu hao cao( khấu hao trong 5 năm) để trả nợ nhưng mức lỗ không quá lớn. Bảng 7: Dòng tiền của dự án. Đơn vị: USD. Chỉ tiêu. Năm 0. Năm 1. Năm 2. Năm 3. Năm 4. Năm 5. Năm 6. Năm 7. Doanh thu. Tổng chi phí. Lợi nhuận trước thuế. Thuế thu nhập. Lợi nhuận sau thuế. Khấu hao cơ bản. Lợi nhuận+ Khấu hao. Trả nợ gốc. Tổng vốn đầu tư. Vay ngân hàng. Khả năng trả nợ vay. (4.400.000) 3.780.000 (620.000) 1.504.000 1.666.910 (162.910) 0 (162.910) 880.000 717.090 756.000 (38.910) 1.504.000 1.619.660 (115.660) 0 (115.660) 880.000 764.340 756.000 8.340 1.504.000 1.565.228 (61.228) 0 (61.228) 880.000 818.772 756.000 62.772 1.504.000 1.510.796 (6.796) 0 (6.796) 880.000 873.204 756.000 117.204 1.504.000 1.456.364 47.636 11.909 35.727 880.000 915.727 756.000 159.727 1.504.000 535.540 968.460 242.115 726.345 0 726.345 726.345 1.504.000 535.540 968.460 242.115 726.345 0 726.345 726.345 NPV.(Lãi suất 7,5%/ năm) 473.511 IRR. 18.57% Nguồn: Tờ trình thẩm định khách hàng- Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội. Dòng tiền của dự án đảm bảo trả nợ tiền vay trong 5 năm, mặc dù trong năm đầu tiên của dự án nguồn để trả nợ không đủ nhưng mức thâm hụt khá nhỏ( khoảng 5%). Do vậy, Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam vẫn có khả năng đảm bảo hoàn trả vốn vay ngân hàng mà không ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty nói chung và dự án nói riêng. Dự án được tính với 7 năm, tuy vậy qua thực tế khai thác các con tàu hiện có của Tổng Công ty cho thấy các con tàu vẫn có khả năng khai thác hiệu quả ở tuổi 25, cá biệt có con tàu khai thác đến tuổi 30. Mặt khác, dự án cũng chưa tính đến giá trị giải bản của con tàu khi ngừng khai thác. Dự kiến giá trị giải bản của con tàu DEJA BHUM sau 10 năm khai thác là 540.000 USD. § Phân tích độ nhạy của dự án. V. Nhận xét. 1. Về khách hàng. Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam hiện được đánh giá là một Tổng Công ty 91 mạnh và hoạt động có hiệu quả. Qua 5 năm hoạt động kể từ ngày thành lập, Tổng Công ty đã có vai trò nhất định trong kiện toàn tổ chức, củng cố lại những đơn vị thành viên hoạt động yếu kém, đầu tư mạnh mẽ để đổi mới, trẻ hoá đội tàu, nâng cao chất lượng dịch vụ, chất lượng cảng biển, làm tăng thêm sức mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam trên thị trường vận tải biển Việt Nam và khu vực. Các chỉ tiêu an toàn tài chính của Tổng Công ty giảm nhiều do tốc độ vay vốn đầu tư lớn, dự kiến con số này sẽ tiếp tục giảm trong những năm tới do tốc độ đầu tư tài sản không giảm trong khi mức tăng vốn chủ sở hữu khá chậm. Cho đến thời điểm ngày 31/12/1999, tỷ lệ Nợ/ Vốn chủ sở hữu bằng 1/1, so với phần lớn các Tổng Công ty của Nhà nước nói chung hệ số này ở mức trung bình. Tuy nhiên, tiềm năng phát triển của Tổng Công ty là rất lớn. 2. Về dự án đầu tư. Tàu chuyên dụng chở container DEJA BHUM đã được Đăng kiểm DET NORSK VERITAS Na Uy giám định ngày 01/10/2000. Kết quả giám định cho thấy Tàu hiện nay không có hư hỏng về thân tàu và máy móc. Loại tàu này phù hợp với việc khai thác Feeder, mớn nước của tàu được thiết kế phù hợp với hầu hết các cảng biển trong nước và được thiết kế chuyên dụng chở các loại container tiêu chuẩn 20 và 40 feet. Với nhu cầu sử dụng tàu container hiện nay và qua thực tế khai thác những con tàu của Tổng Công ty đã đầu tư cho thấy: với kinh nghiệm và khả năng hiện có của mình, Chủ đầu tư hoàn toàn có khả năng vận hành tốt dự án, Mặt khác, thông qua việc thẩm định các chỉ tiêu về tài chính của dự án đầu tư cho thấy, dự án đầu tư của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam là một dự án khả thi và với việc cho thuê tàu định hạn, Tổng Công ty có thể hoàn trả vốn vay sau 4 năm 6 tháng và hoạt động có lãi. III. MỘT SỐ NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU HÀ NỘI 1. Kết quả đạt được Thành công nổi bật của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội trong thời gian qua là đã góp phần vào việc mở rộng các hoạt động cho vay, nâng cao doanh số cho vay, nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế mức độ rủi ro tín dụng. Những kết quả đạt được cụ thể như sau: · Công tác thẩm định dự án. - Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính như NPV, IRR, thời gian hoàn vốn, độ nhạy cảm đã bước đầu được đề cập đến trong một số dự án đầu tư, làm cho các kết quả thẩm định được toàn diện, chính xác hơn. - Các chỉ tiêu thẩm định dự án được sử dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội là các chỉ tiêu trong hệ thống phân tích tương đối hiện đại của Việt Nam và trên thế giới. Các phương pháp tính toán hệ thống chỉ tiêu phân tích đa dạng, khoa học, chính xác và phù hợp với các quyết định của Nhà nước và của Ngân hàng. · Tổ chức và phương pháp điều hành. - Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội đã xây dựng được một quá trình thẩm định mang tính thống nhất trong toàn Ngân hàng. - Việc phân định rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm giữa các bộ phận, nhân viên, việc thẩm định, xét duyệt tín dụng ngày càng được nâng cao. - Chủ động tiếp thị lựa chọn các khách hàng tốt( đặc biệt là khối khách hàng liên doanh), duy trì, củng cố các khối khách hàng quen cũ. · Đội ngũ cán bộ và công tác đào tạo cán bộ. - Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội đã xây dựng được đội ngũ cán bộ thẩm định có kiến thức rộng và chuyên sâu về các lĩnh vực, đặc biệt là kiến thức thẩm định dự án đầu tư. - Các cán bộ đều có trình độ Đại học chuyên ngành trở lên, nhiệt tình và có trách nhiệm với công việc. - Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội nói riêng và toàn bộ hệ thống Ngân hàng TMCP Á Châu nói chung đặc biệt chú trọng đến việc đào tạo nhân viên tín dụng( đã ký hợp đồng đào tạo với Ngân hàng Far East Bank and Trust Company, Philipin và triệu tập nhiều khoá học tại ACB Hội sở do các chuyên gia của FEB giảng dạy, đã cử nhiều nhân viên tham gia các khoá học về tín dụng do Ngân hàng Nhà nước, các Ngân hàng nước ngoài, các dự án quốc tế tài trợ). · Trang thiết bị thông tin. Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội đã trang bị hệ thống máy tính hiện đại, đáp ứng nhu cầu sử dụng của nhân viên tín dụng, đảm bảo mỗi người một máy tính, một điện thoại và ô chỗ ngồi riêng biệt, yên tĩnh để xử lý công việc được chính xác và tập trung. Ngoài ra, hàng ngày Phòng Tín dụng còn được cung cấp nhiều sách báo, tạp chí, tài liệu tham khảo cần thiết cho việc khai thác và tiếp nhận thông tin như : Báo Đầu tư, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Kinh tế Sài Gòn, Giá cả thị trường, ... cũng như nhiều tài liệu, văn bản mới nhất của các Bộ, ngành có liên quan và các tài liệu nội bộ trong hệ thống ACB và các thông tin cung cấp từ Trung tâm phòng chống rủi ro- Ngân hàng Nhà nước (CIC). 2. Một số hạn chế còn tồn tại của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội - Thông tin số liệu. Nguồn số liệu thể hiện qua các báo cáo tài chính, luận chứng kinh tế kỹ thuật do khách hàng cung cấp không trung thực đã gây khó khăn lớn cho việc thẩm định tín dụng của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội. - Thẩm định vốn đầu tư của dự án. Khi thẩm định việc tính toán các chỉ tiêu tài chính phụ thuộc rất nhiều vào tổng vốn đầu tư ban đầu. Nếu nguồn vốn được tính quá cao sẽ gây lãng phí vốn, làm giảm hiệu quả của dự án. Ngược lại, nếu tính quá thấp thì kết quả tính toán sẽ sai lệch, thiếu vốn, gây khó khăn cho việc thực thi dự án. Vì vậy, tính toán đầy đủ, hợp lý vốn đầu tư ban đầu là công việc rất khó nhưng cũng rất quan trọng. Khi thẩm định, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội đã có nhiều cố gắng trong việc điều tra, xem xét lại số liệu vốn đầu tư ban đầu mà Chủ dự án cung cấp có mức độ hợp lý đến đâu. Tuy vậy, do đây là một công việc rất phức tạp nên Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội vẫn không thể tránh khỏi những sai sót. - Tính doanh thu và chi phí hàng năm của dự án. Công việc này ở Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội chủ yếu áp dụng phương pháp định lượng và so sánh với các doanh nghiệp khác cùng ngành, so với chỉ tiêu bình quân ngành để tìm ra tính cạnh tranh. Một số khoản mục chi phí rất khó xác định như : chi phí tiêu thụ, chi phí ngoài sản xuất, chi phí quảng cáo và các phí khác. Mức chi này hiện chưa có quy định khống chế theo tỷ lệ nào do đó khó xác định được tổng chi phí hợp lý, dẫn đến việc xác định sai chỉ tiêu lợi nhuận. - Phương pháp đánh giá tài chính dự án. Vấn đề giá trị thời gian của tiền bị xem nhẹ. Vì thế, việc tính toán các chỉ tiêu NPV, IRR, PI và một số chỉ tiêu khác không hoàn toàn chính xác. ngân hàng chỉ coi các số liệu phân tích như một bảng thông tin tham khảo, và chỉ xem xét dự án trong thời gian Ngân hàng cho vay, đồng thời áp đặt một số tính toán để cho dự án có khả năng trả hết nợ trong thời gian vay vốn như cách tính khấu hao, tỷ lệ dùng để trả nợ. - Tỷ lệ chiết khấu. Tỷ lệ chiết khấu không có sự thống nhất giữa các cán bộ thẩm định của Ngân hàng. Mặt khác, khi tính thời gian thu hồi vốn đầu tư, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội thường so sánh giá trị luỹ kế của lợi nhuận và khấu hao hàng năm với tổng vốn đầu tư mà không tính đến yếu tố thời gian của tiền. Việc tính như vậy là không chính xác vì thời điểm bỏ vốn đầu tư và thời điểm thu hồi vốn đầu tư thay đổi qua các năm, vì thế mà giá trị của tiền đã thay đổi. Do đó, thời gian thu hồi vốn theo tính toán và trên thực tế khác xa nhau. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch thu nợ của Ngân hàng. - Phân tích độ nhạy. Việc thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội mới chỉ dừng ở mức phân tích trạng thái tĩnh, chưa đi sâu phân tích những biến động của thị trường, môi trường kinh tế, môi trường chính trị và các yếu tố ảnh hưởng khác. Vì vậy, việc thẩm định dự án chưa chỉ ra được mức độ ảnh hưởng của môi trường đến dự án, do đó không đề ra được những biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro gây ra bởi các nguyên nhân khách quan. - Xác định khả năng trả nợ của dự án. Đây là một chỉ tiêu được các ngân hàng đặc biệt quan tâm. Ở Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội, khi thẩm định dự án chỉ tiêu này cũng được các cán bộ thẩm định rất quan tâm. Khả năng trả nợ của một dự án đầu tư được xác định theo công thức: Nguồn trả nợ = Lợi nhuận ròng dùng để trả nợ + Khấu hao cơ bản + Nguồn khác. Đối với những năm mà dự án bị thua lỗ, tức là dự án có lợi nhuận âm thì chỉ tiêu này được xác định theo công thức: Nguồn trả nợ = Khấu hao cơ bản + Nguồn khác. Rõ ràng cách tính khả năng trả nợ của dự án trong những năm dự án có lợi nhuận âm được xác định như vậy là không chính xác. Bởi vì khi bị thua lỗ, thì việc tính khấu hao cơ bản chỉ là một việc làm mang tính hình thức trên sổ kế toán. Khi đó, dòng tiền mà dự án thực sự thu được sẽ giảm đi so với việc tính toán và nguồn trả nợ theo tính toán của Ngân hàng sẽ không đúng. 3. Nguyên nhân 3.1. Nguyên nhân chủ quan - Sự thiếu hụt thông tin. Hiện nay, nguồn thông tin mà Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội có được phần lớn là do khách hàng cung cấp. Nguồn thông tin này thường là không đầy đủ, đôi khi còn không chính xác. Do vậy, rất khó khăn trong việc thẩm định dự án. - Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư. Phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội vẫn còn nhiều điều theo tôi là bất hợp lý. Nhiều cán bộ tín dụng còn xem nhẹ việc dự báo tài chính trong khi lại quá coi trọng các khía cạnh khác của dự án đầu tư. Mặt khác, phương pháp thẩm định của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội còn mang tính chất truyền thống là dựa vào kinh nghiệm cá nhân của các cán bộ thẩm định mà tiếp cận chưa nhiều với các phương pháp thẩm định hiện đại. - Cán bộ. + Là một ngân hàng TMCP mới được thành lập 7 năm, do đó đối với Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội nói riêng và Ngân hàng TMCP Á Châu nói chung, hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư chưa phải là một hoạt động truyền thống và chưa là một thế mạnh của Ngân hàng. Chính vì thế, mặc dù đội ngũ cán bộ thẩm định có trình độ về lĩnh vực tài chính nhưng lại chưa có kinh nghiệm, chưa hiểu biết sâu về các khía cạnh kỹ thuật và xây dựng cơ bản. + Cán bộ thẩm định của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội còn chủ quan trong việc thẩm định các khách hàng quen của Ngân hàng. Đối với các khách hàng này do họ có quan hệ tốt , có uy tín với Ngân hàng nên công tác thẩm định đối với các dự án của họ bị xem nhẹ. Lợi dụng điều đó, một số khách hàng đã cung cấp cho Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội những thông tin sai lệch, không chính xác để đạt được mục đích là vay được vốn. Chính vì thế, đã làm giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội trong thời gian qua. 3.2. Nguyên nhân khách quan - Các văn bản hướng dẫn về chế độ, quy định về quản lý đầu tư, thẩm định của Nhà nước còn chồng chéo nhau, chưa đầyđủ, thiếu tính ổn định, thủ tục còn nặng nề. Mặt khác, năng lực thẩm định tài chính của các cơ quan chức năng và các cơ quan chủ quản còn hạn chế. - Các đơn vị trong Ngành ngân hàng chưa có sự tập trung hỗ trợ lẫn nhau, cũng như còn ít cung cấp cho nhau những thông tin và kinh nghiệm trong công tác thẩm định. - Các doanh nghiệp nước ta hiện nay có tiềm lực tài chính chưa mạnh, các báo cáo tài chính không được kiểm toán nên việc phân tích các báo cáo này gây rất nhiều khó khăn cho các nhân viên thẩm định của Ngân hàng. CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU HÀ NỘI I. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU HÀ NỘI Trong thời gian qua, hoạt động của ngành ngân hàng nói chung và công tác tín dụng nói riêng chịu nhiều tác động tiêu cực. Do vậy, hoạt động của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội không tránh khỏi những khó khăn. Tuy nhiên, do bán sát diễn biến tình hình thực tế, cùng với sự chỉ đạo tháo gỡ khó khăn kịp thời của Ban Tổng giám đốc, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội đã khẩn trương khắc phục những khó khăn, tồn tại để thực hiện nhiều giải pháp phù hợp với tình hình thực tế. Vì vậy, hoạt động của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội đã hạn chế được phần nào những ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng, mở rộng thị trường, giữ vững tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, nâng cao chất lượng và mở rộng tín dụng. Phát huy những thành quả đạt được và với mục tiêu phát triển hơn nữa, trong thời gian tới hoạt động của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội hướng tới những mục tiêu sau đây: - Với phương trâm “An toàn-Hiệu quả-Phát triển”, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội tận dụng mọi thời cơ để mở rộng đầu tư, nâng dần tỷ trọng cho vay trung và dài hạn, nâng cao chất lượng tín dụng, phấn đấu giảm tỷ lệ nợ quá hạn xuống dưới 2%. - Chủ động bố trí vốn, trực tiếp tham gia hoặc đồng tài trợ với các ngân hàng thương mại khác để phát huy mạnh mẽ sức mạnh về vốn, kinh nghiệm hoạt động ngân hàng. - Tạo điều kiện thuận lợi cho người vay vốn với các chính sách và chất lượng dịch vụ hấp dẫn khách hàng. - Mở rộng tín dụng gắn liền với việc củng cố, nâng cao hiệu quả, chất lượng tín dụng, bảo đảm khả năng thu hồi vốn, giảm tỷ lệ nợ quá hạn, nợ khó đòi. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP Á CHÂU HÀ NỘI Muốn nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi trong việc đảm bảo chất lượng tín dụng, việc đầu tiên và rất cần thiết là phải có nhận thức và định hướng đúng đắn. 1. Một số định hướng cho công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội Trong thời gian tới, công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội dựa trên những định hướng sau: - Công tác thẩm định dự án phải xuất phát từ tình hình thực tiễn của từng ngành và nhằm phục vụ cho hoạt động cho vay của Ngân hàng trong từng giai đoạn. - Công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư phải được lãnh đạo và các nhân viên tín dụng của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội quan tâm hơn nữa. Tất cả các nhân viên tín dụng trong toàn hệ thống ACB sẽ được đào tạo những kỹ năng, kiến thức của công tác thẩm định dự án để phát huy hơn nữa hiệu quả của công tác tín dụng. Việc làm này sẽ được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện đối với tất cả các dự án cho vay. - Công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư phải được xây dựng theo hướng mang tính đặc thù riêng của Ngân hàng. 2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội, tôi đã được xem xét hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng. Nhận thức được những kết quả đã đạt được cũng như các mặt còn tồn tại, hạn chế trong công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội, thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu các nguyên nhân chủ quan và khách quan, tôi xin đề ra một số giải pháp nhằm góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu các biện pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội: 2.1.Giải pháp về nhân tố con người Con người là nhân tố trung tâm chi phối, ảnh hưởng và quyết định đến hoạt động thẩm định dự án đầu tư. Vì vậy, để nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư thì điều đầu tiên và quan trọng nhất là Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội phải xây dựng một chiến lược dài hạn về phát triển nguồn nhân lực. Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần phải có những cán bộ có năng lực hội đủ ba điều kiện: trình độ, kinh nghiệm và sở trường( năng khiếu cá nhân). Để đáp ứng được yêu cầu này, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần tập trung vào các vấn đề sau: · Vấn đề tuyển dụng cán bộ. Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần có một chính sách hợp lý trong việc tuyển dụng nguồn nhân lực, thu hút được những sinh viên có trình độ, năng lực chuyên môn về chuyên ngành tài chính ngân hàng ở các trường Đại học chứ không nên chỉ quan tâm đến sinh viên của một số trường Đại học có uy tín, bởi như vậy chưa chắc đã thu hút được nhân tài. Mặt khác, Ngân hàng chỉ nên tuyển dụng những người có năng lực thực sự, có năng khiếu, có tinh thần học hỏi để vươn lên chứ không nên tuyển dụng những người có bằng tốt nghiệp Đại học loại giỏi, khá nhưng lại không có năng lực, không làm được việc. Bên cạnh đó, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội nên có chính sách “Chiêu hiền, đãi sỹ”, để thu hút được đội ngũ chuyên gia giỏi phục vụ, hoặc cộng tác với Ngân hàng. · Vấn đề bồi dưỡng cán bộ. Các cán bộ phải thường xuyên được bồi dưỡng nâng cao kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ. Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần thường xuyên phối hợp với Hội sở để giúp các cán bộ có điều kiện tiếp thu những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ mới để họ có thể làm tốt công việc được giao. · Vấn đề đãi ngộ. Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội nên có chính sách ưu đãi, động viên khuyến khích kịp thời đối với cán bộ để họ năng cao tinh thần trách nhiệm đối với Ngân hàng. Nếu Ngân hàng làm tốt công tác đãi ngộ đối với cán bộ nhân viên thì họ sẽ tận tâm, tận lực hoạt động vì mục tiêu chung của Ngân hàng. 2.2. Giải pháp về phương pháp thẩm định. · Vấn đề giá trị thời gian của tiền. Đây là vấn đề mấu chốt của thẩm định tài chính dự án đầu tư nhưng lại chưa được Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội quan tâm đúng mức. Một trong những đặc thù của hoạt động đầu tư là lợi ích và chi phí phát sinh ở các giai đoạn khác nhau nhưng giá trị đồng tiền ở các thời điểm khác nhau là khác nhau. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần có một phương pháp quy đổi dòng tiền xuất hiện ở các giai đoạn khác nhau. Trong thời gian tới, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần quan tâm đến việc đánh giá giá trị thời gian của tiền trong việc đánh giá, phân tích tài chính dự án xin vay. Có làm như vậy thì kết quả thẩm định tài chính dự án đầu tư mới chính xác, góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng. · Áp dụng các phương pháp thẩm định hiện đại. Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần phổ cập và tăng cường áp dụng những phương pháp, chỉ tiêu thẩm định trên cơ sở tham khảo học hỏi kinh nghiệm của các ngân hàng hiện đại, có nhiều kinh nghiệm trong công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong nước, thế giới. Qua đó, áp dụng một cách khoa học, sáng tạo vào tình hình thực tế của Ngân hàng. Mặt khác, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần áp dụng nhiều hơn nữa việc tính toán các chỉ tiêu đánh giá dự án đầu tư như : giá trị hiện tại ròng NPV, tỷ suất sinh lời nội bộ IRR, chỉ số doanh lợi PI, sử dụng các chỉ tiêu này làm tiêu chuẩn trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động, lựa chọn dự án đầu tư trong hoạt động cho vay. Ba chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh chính xác hiệu qủa hoạt động tài chính của dự án. Bởi ba chỉ tiêu này cực kỳ quan trọng, nó phản ánh chính xác hiệu quả tài chính của dự án. · Tính dòng tiền. Phần lớn các dự án đầu tư đều có giá trị thu hồi. Tài sản cố định, các máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng khi dự án kết thúc còn có một giá trị nhất định: Khi chúng được bán, thanh lý, sẽ thu hồi được một dòng tiền cuối dự án. Một điều chú ý là dòng tiền này phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp vì nó là luồng tiền hoạt động trước thuế. Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cũng cần tính khoản thu hồi vốn lưu động ròng, khoản thu hồi này sẽ được cộng vào luồng tiền ở năm cuối cùng của dự án. · Tính doanh thu và chi phí. Doanh thu và chi phí là hai yếu tố quan trọng của dự án. Nó có ảnh hưởng đến việc tính toán các chỉ tiêu còn lại trong thẩm định dự án. Đây là bước quan trọng nhưng cũng rất khó khăn trong quá trình phân tích. Việc dự báo doanh thu bán hàng liên quan đến các nhân tố như khuynh hướng tăng trưởng kinh tế, giá cả, ... · Tính khấu hao. Khi tính khấu hao, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần chú ý tới cơ cấu của chi phí đầu tư cho dự án để áp dụng các tỷ lệ khấu hao phù hợp. Đối với phần chi phí trước vận hành, Ngân hàng cần tính tách riêng ra để thu hồi trong một số năm đầu khi dự án đi vào hoạt động chứ không nên tính gộp cùng với chi phí xây lắp. · Tính lãi suất và chiết khấu. Trong thời gian tới Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội có thể áp dụng hai phương pháp tính lãi suất chiết khấu sau: + Tính chi phí bình quân gia quyền của vốn đầu tư làm giảm lãi suất chiết khấu. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, việc tính chi phí của vốn tự có là một việc rất khó. + Lấy lãi suất trái phiếu kho bạc Nhà nước làm tỷ lệ chiết khấu cộng thêm một mức độ rủi ro tương ứng của lĩnh vực, ngành nghề sản xuất kinh doanh mà dự án hoạt động. · Phân tích tài chính. Công tác phân tích tài chính của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần tập trung vào việc xem xét kế hoạch tài chính ngắn hạn và các chỉ tiêu phân tích tài chính ở từng năm. Đặc biệt Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần chú trọng tới hình thức thanh toán của dự án thông qua việc xem xét nhu cầu về vốn lưu động, tính hợp lý của các chính sách tiền mặt, chính sách dự trữ, tín dụng thương mại. Những chính sách này phải được bảo đảm cân đối các luồng tiền mặt ra và luồng tiền mặt vào của dự án. Ngân hàng cũng cần phải lập thêm các bảng dự trù cân đối tài sản, cân đối thu chi, kế hoạch Ngân quỹ để thuận tiện trong việc phân tích tài chính. · Các bảng tính. Trong bảng tính hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ của dự án Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần sửa đổi một số chỉ tiêu như : thuế VAT không nằm trong kế hoạch chi phí vì nó không phải là chi phí của doanh nghiệp. Ngân hàng cũng cần lập thêm bảng phân tích dòng tiền để thấy rõ các dòng tiền ra, vào của dự án và thuận lợi cho việc tính toán các chỉ tiêu NPV, IRR. · Phân tích về độ nhạy. Một dự án đầu tư thường tồn tại trong một thời gian dài, các dòng tiền đi vào và đi ra khỏi dự án trong thời gian đó. Luồng tiền ròng của dự án phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố mà mỗi yếu tố ở mỗi mức độ khác nhau đều có tính không chắc chắn nhất định, hay còn gọi là rủi ro. Bằng việc phân tích độ nhạy, Ngân hàng sẽ thu được mức độ chắc chắn của các yếu tố cần xác định và kết quả hoạt động của dự án. Vì vậy, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội có thể loại bớt được các dự án có mức độ rủi ro cao. Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cũng cần nên xem xét sự biến động của tỷ lệ chiết khấu tới các chỉ tiêu NPV, PI đối với tất cả dự án đầu tư vì những chỉ tiêu này rất nhạy cảm với tỷ lệ chiết khấu. 2.3.Giải pháp về thông tin. Chất lượng công tác thẩm định dự án đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào số lượng cũng như chất lượng thông tin thu thập được. Chính vì thế, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội phải nhanh chóng hoàn thiện, xây dựng một hệ thống thu thập thông tin và xử lý thông tin, nâng cao chất lượng thông tin phục vụ cho hoạt động thẩm định dự án đầu tư. Để đạt được mục tiêu đó, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cần phải làm những việc sau: · Tăng cường hệ thống thông tin nội bộ. Những thông tin cần thiết liên quan đến dự án, thẩm định dự án phải được cung cấp một cách kịp thời, nhanh chóng, đầy đủ, chính xác nhất và thông suốt trong toàn hệ thống. Việc trao đổi thông tin giữa các Phòng và Chi nhánh được thực hiện thông qua mạng máy tính nội bộ. Mặt khác, thông tin cũng được tổng hợp theo hướng bao gồm ba nội dung: Thông tin kinh tế xã hội, Thông tin về tài chính ngân hàng và Thông tin về giá cả thị trường. · Thu thập thông tin từ bên ngoài. Tiếp tục phát huy lợi thế về cơ sở vật chất sẵn có, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội nên phát triển hệ thống thu thập thông tin từ bên ngoài thông qua việc kết nối với mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại khác, trung tâm thông tin trong nước và quốc tế. Và đặc biệt là Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội nên kết nối với mạng thông tin toàn cầu Internet. Đây sẽ là một việc làm rất có ý nghĩa đối với việc tiếp cận thông tin của Ngân hàng. Internet là mạng thông tin toàn cầu nên Ngân hàng có thể thu thập được một lượng thông tin khổng lồ về các mặt của đời sống kinh tế xã hội, giúp Ngân hàng có nhiều thông tin hơn về thị trường, các cơ hội đầu tư, khách hàng, ... Bên cạnh đó, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội nên tham khảo nhiều hơn các ý kiến của các nhà tư vấn kỹ thuật, cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực này để trợ giúp cho việc thẩm định khía cạnh kỹ thuật công nghệ của dự án đầu tư. 2.4. Giải pháp về tổ chức điều hành. Các dự án đưa đến Ngân hàng thông thường có quy mô, lĩnh vực rất đa dạng. Việc sắp xếp, phân công dự án cần phải căn cứ vào năng lực, sở trường của từng cán bộ thẩm định để phát huy được thế mạnh của từng người. Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội cũng nên phát động phong trào nghiên cứu khoa học, qua đó tập hợp các đề xuất, sáng kiến, đề án nghiên cứu có giá trị thực tiễn để phổ cập và áp dụng vào hoạt động trong toàn hệ thống. III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ Để đảm bảo nâng cao chất lượng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại các ngân hàng, cần có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các ngành các cấp. Xuất phát từ những yêu cầu phát triển của hệ thống ngân hàng nói chung, Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội nói riêng, tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau: 1. Đối với Nhà nước, các Bộ, Ngành - Đề nghị Nhà nước, các Bộ, Ngành sớm ban hành chi tiết cho từng ngành, lĩnh vực cụ thể, tạo điều kiện thuân lợi cho việc xác định tổng vốn đầu tư và chi phí sản xuất hàng năm. - Đề nghị Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các Bộ, Ngành xây dựng đề án xác định hệ thống chỉ tiêu thẩm định mang tính chuẩn mực. - Đề nghị các Bộ, Ngành cần phối hợp chặt chẽ trong việc thẩm định và phê duyệt các dự án đầu tư, nâng cao trình độ, chất lượng thẩm định dự án đầu tư nhất là về các mặt: kỹ thuật, công nghệ, thị trường, kinh tế xã hội... Nhà nước chỉ đạo các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc các chế độ kiểm toán, thống kê và thông tin báo cáo theo đúng quy định. Ngoài ra, Chính phủ cần ban hành quy chế bắt buộc và công khai công tác kiểm toán của các doanh nghiệp giúp ngân hàng trong việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp và tài chính của dự án đầu tư. 2. Đối với Ngân hàng Nhà nước Ngân hàng Nhà nước cần hệ thống hoá những kiến thức cơ bản về thẩm định dự án hỗ trợ các ngân hàng thương mại trong việc nâng cao nghiệp vụ thẩm định và phát triển đội ngũ nhân viên. Ngân hàng Nhà nước cần mở rộng phạm vi, nội dung và tăng tính cập nhật của Trung tâm phòng ngừa rủi ro tín dụng(CIC). 3. Đối với chủ đầu tư Đề nghị các Chủ đầu tư nâng cao năng lực lập và thẩm định dự án đầu tư, chấp hành nghiêm túc việc xây dựng và lập dự án theo đúng nội dung quy định của Nhà nước về xây dựng và thẩm định dự án. KẾT LUẬN Nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư là một trong những vấn đề cấp bách và cần thiết để nâng cao chất lượng và mở rộng các hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, đây là một vấn đề rất phức tạp và rộng lớn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp trong và ngoài ngành ngân hàng. Vì vậy, nó đòi hỏi một sự nghiên cứu sâu sắc và những giải pháp đồng bộ với sự quan tâm, nỗ lực thực hiện từ nhiều phía. Trong nội dung nghiên cứu của đề tài này, tôi chỉ tập trung vào việc nghiên cứu, xem xét được một số vấn đề nhỏ và đạt được các kết quả nghiên cứu sau : -Hệ thống hoá những lý luận cơ bản về ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, nêu lên được sự cần thiết phải thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại và đưa ra một số phương pháp, chỉ tiêu tài chính quan trọng sử dụng trong thẩm định tài chính dự án đầu tư. - Xem xét công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay của Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội, rút ra được một số vấn đề cốt lõi, tổng kết những kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế và nguyên nhân dẫn đến các mặt còn hạn chế đó. - Đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội và đề xuất một số kiến nghị với các cấp để thực hiện. Như ở trên đã nói, thẩm định dự án đầu tư là những nội dung rất rộng và phức tạp, do vậy, đề tài này chỉ xin đóng góp thêm một cách tiếp cận, đánh giá mới. Những giải pháp và kiến nghị đưa ra chỉ là những đóng góp nhỏ nhằm góp phần vào việc hoàn thiện các hoạt động nghiệp vụ tại Ngân hàng TMCP Á Châu Hà Nội. Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của thầy cô, các cán bộ ngân hàng và bạn bè để các giải pháp tôi đưa ra trong Khoá luận Tốt nghiệp này có ý nghĩa thực tiễn hơn nữa. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNganHang 64.doc
Tài liệu liên quan