Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo

Giáo trình giảng dạy cho thạc sỹ quản lý giáo dục: Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạoMỤC LỤC Phần thứ nhất: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 3 I. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 3 1. Khái niệm . 3 2. Một số tính chất của QLNN về GD-ĐT. 4 3. Một số đặc điểm của QLNN về GD-ĐT 4 4. Một số nguyên tắc QLNN về GD&ĐT cần lưu ý : 6 II. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QLNN VỀ GD&ĐT 10 1. Những nội dung cơ bản của QLNN về GD-ĐT theo điều 86 Luật Giáo dục. 10 2. Những nội dung chủ yếu của QLNN về GD&ĐT 11 3. Thực trạng, phương hướng đổi mới và biện pháp thực hiện QLNN về GD&ĐT 13 4. Những nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục đến năm 2010 14 Phần thứ 2: QUÁ TRÌNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC 16 I - CÁC CHỨC NĂNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC .17 1. Kế hoạch hoá trong quản lý giáo dục . 19 2. Tổ chức trong quản lý giáo dục 28 3. Điều khiển (chỉ đạo thực hiện) trong quản lý giáo dục 37 4. Kiểm tra trong quản lý giáo dục . 48 II - THÔNG TIN TRONG QUẢN LÝ GIÁO DỤC .53 1 . Mục đích của thông tin 53 2. Các loại thông tin quản lý giáo dục 55 3. Những yêu cầu đối với thông tin quản lý giáo dục . 55 4.Thông tin dự đoán 57 III - HỆ THỐNG NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ GIÁO DỤC .59 IV- CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC 68 1. Khái niệm và yêu cầu của việc sử dụng phương pháp quản lý giáo dục . 68 2. Các phương pháp quản lý giáo dục chủ yếu . 70 V - CÔNG CỤ QUẢN LÝ GIÁO DỤC .73 1. Các loại công cụ trong quản lý giáo dục 74 2. Yêu cầu đối với hệ thống công cụ quản lý giáo dục . 74 3. Đổi mới và nâng cao năng lực vận hành hệ thống công cụ quản lý giáo dục 75

doc75 trang | Chia sẻ: thanhnguyen | Ngày: 15/10/2013 | Lượt xem: 1135 | Lượt tải: 7download
Tóm tắt tài liệu Quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thấp nhất là phòng giáo dục, nơi nhận các công văn, chỉ thị đường tin) của các cơ quan quản lý cấp trên (chưa kể của chính quyền các cấp) thì sẽ thấy sự "chìm ngập" của họ trong đống công văn, giấy tờ như thế nào. Do đó, tính cô đọng nhưng đầy đủ của các thông tin càng cần phải đặt ra. Tính logic của thông tin yêu cầu các thông tin phải có tính nhất quán, tính có luận cứ,không có các chi tiết thừa hoặc tự mâu thuẫn. e) Tính pháp lý Trước hết,các thông tin dưới dạng chỉ thị đều phải hợp lý, phù hợp với chủ trương của cấp trên. Người truyền tin phải là người có thẩm quyền. Các công văn: chỉ thị gửi cấp dưới được coi như văn bản pháp quy, ở đó thể hiện trách nhiệm pháp lý của cấp quản lý. Người truyền tin cho cấp dưới (ra lệnh, chỉ thị bằng lời nói hoặc văn bản) phải đúng thẩm quyền. g) Tính kinh tế Yêu cầu này liên quan đến tính tối ưu. tính hiệu quả trong hoạt động thông tin của quản lý. Nếu hạ thấp yêu cầu đầy đủ và xác thực của thông tin thì cũng làm phương tiện đến tính kinh tế của thông tin. 4.Thông tin dự đoán Quản lý không chỉ có nghĩa là tác động đến hệ thống trong hiện tại.. nó còn phát hiện những khuynh hướng phát triền, tiên đoán những khả năng vận động của nó trong tương lai. Đó là lý do cần phải có những thông tin dự đoán. Đặc điểm quan trọng của loại thông tin này là ở chỗ nó không mang tính chất kinh nghiệm mà có tính khoa học sâu sắc, tính khái quát và tính hệ thống hoá. Đây là loại thông tin rất cần cho các nhà hoạch định chiến lược giáo dục và các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục. Sự thực. ví dụ chiến lược phát triền giáo dục có một trong những căn cứ quan trọng là những thông tin dự đoán, chẳng hạn, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự phát triển khoa học - cóng nghệ, nhu cầu nhân lực, xu hướng vận động của hệ thống giáo dục, nhu cầu học tập của người dân, các nguồn lực cần cho sự phát triển giáo dục, ... Thông tin dự đoán cho phép cải tiến kế hoạch hoá, hoàn thiện hệ thống quản lý, làm cho hệ thống quản lý linh hoạt hơn, hướng về tương lai, có khả năng nắm bắt một cách nhạy bén những khuynh hướng phát triển của giáo dục. Điều đó cũng tạo khả năng nâng cao trình độ khoa học của quản lý, cho phép xác định một cách đúng đắn triển vọng. trình tự các niệm vụ phải thực hiện ; đồng thời hoạt động quản lý có thể hướng tới những thành tựu mới nhất của khoa học giáo dục. những kinh nghiệm tiên tiến, bảo đảm tính mềm dẻo, khả năng phản ứng nhanh và chính xác trước những sự kiện đang thay đổi. Thông tin dự đoán có ảnh hưởng trực tiếp nhất tới cơ cấu và quá trình quản lý, tới việc lựa chọn các mục tiêu cũng như các phương pháp và phương tiện để đạt mục tiêu, cũng chính là việc lựa chọn cơ cấu quản lý cho phù hợp với thực tại và tương lai của hệ thống. Chẳng hạn, để thực hiện chủ trương "xây dựng xã hội học tập", các nhà hoạch định chiến lược giáo dục phải nắm bắt các thông tin dự đoán bên trong và bên ngoài hệ thống giáo dục, các nghiên cứu về dự báo giáo dục, về kinh nghiệm giáo dục trong và ngoài nước1 phải được quan tâm thích đáng,…Từ đó có những thay đổi trong chiến lược quản lý cũng như trong cơ cấu tồ chức quản lý giáo dục nhằm chủ động đón trước sự phát triển của giáo dục trong tương lai. Trong quản lý giáo dục, thông tin dự đoán thực hiện các chức năng sau : Hướng dẫn. Thông tin dự đoán giúp cho nhà quản lý lựa chọn các mục tiêu có triển vọng nhất, thực tế nhất trong giáo dục và những vấn đề nào cần đặc biệt coi trọng, cần giải quyết nó theo một trình tự nhất định. Thông tin dự đoán có tác dụng đặc biệt trong việc xây dựng mô hình phát triển giáo dục tương lai. Định mức. Thông tin dự đoán chứa đựng những chỉ tiêu,những định mức (thực ra, những chỉ tiêu này không mang tính pháp lệnh, song lại giúp cho nhà quản lý xác định đúng đắn hơn các chỉ tiêu pháp lệnh) nhất định mà theo chúng có thể thực hiện được mô hình dự đoán. Xét theo bản chất thông tin, công tác dự đoán là việc lọc bỏ, khắc phục tình bất định bàng cách xử lý thông tin hiện có và phát hiện trong nó những số liệu báo hiệu về khuynh hướng, triển vọng (ví dụ khuynh hướng giảm tỷ lệ sinh đẻ). những phương án sắp tới của sự vận động của hệ thống (ví dụ do số trẻ đi học tiểu học có xu hướng giảm mà từ đó lập phương án phát triển giáo dục tiểu học cho phù hợp). Phòng ngừa. Thông tin dự đoán cho phép thấy trước những sai lệch của hệ thống so với mục tiêu đề ra, nhưng hậu quả trong tương lai của một quyết định, những nguyên nhân có thể có .Nhờ đó, chủ thể quản lý có thể điều chỉnh kịp thời những tác động quản lý. Điều này đồng nghĩa với việc nâng cao khả năng thích nghi của hệ thống đối với những điều kiện khác nhau đang thay đổi. Thông tin dự đoán rất đa dạng. Nhưng, nội dung chủ yếu của nó là : - Thông tin về trình độ phát triển của giáo dục và quản lý giáo dục đã đạt được và những khuynh hướng ổn định đã hình thành. - Thông tin về trình độ hiện có của khoa học giáo dục và triển vọng phát triển của 1. Sự thực, nghiên cứu dự báo giáo dục và kinh nghiệm giáo dục nước ngoài có nhiều khó khăn về chủ quan và khách quan. Để làm dự báo,yêu cầu lớn nhất là bức tranh kinh tế - xã hội phảitường minh. Còn nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài cũng vấp phải những khó khăn như nghèo nàn về tư liệu cập nhật về giáo dục thế giới. Mặt khác, nó đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải có quan điểm toàn diện - lịch sử : thành tựu giáo dục hiện tại của họ chính là do đòi hỏi kinh tế - xã hội của họ cách đây 5, 10 năm : ngoài ra còn phải kể đến việc còn phải nghiên cứu xu thế phát triển giáo dục của họ trong tương lai. Đây là việc đòi hỏi được đấu tư thích đáng. nó.  - Thông tin về mức tăng dân số dự kiến, về sự phát triển tâm - sinh lý - xã hội của thanh thiếu niên và nhu cầu của xã hội đối với giáo dục. - Thông tin về nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nhu cầu về nhân lực, chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới của xã hội... Điều cần chú ý là không phải một hoặc một nhóm chỉ tiêu nào: mà phải là một hệ thống các chỉ tiêu có liên hệ với nhau mới có thể tạo thành cơ sở tin cậy đối với các dự đoán giáo dục. bảo đảm cho nó có khả năng hiện thực. Thông tin dự đoán là một trong những cơ sở của thông tin kế hoạch. phục vụ việc lập kế hoạch. Trong trường hợp này. nó soi sáng. khống chế kế hoạch. Nó chỉ cho biết rằng trong tương lai hệ thống sẽ phát triển như thế nào, các biện pháp kế hoạch liệu có tính khả thi . Dấu hiệu khác nhau cần bàn là thông tư dự đoán có tằm nhìn xa hơn: mục đích phục vụ chủ yếu của nó là các chiến lược phát triển toàn ngành giáo dục một cách lâu dài hoặc một lĩnh vực quan trọng nào đó của ngành giáo dục. Và mục đích này chỉ có thể thực hiện bởi sự phối hợp các nhà khoa học và các nhà quản lý giáo dục giàu kinh nghiệm trong một tập thé được chỉ đạo. III - HỆ THỐNG NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ GIÁO DỤC Nguyên tắc quản lý giáo dục là những luận điểm cơ bản những yêu cầu, những tiêu chuẩn chỉ đạo việc xây dựng và tổ chức hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục. Bản thân các nguyên tắc cũng phát sinh từ các quy luật khách quan, từ các quá trình phát triển nhất định: tức là xuất phát từ những nhân tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình quản lý giáo dục. Đó là những quan điểm cơ bản được xây dựng trên cơ sở khoa học, là những phương hướng, nền tảng phù hợp với những đòi hỏi về chính trị, kinh tế - xã hội, về giáo dục,…Dựa trên những nguyên tắc đó, người ta có thể đánh giá hoạt động quản lý có hợp pháp hay không, có hiệu quả hay không. Nguyên tắc quản lý giáo dục biểu hiện mối quan hệ khách quan có tính quy luật, : mang tính chất chính trị - xã hội trong việc tổ chức và hoạt động quản lý giáo dục. Do đó, có thể coi nguyên tắc như "ngọn đèn pha" về quan điểm và tư tưởng chỉ đạo soi sáng cho hoạt động quản lý giáo dục. Các nguyên tắc quản lý giáo dục không phải bất di bất dịch, không thay đổi, ngược lại chúng luôn luôn phát triển. bởi các sự vật hiện tượng giáo dục mà chúng phản ánh cũng thường xuyên vận động và phát triển : mặt khác, còn bởi các phương tiện và khả năng nhận thức của chúng ta cũng luôn luôn phát triển, kinh nghiệm vận dụng quy luật khách quan cũng ngày càng phong phú. Về các nguyên tắc quản lý giáo dục, nhiều tác giả khác nhau có sự phân chia khác nhau. Tuy nhiên, theo chúng tôi, có thể gộp lại thành ba nhóm có quan hệ với nhau : Nhóm thứ nhất : những nguyên tác chính trị - xã hội. Đây là nhóm nguyên tắc chung biểu thị những đặc điểm chính trị, biểu thị tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong hoạt động quản lý giáo dục, đồng thời phản ánh các quy luật, các quan hệ và quá trình khách quan của giáo dục và quản lý giáo dục. Nhóm thứ hai : những nguyên tắc về tổ chức quản lý giáo dục. Các nguyên tắc này phản ánh việc tồ chức của chủ thể quản lý giáo dục, tức là phản ánh sự tổ chức bén trong của chủ thể quản lý, đồng thời sự tổ chức các tác động quản lý của chủ thể. Đó là các nguyên tắc xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục ở tất cả các cấp quản lý. Nhóm thứ ba : những nguyên tắc về hoạt động quản lý giáo dục. Các nguyên tắc này phản ánh hoạt động quản lý của toàn bộ bộ máy quản lý cũng như của từng cán bộ quản lý giáo dục. Các nguyên tắc này đều có quan hệ, tác động lẫn nhau. Chúng đề cập đến việc tổ chức cụ thể hoạt động quản lý hay là lao động quản lý của cơ quan hay cán bộ quản lý giáo dục. Dưới đây, là sơ đồ 3.14 về hệ thống nguyên tắc quản lý giáo dục. Sơ đồ 3.14. Hệ thống nguyên tắc qủan lý giáo dục Dưới đây, từng nhóm nguyên tắc sẽ được trình bày cụ thể. a) Những nguyên tắc chính trị -xã hội Nhóm này bao gồm các nguyên tắc : nguyên tắc tính đảng, tính giai cấp của quản lý nhà nước về giáo dục ; nguyên tắc kết hợp nhà nước và nhân dân ; nguyên tắc tập trung dân chủ ; nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Như ta biết, quản lý giáo dục thuộc phạm trù quản lý xã hội, do đó nhóm nguyên tắc này được chế ước bởi bản chất xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta. - Nguyên tắc tính đảng, tính giai cấp của quản lý nhà nước về giáo dục Nguyên tắc này có nghĩa là quản lý nhà nước về giáo dục phải bảo đảm lợi ích của nhân dân lao động. Các quyết định quản lý phải xuất phát từ lợi ích đó: biến các lợi ích, các nguyện vọng của nhân dân lao động thành hiện thực,mà nguyên vọng cao nhất là “Ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói. Tính giai cấp còn thể hiện ở chỗ trong quản lý giáo dục phải thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này đã ghi rõ tại Điều 4. Hiến pháp nước Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 : "Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp cóng nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"1 Như vậy, theo tinh thần trên đây, các chủ trương, chính sách của chủ thể quản lý giáo dục các cấp phải theo đường lối của Đảng. cụ thể hoá đường lối đó trong sự nghiệp phát triển giáo dục, làm cho sự nghiệp giáo dục giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa. bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với giáo dục, chống khuynh hướng "thương mại hoá", đề phòng khuynh hướng phi chính trị hoá giáo dục và không truyền bá tôn giáo trong giáo dục. Xuất phát từ nguyên tắc tính đảng và tính giai cấp trong quản lý giáo dục, giữa sự lãnh đạo của Đảng và việc quản lý nhà nước về giáo dục có mối quan hệ qua lại chặt chẽ, đa dạng và phong phú. Vấn đề phức tạp là làm sao cho các biện pháp và hình thức thích hợp để thực hiện đường lối. chính sách của Đảng và Nhà nước. Để thực hiện đường lối của mình, Đảng áp dụng các biện pháp chính trị, thông qua các quy phạm chính trị : nhưng, Nhà nước lại sử dụng các biện pháp pháp luật, thông qua các quy phạm pháp luật để thực hiện đường lối chính sách ấy vì lợi ích của toàn xã hội. Không phải chỉ là quan điểm chính trị, mà còn là các biện pháp, các hình thức để thực hiện chính trị. Chẳng hạn, tổ chức và quản lý việc dạy thêm, học thêm như thế nào chính là thể hiện quan điểm chính trị và hình thức thực hiện chính trị trong giáo dục. - Nguyên tắc kết hợp nhà nước và nhân dân trong quản lý giáo dục Đảng, Nhà nước ta luôn luôn coi "Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân"2 . Điều 36, Hiến pháp nước ta ghi rõ : "Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng"3 và Điều 11 đã khẳng 1. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 1997: tr. 30. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương trong khoá VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 1997, tr. 30. 3 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), NXB Chính trị Quốc định : "Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sờ bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội"1 . Như vậy, quản lý giáo dục là sự kết hợp giữa yêu cầu quản lý có tính chất nhà nước với quản lý có tính chất xã hội. Quản lý giáo dục có tính chất nhà nước dựa theo cơ chế chỉ huy - chấp hành. Căn cứ vào các quy phạm pháp luật, các chủ thể quản lý sử dụng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước trong khi đó: các đối tượng chịu sự quản lý buộc phải chấp hành. Quản lý giáo dục có tính chất xã hội là hoạt động của nhân dân và các tổ chức xã hội của họ thực hiện những chức năng xã hội nhất định độc lập hoặc phối hợp với các cơ quan nhà nước tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục . Điều 11, Luật Giáo dục về xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đã quy định : "Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục"2 . Nhưng, để cho nhân dân tham gia xây dựng giáo dục một cách có hiệu quả thì phải có các tổ chức để tạo điều kiện cho họ trở thành chủ thể đích thực trong các tổ chức đó. Việc tổ chức Hội đồng giáo dục các cấp, Đại hội giáo dục các cấp cùng với các đoàn thể quần chúng mà họ là thành viên sẽ là nơi thuận tiện để họ tham gia xây dựng giáo dục. Mặt khác, các tổ chức quần chúng - chính trị của học sinh là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh. Hội học sinh - sinh viên cũng có trách nhiệm tham gia xây dựng giáo dục. Trong nhà trường, Đoàn và Đội có thẻ tham gia vào việc nâng cao chất lượng giáo dục, thậm chí tham gia vào quá trình chuẩn bị những quyết định quan trọng của hiệu trưởng cũng như kiểm tra toàn diện trong nhà trường. - Nguyên tắc tập trung dân chủ Đây là nguyên tắc xuất phát từ bản chất xã hội chủ nghĩa của Nhà nước ta. Điều 6, Hiến pháp năm 1992 có ghi : "Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.3 Trong nguyên tắc này có hai khía cạnh liên quan với nhau : một mặt phải tăng cường quản lý tập trung, thống nhất trong toàn quốc trong việc quản lý triển khai những chủ trương lớn, trọng yếu về giáo dục ; mặt khác. phát huy và mở rộng đến mức cao nhất quyền chủ động của các cấp, các ngành,các địa phương, các cơ sở giáo dục và quần chúng nhân dân trong việc giải quyết các vấn đề trọng yếu nói trên bằng nhiều hình thức, phương tiện tiềm tàng của mình. Thuật ngữ "dân chủ" trong quản lý giáo dục ở đây bao hàm sự nghiệp giáo dục là của toàn dân, nhân dân tham gia xây dựng và quản gia, Hà Nội. 2002. tr. 26. 1. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992)NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2002. tr. 17. 2. Luật Giáo dục và văn bản hướng dẫn thi hành. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2000,tr .12. 3. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chú nghĩa Việt Nam (1992). NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 2002. tr. 15. lý giáo dục. Do đó, trong quản lý giáo dục phải sử dụng nhiều hình thức để nhân dân, cán bộ, giáo viên và học sinh có thể tham gia xây dựng giáo dục. Những chủ trương lớn về giáo dục có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân và con em họ phải được họ góp ý kiến, phát biểu nguyện vọng của mình. Quan hệ giữa dân chủ và tập trung là quan hệ biện chứng. Điều này đã được Lê nin chỉ rõ : "Sự thống nhất trong những vấn đề cơ bản,chủ yếu, lại được bảo đảm bằng nhiều vẻ trong những chi tiết, trong những đặc điểm địa phương, trong cách tiếp cận vấn đề, trong những biện pháp"1 . Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nói : "phải dân chủ rộng rãi dưới sự lãnh đạo tập trung và tập trung đúng mức tiền nền tảng dân chủ rộng rãi"2 . Nguyên tắc này đòi hỏi trong quản lý giáo dục phải kết hợp tập trung và dân chủ trong việc tổ chức các cơ quan quản lý giáo dục và trong cả trong việc chỉ đạo thực hiện quá trình giáo dục nói chung, quá trình quản lý giáo dục nói riêng. Có liên quan chặt chẽ đến nguyên tắc này là vấn đề phân cấp trong quản lý giáo dục (hay còn gọi là phi tập trung hoá, phi trung ương hoá trong giáo dục). Đây là xu hướng đang phát triển ở nhiều nước trên thế giới và sẽ được đề cập cụ thể ở chương IV (mục III) của cuốn sách này. - Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc này đòi hỏi việc tổ chức và hoạt động giáo dục cũng như quản lý giáo dục phải dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước. Có hai khía cạnh liên quan chặt chẽ với nhau khi thực hiện nguyên tắc này. Thứ nhất: thực hiện điều chỉnh bằng pháp luật về một tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục. Chính vì vậy,cơ quan quản lý giáo dục mới thể hiện rõ quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý. Trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan quản lý giáo dục là trách nhiệm và thẩm quyền nhà nước. Những tác động quản lý của chúng đều dựa vào danh nghĩa nhà nước để điều hành hoạt động của hệ thống giáo dục. Thứ hai, chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh những đòi hỏi của pháp luật. Đây là yêu cầu bắt buộc đối với cả chủ thể quản lý cũng như đối tượng bị quản lý. Chẳng hạn, việc thi tốt nghiệp, đòi hỏi các cơ quan hữu quan, nhà trường, giáo viên và học sinh thực hiện nghiêm chỉnh quy chế thi, đồng thời đòi hỏi việc kiểm tra, thanh tra thi phải dựa vào quy chế để xem xét, đánh giá tình hình thi hoặc xử lý vi phạm (nếu có). Nguyên tắc trên đây đặt ra yêu cầu một mặt phải có hệ thống pháp luật tốt liên quan đến giáo dục ; mặt khác phải thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật giáo dục (hiểu 1. V.I.Lênin : Bàn về tổ chức và quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa,. NXB Sự thật. Hà Nội. 1970. tr. 179. 2. Bác Hồ với nhân dân Hà Nội. Hà Nội, 1980. tr. 100. theo nghĩa rộng bao gồm các nghị quyết của Đảng, của Quốc hội, của Chính phủ, các văn bản pháp luật, các chỉ thị, hướng dẫn, các quy chế, quy định, điều lệ, . . ). Đây là nguyên tắc quan trọng không chỉ đối với cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, mà còn đối với các tổ chức Đảng và các tổ chức xã hội. Ở nước ta, dựa vào Hiến pháp có các luật liên quan đến giáo dục như : Luật Giáo dục. Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học, Luật Chăm sóc, Bảo vệ và Giáo dục trẻ em, Luật Hôn nhân và Gia đình,… đang được triển khai thực hiện rộng rãi trong toàn quốc .Bên cạnh đó, hàng loạt các văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục cũng như thực hiện quản lý giáo dục. Thực tiễn phát kiện giáo dục và quản lý giáo dục cho thấy phải thường xuyên hoàn thiện luật. Đó là điều tất yếu nhằm làm cho giáo dục luôn luôn đáp ứng đòi hòi của sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, việc hoàn thiện luật phải chú ý dấn tính ổn định, tính kế thừa và phát triển, tính lịch sử cụ thể… Nếu không, sẽ gây tình trạng hỗn loạn, mất lòng tin đối với quẩn chúng nhân dân. Vấn đề là chủ thể quản lý phải thường xuyên xem xét hiệu lực và hiệu quả của việc thi hành luật ; nhưng, nếu cần phải điều chỉnh luật cho phù hợp với thực tế dựa vào nhưng căn cứ khoa học xác đáng. b) Các nguyên tắc về tổ chức quản lý giáo dục Nhóm này bao gồm nguyên tắc thống nhất của hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục ; nguyên tắc kết hợp quản lý theo lãnh thổ và quản lý theo ngành ; nguyên tắc kết hợp lãnh đạo của tập thể với trách nhiệm cá nhân và chế độ một thủ trưởng ; nguyên tắc tổ chức quản lý cán bộ. - Nguyên tắc thống nhất của hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục Trong hệ thống quản lý giáo dục, có nhiều cơ quan quản lý - giáo dục ở các cấp khác nhau. Thẩm quyền của bất kỳ một cơ quan nào, một cấp nào đều phải được xác định rõ. Đây là công việc rất phức tạp. Phức tạp không chỉ là việc tổ chức bộ máy, mà còn ở việc phân chia thẩm quyền cho các cấp, các khâu, các bộ phận một cách hợp lý, đồng bộ, không chồng chéo để có thể bao quát được hết các hoạt động giáo dục. Vì vậy, yêu cầu của việc bảo đảm sự thống nhất của hệ thống quản lý là rất quan trọng. Về cấp quản lý giáo dục, hiện nay có ba cấp : Bộ Giáo dục và Đào tạo (cấp trung ương), Sở Giáo dục và Đào tạo (cấp tỉnh / thành phố trực thuộc trung ương) và cấp Phòng Giáo dục và Đào tạo (cấp huyện /quận). Hệ thống quản lý giáo dục ở nước ta đã được phân cấp và xác định rõ thẩm quyền của từng cấp. Tuy nhiên, sự thống nhất trong quản lý vẫn được bảo đảm. Điều đó thể hiện ở sự thống nhất, sự nhất quán, liên thông giữa các cấp quản lý trong việc triển khai thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục. - Nguyên tắc kết hợp quản lý theo lãnh thổ và quản lý theo ngành Trong lịch sử, nhà nước được xây dựng trên nguyên tắc lãnh thổ, tức là nhà nước tập hợp những người trên lãnh thổ mà ở đó quyền lực nhà nước được thực hiện. Nguyên tắc kết hợp quản lý theo lãnh thổ và quản lý theo ngành được coi là nguyên tắc quyết định trong tổ chức nhà nước. Ở nước ta, nước được chia thành tỉnh / thành phố trực thuộc trung ương ; tỉnh được chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã ; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận. huyện và thị xã : huyện chia thành xã, thị trấn ; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã ; quận chia thành phường. Tuy nhiên, trong xã hội phát sinh nhiều ngành khác nhau, trong đó có ngành giáo dục. Các ngành này khác nhau về đặc điểm và kết quả hoạt động của mình. Điều này xảy ra không phải trong một vùng mà trong phạm vi toàn quốc. Vì vậy, bên cạnh việc tổ chức quản lý theo lãnh thổ còn cần tổ chức quản lý theo ngành. Giữa ngành và lãnh thổ có mối tương quan, nhưng chúng lại được quản lý trên những nguyên tắc hoạt động khác nhau. Do đó xuất hiện yêu cầu khách quan phải kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ mót cách đúng đắn. Việc quản lý ngành Giáo dục theo lãnh thổ tạo điều kiện phân cấp cho địa phương, mở rộng quy mô chủ động và nâng cao trách nhiệm của địa phương trên các mặt kế hoạch, ngân sách, vật tư lao động, cán bộ, tổ chức:…Quản lý theo địa phương làm cho quản lý theo ngành phù hợp với đặc điểm địa phương, khai thác được thế mạnh của địa phương, có điều kiện phát huy sức mạnh tổng hợp "Nhà nước và nhân dân cùng làm giáo dục". Việc quản lý giáo dục theo ngành nhằm bảo đảm việc thực hiện quan điểm: đường lối, chính sách giáo dục thống nhất trong cả nước, thống nhất mục tiêu, nội dung, chương trình, các tiêu chuẩn giáo dục ; thống nhất những vấn đề có tính chất khoa học và chuyên môn; thực hiện sự hợp tác với các ngành khác trên quy mô cả nước. - Nguyên tắc kết hợp lãnh đạo tập thể với trách nhiệm cá nhân và chế độ một thủ trưởng Nguyên tắc này quy định hoạt động quản lý giáo dục dựa trên cơ sở tập thể. đồng thời quy định trách nhiệm cá nhân của thủ trưởng. Tính tập thể thể hiện trong các cơ quan quyền lực (Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh / thành phố trực thuộc trung ương, Uỷ ban nhân dân huyền / quận) và tính cá nhân thể hiện ở người thủ trưởng chịu trách nhiệm quản lý ngành giáo dục. Đó là tất yếu vì tính tập thê bảo đảm cho sự phát triển toàn diện của lãnh thổ, ở đó có sự hoạt động của nhiều ngành khác nhau. Còn đối với ngành giáo dục (và cả các ngành khác) đòi hỏi trình độ chuyên môn và tác nghiệp cao hơn. Nguyên tắc này còn quy định trách nhiệm cá nhân của người lãnh đạo. Trong quá trình chuẩn bị ra quyết định, cần phải bàn bạc tập thể. Sự kết hợp giữa chế độ lãnh đạo tập thể với chế độ một thủ trưởng chính là nhằm thực hiện tập trung dân chủ với mục . đích phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của cá nhân trong công tác quản lý. Và cần phải hiểu là lãnh đạo tập thể không làm giảm nhẹ trách nhiệm cá nhân. - Nguyên tắc tổ chức quản lý cán bộ Nguyên tắc này yêu cầu việc tuyển chọn và đề bạt cán bộ theo tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của cóng việc. Cụ thể là : - Tiêu chuẩn về chính trị ; - Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn và năng lực quản lý ; - Tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp ; Trên đây là các tiêu chuẩn cơ bản đối với cán bộ quản lý giáo dục. Song, đối với một loại cán bộ khác nhau phải có các tiêu chuẩn khác nhau trên cơ sở ba tiêu chuẩn vừa nêu. Chẳng hạn, tiêu chuẩn chọn hiệu trưởng trường trung học phổ thông phải khác tiêu chuẩn chọn trưởng phòng giáo dục và đào tạo. Ba tiêu chuẩn trên được áp dụng không những cho việc tuyển chọn cán bộ quản lý, mà cả cho việc bồi dưỡng cán bộ. Nếu tiêu chuẩn đầu là việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa ; thì tiêu chuẩn thứ hai bảo đám cho chất lượng quản lý chuyên môn (dạy học và giáo dục) và tiêu chuẩn thứ ba bảo đảm cho sự lành mạnh trong quan hệ quản lý và quan hệ nghề nghiệp. c) Các nguyên tắc về hoạt động quản lý giáo dục Nhóm này bao gồm : nguyên tắc hiệu quả ; nguyên tắc kết hợp các lợi ích : nguyên tắc chuyên môn hoá ; nguyên tắc sử dụng phối hợp các phương pháp quản lý. - Nguyên tắc hiệu quả quản lý1 Đây là nguyên tắc phù hợp với mục tiêu quản lý, bao gồm hiệu quả giáo dục, hiệu qủa xã hội và hiệu quả của bản thân hoạt động quản lý. Có thể nói hiệu quả là thước đo năng lực của người cán bộ quản lý giáo dục. Thực chất của nguyên tắc nào là làm như thế nào để trong điều kiện nguồn lực nhất định, với thời gian cho phép, nhà quản lý có thể tạo ra nhiều kết quả có chất lượng, đạt mục tiêu giáo dục và mục tiêu quản lý như mong muốn. Nguyên tắc hiệu quả quản lý có quan hệ chặt chẽ với kết quả quản lý. Có thể một hoạt động quản lý nào đó là có kết quả, nhưng chưa chắc đã có hiệu quả. bởi tiêu tốn nhiều sức lực của không những nhà quản lý, mà còn của giáo viên và học sinh. Chẳng hạn, việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường, lúc dầu có thể tốn nhiều thời gian và sức lực của giáo viên ; nhưng, sau đó giáo viên vẫn tiếp tục mất nhiều công sức và thời gian mà kết quả dạy học vẫn không được cải thiện bao nhiêu thì rõ ràng hiệu quả quản lý của người hiệu trưởng là thấp và không thể chấp nhận 1. Xem thêm Trần Kiểm : Khoa học quản lý nhà trường phổ thông. NXB Đại học Quốc gia. Hà Nội. 2002. được. đây : Nguyên tắc hiệu quả quản lý đòi hỏi người lãnh đạo phải có hai phẩm chất sau Thứ nhất : phải nắm vững nội dung nguyên tắc, nắm vững diễn biến tình hình diễn biến của đối tượng quản lý để từ đó sáng tạo đề ra những biện pháp thích hợp ; Thứ hai : phải có tâm nhìn xa và rộng. Hiệu quả của hoạt động quản lý không chỉ dừng lại bó hẹp ở một bộ phận riêng biệt, mà phải trên quan điểm toàn diện, tổng thể. theo tác động dây chuyền. Điều này tránh cho nhà quản lý nhìn sự vật và sự phát triển của nó một cách thiển cận, chỉ thấy cục bộ mà không thấy toàn cục, chỉ thấy trước mắt mà không thấy lâu dài. Điều này cũng bị chi phối bởi đặc trưng của giáo dục, một hoạt động mà kết quả của nó xuất hiện sau một thời gian nhất định (ví dụ học sinh ra trường đóng góp cho xã hội). - Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích Lợi ích vừa là mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ đối với con người. Điều cần lưu ý ràng ở đâu và vào lúc nào đó, nếu không kết hợp hài hoà được các lợi ích thì ở đó và khi đó không thể có sự nhất trí về mục đích và hành động. Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục là một chủ trương đúng đắn và hợp lòng dân. Do đó, nó được nhân dân hưởng ứng và thực hiện một cách sói nổi và có nhiều sáng tạo. Đây là chủ trương được phát triển lâu dài, mạnh mẽ và bền vững, vì nó bảo đảm hài hoà giữa lợi ích nhà trường, lợi ích gia đình và lợi ích xã hội vì lợi ích tối thượng : chất lượng giáo dục và sự phát triển toàn diện của học sinh. Cần luôn luôn nhớ rằng lợi ích ở đây có hai mặt : lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần. Giáo dục là hoạt động được tiến hành bởi những trí thức. Do đó, không phải bao giờ họ cũng cơi trọng lợi ích vật chất ; ngược lại, những giá trị (kết quả hoạt động của họ được tồ chức và tập thể nhìn nhận, đánh giá công bằng ; học sinh của họ trưởng thành hoặc cuộc sống : ...) lại là phần thưởng tinh thần quý báu. nguồn động viên mạnh mẽ đối với họ. - Nguyên tắc chuyên môn hoá Nguyên tắc này đòi hỏi việc quản lý giáo dục phải được thực hiện bởi những người có chuyên môn, được đào tạo, có kinh nghiệm và tay nghề theo đúng vị trí trong guồng máy của hệ thống quản lý. Ví dụ như hiệu trưởng các trường thuốc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học: (Điều 49, Luật Giáo dục). Đây là cơ sở của việc nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục. Trong thực tế nhiều cán bộ quản lý giáo dục chưa dược đào tạo một cách chính quy nghiệp vụ quản lý nhưng trong quá trình hoạt động quản lý, họ phải được bồi dưỡng theo một hệ thống chương trình nhất định để tạo điều kiện cho họ nâng cao nghiệp vụ quản lý của mình. Phải chăng đã qua rồi tình trạng đề bạt cán bộ quản lý giáo dục mà không có hiệu biết gì về giáo dục ? Giáo dục là lĩnh vực mang tính chất học thuật: do đó yêu cầu có tính tất yếu là người quản lý (nhất là đối với người quản lý ở cấp cao) phải có tầm nhìn chiến lược vừa rộng, vừa sâu, vừa xa trên cơ sở khoa học (cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa ra những quyết sách thích hợp. Nguyên tắc chuyên môn hoá quản lý giáo dục còn được hiểu theo khía cạnh khác, đó là việc người cán bộ quản lý (đặc biệt là trong nhà trường) phải có trình độ vững vàng về giảng dạy và giáo dục. Mặt khác, họ phải là người nắm bắt nhanh nhạy những thành tựu mới của giáo dục và Khoa học quản lý giáo dục. Lãnh đạo giáo dục mà không am hiểu về giáo dục thì đó là nguyên nhân dẫn đến kém hiệu quả trong công tác quản lý và tự làm mất uy tín của mình. - Nguyên tắc sử dụng phối hợp các phương pháp quản lý Đây là nguyên tắc yêu cầu nhà quản lý phải tác động lên đối tượng bị quản lý thông qua việc áp dụng các quy luật tổ chức - hành chính, quy luật tâm lý - giáo dục. quy luật kinh tế - xã hội. Đối tượng bị quản lý là con người, hơn nữa lại là chủ thể tích cực của giáo dục (người dạy là người học) chịu sự tác động của nhiều mối quan hệ, có nhiều mục tiêu, nhiều nhu cầu khác nhau, nhiều hoàn cảnh khác nhau và luôn luôn thay đổi theo thời gian và không gian. Do đó phải luôn theo đối tượng cụ thể mà sử dụng phương pháp quản lý thích hợp. Điều này phụ thuộc vào nghệ thuật quản lý của từng người. Tóm lại, có ba nhóm nguyên tắc, bao gồm 12 nguyên tắc cụ thể trong quản lý giáo dục. Trong hoạt động thực tiễn, nhà quản lý phải biết vận dụng một cách khéo léo, phối hợp hài hoà các nguyên tắc này để tạo nên hiệu quả cao trong công tác quản lý của mình. IV- CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC 1. Khái niệm và yêu cầu của việc sử dụng phương pháp quản lý giáo dục Phương pháp quản lý giáo dục được hiệu là tổng thể những cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau của chủ thể quản lý đến hệ thống bị quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý. Ta biết rằng. hệ thống quản lý giáo dục tồn tại ở hai trạng thái : trạng thái tĩnh (cơ cấu bộ máy quản lý giáo dục, các cơ chế, thể chế quản lý giáo dục, v.v…) và trạng thái động thể hiện trong các quá trình quản lý giáo dục. Và, quá trình quản lý giáo dục (hệ thống quản lý ở trạng thái động) chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động quản lý giáo dục. Nếu phương pháp luận quản lý giáo dục là cơ sở định hướng cho hoạt động quản lý cơ cấu quản lý giáo dục (hệ thống quản lý ở trạng thái tĩnh) đặc trưng cho trình độ tổ chức, thì quá trình quản lý giáo dục đặc trưng cho đời sống thực của hoạt động quản lý. Điều này lại do phương pháp quản lý giáo dục quyết định. Do đó, có thể nói, phương pháp quản lý là bộ phận năng động nhất trong hệ thống quản lý. Nó là nhân tố biến đổi hệ quản lý từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động. Nó phải luôn luôn thích nghi với những biến đổi bên trong (thay đổi quy mô tổ chức giáo dục, thay đổi quy mô và chất lượng đội ngũ giáo viên, ... ) và bên ngoài hệ thống (tiến bộ khoa học kỹ thuật: môi trường kinh tế - xã hội, môi trường giáo dục, ... ). Các phương pháp quản lý giáo dục bắt nguồn từ những nguyên tắc quản lý giáo dục, do đó chúng cũng tồn tại khách quan. Trình độ hoàn thiện và hiệu quả của các phương pháp quản lý giáo dục phụ thuộc vào mức độ phù hợp của chúng với những cơ sở Khoa học giáo dục, với những nguyên tắc quản lý giáo dục và với trình độ phát triển của hệ thống giáo dục. Vì vậy phương pháp quản lý giáo dục không thể xuất phát từ ý muốn chủ quan của chủ thể quản lý. Vấn đề là sử dụng, lựa chọn. phối hợp chúng như thế nào trong số các phương pháp quản lý cho phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng cụ thể nhằm đạt mục tiêu của tổ chức lại tuỳ thuộc vào trình độ và nghệ thuật của chủ thể quản lý. Có rất nhiều ví dụ cho thấy nếu chỉ có mục tiêu, mặc dù mục tiêu có tốt đẹp đến đâu, mà không có phương pháp tốt thì mục liêu cũng chỉ là điều mơ ước. đây : Việc sử dụng phương pháp quản lý giáo dục đặt ra một số yêu cầu chủ yếu sau - Phương pháp quản lý giáo dục phải phù hợp với mục đích quản lý giáo dục. Có thể nói mục đích quản lý giáo dục quyết định việc lựa chọn phương pháp quản lý. Người lãnh đạo có quyền lựa chọn phương pháp quản lý, song không có nghĩa là chủ quan, tuỳ tiện, bởi mỗi phương pháp quản lý khi từ dụng lại tạo ra một ưu thế trội, một cơ chế tác động mang tính khách quan vốn có của nó. Trong nhà trường, không phải bất cứ lúc nào và với bất kể đối tượng nào (giáo viên, học sinh) người hiệu trưởng cũng có thể dùng cách ra lệnh là đạt hiệu quả. - Phương pháp quản lý phải phù hợp với nguyên tắc quản lý .Và ,phương pháp quản lý lại chịu sự chi phối lần thứ hai bởi nguyên tắc quản lý, ngoài lần thứ nhất bởi mục tiêu quản lý như đã nói ở trên. Ví dụ, hiệu trưởng đang vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quá trình xây dựng kế hoạch năm học thì phương pháp quản lý thích hợp ở đáy là giải thích, thuyết phục để mọi giáo viên hiểu rõ mục tiêu, ý nghĩa. nội dung kế hoạch và từ đó xác định trách nhiệm của mình trong việc thực hiện kế hoạch chung. - Sử dụng phương pháp quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Tính khoa học đòi hỏi chủ thể quản lý phải nắm vững đối tượng quản lý với những đặc điểm vốn có của nó để có những tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng đó. Tính nghệ thuật biểu hiện ở cho biết chọn đúng, biết kết hợp khéo léo, linh hoạt các phương pháp quản lý nhằm đạt hiệu quả cao nhất mục tiêu quản lý đã đề ra. Thực tiễn giáo dục chứng tỏ có nhiều vấn đề bức xúc nảy sinh (có lẽ lúc nào cũng có và đây là chuyện bình thường) đòi hỏi nhà quản lý phải áp dụng những giải pháp phù hợp. Chính lúc này đòi hòi hơn lúc nào hết trình độ, bản lĩnh và nghệ thuật của nhà quản lý. 2. Các phương pháp quản lý giáo dục chủ yếu Các phương pháp quản lý hết sức đa dạng và phong phú. Do đó, việc phân loại là cần thiết. Trên cơ sở đó, nghiên cứu sâu về đặc trưng, bản chấ, điều kiện sử dụng một cách hiệu quả. Trong sách báo về quản lý, các tác giả dựa theo tiêu chí khác nhau để có cách phân loại khác nhau. Chẳng hạn : dựa theo nói đúng có phương pháp hành chính. phương pháp kinh tế, phương pháp pháp luật, phương pháp xã hội ; dựa theo chức năng có các phương pháp lãnh đạo của Đảng, phương pháp quản lý của Nhà nước phương pháp hoạt động của đoàn thể quần chúng ; dựa theo cấp bậc có phương pháp quân lý của cấp cao, cấp trung gian, cấp cơ sở ; dựa theo đặc trưng của đối tượng quản lý có phương pháp quản lý tài chính, phương pháp quản lý chuyên món ;v.v… Tuy nhiên, việc đi sâu vào vấn đề phân loại phương pháp quản lý là vấn đề không đơn giản, vả lại cũng không phải là mục tiêu của cuốn sách này. Trong quản lý giáo dục, cách phân loại được áp dụng nhiều và tỏ ra phù hợp là cách phân loại dựa vào nội dung và thường được chia thành ba loại phương pháp chủ yếu là : phương pháp hành chính - pháp luật, phương pháp giáo dục - tâm lý và phương pháp kích thích. a) Phương pháp hành chính -pháp luật Phương pháp hành chính - pháp luật là tổng thể các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý dựa trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực nhà nước. Các mối quan hệ tổ chức và quyền uy xuất hiện ở tất cả các tổ chức giáo dục, các cấp bậc quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục. Đặc trưng cơ bản của phương pháp này là sự cưỡng bức đơn phương của chủ thể quản lý. Quan hệ ở đây là quan hệ giữa quyền uy và phục tùng, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa cá nhân và tổ chức. Cấp trên ra lệnh, cấp dưới buộc phải chấp hành. Có nhiều hình thức thực hiện phương pháp này đó là : luật (như Luật Giáo dục), điều lệ (như Điều lệ trường Trung học cơ sở), Quy chế (như Quy chế tổ chức và hoạt động của các trường dân lập), nghị quyết, quyết định, chỉ thị (như Chỉ thị đầu năm học của Bộ trưởng), các văn bản hành chính, mệnh lệnh... . Phương pháp hành chính - pháp luật được sử dụng nhằm hai mục đích chính : tổ chức và điều chỉnh. Nhằm mục đích thứ nhất, chủ thể quản lý ban hành các văn bản pháp quy quy định về tổ chức và hoạt động của các tổ chức giáo dục (ví dụ, Điều lệ trường Trung học cơ sở quy định mục đích, mục tiêu, quy mô, cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động nhà trường ; vai trò, nhiệm vụ của giáo viên: học sinh, cán bộ công nhân viên ; trách nhiệm. quyền hạn của hiệu trưởng nhà trường), quy định quan hệ hoạt động trong nội bộ cũng như các đối tượng quản lý với các chủ thẻ khác. Ví dụ như : quy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thuốc Bộ Giáo dục và Đào tạo ; cơ cấu tổ chức, quan hệ giữa các cơ quan trong Bộ ; đề ra quy chế hoạt động của các bộ phận phù hợp với luật pháp và các thể chế pháp luật khác (như Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Bảo vệ môi trường, Luật doanh nghiệp… ). Nhằm mục đích thứ hai, chủ thể quản lý thông qua các hình thức như chỉ thị, mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dưới thực hiện những nhiệm vụ theo phương hướng nhất định nhằm bảo đảm sự đúng hướng, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận. Ví dụ như chỉ thị về dạy thêm, học thêm nhằm uốn nắn những lệch lạc, làm giảm uy tín của nhà trường và của giáo viên. Xuất phát từ đặc điểm của phương pháp này như đã nêu ở trên, việc sử dụng nó phải bảo đảm các yêu cầu sau : - Xác định rõ căn cứ khoa học của quyết định hành chính sẽ ban hành ; - Cân nhắc đầy đủ các lợi ích của các bên có liên quan khi thực hiện quyết định, tránh một chiều và nhất là thiếu khách quan, chỉ nghĩ đến lợi ích của chủ thể quản lý ; - Nắm vững thực trạng của đối tượng quản lý, bảo đảm có những thông tin đầy đủ về vấn đề liên quan đến quyết định ; - Sử dụng phương pháp hành chính - pháp luật phải gắn chặt với quyền hạn, trách nhiệm của người ra quyết định ; - Quyết định phải rõ ràng, dứt khoát, dễ hiểu, có địa chỉ người thực hiện ; - Cần chú ý khắc phục nhược điềm của phương pháp này, đó là việc dễ gây tình trạng hành chính quan liêu, nặng giấy tờ, quyết định không đủ căn cứ, thiếu thông tin cần thiết, gây tổn thất không nhỏ cho tồ chức. Từ đó xuất hiện kiểu người lạm dụng quyền hành, nhưng lại chạy trốn trách nhiệm trước tổ chức. b) Phương pháp giáo dục -tâm lý Phương pháp giáo dục - tâm lý là tổng thể những tác động lên trí tuệ, tình cảm, ý thức và nhân cách của con người. Mục đích của phương pháp này là thông qua. những mối quan hệ liên nhân cách tác động lên con người nhằm cung cấp, trang bị thêm hiểu biết, hình thành những quan điểm đúng đắn, năng cao khả năng, trình độ thực hiện nhiệm vụ của họ ; đồng thời chuẩn bị tư tưởng, tình cảm, ý thức trách nhiệm, ý thức tự giác, tự chủ, lòng kiên trì, tinh thần tự chịu trách nhiệm, không khí lành mạnh, …trong tổ chức khi thực hiện nhiệm vụ. Trong quản lý giáo dục, phương pháp- này được sử dụng nhiều, một phần do đặc điểm của môi trường hoạt động giáo dục : phần khác, do tính hiệu quả cao của nó. Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, làm cho con người hiểu rõ đúng - sai, phải – trái, tốt - xấu, lợi - hại, thiện – ác… để từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với tổ chức. Cơ sở khách quan của phương pháp này là các quy luật nhân thức - tư duy: các quan hệ và quy luật tâm lý - giáo dục - xã hội ; trong khi đó, hoạt động quản lý giáo dục lại diễn ra trong môi trường giáo dục, môi trường đụng chạm nhiều đến học thuật, chính vì thế mà phương pháp giáo dục - tâm lý được sử dụng nhiều trong quản lý giáo dục. Yêu cầu của việc sử dụng phương pháp này là : - Coi trọng nhân cách con người ; - Chú trọng việc phân tích cơ sở khoa học của các quyết định quản lý, tạo sự thống nhất trong quan niệm và hành động của các thành viên trong tổ chức . - Thuyết phục bằng lý trí, tình cảm, xây dựng lòng tin giữa chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý ; - Hình thành niềm tự hào vè tổ chức của mình, lòng tự tin vào bản thân trong các thành viên của tổ chức ; - Tạo nền nếp, thói quen, tập quán, nói rộng ra là tạo thành văn hoá trong tổ chức. trong đó có văn hoá quản lý giáo dục. c) Phương pháp kích thích Phương pháp kích thích là tổng thể những tác động đến con người thông qua lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần nhằm phát huy ở họ tiềm năng, trí tuệ, tình cảm, ý chí, trách nhiệm và quyết tâm hành động vì lợi ích chung của tổ chức. Những kích thích về vật chất có thể kể như : các thang, bậc lương, tiền thưởng, điều kiện sinh hoạt, lao động…có ý nghĩa tích cực đối với con người, khiến họ lao động nhiều hơn, tốt hơn, có năng suất hơn để có những cống hiến xứng đáng cho tập thể. Trong thực tiễn, giáo dục đã và đang tồn tại những kích thích này : tăng lương trước thời hạn cho giáo lên giỏi: thưởng tiền cho những giáo viên có học sinh đoạt giải quốc gia, quốc tế ,v.v… Những kích thích về tinh thần có thể kể : phong danh hiệu thi đua, danh hiệu giáo viên giỏi các cấp: nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân, v.v… Ngoài ra, các kích thích về chính trị (như kết nạp Đảng), về khoa học (như tạo điều kiện cho giáo viên đi học sau đại học), v.v…cũng thuộc loại kích thích tinh thần. Điều cần lưu ý là cần kết hợp các kích thích vật chất và tinh thần trong quá trình quản lý. Quá coi trọng kích thích vật chất sẽ tầm thường hoá con người, vả lại cũng không phù hợp với môi trường giáo dục, trong đó phần lớn những trí thức hoạt động. Ngược lại quá coi trọng kích thích tinh thần sẽ rơi vào chủ nghĩa duy ý chí. Nói như V.G. Afanaxep : "Tuyệt đối hoá những kích thích về vật chất, sẽ có thể làm nảy sinh những khuynh hướng tư hữu và tính tham lam. Còn bản thân những khuyến khích về tinh thần không tự nó góp phần trực tiếp thoả mãn những nhu cầu về vật chất của con người, và vì thế, không thể đưa lại hiệu lực lớn nhất cho việc nâng cao tính tích cực lao động sản xuất của con người. Chỉ có sự thống nhất, sự tác động lẫn nhau, một mặt là những khuyến khích vật chất và mặt khác là những khuyến khích tinh thần, mới thúc đẩy, nâng cao không ngừng tính tích cực lao động, nâng cao năng suất lao động và của cải xã hội, và mặt khác mới là cội nguồn tăng phúc lợi cho nhân dân, phát triển toàn diện con người xây dựng diện mạo tinh thần và tư tưởng cao cả của anh ta"1 . Các phương pháp quản lý giáo dục trình bày trên đây xem như những gợi ý đối với các nhà quản lý. Trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý cần sử dụng kết hợp các phương pháp, bởi những lý do sau : - Phương pháp nào cũng có ưu điểm và nhược điểm riêng. Việc đề cao quá mức bất kỳ phương pháp nào và lạm dụng nó đều rất dễ dẫn đến kém hiệu quả trong quản lý. - Đối tượng quản lý chịu sự tác động của hàng loạt quy luật khác nhau, mỗi phương pháp chỉ có tác dụng ưu trội phù hợp với một vài quy luật nhất định. - Hệ thống quản lý, về thực chất là một chỉnh thẻ bao gồm các bộ phận hợp thành có quan hệ tương tác, gắn bó hữu cơ với nhau. Do đó một phương pháp quản lý cụ thể nào đó không thể cùng một lúc tác động có hiệu quả đến tất cả các mối quan hệ trong hệ thống quản lý. - Vả lại, đối tượng quản lý giáo dục là con người, mà bản chất của nó lại là tổng hoà các quan hệ xã hội. Bởi vậy chỉ có sự kết hợp các phương pháp quản lý mới có thể tạo ra sức mạnh tổng hợp làm thay đổi trạng thái quản lý như mong muốn của chủ thể quản lý. Thực tiễn chỉ đạo giáo dục đã cho ta rất nhiều bài học rút ra từ việc vận dụng kết hợp các phương pháp quản lý giáo dục. Chủ trương xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, chủ trương đổi mới giáo dục, chủ trương phổ cập giáo dục và rất nhiều chủ trương giáo dục khác được thực hiện thành công trên khắp đất nước ta là minh chứng rõ rệt về việc sử dụng phối hợp nhiều phương pháp quản lý : vừa tuyên truyền, thuyết phục, giải thích, vừa kết hợp các biện pháp hành chính quy định trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể tham gia, lại vừa sử dụng các phương pháp khuyến khích vật chất và tinh thần nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của quần chúng trong và ngoài ngành giáo dục tích cực tham gia phải triển sự nghiệp giáo dục. V - CÔNG CỤ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Công cụ quản lý giáo dục là những phương tiện, những giải pháp của chủ thể quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ, điều hoà, phối hợp và đánh giá kết quả hoạt động của các thành viên trong tổ chức giáo dục hướng vào việc thực hiện mục 1. V. G. Afanaxep : Con người trong quản lý xã hội, Tập 2. NXB Khoa học xã hội. Hà Nội. 1979. tr. 81. tiêu đề ra. 1. Các loại công cụ trong quản lý giáo dục a) Công cụ có tính pháp lý như : luật pháp, pháp lệnh, nghị quyết, các chính sách, các vãn bản của các cơ quan có chức năng và thẩm quyền nhà nước ban hành (ví dụ : Nghị quyết của Đảng về giáo dục và các vấn đề liên quan, Luật Giáo dục, Nghị quyết của Quốc hội, Chỉ thị của Chính phủ, Chính sách đối với giáo viên công tác ở các vùng khó khăn,… ). b) Công cụ theo lĩnh vực quản lý như : công cụ quản lý ngành, công cụ quản lý của các ngành liên quan đến giáo dục, công cụ quản lý liên ngành, …do cơ quan chức năng ban hành (ví dụ : Chỉ thị của Bộ trưởng về nhiệm vụ năm học, Chế độ khen thưởng đối với giáo viên, Thông tư liên bộ hướng dẫn tổ chức và hoạt động của các trường tư thục, Hướng dẫn phân bổ ngân sách giáo dục,…). c) Công cụ kinh tế, kỹ thuật như : công cụ hạch toán chi tiêu trong giáo dục, công cụ thống kê, xác suất, … (ví dụ : Hướng dẫn chi tiêu trong giáo dục, Hướng dẫn thống kê giáo dục, …). d) Công cụ quản lý theo nội dung và quá trình quản lý như : công cụ quản lý chuyên môn, công cụ kiểm tra đánh giá, công cụ điều chỉnh hoạt động…( ví dụ : Chỉ thị của Bộ trưởng về thi tốt nghiệp các cấp. Hướng dẫn tuyển chọn, bồi dưỡng học sinh giỏi. Chỉ thị về tổ chức và quản lý dạy thêm, học thêm, Quy chế, Nội quy, Quyết định của hiệu trưởng nhà trường, Kế hoạch năm học…). Trên đây là một số loại công cụ chủ yếu được sử dụng trong quản lý giáo dục. Trong thực tế còn nhiều loại công cụ quản lý khác dựa theo các tiêu chí khác nhau. Nhưng tác giả thấy không cần thiết nêu cụ thể trong sách này. 2. Yêu cầu đối với hệ thống công cụ quản lý giáo dục Có bốn yêu cầu cụ thể như dưới đây : a) Công cụ quản lý phải được luận chứng đầy đủ dựa trên cơ sở khoa học (lý luận và thực tiễn) trước khi ban hành. Ví dụ trước khi ban hành Chỉ thị về tổ chức và quản lý dạy thêm, học thêm cần phải xem xét thực trạng, bản chất, mặt tích cực, mặt tiêu cực nguyên nhân, hậu quả, v.v… của nó để từ đó ban hành chỉ thị kèm theo các điều kiện thực hiện cụ thể. b) Phù hợp với thực tế, mang tính khả thi và hiệu quả. Ví dụ như để thực hiện chủ trương phổ cập giáo dục phải có chính sách khác nhau phù hợp với đặc điểm, khả năng và điều kiện đối với các vùng miền khác nhau. c) Bảo đảm tính ổn định tương đối của hệ thống công cụ quản lý và có xu hướng phát triển và hoàn thiện trong tương lai. Một chủ trương hoặc chính sách giáo dục phải ổn định trong một thời gian nhất định. Nhà quản lý kiểu "nhất dạ bách kế" chỉ dẫn đến tình trạng tổ chức mất phương hướng, làm mất lòng tin của thuộc cấp. d) Các công cụ quản lý giáo dục phải tạo thành hệ thống có tính thống nhất cao. Tuyệt đối tránh tình trạng chỉ thị, quy định trước "đá" chỉ thị, quy định sau : hoặc chỉ thị , quy định cấp dưới mâu thuẫn với chỉ thị, quy định cấp trên ;… gây nên tình trạng hỗn loạn trong tồ chức và tổ chức sẽ đứng trước nguy cơ không tồn tại . 3. Đổi mới và nâng cao năng lực vận hành hệ thống công cụ quản lý giáo dục Giáo dục và hệ thống quản lý giáo dục đang ở trong bối cảnh, mà ở đó các nhân tố bên trong và bên ngoài mới xuất hiện, đang vận động, đang phát triển theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực Các yêu cầu mới cũng đang đặt ra và thực sự là những thách thức đối với giáo dục và quản lý giáo dục. Bên cạnh đó, quản lý giáo dục đang có nhiều yếu kém và bất cập và vì vậy nó được xác định là khâu đột phá đối với sự phát triển giáo dục. Đó chính là lý do của đổi mới và nâng cao năng lực vận hành hệ thống công cụ quản lý giáo dục. Về vấn đề này, cần tập trung thực hiện một số việc : a) Đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng, hình thành hệ thống công cụ quản lý giáo dục phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. b) Rà soát, đánh giá lại hệ thống chính sách hiện hành để từ đó điều chỉnh hoặc xoá bỏ những chính sách không phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới. c) Tổ chức, hướng dẫn, tuyên truyền, giáo dục, kiểm tra, thanh tra việc vận dụng và thực hiện các chủ trương, chính sách, chỉ thị, … bảo đảm cho việc vận hành thông suốt và có hiệu quả. d) Nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất của các nhà hoạch định và thực hiện chính sách giáo dục. e) Tăng cường hợp tác quốc tế tham khảo kinh nghiệm nước ngoài trong việc xây dựng cũng như quản lý việc thực hiện chính sách giáo dục. Tóm lại, trong quản lý giáo dục , các chủ trương, chính sách, chỉ thị, thông tư, hướng dẫn, kế hoạch, v.v… và là những công cụ quản lý có vai trò hết sức quan trọng. bởi chúng làm cho hệ thống giáo dục quốc dân được vận động và phát triển theo các nguyên tắc quản lý. Do đó, việc nhà quản lý giáo dục ở bất kỳ cấp nào đều phải nắm chắc hệ thống công cụ quản lý và vận hành có hiệu quả trong thực tiễn là yêu cầu có tính bắt buộc khách quan, tất yếu.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docQLNN-GD&DT.doc
  • pdfQLNN-GD&DT.pdf
Tài liệu liên quan