Nghiên cứu tôn giáo - Tác động tôn giáo tới nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của tín đồ các tôn giáo ở Tây nguyên hiện nay

Từ Nghị quyết 24, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đúng đắn rằng, nhiều giá trị đạo đức của tôn giáo phù hợp với công cuộc xây d ựng xã hội mới. Những giá trị này có tác động đến nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của người tín đồ. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, việc tôn giáo ở một vài nơi, trong đó có địa bàn Tây Nguyên, vẫn bị nhìn nhận nặng về góc độ chính trị, sẽ rất khó khăn cho việc phát huy các giá trị của tôn giáo trong bảo vệ môi trường. Một vấn đề khác đặt ra với cộng đồng các tôn giáo tại Tây Nguyên hiện nay là việc gia tăng dân số và vấn đề bảo vệ môi trường. Một mặt, dân số tại chỗ ở Tây Nguyên thời gian gần đây phát triển khá nhanh khiến không gian sống tăng lên dẫn đến việc xâm lấn môi trường xung quanh. Mặt khác, tốc độ di dân của người Kinh và các tộc người thiếu số khác càng làm gia tăng không gian sống của cư dân tại Tây Nguyên. Khảo sát thực tiễn của Viện Nghiên cứu Tôn giáo ở Tây Nguyên năm 2013 cho thấy, việc tăng dân số tự nhiên còn rất cao trong vùng đồng bào các tộc người thiểu số theo tôn giáo, nhất là với Tin Lành và Công giáo32. Điều này vừa do niềm tin tôn giáo chi phối, vừa do trình độ học vấn và điều kiện kinh tế thấp tác động tới nhận thức của người tín đồ. Việc tăng dân số này ảnh hưởng đến việc phá rừng lấy đất làm rẫy để sinh tồn33. Như vậy, dù có ý thức và hành động bảo vệ môi trường, nhưng tín đồ các tôn giáo, nhất là các tộc người thiểu số, lại bị mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng giữa áp lực dân số và bảo vệ môi trường. Muốn đưa tác động tích cực của tôn giáo với vệ môi trường của người dân, ngoài nhận thức đúng, phải có sự kết hợp các chính sách của Nhà nước trong việc xóa đói giảm nghèo, tạo điề u kiện cho đồng bào có đạo tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế, y tế, giáo dục, v.v

pdf15 trang | Chia sẻ: huyhoang44 | Ngày: 28/03/2020 | Lượt xem: 29 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu tôn giáo - Tác động tôn giáo tới nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của tín đồ các tôn giáo ở Tây nguyên hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 10 - 2014 55 NGÔ QUỐC ĐÔNG TÁC ĐỘNG TÔN GIÁO TỚI NHẬN THỨC VÀ HÀNH VI BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA TÍN ĐỒ CÁC TÔN GIÁO Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY Tóm tắt: Dựa trên kết quả cuộc khảo sát xã hội học của Viện Nghiên cứu Tôn giáo thực hiện năm 2013 ở địa bàn Tây Nguyên, bài viết trình bày quan điểm cơ bản của một số tôn giáo về môi trường; lý giải luân lý của các tôn giáo tác động như thế nào tới nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của người tín đồ. Từ đó, bài viết nêu một số vấn đề đặt ra đối với mối quan hệ giữa tôn giáo với môi trường hiện nay cũng như cách nhìn nhận về mối quan hệ đó. Từ khóa: Bảo vệ môi trường, tôn giáo với môi trường , Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Tây Nguyên. 1. Quan điểm của các tôn giáo về môi trường 1.1. Quan điểm của Công giáo về môi trường Nền tảng Kinh thánh: Quan điểm của Công giáo về môi trườ ng dựa trên nền tảng cơ bản là Kinh Thánh. Cơ sở của quan điểm này xuất phát từ sách “Sáng thế ký” trong Kinh Thánh Cựu Ước. Theo thế giới quan Kitô giáo, Thiên Chúa sáng tạo ra vũ trụ và vạn vật, trong đó thiên nhiên và con người là một công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa tạo nên mọi vật và nhìn nhận mọi thứ mình tạo ra ban đầu đều tốt đẹp 1. Con người được Thiên Chúa đặt làm trung tâm của vạn vật; duy nhất được tạo ra theo hình ảnh của Thiên Chúa. Thiên Chúa giao cho con người chịu trách nhiệm về toàn thể thế giới tự nhiên, bắt họ chăm lo sao cho tự nhiên hài hòa và phát triển2. Như vậy, thiên nhiên và con người có liên hệ mật thiết với Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo. Sự liên hệ này đòi hỏi người Công giáo phải có thái độ ứng xử với môi trường một cách hài hòa để có tương quan tốt với sản phẩm sáng tạo của Thiên Chúa. Đồng thời, họ cũng phải làm tròn trách nhiệm mà Thiên Chúa giao phó là trông coi Địa Đàng để “cày cấy và canh  ThS., Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. 56 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 10 - 2014 56 giữ đất đai” (St 2: 15). Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ và trao cho con người quyền canh tác và bảo vệ chứ chưa bao giờ cho con người quyền thống trị và phá hủy nó. Sách “Lêvi ký” (25: 2-5) trong Kinh Thánh Cựu Ước đã buộc sau bảy năm thì phải ngưng việc canh tác trên một mảnh đất gọi là Năm Sabát. Sách “Sáng thế ký” (2: 15) trong Kinh Thánh Cựu Ước nói tới việc con người phải săn sóc đất đai chứ không phải là khai thác bừa bãi. Tuy nhiên, trước khi đặt vấn đề Giáo hội Công giáo phải có trách nhiệm với môi trường, thì “vào cuối thế kỷ XX, các phong trào sinh thái tố cáo Kitô giáo đã gây ra sự tàn phá vũ trụ. Theo họ, các tín đồ Kitô giáo coi việc khai thác thiên nhiên và việc sinh sản như là mệnh lệnh của Chúa; vì vậy mà họ phải chịu trách nhiệm trước những sự tàn phá tài nguyên thiên nhiên và sức sống. Cần phải thay thế não trạng khai thác thiên nhiên bằng não trạng kính cẩn hòa đồng với thiên nhiên ”3. Một số người Công giáo thừa nhận, niềm tin này của họ là một trong những nguyên nhân của khủng hoảng môi sinh hiện thời, vì nó cổ vũ cho việc thiên nhiên tồn tại nhằm phục vụ con người 4. Nhìn chung, giới Công giáo cho rằng, sở dĩ có hiện trạng này là vì con người đã hiểu sai ý định của Thiên Chúa nói (phán) với con người: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bỏ trên mặt đất” (St 1: 28). Quan điểm của Giáo hội Công giáo: Các văn kiện của Giáo hội Công giáo chính thức đặt ra vấn đề ứng xử của con người với môi trường từ sau Công đồng Vatican II. Khi đó, sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã dẫn đến những phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, cộng với gia tăng dân số, việc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa các cường quốc có nguy cơ hủy hoại môi trường5, nên Giáo hội Công giáo đã có những quan điểm xét lại ứng xử của con người vớ i môi trường trên nền tảng Kinh Thánh và hiện trạng của bối cảnh. Quan điểm của Giáo hội Công giáo về ứng xử của con người với môi trường thể hiện cơ bản ở một số điểm sau: - Nhờ sự vươn lên về trí tuệ qua các thành tựu khoa học, con người đã mở rộng quyền làm chủ của mình với thiên nhi ên. Đấy là dấu hiệu ban ơn của tạo hóa. Luận điểm này muốn diễn tả Giáo hội Công giáo không chống đối lại khoa học. Hoạt động này của con người phù hợ p với ý muốn của Thiên Chúa, được chia sẻ trí khôn của Thiên Chúa. Tuy nhiên, Ngô Quốc Đông. Tác động tôn giáo tới nhận thức... 57 57 khi quyền uy của con người càng lớn thì trách nhiệm của con người dù cấp độ cá nhân hay cộng đồng càng cao6. - Việc tương thích giữa động cơ khoa học với vấn đề luân lý đạo đức được Giáo hội Công giáo nhấn mạnh mục đích phục vụ nhân loại, tôn trọng con người, tôn trọng các sinh vật khác 7. Mỗi khi hành động phải xét tới mối liên hệ con người với môi trường theo như sự sắp đặt một cách hệ thống của Thiên Chúa. Giáo huấn cũng nêu ra tính hai mặt của vấn đề phát triển là sản phẩm làm ra và hậu quả để lại. “Bây giờ đã rõ ràng rằn g việc ứng dụng các khám phá mới trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp cũng đem đến những hậu quả tai hại và lâu dài. Từ đó chúng ta phải đau đớn nhìn nhận rằng mình không thể can thiệp vào l ĩnh vực hệ thống sinh thái mà không chú ý đủ tới những hậu quả của sự can thiệp ấy nơi các lĩnh vực khác và tới hạnh phúc của các thế hệ tương lai” 8. - Mọi hành động của con người với thiên nhiên và môi trường đều phải quy hướng về Thiên Chúa theo nghĩa thiên nhiên vốn là quà tặng của Thiên Chúa ban cho con người, nên không vì động cơ cá nhân khai thác cạn kiệt tùy ý theo chủ quan của con người. Làm như vậy , con người sẽ không phải đang cộng tác với Thiên Chúa cai quản thế giới thụ tạo như ý định ban đầu của Ngài, mà đã tự mình tỏ ra khôn ngoan vượt trên Thiên Chúa, rốt cục sẽ bị thiên nhiên phản lại 9. - Các giáo huấn của Giáo hội Công giáo cũng nêu lên hiện trạng khủng hoảng quan hệ giữa con người và môi trường. Nguyên nhâ n của tình trạng này là do tham vọng của con người muốn thống lĩnh mọi vật, bất chấp luân lý hoặc do chủ nghĩa duy khoa học, duy ý thức hệ, duy kỹ thuật đã chi phối các nghiên cứu khoa học. Đồng thời, Giáo hội Công giáo cũng phê phán cả thái độ độc tôn sinh thái, đặt nó lên trên cả nhân phẩm con người. Sự nhìn nhận con người bỏ qua chiều kích tôn giáo sẽ dẫn đến việc tách rời giữa con người và thiên nhiên là những hữu t hể độc lập, làm cho con người xa lạ với tự nhiên. Do đó , cần đặt lại mối quan hệ Con ngườ i - Thiên nhiên - Thiên Chúa để tìm ý thức và trách nhiệm trong bảo vệ môi trường . Khuyến nghị được huấn quyền đưa ra là phải biết “kết hợp các khả năng khoa học mới mẻ với đạo đức lành mạnh” thì con người mới có được môi trường bền vững, loại bỏ được các nguyên nhân ô nhiễm10. Nhìn chung, quan điểm về môi trường của Công giáo là quy hướng về Thiên Chúa. Thiên nhiên là quà tặng của Thiên Chúa ban cho toàn thể 58 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 10 - 2014 58 nhân loại chứ không phải một lớp người. Con người được sử dụng trí khôn để chinh phục thiên nhiên phục vụ con người nhưng không được phá hủy nó. Sự hủy hoại thiên nhiên là trái với ý định của Thiên Chúa. 1.2. Quan điểm của Tin Lành về môi trường Theo một số tài liệu thần học 11 và qua trao đổi với các chức sắc Tin Lành, chúng tôi chưa thấy phía tôn giáo này chủ trương một xu hướng thần học triển khai riêng biệt về bảo vệ môi trường như Công giáo. Dù vậy, theo một số chức sắc Tin Lành ở Việt Nam, quan niệm bảo vệ môi trường của Tin Lành cũng xuất phát từ Kinh Thánh, cho rằng thiên nhiên do Thiên Chúa sáng tạo, nên con người phải biết tôn trọng và bảo vệ. Một số chi hội Tin Lành ở Tây Nguyên đã tiến hành các hoạt động vệ sinh và bảo vệ môi trường12. Tuy nhiên, nền tảng nảy sinh các hoạt động vệ sinh và bảo vệ môi trường của Tin Lành lại xuất phát từ quan niệm bảo vệ sức khỏe cho con người. Theo Kinh Thánh, con người cần phải khỏe mạnh như chính Chúa Jesus. Con người là thân thể của Thiên Chúa, nên phải biết gìn giữ nó cùng với môi trường sống xung quanh13. Việc bảo vệ môi trường của người Tin Lành còn xuất phát từ luật vệ sinh ăn uống được nêu trong Kinh Thánh. Ở đấy có quy định không được ăn huyết, uống huyết vì đó là nguồn gốc của mọ i mầm bệnh. Cá biệt có những hội thánh Tin Lành, như Nhân chứng Giêhôva, còn cấm kị việc truyền máu14. Với một số hội thánh Tin Lành, như Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, hết sức khắt khe trong vệ sinh ăn uống15. Họ căn cứ vào sự chỉ dạy trong sách “Lêvi ký” của Kinh Thánh Cựu Ước để thực hiện chế độ vệ sinh ăn uống với tín đồ, trong đó quy định chi tiết các loại động vật thanh sạch hay ô uế mà mọi người nên tránh hay được ăn, chẳng hạn: “ Các ngươi được ăn những loại vật nào có móng chẻ ra và nhai lại. Một số con vật chỉ có móng chẻ ra hoặc chỉ nhai lại thì các ngươi không được ăn” (11: 3,4). Nhìn chung, Tin Lành cũng như Công giáo đều quan niệm, môi trường là một tập hợp các hệ thống tự nhiên mà theo giáo thuyết của các tôn giáo này là do Thiên Chúa sáng tạo ra và con người có mối quan hệ khăng khít với hệ thống khách thể đó. Con người và thiên nhiên cùng một nguồn gốc. Đây là quan niệm về môi trường xuất phát từ thế giới quan tôn giáo. Trong quan niệm này, theo Tin Lành, về mặt sức khỏe, con người xã hội phụ thuộc chặt chẽ vào một số yếu tố của tự nhiên, nhất là việc ăn uống để Ngô Quốc Đông. Tác động tôn giáo tới nhận thức... 59 59 tránh mầm bệnh, qua đó kiện toàn sức khỏe thể chất và tinh thần . Cách tiếp cận này xem xét yếu tố sức khỏe và sự sống là trung tâm. “Khi con người có một thể chất tốt thì sẽ có một đời sống thuộc linh tốt”16. Cần thấy rằng, việc Tin Lành quan tâm tới vệ sinh môi trường rất hợp với lối sống hiện đại, văn minh và tác phong công nghiệp. Mặt khác, việc đăng ký sinh hoạt ở điểm nhóm Tin Lành bao giờ cũng kèm theo yêu cầu giữ gìn vệ sinh môi trường. Điều này kết hợp với ý thức của người tín đồ được răn dạy thành nền nếp cũng đã định hình trong các hành vi cá nhân của họ ý thức về vệ sinh công cộng. Một số hội thánh Tin Lành, như Cơ đốc Phục lâm Việt Nam, khi tổ chức hoạt động từ thiện xã hội ở vùng đồng bào nghèo, việc chú ý đầu tiên là xây dựng nhà vệ sinh cho các gia đình tín đồ 17. 1.3. Quan điểm của Phật giáo về môi trường Theo Hòa thượng Thích Trí Quảng, vấn đề bảo vệ môi trường được Đức Phật đề cập từ hơn 2.000 năm trước18. Ngày nay, trong bối cảnh hiện đại hóa, bảo vệ môi trường càng được Phật giáo xem trọng , bởi nó gắn với triết lý con người gắn bó mật thiết với thiên nhiên. Mối quan hệ này được đặt trong một triết lý nhân quả của Phật giáo, cái này sinh ra cái kia, có liên hệ mật thiết với cái kia. Mọi loài sống trên Trái Đất đều có quan hệ hữu cơ, khăng khít với nhau, sự sinh tồn của loài này là điều kiện tồn tại của loài kia và ngược lại, việc chấm dứt sự sống của một loài sẽ kéo theo sự diệt vong của loài khác. Từ đó, Phật giáo đặt ra vấn đề con người phải tôn trọng thiên nhiên, tránh tàn phá thiên nhiên để rồi lĩnh nhận hậu quả không tốt về môi trường là hệ quả do hành động con người tạo ra. Phật giáo cũng cho rằng, do con người là một chỉnh thể thống nhất với tự nhiên, nên việc bảo vệ môi trường trước tiên điều chỉnh từ chính hành vi con người. Việc điều chỉnh hành vi làm cho con người không phạm luật, không tàn phá môi sinh. Nhìn chung, triết lý này có động thái ngăn ngừa từ tư tưởng của con người , ở đó người ta có thể làm đ iều có hại với môi trường hay bảo vệ môi trường. “Theo tinh thần Kinh Hoa Nghiêm, thân ngũ uẩn của con người cũng gắn liền với cả vũ trụ bao la. Vì thế, chinh phục được thân n ày là chinh phục được cả vũ trụ ”19. Khác với quan niệm vũ trụ vạn vật và con người do Thiên Chúa sáng tạo của Công giáo, Phật giáo đặt tâm điểm bảo vệ môi trường từ nhân sinh quan, luận bàn về thế giới quan trong mối quan hệ với nhân sinh quan. Cho 60 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 10 - 2014 60 nên, triết lý Phật giáo giải thích việc bảo vệ môi trường từ góc độ chủ quan (bản thể luận) của con người. “Khi chúng ta biết thương yêu và giúp đỡ nhau, xã hội này chắc chắn được an lạc. Đừng bao giờ làm một thành phần bị sụp đổ; vì ngũ uẩn của chúng ta là thể thống nhất chung của muôn loài, của xã hội, của vũ trụ, của con người. Vì vậy, Kinh Hoa Nghiêm nói rằng, từ ngũ uẩn hiện ra quốc độ và chúng sinh. Quốc độ là gì ? Quốc độ là thế giới, là chỗ cho chúng sinh nương tựa, tồn tại. Không có quốc độ, chúng sinh không tồn tại được. Từ ngũ uẩn hiện ra quốc độ, cho nên Phật coi quốc độ và ngũ uẩn đều là thân của Phật. Hiểu như vậy, chúng ta coi sơn hà đại địa là thân của chúng ta. Cho nên, bảo vệ môi trường sống cũng là bảo vệ Phật, vì môi trư ờng sống chính là sinh mệnh của Phật và sinh mệnh của chúng ta cũng nhờ đây mà tồn tại ”20. Hòa thượng Thích Tâm Pháp cho rằng: “Trong lịch sử của nhân loại, chưa bao giờ con người thành công rực rỡ trong việc chinh phục thiên nhiên, nhưng cũng chưa bao giờ con người gánh chịu nhiều thiên tai, hiểm họa như ngày nay. Đây là một tiến trình xảy ra tương ứng theo lý duyên khởi của Phật giáo”. Vị Hòa thượng này luận chứng việc bảo vệ môi trường được giáo pháp nhà Phật khuyến khích: “Đức Phật ra đời và thành đạo không gì hơn là vì lòng thương tưởng đến chúng sanh đang khổ đau do ba độc tham, sân, si hoành hành. Do lòng tham muốn thỏa mãn nhu cầu vật chất, con người phải chịu nhiều thảm họa khổ đau. Muốn chấm dứt khổ đau, con người phải sống đúng theo chánh pháp, tức sống theo quy luật tự nhiên hay luật nhân duyên sanh khởi. Theo quy luật này, con người, loài vật, cỏ cây cùng tồn tại trong mối liên hệ hỗ tương và tùy thuộc lẫn nhau. Thiên nhiên cung cấp môi trường sống cho loài người và động vật. Ngược lại, loài ngư ời phải có ý thức bảo vệ thiên nhiên để giữ môi trường trong sạch và cân bằng sinh thái” 21. Triết lý Phật giáo liên quan đến môi trường là lòng từ bi và tránh gây hại22. Theo quan điểm của Phật giáo, mọi loài sinh ra đều mang trong mình sự sống, và vì vậy, đều cần được tôn trọng và bảo vệ. Đức Phật giáo hóa cho hàng đệ tử về giới cấm, một trong số đó là cấm sát sinh. Ngoài nội dung giáo dục tư tưởng nhân đạo, tôn trọng sự sống muôn loài, thì giới cấm sát sinh của Phật giáo cũng giúp cho việc giải quyết vấn đề môi trường. Bởi vì, việc sát sinh nhằm phục vụ nhu cầu con người sẽ dẫn đến mất cân bằng sinh thái, tác động trực tiếp đến sự sống của con người. Thay vì sát sinh, Phật giáo đề cao sự phóng sinh, chỉ trích hiến tế bằng súc vật23. Ngô Quốc Đông. Tác động tôn giáo tới nhận thức... 61 61 Ngoài ra, vấn đề ăn chay của Tăng ni, Phật tử cũng là một giải pháp hữu ích đối với vấn đề môi trường. Ngoài tác dụng với con người về mặt sức khỏe đã được chứng minh, việc ăn chay còn giúp cải tạo và cân bằng môi trường sống. Việc hạn chế hoặc không sử dụng sản phẩm từ động vật sẽ giúp một số loài tránh khỏi nguy cơ tuyệt chủng. Việc ăn chay không chỉ đem lại lợi ích thiết thực cho người phát tâm thực hiện, mà còn tạo chuyển biến trong suy nghĩ của mọi người về việc bảo vệ môi trường24. Nhìn chung, quan niệm về môi trường của Phật g iáo xuất phát từ triết lý nhân quả, sự tồn tại vạn vật đều có duyên cớ của nó, cái này là mắt xích để cái kia tồn tại. Nói cách khác, Phật giáo quan niệm, môi trường là một chỉnh thể thống nhất giữa con người và thiên nhiên. Trong đó , nhân tố con người là điểm mấu chốt cân bằng mọi thứ, đồng thời cũng là tâm điểm có thể hủy hoại môi sinh. Do đó, bảo vệ môi trường phải từ điều chỉnh nội tâm con người bằng Phật pháp để họ tránh được vô mi nh, phạm vào các giới luật gây mất cân bằng sinh thái. Cơ sở của Phật g iáo nhìn nhận về môi trường nhấn mạnh tới yếu tố đạo đức sinh thái. Những phẩm chất như từ bi, bất sát, minh triết sẽ thúc đẩy sự quan tâm của Phật giáo với môi trường. Tôn giáo này tương tác với môi trường từ các quy định đạo đức của chính nó. Tóm lại, điểm chung giữa quan niệm của các tôn giáo về môi trường là lấy con người là m trung tâm để xem xét. Con người không tách biệt với môi trường. Bảo vệ môi trường phải xuất phát từ giáo hóa con người qua các nguyên tắc luân lý của từng tôn giáo. Tuy nhiên, giữa các tôn giáo cũng có mức độ ảnh hưởng đến hành động về môi trường khác nhau. Chẳng hạn, Học thuyết Xã hội Công giáo đề cập tới tính liên đới của con người cũng như nhiều hành động khác, đề cập tới các khái niệm như “lương tâm”, “tội xã hội” nên có thể gây hiệu ứng hành động xã hội tập thể trước các vấn đề môi sinh lớn như khai thác bôxít, xây thủy điện Trong khi đó, Phật giáo đề cập tới sự giác ngộ của từng cá nhân, lại không có hệ thống tổ chức thống nhất toàn cầu, nên chọn lựa với các câu hỏi lớn về môi trường không phải lúc nào cũng hiệu quả 25. 2. Tác động của các tôn giáo đối với nhận thức bảo vệ môi trường Từ những năm 60 của thế kỷ XX, những người quan tâm đến môi trường trên thế giới đã đề ra một khái niệm đạo đức khác với các loại đạo đức thông thường vẫn hiểu, đó là đạo đức học môi trường (environmental 62 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 10 - 2014 62 ethics), coi đó là một ngành đạo đức học ứng dụng mớ i cho những ai sống trên hành tinh này. Điều đáng nói là , ngay từ đầu, chuyên ngành mới mẻ này đã có sự đan xen rất tự nhiên giữa triết học và tôn giáo. Cho nên, ngày nay, mối quan hệ giữa tôn giáo và đạo đức học môi trường được nhiều nhà triết học và nhà tôn giáo quan tâm khảo sát26. Khi nói tới tác động của tôn giáo tới nhận thức của người dân , trước tiên là tín đồ các tôn giáo , là đề cập tới ý niệm về đạo đức học môi trường. Ở Việt Nam, có lẽ ý niệm này còn khá mới mẻ với đại bộ phận dân chúng. Hình như rất ít người quan tâm đến vai trò của tôn giáo trong bảo vệ môi trường, trong khi tôn giáo là thiết chế có thể triển khai đạo đức học môi trường từ những bài giảng về giáo lý. Vì vậy, trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên, với mức độ hủy hoại môi sinh do khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên như hiện nay, thiết nghĩ đã đến lúc cần phải chú ý tới vai trò của tôn giáo trong việc định hình nhận thức và h ành vi bảo vệ môi trường tại khu vực này. Câu hỏi đặt ra, ở địa bàn Tây Nguyên, nơi có số lượng tín đồ các tôn giáo khá đông, liệu luân lý các tôn giáo có chuyển thành nhận thức và hành vi để người dân có ý thức sâu sắc việc bảo vệ môi trườn g? Kết quả khảo sát xã hội học của Viện Nghiên cứu Tôn giáo tại năm tỉnh Tây Nguyên năm 2013 trong khuôn khổ một đề tài thuộc Chương trình Tây Nguyên 3 cho thấy, những chỉ báo ban đầu về tác động của tôn giáo tới nhận thức của tín đồ về môi trường tại đây. Trong 399 tín đồ Công giáo được hỏi trên địa bàn Tây Nguyên , thuộc chín thành phần tộc người khác nhau, có tới 374 người trả lời được nghe giảng về môi trường, chiếm 93,7%. Trong khi số trả lời không được nghe giảng về môi trường là 25 người, chiếm 6,3%. Tương tự, đối với 396 tín đồ Phật giáo trên địa bàn Tây Nguyên, thuộc bốn tộc người khác nhau, có 363 người được hỏi trả lời có nghe giảng về môi trường, chiếm 91,7%. Số người trả lời không được nghe giảng về môi trường là 33 người, chiếm 8,3%27. Như vậy, tác động của tôn giáo tới nhận thức về môi trường của người tín đồ tại Tây Nguyên chiếm một tần suất khá cao. Kênh đón nhận thông tin về môi trường của người tín đồ chủ yếu từ bài giảng của chức sắc các tôn giáo. Điều này cho thấy , đây là hoạt động tự thân của các tôn giáo. Rõ ràng, nó có tính ưu điểm trong việc tự nhận thức những vấn đề môi trường đặt ra hiện nay. Từ đó, các tôn giáo xét thấy cần phải soi sáng vấn Ngô Quốc Đông. Tác động tôn giáo tới nhận thức... 63 63 đề này trên nền tảng giáo lý của từng tôn giáo. Sự nhận thức tự thân của các tôn giáo về môi trường bao giờ cũng tích cực hơn sự nhận thức do bối cảnh. Kết quả khảo sát cho thấy, nhu cầu này xuất hiện trước hết ở chức sắc các tôn giáo, sau đó họ phổ biến tới tín đồ. Điểm mạnh của sự tác động tôn giáo tới nhận thức bảo vệ môi trường là ở chỗ, thay vì bó buộc và thụ động trong một ý thức nảy sinh do bối cảnh ngoại lai, các tôn giáo đã chủ động và tự giác tác động vào nhận thức bảo vệ môi trường từ ý thức con người. Điểm mạnh còn ở chỗ, nhận thức về môi trường do thúc bách của bối cảnh ngoại lai thường điều chỉnh hành vi phần ngọn, nên người ta có thể dùng thủ thuật để qua mặt các cơ quan chức năng. Chẳng hạn, nhiều năm qua, báo chí đưa tin lâm tặc kết hợp với một số nhân viên kiểm lâm phá rừng, buôn bán động vật, Nhưng khi tôn giáo tác động vào nhận thức bảo vệ môi trường như một nguyên tắc luâ n lý thì có khuất mắt thiên hạ , con người cũng đắn đo khi phá hoại môi trường. Bởi vì, các nguyên tắc luân lý được giảng, được nghe sẽ tạo ra một rào cản ngăn ngừa hành vi xâm hại môi trường từ gốc rễ. Đây có lẽ là một đóng góp không nhỏ của tôn giáo với đạo đức môi trường . Việc tác động tới nhận thức môi trường của các tôn giáo ở Tây Nguyên còn thể hiện ở mối quan tâm của người tín đồ tới môi trường. Trong cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu Tôn giáo tại khu vực Tây Nguyên, với 10 tiêu chí đề ra để hỏi tín đồ các tôn giáo về sự quan tâm của họ tới các mặt của đời sống. Kết quả cho thấy, vấn đề môi trường không ở vị trí thấp nhất. Đối với 399 tín đồ Công giáo được hỏi thì có 355 người trả lời quan tâm tới vấn đề môi trường, chiế m tỷ lệ 89%. Trong 10 tiêu chí quan tâm, môi trường chiếm vị trí thứ 5, cao hơn các vấn đề khác như: việc làm (82,0)%, kinh tế (86,7%), dân chủ (80,2%), pháp luật (83,5%), học vấn (84,7%). Với 396 tín đồ Phật giáo được hỏi, có 310 người trả lời quan tâm đến vấn đề môi trường, chiếm tỷ lệ 78,3%. Trong 10 tiêu chí quan tâm, môi trường chiếm vị trí thứ 5, cao hơn các vấn đề khác như: việc làm (58,8%), dân chủ (60,2%), kinh tế (60,6%), luật pháp (71,7%), học vấn (65,9%). Ngoài ra, với câu hỏi “Phật giáo khuyến khích điểm tốt nào” , có tới 332/396 tín đồ Phật giáo (chiếm tỷ lệ 83,8%) trả lời là “Phật giáo khuyến khích bảo vệ môi trường”. Còn với 383 tín đồ Tin Lành được hỏi, có 354 người trả lời quan tâm đến vấn đề môi trường, chiếm 92,4%. Trong 10 tiêu chí quan tâm, môi trường chiếm vị trí thứ 6, cao hơn các vấn đề khác như: việc làm, dân chủ, pháp luật và học vấn28. 64 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 10 - 2014 64 3. Tác động của các tôn giáo đối với hành vi bảo vệ môi trường Từ nhận thức đến hành vi bảo vệ môi trường như một tiếng g ọi hãy sống có trách nhiệm với xã hội trong lòng mỗi tín đồ là mong mỏi của cả tôn giáo lẫn xã hội. Dù sao, giữa nhận thức và hành động của con người bao giờ cũng là một khoảng cách, vì các hành vi bị chi phối bởi bối cảnh sống. Tác động của tôn giáo tới hành vi bảo vệ môi trường thường biểu hiện rõ tại các điểm sinh hoạt tôn giáo. Các nhà thờ hay các ngôi chùa ở Tây Nguyên đều trồng nhiều cây xanh. Nhiều nhà thờ còn được dọn dẹp sạch sẽ như công viên, chẳng hạn Nhà thờ Tân Hương ở Kon Tum. Các hành vi bảo vệ môi trường còn thấy ở sinh hoạt thường nhật của người tín đồ. Sau một trận bóng, một buổi chiếu phim, rất nhiều vỏ chai, vỏ kẹo bánh, tàn thuốc vứt lại. Điều này khác vớ i không gian một buổi sinh hoạt tôn giáo. Theo quan sát tham dự của chúng tôi, sau các buổi sinh hoạt tôn giáo tại nhà thờ hoặc ngôi chùa lớn ở Tây Nguyên, hầu hết các cơ sở thờ tự này đều rất sạch sẽ sau khi buổi lễ kết thúc. Rõ ràng tôn giáo đã tác động tới hành vi bảo vệ môi trường hết sức sơ đẳng của ngườ i tín đồ. Đó là giữ gìn nơi sinh hoạt tôn giáo được sạch sẽ29. Một khảo sát khác tại hai làng Công giáo và làng không Công giáo trên cùng một địa bàn sinh sống tại Phùng Khoang, Hà Nội, kết quả cho thấy, làng Công giáo giữ được vệ sinh môi trường tốt hơn30. Trong khuôn khổ của cuộc khảo sát kể trên chưa có điều kiện tìm hiểu tác động của tôn giáo tới nhận thức cũng như hành vi của người tín đồ đối với việc đốt rẫy phá rừng ở Tây Nguyên như thế nào. Tuy nhiên, một cách tự nhiên và khách quan, các tôn giáo cũng góp phần vào việc hạn chế việc này bằng cách định cư người dân theo các tổ chức tôn giáo. Chẳng hạn, cộng đồng Công giáo thường ổn định theo các buôn làng, xứ đạo. Do có nhu cầu đi lễ, cầu nguyện hằng tuần, nên họ ít thay đổi nơi sống. Điều này góp phần hạn chế sự phát rẫy phá rừng của họ. Hay việc canh tác truyền thống của người Hmông là du canh, du cư, phát rẫy31. Nhưng khi cộng đồng Tin Lành người Hmông di cư vào Tây Nguyên, với đất đai phì nhiêu lại được sinh hoạt đạo ổn định, nên họ đã hạn chế phần nào việc đốt rẫy, phá rừng. Cuộc khảo sát xã hội học của đề tài kể trên bước đầu cho thấy những chỉ báo quan trọng về tác động của tôn giáo tới hành vi bảo vệ môi trường của các tín đồ. Dưới đây là một vài số liệu cụ thể: Ngô Quốc Đông. Tác động tôn giáo tới nhận thức... 65 65 Bảng 1: Tần suất tín đồ Phật giáo tham gia hoạt động bảo vệ môi trường Đơn vị tổ chức hoạt động Tổng số Tần suất Tỉ lệ (%) Chính quyền địa phương các cấ p 396 259 65,4 Các đoàn thể chính trị xã hội (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên) 396 188 47,5 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc 396 64 16,2 Các đoàn thể Phật giáo 396 200 50,5 Các tổ chức khác 396 15 3,8 Bảng 2: Tần suất tín đồ Công giáo tham gia hoạt động bảo vệ môi trường Đơn vị tổ chức hoạt động Tổng số Tần số Tỉ lệ (%) Chính quyền và các đoàn thể chính trị xã hội (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên...) 399 281 70,4 Ủy ban Mặt trận Tổ quốc 399 67 16,8 Các hội đoàn Công giáo 399 232 58,1 Các tổ chức khác 399 19 4,8 Số liệu trên cho thấy , hầu hết tín đồ Công giáo và Phật giáo ở Tây Nguyên được hỏi đều từng tham gia vào hoạt động bảo vệ môi trường của các tổ chức khác nhau. Trong đó, hoạt động bảo vệ môi trường của các đoàn thể chính trị xã hội chiếm vị trí chủ đạo trong hoạt động bảo vệ môi trường. Tổ chức tôn giáo dù tác động mạnh đến nhận thức người tín đồ, nhưng việc tổ chức hoạt động bảo vệ môi trường có lẽ chưa được nhiều. Do đó, lượng tín đồ tham gia hoạt động bảo vệ môi trường của các tổ chức tôn giáo thực hiện chưa cao. Tuy nhiên, tần suất tín đồ Công giáo và Phật giáo tham gia bảo vệ môi trường chiếm trên 50%, cao hơn hoạt động bảo vệ môi trường của các tổ chức khác ngoài các đoàn thể từ phía Nhà nước. Điều này đặt ra vấn đề, đối với một vùng biến đổi mạnh mẽ về 66 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 10 - 2014 66 môi trường như Tây Nguyên hiện nay, chiến lược phát triển bền vững khu vực này nhất thiết phải tính đến vai trò của các tôn giáo tron g việc truyền tải ý thức trách nhiệm môi trường tới người dân. 4. Một số vấn đề đặt ra Từ Nghị quyết 24, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đúng đắn rằng, nhiều giá trị đạo đức của tôn giáo phù hợp với công cuộc xây d ựng xã hội mới. Những giá trị này có tác động đến nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của người tín đồ. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, việc tôn giáo ở một vài nơi, trong đó có địa bàn Tây Nguyên, vẫn bị nhìn nhận nặng về góc độ chính trị, sẽ rất khó khăn cho việc phát huy các giá trị của tôn giáo trong bảo vệ môi trường. Một vấn đề khác đặt ra với cộng đồng các tôn giáo tại Tây Nguyên hiện nay là việc gia tăng dân số và vấn đề bảo vệ môi trường. Một mặt, dân số tại chỗ ở Tây Nguyên thời gian gần đây phát triển khá nhanh khiến không gian sống tăng lên dẫn đến việc xâm lấn môi trường xung quanh. Mặt khác, tốc độ di dân của người Kinh và các tộc người thiếu số khác càng làm gia tăng không gian sống của cư dân tại Tây Nguyên. Khảo sát thực tiễn của Viện Nghiên cứu Tôn giáo ở Tây Nguyên năm 2013 cho thấy, việc tăng dân số tự nhiên còn rất cao trong vùng đồng bào các tộc người thiểu số theo tôn giáo, nhất là với Tin Lành và Công giáo32. Điều này vừa do niềm tin tôn giáo chi phối, vừa do trình độ học vấn và điều kiện kinh tế thấp tác động tới nhận thức của người tín đồ. Việc tăng dân số này ảnh hưởng đến việc phá rừng lấy đất làm rẫy để sinh tồn33. Như vậy, dù có ý thức và hành động bảo vệ môi trường, nhưng tín đồ các tôn giáo, nhất là các tộc người thiểu số, lại bị mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng giữa áp lực dân số và bảo vệ môi trường. Muốn đưa tác động tích cực của tôn giáo với vệ môi trường của người dân, ngoài nhận thức đúng, phải có sự kết hợp các chính sách của Nhà nước trong việc xóa đói giảm nghèo, tạo điề u kiện cho đồng bào có đạo tiếp cận cơ hội phát triển kinh tế, y tế, giáo dục, v.v Vấn đề áp lực dân số cộng với sự chênh lệch giàu nghèo giữ a các nhóm người cho thấy việc bất bình đẳng về môi trường đang diễn ra tại Tây Nguyên hiện nay. Nhóm người ít gây ra biến đổi về môi trường vẫn phải chung sống trong một không gian sinh thái với nhóm người gây ra biến đổi môi trường. Sự bất bình đẳng này bắt nguồn từ sự chê nh lệch Ngô Quốc Đông. Tác động tôn giáo tới nhận thức... 67 67 giàu nghèo và việc tiếp cận cơ hội thoát nghèo từ nội lực của các nhóm khác nhau. Trong đó, nhóm dễ bị tổn thương thường có trình độ học vấn và điều kiện kinh tế thấp hơn các nhóm khác, trong đó có một bộ phận không nhỏ là tín đồ Công giáo và Tin Lành. Chúng ta đã nhìn thấy các yếu tố nội tại của các tôn giáo trong việc điều chỉnh hành vi con người hướng tới một môi trường sống tốt hơn về môi sinh và xã hội. Tuy nhiên, để yếu tố nội tại đó tác động tích cực tới cộng đồng dân cư tại Tây Nguyên có lẽ cần có một chiến lược dài hơi từ nhận thức đến hành động của chính quyền nhiều cấp, nhiều ngành. Điều đó còn bắt nguồn từ khả năng hội nhập của các tôn giáo với bối cảnh thực tại, xét từ giáo lý và quan điểm thích ứng với điều kiện sống của chính bản thân các tôn giáo. Để bảo vệ môi trường ở Tây Nguyên được tốt hơn, những chính sách kinh tế - xã hội cần nhìn nhận kỹ hơn từ nhu cầu người dân. Muốn làm được việc này nhất thiết phải có sự tham vấn chính sách từ phía người dân và các tổ chức tôn giáo. Đã đến lúc, việc bảo vệ môi trường cần được chia sẻ một phần cho các tổ chức tôn giáo thực hiện . Bởi vì, từ thiện nhân đạo là một trong những nội dung cơ bản trong hoạt động của các tôn giáo. Quan trọng hơn, các tôn giáo luôn cổ vũ một lối phát triển dựa trên nền tảng đạo đức, điều mà hình như trong thời kỳ phát triển Tây Nguyên nhanh và nóng hiện nay có những lúc dường như bị xem nhẹ? CHÚ THÍCH: 1 Xem: “Sáng thế ký” (1: 1-28), trong Kinh Thánh trọn bộ, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013. 2 Xem: “Sáng thế ký” (1: 26-30)), Kinh Thánh trọn bộ, sđd. 3 Xem: “Thần học sinh thái”, trong Thời sự Thần học , số 17, 1999: 50-59. 4 Damien Keown (Nguyễn Thanh Vân dịch, Hoàng Hưng hiệu đính , 2013), Đạo đức học Phật giáo , Nxb. Tri thức: 67; Thích Nguyên Hiệp, Đạo đức học Phật giáo và vấn đề môi trường , 5 Xem thêm: “Thần học sinh thái” trong Thời sự Thần học , số 17 , 1999: 50-59. 6 Xem: Hội đồng Giám mục Việt Nam (2007), Tóm lược học thuyết xã hội của Giáo hội Công giáo, Nxb. Tôn giáo: 316-317. 7 Những vấn đề sinh sản vô tính, chiến tranh hạt nhân, cấy phôi thai, trợ tử , luôn được Giáo hội Công giáo xem xét khắt khe. 8 Hội đồng Giám mục Việt Nam (2007), Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, sđd: 319. 9 Hội đồng Giám mục Việt Nam (2007), Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, sđd: 319. 10 Hội đồng Giám mục Việt Nam (2007), Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, sđd: 320-323. 68 Nghiên cứu Tôn giáo. Số 10 - 2014 68 11 Chẳng hạn, trong Thần học Tin Lành dành cho người Việt Nam của Mục sư Trần Thái Sơn biên soạn không thấy bàn về vấn đề môi trường. Bộ Thần học Cơ Đốc giáo, hai tập, của Tin Lành cũng không thấy đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường . 12 Phỏng vấn Chấp sự Dieu Nzro, người M nông, Chi hội Leng Loch-Bu Đoh (xã Đắk Wer, huyện Đắk Rlấp, tỉnh Đắk Nông) tháng 7/2013. Phỏng vấn Mục sư Ik- Nie-Brit, người Ê Đê, Chi hội Tin Lành Buôn Păn Lăm (thành phố Buôn Ma Thuột , tỉnh Đắk Lắk), tháng 7/2013. 13 Phỏng vấn Mục sư Ân Ước, Hội Truyền giáo Cơ Đốc Việt Na m (thị trấn Đắk Glei, tỉnh Kon Tum) tháng 5/2013. 14 Giáo phái này căn cứ vào các sách “Sáng thế ký” 9: 4; “Lêvi ký” 17: 10-15; “Công vụ các sứ đồ” 15: 20; “Côlôsê” 1: 20 trong Kinh Thánh để kiêng ăn huyết và truyền máu . 15 Phỏng vấn Mục sư Trần Thanh Truyện, Thư ký Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam, tháng 11/2013, tại Thành phố Hồ Chí Minh. 16 Ý kiến của Mục sư Ân Ước, Hội Truyền giáo Cơ Đốc Việt Nam (thị trấn Đắk Glei, tỉnh Kon Tum), tháng 5/2013. 17 Ý kiến của Mục sư Trần Thanh Truyện, Thư ký Hội Thánh Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam, tháng 11/2013, tại Thành phố Hồ Chí Minh. 18 Hòa thượng Thích Trí Quảng, Phật giáo và môi trường , Phần I: Bài giảng khóa tu một ngày an lạc lần thứ 68 tại chùa Phổ Quang ngày 7/6/2009, Đây là hàm ý của Đức Phật với thiên nhiên, chứ kinh sách Phật giáo không bàn về bảo vệ môi trường hiểu theo cách ngày nay, vì đây là vấn đề của xã hội hiện đại . 19 Hòa thượng Thích Trí Quảng, Phật giáo và môi trường, bđd. 20 Hòa thượng Thích Trí Quảng, Phật giáo và môi trường , bđd. Ngoài Kinh Hoa Nghiêm, một số bộ kinh khác như A Di Đà, Từ bi cũng đề cập tới triết lý Phật giáo với vấn đề môi s inh. Xem: Thái Công Tung, Môi sinh trong Kinh A Di Đà, Lê Văn Tâm, Đạo Phật đối với vấn đề phát triển lâu bền và bảo vệ môi trường , 21 Dẫn theo: Nguyễn Quang Hưng, Vai trò của tôn giáo trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam , 22 Thích Nguyên Hiệp, Đạo đức học Phật giáo và vấn đề môi trường , bđd. 23 Damien Keown (Nguyễn Thanh Vân dịch, Hoàng Hưng hiệu đính , 2013), Đạo đức học Phật giáo , sđd: 70-71. 24 Xem thêm: Phúc Nguyên, Phật giáo với vấn đề bảo vệ môi trường , 25 Damien Keown (Nguyễn Thanh Vân dịch, Hoàng Hưng hiệu đính , 2013), Đạo đức học Phật giáo , sđd: 85. 26 Lê Anh Dũng (2005), “Đạo đức học môi trường từ góc nhìn văn hóa tôn giáo ”, Công giáo và Dân tộc , số 126: 82. 27 “Báo cáo kết quả xử lý số liệu điều tra” của Đề tài Vấn đề tôn giáo trong phát triển bền vững Tây Nguyên, Tài liệu Viện Nghiên cứu Tôn giáo, 2014. 28 “Báo cáo kết quả xử lý số liệu điều tra” của Đề tài Vấn đề tôn giáo trong phát triển bền vững Tây Nguyên, tlđd. Ngô Quốc Đông. Tác động tôn giáo tới nhận thức... 69 69 29 Sự quan sát này không đúng tại những cơ sở thờ tự có đông người đến vào mùa lễ hội. Bởi lẽ, những người tham dự không phải là một tập hợp thống nhất, mà là khách thập phương, trong đó nhiều người không phải là tín đồ của một tôn giáo nào cả. 30 Nguyễn Quang Hưng, Vai trò của tôn giáo trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam, bđd. 31 Lối canh tác này vẫn bảo đảm rừng tái sinh và đất phục hồi chứ không phải tiêu cực hoàn toàn. 32 Một số chức sắc, chức việc của Tin Lành ở khu vực Tây Nguyên như Mục sư Liêng Jrang Tong, Chi hội Tin Lành Đạ Sar, tỉnh Lâm Đồng; Chấp sự Dieu Nzro, người Mnông, Chi hội Leng Loch - Bu Đoh, xã Đắk Wer, huyện Đắk Rlấp, tỉnh Đắk Nông,... đều có từ 7 - 8 người con. 33 Phỏng vấn Mục sư Liêng Jrang Tong, Chi hội Tin Lành Đạ Sar , tỉnh Lâm Đồng, tháng 10/2013. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Damien Keown (Nguyễn Thanh Vân dịch, Hoàng Hưng hiệu đính, 2013), Đạo đức học Phật giáo , Nxb. Tri thức, Hà Nội. 2. Lê Anh Dũng (2005), “Đạo đức học môi trường từ góc nhìn văn hóa tôn giáo”, Công giáo và Dân tộc, số 126. 3. Hội đồng Giám mục Việt Nam (2007), Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội. 4. Kinh Thánh trọn bộ, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013. 5. Thời sự Thần học số , số 17, 1999. 6. Viện Nghiên cứu Tôn giáo (2014), “Báo cáo kết quả xử lý số liệu điều tra” của Đề tài Vấn đề tôn giáo trong phát triển bền vững Tây Nguyên , Hà Nội. Abstract RELIGIONS’ EFFECTS ON COGNITION AND ACTIONS IN PROTECTING THE ENVIRONMENT OF RELIGIOUS BELIEVERS IN TÂY NGUYÊN AT PRESENT Basing on the results of sociological survey which conducted by the Institute for Religious Studies in Tây Nguyên (Central Highland) in 2013, this article presented some religions’ basic views on the environment, how the moral interpretation of religions affected to the cognition and actions in protecting the environment of believers. Therefore, this text pointed some questions on the relationship between religion and environment at present, views on this relation. Keywords: Protecting the environment, religion and environment, Buddhism, Catholicism, Protestantism, Tây Nguyên.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf26679_89658_1_pb_8834.pdf
Tài liệu liên quan