quản lý và tái xử dụng chất thải rắn công nghiệp

Lời mở đầu Quá trình chuyển đổi cơ cấu công nghiệp nhanh chóng hiện tại ở Việt Nam không tương ứng với những chú trọng về những vấn đề môi trường, mà là một tất yếu gây ra do sự phát triển công nghiệp. Quá trình công nghiệp hóa đất nước đã gây ra nhiều vấn đề về môi trường. Khu vực TPHCM chịu thiệt hại do nhiều suy thoái môi trường do các ngành công nghiệp gây ra và một trong những vấn đề chính là vấn đề về chất thải công nghiệp rắn. Nói chung, ở Việt Nam chính sách và quản lí môi trường vẫn còn chưa chặt chẽ, và đặc biệt vào lúc này là trường hợp cho quản lí chất thải rắn công nghiệp ở Việt Nam nói chung và khu vực TPHCM nói riêng. Một vài tổ chức có liên quan đến hệ thống quản lí chất thải công nghiệp, nhưng hệ thống quản lí còn nhiều rối rắm. Cho đến nay, vẫn không có một hệ thống rõ ràng về việc xử lí chất thải rắn công nghiệp, và vào lúc này chính phủ không thể thu thập và xử lí chúng một cách hiệu quả và triệt để. Nghĩa là những nguy hiểm đang đe dọa môi trường, phần lớn chất thải công nghiệp là chất thải công nghiệp độc hại. Vì vậy, rõ ràng là rất cần thiết phải có một hệ thống quản lí chất lượng môi trường tốt hơn, đặc biệt là hệ thống quản lí chất thải rắn và chất thải nguy hại. Tổ chức quản lí chất thải rắn công nghiệp sẽ cần đến một mạng lưới tổ chức, với những nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng, như là các dụng cụ và phương tiện tốt hơn để vận hành hệ thống. Những điều kiện tiên quyết quan trọng nhất là sự tham gia của những nhân vật có liên quan và kế hoạch - thời gian để thực hiện kế hoạch có hiệu quả và hiệu suất cao. . MỤC LỤC Phần I: MỞ ĐẦU 4 Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5 I. Phân loại tính chất và phương pháp xử lý 5 I.1. Khái niệm 5 I.2. Phân loại chất thải 5 I.2.1. Phân loại theo nguồn phát sinh 5 I.2.2. Phân loại theo mức độ nguy hại 5 I.2.3. Phân loại theo thành phần 5 I.2.4. Phân loại theo trạng thái chất thải 6 I.3. Phương pháp xử lý chất thải 6 I.3.1. Khái niệm 6 I.3.2. Các phương pháp xử lý chất thải rắn 6 I.3.3. các phương pháp xử lý khác 7 II. Vấn đề quản lý chất thải 9 II.1. Một số khái niệm 9 II.3. Chiến lược quản lý chất lượng môi trường đối với chất thải 12 PHẦN III. THƯC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ TÁI SỬ DỤNG CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP 13 I. Thực trạng về tải sử dụng 14 I.1. Thực trạng tại Việt Nam 14 I.2. Một số quy trình ứng dụng xử lý chất thải rắn công nghiệp 14 I.2.1. Giải pháp hóa học và hóa lý nhằm tái sinh CTNH 14 I.2.2. Giải pháp sinh học-hướng đề xuất phân compost 16 I.2.3. Giải pháp thiêu đốt CTRCN và CTCNNH nhằm thu hồi nhiệt 19 II. Thực trạng quản lý chất thải rắn công nghiệp 23 II.1. Thực trạng tại Việt Nam 23 PHẦN IV. ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH QUẢN LÝ VÀ TÁI SỬ DỤNG Ở ĐỊA PHƯƠNG 23 PHẦN V. KẾT LUẬN 33

doc28 trang | Chia sẻ: banmai | Ngày: 21/02/2013 | Lượt xem: 288 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu quản lý và tái xử dụng chất thải rắn công nghiệp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trường LT-TP Khoa Công nghệ Lương Thưc-Thực Phẩm ĐỒ ÁN CHUYÊN MÔN 1 ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ VÀ TÁI XỬ DỤNG CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP Sinh viên thực hiện : Ma Thành Được Lớp : 08s1 Giáo viên hương dẩn : Trương Hoài Linh MỤC LỤC Phần I: MỞ ĐẦU 4 Phần II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5 I. Phân loại tính chất và phương pháp xử lý 5 I.1. Khái niệm 5 I.2. Phân loại chất thải 5 I.2.1. Phân loại theo nguồn phát sinh 5 I.2.2. Phân loại theo mức độ nguy hại 5 I.2.3. Phân loại theo thành phần 5 I.2.4. Phân loại theo trạng thái chất thải 6 I.3. Phương pháp xử lý chất thải 6 I.3.1. Khái niệm 6 I.3.2. Các phương pháp xử lý chất thải rắn 6 I.3.3. các phương pháp xử lý khác 7 II. Vấn đề quản lý chất thải 9 II.1. Một số khái niệm 9 II.3. Chiến lược quản lý chất lượng môi trường đối với chất thải 12 PHẦN III. THƯC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ TÁI SỬ DỤNG CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP 13 I. Thực trạng về tải sử dụng 14 I.1. Thực trạng tại Việt Nam 14 I.2. Một số quy trình ứng dụng xử lý chất thải rắn công nghiệp 14 I.2.1. Giải pháp hóa học và hóa lý nhằm tái sinh CTNH 14 I.2.2. Giải pháp sinh học-hướng đề xuất phân compost 16 I.2.3. Giải pháp thiêu đốt CTRCN và CTCNNH nhằm thu hồi nhiệt 19 II. Thực trạng quản lý chất thải rắn công nghiệp 23 II.1. Thực trạng tại Việt Nam 23 PHẦN IV. ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH QUẢN LÝ VÀ TÁI SỬ DỤNG Ở ĐỊA PHƯƠNG 23 PHẦN V. KẾT LUẬN 33 PHẦN I. MỞ ĐẦU Quá trình chuyển đổi cơ cấu công nghiệp nhanh chóng hiện tại ở Việt Nam không tương ứng với những chú trọng về những vấn đề môi trường, mà là một tất yếu gây ra do sự phát triển công nghiệp. Quá trình công nghiệp hóa đất nước đã gây ra nhiều vấn đề về môi trường. Khu vực TPHCM chịu thiệt hại do nhiều suy thoái môi trường do các ngành công nghiệp gây ra và một trong những vấn đề chính là vấn đề về chất thải công nghiệp rắn. Nói chung, ở Việt Nam chính sách và quản lí môi trường vẫn còn chưa chặt chẽ, và đặc biệt vào lúc này là trường hợp cho quản lí chất thải rắn công nghiệp ở Việt Nam nói chung và khu vực TPHCM nói riêng. Một vài tổ chức có liên quan đến hệ thống quản lí chất thải công nghiệp, nhưng hệ thống quản lí còn nhiều rối rắm. Cho đến nay, vẫn không có một hệ thống rõ ràng về việc xử lí chất thải rắn công nghiệp, và vào lúc này chính phủ không thể thu thập và xử lí chúng một cách hiệu quả và triệt để. Nghĩa là những nguy hiểm đang đe dọa môi trường, phần lớn chất thải công nghiệp là chất thải công nghiệp độc hại. Vì vậy, rõ ràng là rất cần thiết phải có một hệ thống quản lí chất lượng môi trường tốt hơn, đặc biệt là hệ thống quản lí chất thải rắn và chất thải nguy hại. Tổ chức quản lí chất thải rắn công nghiệp sẽ cần đến một mạng lưới tổ chức, với những nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng, như là các dụng cụ và phương tiện tốt hơn để vận hành hệ thống. Những điều kiện tiên quyết quan trọng nhất là sự tham gia của những nhân vật có liên quan và kế hoạch - thời gian để thực hiện kế hoạch có hiệu quả và hiệu suất cao. PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU I. khái niệm phân loại tính chất và phương pháp xử lý I.1. Khái niệm về chất thải Chất thải là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế- xã hội, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng. Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Lượng chất thải phát sinh thay đổi do tác động của nhiều yếu tố như tăng trưởng và phát triển sản xuất, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và sự phát triển điều kiện sống và trình độ dân trí. I.2. Phân loại chất thải I.2.1. Phân loại theo nguồn phát sinh - Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân cư, các trung tâm dịch vụ, công viên. - Chất thải công nghiệp: phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí) - Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra. - Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch. I.2.2. Phân loại theo mức độ nguy hại - Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng. Các chất thải này tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe doạ sức khoẻ con người và sự phát triển của động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí - Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất có các tính chất nguy hại. Thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, đô thị…. I.2.3. Phân loại theo thành phần - Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vật liệu xây dựng như gạch, vữa, thuỷ tinh, gốm sứ, một số loại phân bón, đồ dùng thải bỏ gia đình. - Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ như thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ và các loại thuốc bảo vệ thực vật. I.2.4. Phân loại theo trạng thái chất thải - Chất thải trạng thái rắn: bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải từ các cơ sở chế tạo máy, xây dựng ( kim loại, da, hoá chất sơn , nhựa, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng…) - Chất thải ở trạng thái lỏng: phân bùn từ cống rãnh, bể phốt, nước thải từ nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước từ nhà máy sản xuất giấy, dệt nhuộm và vệ sinh công nghiệp…. - Chất thải ở trạng thái khí: bao gồm các khí thải các động cơ đốt trong các máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hoả, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu… I.3. Xử lý chất thải I.3.1. Khái niệm về xử lý chất thải 1. Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải và không làm ảnh hưởng tới môi trường; tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế. 2. Mục tiêu của xử lý chất thải rắn là giảm hoặc loại bỏ các thành phần không mong muốn trong chất thải như các chất độc hại, không hợp vệ sinh, tận dụng vật liệu và năng lượng trong chất thải. I.3.2. Các phương pháp xử lý chất thải rắn - Phương pháp cơ học bao gồm: Tách kim loại, thuỷ tinh; nhựa ra khỏi chất thải; sơ chế, đốt chất thải không có thu hồi nhiệt; lọc tạo rắn đối với các chất thải bán lỏng. - Phương pháp cơ-lý: phân loại vật liệu; thuỷ phân; sử dụng chất thải như nhiên liệu; đúc ép các chất thải, sử dụng làm vật liệu xây dựng. - Phương pháp sinh học: chế biến ủ sinh học; mêtan hoá trong các bể thu hồi Phương pháp xử lý chất thải có thể khái quát theo sơ đồ hình 1. Thu gom chất thải Vận chuyển chất thải Xử lý chất thải Thiêu đốt Ủ sinh học làm Compost Cácphương pháp khác Tiêu hủy tại bãi chôn lấp Hình 1: Các phương pháp xử lý chất thải rắn I.3 2. Các phương pháp xử lý khác - Xử lý chất thải bằng công nghệ ép kiện Rác thu gom tập trung về nhà máy chế biến được phân loại bằng phương pháp thủ công trên băng tải. Các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như : Kim loại, nilon, giấy, thủy tinh, nhựa…. được thu hồi để tái chế. Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyển qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành các kiện có tỷ số nén cao (hình 4). Các khối rác ép này được sử dụng vào việc san lấp, làm bờ chắn các vùng đất trũng. Rác thải Phễu nạp rác Băng tải rác Phân loại Các khối kiện sau khi ép Băng tải thải vật liệu Máy ép rác Kim loại Thủy tinh Giấy Nhựa Hình 4: Công nghệ xử lý chất thải bằng phương pháp ép kiện - Xử lý chất thải bằng công nghệ Hydromex Công nghệ Hydromex (hình 5) nhằm xử lý rác đô thị thành các sản phẩm phục vụ xây dựng, làm vật liệu, năng lượng và các sản phẩm nông nghiệp hữu ích. Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác, sau đó polyme hóa và sử dụng áp lực lớn để ép nén, định hình các sản phẩm. Rác thải được thu gom chuyển về nhà máy, không cần phân loại được đưa vào máy cắt, nghiền nhỏ, sau đó đi qua băng tải chuyển đến các thiết bị trộn. Chất thải rắn chưa phân loại Chất thải lỏng hỗn hợp Thành phần Polyme hóa Kiểm tra bằng mắt Cắt xé hoặc nghiền nhỏ Làm ẩm Trộn đều Ép hoặc đùn Sản phẩm mới Hình 5: Xử lý chất thải theo công nghệ Hydromex II. CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG CHÍNH ĐẶT TRỌNG TÂM CHO CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ II.1. Vấn đề về chất thải rắn công nghiệp Quá trình công nghiệp hóa hiện đại ở nước ta đã gia tăng rất nhanh vào những năm gần đây và nó được định hướng gia tăng nhanh hơn nữa trong 10 năm tới.và TPHCM là thành phố dẫn đầu cho sự nghiệp phát triển kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh việc phát triển kinh tế này là vấn đề gia tăng ô nhiễm công nghiệp bao gồm cả chất thải công nghiệp. Hiện nay có rất ít các nhà máy, xí nghiệp áp dụng các công nghệ xử lý, tái sử dụng hay giảm thiểu chất thải. Hơn nữa, hiện nay một số xí nghiệp có chức năng xử lý chất thải lại không hoạt động như xí nghiệp làm phân compost - TPHCM làm cho tất cả các loại chất thải rắn và chất thải nguy hại (gồm chất thải công nghiệp và sinh hoạt) đều được đem chôn tại hai bãi chôn lấp chính của thành phố. Hoạt động này đã làm ảnh hưởng đáng kể đến môi trường (như ô nhiễm nước ngầm, ô nhiễm không khí, mùi…), và hiện nay hàng loạt những ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đã xảy ra thông qua việc chôn lấp các loại chất thải không hợp vệ sinh và không được phân loại hợp lý. Ngoài ra, sức chứa của hai bãi chôn lấp này cũng rất hạn chế. Do vậy, giảm thiểu chất thải, tái sử dụng, xử lý và xây dựng các bãi chôn lấp chất thải rắn công nghiệp và chất thải rắn công nghiệp nguy hại là những nhu cầu cấp bách. Thành phố cần một chiến lược thích hợp để quản lý chất thải rắn công nghiệp trong thời gian tới để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam gồm TPHCM và 3 tỉnh (Đồng Nai, Bình Dương và Vũng Tàu) và một phần của 2 tỉnh (Lâm Đồng và Long An), là khu vực phát triển kinh tế mạnh nhất trong cả nước hiện nay. Đây là những vùng có đặc điểm về môi trường tương tự như ở TPHCM. Khi phát triển chiến lược quản lý môi trường cho TPHCM cần phải lưu ý đến những vấn đề về quản lý chất thải rắn công nghiệp ở các tỉnh lân cận. Hiện nay, TPHCM có khoảng gần 30.000 xí nghiệp công nghiệp qui mô vừa và nhỏ và trên 800 nhà máy lớn (gồm cả 17 nhà máy trong phạm vi khu công nghiệp và khu chế xuất). Do TPHCM chưa hề có một đơn vị xử lý chất thải công nghiệp nào, nên toàn bộ chất thải rắn và nước thải công nghiệp đều được xả thải bừa bãi vào các kênh rạch, hệ thống thoát nước đô thị, được chôn lấp trong các bãi chôn lấp không đúng qui cách hoặc chôn lấp bất hợp pháp. II.2. Chiến lược quản lý chất lượng môi trường đối với chất thải công nghiệp. Các mục đích chính 1. Quản lý chất thải công nghiệp nguy hại. • Thành lập kế hoạch chi tiết để quản lý chất thải nguy hại công nghiệp trên địa bàn TPHCM và các tỉnh lân cận và xây dựng địa điểm để chôn lấp chất thải nguy hại vào nam 2010. • Đảm bảo 100% các xí nghiệp có cam kết về chất thải nguy hại vào năm 2010. • Thống kê hiện trạng của các hợp chất hửu cơ bền (POPs) và đề ra chiến lược giảm thiểu khả năng phát tán POPs ra môi trường. 2. Chất thải rắn từ các loại hình công nghiệp vừa và nhỏ • Áp dụng chương trình quản lý chất thải vào từng loại hình công nghiệp (dưới hình thức tiền xử lý, tái sử dụng, công nghệ sạch …) và bảo đảm100% xí nghiệp có cam kết về thải bỏ chất thải công nghiệp vào năm 2005. 3.Chất thải rắn ở các loại hình công nghiệp lớn nằm ngoài KCX, KCN • Áp dụng chương trình quản lý chất thải (dưới hình thức tiền xử lý, tái sử dụng, công nghệ sạch …) và bảo đảm100% xí nghiệp có cam kết về thải bỏ chất thải công nghiệp vào năm 2005. 4. Chất thải rắn từ KCX, KCN • Đến cuối năm 2003, xây dựng hoàn chỉnh hệ thống quản lý chất thải công nghiệp ở từng KCN/KCX, kế hoạch bao gồm thu gom, tái sử dụng và thải bỏ chất thải công nghiệp. Những nguyên tắc chung của chiến lược quản lý chất thải Nguyên tắc chung của một chiến lược quản lý chất thải là ưu tiên các biện pháp giảm thiểu chất thải sau đó là các biện pháp. Trong những trường hợp này, lợi nhuận thu được tăng lên trên từng tấn chất thải được giảm thiểu thông qua việc giảm chi phí vận chuyển, giảm chi phí xử lý và giảm tác động đến môi trường của chất thải. Do đó ưu tiên đầu tiên là giảm thiểu chất thải, sau đó đến tái sử dụng hoặc tái chế chất thải, sau đó là xử lý hoặc chôn lấp. PHẦN III. THƯC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ VÀ TÁI SƯ DỤNG CHẤT THẢI RẮN CÔNG NGHIỆP. I.Thực trạng về tải sử dụng I.1. Thực trạng tại Việt Nam Theo Hiện Trạng Môi Trường Thành Phố Hồ Chí Minh dự tính tổng lượng chất thải rắn tại TPHCM là: • 4.900 tấn chất thải rắn sinh hoạt/ngày, • 260 tấn chất thải rắn công nghiệp/ngày (gồm 25 tấn chất thải rắn công nghiệp nguy hại/ngày) và • Khoảng 11 tấn chất thải bệnh viện/ngày. Số liệu về chất thải rắn công nghiệp nguy hại và chất thải rắn công nghiệp như trên không chính xác do chúng không được thu gom từ những hệ thống riêng biệt, do đó các số liệu này có nhiều hạn chế. Bảng1:Tóm tắt tổng tải trọng chất thải rắn công nghiệp TP.HCM (2005) STT Nguồn chất thải rắn công nghiệp Tải trọng ô nhiễm (tấn/năm) 1 Khu chế xuất và khu công nghiệp tập trung 62.700 2 Các nhà máy lớn nằm riêng lẻ 58.800 3 Các loại hình công nghiệp vừa và nhỏ 456.200 4 Chất thải bệnh viện 1.500 5 Tổng số 579.200 Cần củng cố hiệu quả quản lý chất thải công nghiệp và hệ thống các luật lệ, qui định liên quan sao cho có tính khả thi, có hiệu lực, rõ ràng và hữu ích. Nhìn chung, các qui định về môi trường hiện nay quá tổng quát, chung chung do đó chúng không có hiệu lực mạnh với ngành công nghiệp. Quan trọng hơn nữa, sức mạnh của các qui định này bị hạn chế do thiếu hụt nguồn tài chính để giám sát việc quản lý chất thải. Hiện nay có rất nhiều xí nghiệp hoạt động trong tình trạng lợi nhuận thấp và do vậy phải hạn chế tối đa chi phí. Do đó, họ không thể đáp ứng được các giải pháp công nghệ cao để đạt được các qui định về môi trường, và thiếu hụt ngay cả những qui định ép buộc, cưỡng chế họ thực hiện. Tình hình quản lý Việc xử lý chất thải chủ yếu do các công ty môi trường đô thị của các tỉnh/thành phố (URENCO) thực hiện. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ chất thải sinh hoạt, bao gồm cả chất thải sinh hoạt gia đình, chất thải văn phòng, đồng thời cũng là cơ quan chịu trách nhiệm xử lý cả chất thải công nghiệp và y tế trong hầu hết các trường hợp. Về mặt lý thuyết, mặc dù các cơ sở công nghiệp và y tế phải tự chịu trách nhiệm trong việc xử lý các chất thải do chính cơ sở đó thải ra, trong khi Chính phủ chỉ đóng vai trò là người xây dựng, thực thi và cưỡng chế thi hành các quy định/văn bản quy phạm pháp luật liên quan, song trên thực tế Việt Nam chưa thực sự triển khai theo mô hình này. Chính vì thế, hoạt động của các công ty môi trường đô thị liên quan đến việc xử lý chất thải sinh hoạt là chính do có quá ít thông tin về thực tiễn và kinh nghiệm xử lý các loại chất thải khác. Hệ thống quản lý chất thải rắn ở một số đô thị lớn ở Việt Nam được thể hiện trong hình 9. - Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm vạch chiến lược cải thiện môi trường chung cho cả nước, tư vấn cho Nhà nước để đưa ra các luật, chính sách quản lý môi trường quốc gia; - Bộ Xây dựng hướng dẫn chiến lược quản lý và xây dựng đô thị, quản lý chất thải; - Ủy ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chỉ đạo Ủy ban nhân dân các quận, huyện, sở Tài nguyên và Môi trường và sở Giao thông Công chính thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường đô thị, chấp hành nghiêm chỉnh chiến lược chung và luật pháp chung về bảo vệ môi trường của Nhà nước thông qua xây dựng các quy tắc, quy chế cụ thể; - URENCO là đơn vị trực đảm nhận nhiệm vụ xử lý chất thải, bảo vệ môi trường thành phố theo chức trách được sở Giao thông Công chính thành phố giao nhiệm vụ. I.2. Một số giải pháp ứng dụng xử lý chất thải rắn công nghiệp I.2.1. Giải pháp hóa học và hóa lý nhằm tái sinh CTNH Hiện nay có rất nhiều phương pháp tái sinh, tái chế chất thải. Các phương pháp này có thể áp dụng các quá trìng hóa lý hay hóa học để thu hồi hay làm gia tăng nồng độ của thành phần gây ô nhiễm nhằm phục vụ cho qúa trình tái sinh, tái chế tiếp theo. Một số giải pháp bao gồm : Hấp thụ bằng than hoạt tính : được dùng để loại bỏ các thành phần vô cơ và chủ yếu là các chất hữu cơ trong khí thải và nước thải. Đây là quá trình tích lũy chất ô nhiễm lên bề mặt chất rắn (than hoạt tính). Qua trình này thường mang tính thuận nghịch, vì vậy sau khi đã hết khả năng hấp thụ có thể tái sinh chất hấp thụ và thu hồi các chất ô nhiễm. Trao đổi ion : là quá trình dùng nhựa để trao đổi ion để loại các ion dương (cation) và các ion âm (anion) trong nước thải. Quá trình này cũng là quá trình thuận nghịch được sử dụng để thu hồi kim loại nặng (là kim loại quý) hoặc làm tăng nồng độ của kim loại trong nước để tăng hiệu quả thu hồi kim loại nặng tiếp theo. Chưng cất : được áp dụng rộng rãi trong công nghiệp hoá chất như thu hồi dung môi từ dung môi thải. Đây là quá trình tách chất dễ bay hơi ra khỏi chất ít bay hơi hơn bằng quá trình bay hơi và ngưng tụ. Điện phân : dựa trên phản ứng ôxyhóa-khử trên bề mặt điện cực nhằm thu hồi các kim loại trong chất thải. Kỹ thuật này được sử dụng để thu hồi đồng, niken, kẽm, bạc, vàng và các kim loại khác có trong nước thải của các xí nghiệp xi mạ, gia công kim loại. 1. Trích ly bằng chất lỏng : dựa trên khả năng hòa tan của chất ô nhiễm trong chất thải và dung môi được sử dụng làm chất trích ly để loại bỏ và thu hồi chất hữu cơ . 2. Tách bằng màng : đây là quá trìng đóng vai trò quan trọng trong việc loại thành phần gây ô nhiễm ra khỏi nước thải để tái sử dụng chúng. Quá trìng dựa trên kích thước phân tử của chất ô nhiễm và đặc tính tích điện của phân tử. Các quá trình được sử dụng là thẩm thấu ngược, siêu lọc, điện thẩm tách. 3. Hấp thụ khí/hơi : dựa trên tính bay hơi của chất hữu cơ trong nước thải để tách chúng ra khỏi nước thải. Quá trìng được thực hiện bằng cách cho dòng khí hoặc hơi đi qua nước thải, nhờ quá trình này, các thành phần ô nhiễm (chủ yếu là các chất hữu cơ) sẽ khuếch tán vào dòng khí (hay hơi) sau đó chúng sẽ được thu hồi nhờ các quá trình ngưng tụ hay hấp thụ. I.2.2. Giải pháp sinh học – hướng để sản xuất phân Compost Phân trộn (Compost) là một vật liệu giống như đất mùn được ra do quá trình ổn định sinh học hiếu khí các vật chất hữu cơ có trong chất thải rắn. Việc chế biến thành phân trộn đạt hiệu quả cao nhất khi dòng chất thải không chứa các vật liệu vô cơ. Phương pháp này thường được áp dụng để xử lý rác sinh hoạt có trong thành phần thảI của rác thảI Công nghiệp từ khu vực văn phòng, nhà ăn hoặc căn tin, có thành phần các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học chiếm từ 85 – 90% tổng khối lượng rác. Để cho quá trình sinh học diễn ra có hiệu quả, cần phải có những điều kiện sau đây : - Kích thước mẫu phải nhỏ (< 5cm); - Các điều kiện hiếu khí cần phải được duy trì bằng cách xới đảo trộn liên tục khối rác ủ hoặc không thông khí cưỡng bức cho nó; - Cần phải có sự hiện diện của hơi ẩm ở mức vừa đủ nhưng không được dư thừa (50 – 60%); - Cần phải có sự hiện diện của các vi sinh vật thích nghi với môi trường với số lượng vừa đủ; - Tỷ số C/N phải nằm trong khoảng từ 20/1 đến 25/1. Quá trình phân hủy sinh học là quá trình tỏa nhiệt và việc chế biến phân trộn cần được duy trì ở nhiệt độ 55 – 600C trong suốt giai đoạn diễn ra quá trình phân rã. Khoảng nhiệt độ này là hiệu quả trong việc phá hủy các mầm bệnh. Chu trình chế biến phân Compost vào khoảng 20 – 25 ngày. Trong chu trình đó, giai đoạn phân đoạn tan rã tối thiểu phải đạt 10 – 15 ngày. Một trong những trở ngại chính của việc chế biến rác thành phân Compost là việc phát sinh ra các mùi hôi thối. Việc duy trì các điều kiện hiếu khí và một thời gian lưu thích hợp sẽ giúp giảm thiểu các vấn đề về mùi hôi. Compost là loại phân hữu ích cho đất nông nghiệp. Nó sẽ : cải thiện cấu trúc đất, tăng cường khả năng giữ ẩm của đất, giảm bớt việc thẩm lậu (ngấm) nitơ hòa tan xuống các tầng đất bên dưới, và tăng khả năng đệm cho đất. Việc chế biến phân Compost là một trong những hướng tiến triển nhanh nhất của việc quản lý chất thải rắn thống nhất ở Mỹ và một số nước. Theo EPA, việc tái sinh chế chất thải rắn bằng cách chế biến thành phân Compost là không đáng kể vào năm 1988. Vào năm 1990, EPA đã ước định rằng 2% chất thải rắn của Mỹ đã được chế biến thành phân Compost, và đến năm 1995, tỉ lệ đó là 7% .Năm 1994, trên 3000 cơ sở chế biến phân Compost đã được đưa vào hoạt động ở Mỹ. Về bản chất, đây là quá trình phân hủy các thành phần hữu cơ trong rác thải có sự tham gia của các vi sinh vật trong điều kiện môi trường thích hợp (nhiệt độ, độ ẩm, không khí,..) để tạo thành phân bón hữu cơ. Việc ủ rác thành phân hữu cơ có ưu điểm nổi bật là tái sử dụng rác thải, giảm đáng kể khối lượng rác đưa đi chôn lấp. Loại phân vi sinh sản xuất theo công nghệ ủ rác không có những tác dụng kích thích sự tăng trưởng của cây trồng một cách an toàn về mặt sinh thái mà còn có tác dụng cải tạo đất. Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là công nghệ xử lý khá tốn kém, đòi hỏi chi phí đầu tư cao, công nhân vận hành có trình độ chuyên môn cao và chỉ thích hợp với các loại rác thải có thành phần hữu cơ cao (trên 80%). Công nghệ này được phân chia thành 2 loại : Ủ hiếu khí : công nghệ ủ hiếu khí dựa trên sự hoạt động của các vi khuẩn hiếu khí trong điều kiện được cung cấp ôxi đầy đủ. Các vi sinh vật tham gia vào quá trình này thường có sẵn trong thành phần rác thô, chúng thực hiện quá trình ôxi hóa các chất hữu cơ trong rác thành những CO2 và nước. Thường chỉ sau 2 ngày ủ, nhiệt độ khối ủ tăng lên đến khoảng 450C và sau 6 – 7 ngày thì đạt 70 – 750C. Nhiệt độ này chỉ đạt được với điều kiện duy trì không khí và độ ẩm tối ưu cho vi sinh vật. Sự phân hủy hiếu khí diễn ra khá nhanh, chỉ sau 2 – 4 tuần thì rác phân hủy hoàn toàn. Các vi khuẩn gây bệnh và côn trùng bị hủy diệt do nhiệt độ tăng cao. Bên cạnh có mùi hôi cũng được khử nhờ quá trình ủ hiếu khí. Độ ẩm được duy trì tối ưu ở 50 – 60%. Phương pháp này được áp dụng trước đây tại nhà máy phân rác Hóc Môn – TPHCM, nhà máy phân rác Cầu Diễn – Hà Nội. Ủ yếm khí : quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong rác thải diễn ra nhờ sự hoạt động của các vi sinh vật kỵ khí. So với ủ hiếu khí thì công nghệ có một số mặt hạn chế như sau : thời gian lâu (4 – 12 tháng), các vi khuẩn gây bệnh luôn tồn tại cùng quá trình phân hủy vì nhiệt độ phân hủy thấp, các khí mêtan, sunfurhydro gây mùi hôi thối khó chịu … tuy nhiên đây là biện pháp có tính kinh tế (đầu tư thấp), có thể kết hợp tốt với các loại phân khác như phân hầm cầu, phân gia súc, than bùn … để cho phân hữu cơ có hàm lượng dinh dưỡng cao. Lượng khí sinh học (biogas) sinh ra trong quá trình ủ có thể thu hồi dùng làm nhiên liệu. Công nghệ ủ rác yếm khí được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ (chủ yếu qui mô nhỏ). Nhà máy phân rác Buôn Ma Thuột cũng đã áp dụng công nghệ xử lý này. I.2.3. Giải pháp thiêu đốt CTRCN và CTCNNH nhằm thu hồi nhiệt Phương pháp đốt thiêu hủy thường được áp dụng để xử lý các loại rác thải có nhiều thành phần dễ cháy bằng cách đốt đến nhiệt độ trên 10000C bằng nhiên liệu gas hoặc dầu trong lò đốt chuyên dụng. Ưu điểm của phương pháp này là khả năng tiêu hủy tốt đối với nhiều loại rác thải, có thể đốt cháy cả kim loại, thủy tinh, nhựa, cao su, một số chất thải dạng lỏng và bán rắn…,thể tích rác có thể giảm từ 75 – 95%, thích hợp cho những khu vực không có điều kiện về mặt bằng chôn lấp rác, hạn chế tối đa vấn đề ô nhiễm do nước rác, có hiệu quả cao đối với các chất thải có chứa vi trùng dễ lây nhiễm và các chất độc hại. Tuy nhiên phương pháp này có nhược điển này là chi phí đầu tư cao, vận hành, việc thiết kế lò đốt rất phức tạp liên quan đến nhiệt độ của lò. Lò đốt phải vận hành ổn định ở nhiệt độ 1000 – 12000C. Nếu nhiệt độ thấp hơn thì các chất hữu cơ khó phân hủy sẽ không cháy hết gây ra ô nhiễm môi trường, đặc biệt là vấn đề phát thải các hợp chất dioxin trong quá trình thiêu đốt các thành phần nhựa. Phần đốt các lò đốt hiện đại được thiết kế nhằm mục đích thu hồi lại năng lượng và kết chặt chẽ với nguyên tác kiểm soát ô nhiễm không khí. Chất thải được đưa vào buồng thứ nhất, ở đó nó được đốt cháy trong điều kiện không có đủ ôxy cho việc hoàn tất quá trình cháy. Khí sinh ra do quá trình cháy với thành phần chủ yếu là monoxít carbon (CO) được chuyển qua buồng thứ 2, ở đó một lượng thừa không khí được thổi vào, hoàn tất việc cháy. Nguyên liệu bổ sung cũng có thể được đòi hỏi để duy trì nhiệt độ cháy thíchhợp. Sau khi phần lớn rác thải được cháy hết dòng hơi nóng được chuyển qua nồi hơi tận dụng nhiệt của chất thải để sản xuất ra hơi nước. Tro được dập tắt bằng nước và được thải bỏ ở bãi chôn lấp rác. Hơi nước có thể được sử dụng trực tiếp hoặc có thể được biến đổi thành điện năng mới được bổ sung thêm một máy phát điện turbine. Ngăn ngừa và giảm thiểu việc phóng thích dioxin (một sản phẩm được tạo ra từ sự đốt cháy các phế phẩm plastic đã được chlorine hóa) có thể được thực hiện việc giảm thành phần plastic trong chất thải đem đốt hoặc sử dụng thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí thích hợp. Phương pháp này chi phí thấp và được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển. Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách sử dụng xe chuyên dùng chở rác tới các bãi đã xây dựng trước. Sau khi rác được đổ xuống, dùng xe ủi san bằng, đầm nén trên bề mặt và đổ lên một lớp đất. Hàng ngày phun thuốc diệt muỗi và rắc vôi bột…. Theo thời gian, sự phân hủy vi sinh vật làm cho rác trở lên tơi xốp và thể tích của các bãi rác giảm xuống. Việc đổ rác tiếp tục cho đến khi bãi đầy thì chuyển sang bãi mới. Hiện nay, việc chôn lấp rác thải sinh hoạt và rác thải hữu cơ vẫn được sử dụng ở các nước đang phát triển, nhưng phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường. Việc chôn lấp chất thải có xu hướng giảm dần, tiến tới chấm dứt ở các nước đang phát triển. Các bãi chôn lấp rác thải phải được đặt cách xa khu dân cư, không gần nguồn nước mặt và nước ngầm. Đáy của bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được phủ một lớp chống thấm bằng màng địa chất. Ở các bãi chôn lấp rác cần thiết phải thiết kế khu thu gom và xử lý nước rác trước khi thải ra môi trường. Việc thu khí gas để biến đổi thành năng lượng là một trong những khả năng thu hồi một phần kinh phí đầu tư cho bãi rác. Phương pháp này có các ưu điểm như: công nghệ đơn giản; chi phí thấp, song nó cũng có một số nhược điểm như: chiếm diện tích đất tương đối lớn; không được sự đồng tình của dân cư xung quanh; việc tìm kiếm xây dựng bãi chôn lấp mới là khó khăn và có nguy cơ dẫn đến ô nhiễm môi trường nước, không khí, gây cháy nổ. Dầu cũ Bùn Chôn Ủ sinh học làm compost Phân loại Ống khói Rác thải sinh hoạt Chất thải công nghiệp Dầu cũ Bùn cống Chất thải đường phố Kho chứa Gia công nghiền nhỏ Trộn Bunke Thiết bị đốt Căn, chất không cháy Bunke Xử lý hoàn thiện Sản xuất hơi Khí thải Xử lý khí Nhiệt Épsắt vụn Nước Hình 3: Hệ thống thiêu đốt chất thải II. Thực trạng quản lý chất thải rắn công nghiệp II.1. Thực trạng tại Việt Nam II.1.2. Quản lý chất thải công nghiệp nguy hại Thu gom, vận chuyển và đặc biệt là đốt chất thải nguy hại rất đắt tiền. Cần phải có chiến lược giảm thiểu chất thải tại các công ty và tái sử dụng chất thải khi đó chi phí xử lý chất thải và các tác động môi trường sẽ giảm. Các biện pháp bao gồm: • Tận dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu chất thải. • Thu hồi, tái chế và tái sử dụng chất thải • Xử lý, chôn lấp và biến đổi chất thải nguy hại thành chất thải không nguy hại • Chôn lấp hợp vệ sinh (ở bãi chôn lấp riêng biệt). Ngoài ra, giai đoạn trước xử lý/chôn lấp, cần củng cố kỹ thuật phân loại và tồn trữ tại các nhà máy nhằm giảm thiểu các tác động đến môi trường. Do đó, biện pháp quản lý chất thải được đề nghị như sau: • Tất cả các nguồn thải và khối lượng chất thải phải được xác định chính xác. Mỗi xí nghiệp phải lập một danh sách các nguồn thải nguy hại và các đặc tính của chúng. Chất thải nguy hại có thể được phân loại dựa vào hệ thống phân loại của Việt Nam với các đặc điểm sau: • Tính dễ cháy - hầu hết là các chất bay hơi và các dung dịch lỏng dễ cháy, chất khí… • Tính ăn mòn: acid, base… • Tính hoạt động: cyanide, sulfide… • Tính độc : các hợp chất độc. • Các xí nghiệp cần phải đặt mục tiêu là giảm thiểu cả số lượng chất thải lẫn thành phần độc hại trong chất thải. Biện pháp giảm thiểu chất thải cần phải được thực hiện như sau: • Không sản xuất chất thải nguy hại (không dùng nguyên liệu, hoá chất độc). • Nếu nguyên liệu và hóa chất độc cần cho công nghệ sản xuất, khi đó sử dụng với lượng nhỏ nhất (chỉ ở các công đoạn đặc biệt cần). • Tái chế nguyên liệu nếu có thể (ví dụ sử dụng lại chất thải cho một công đoạn nào khác trong xí nghiệp). • Nếu nguyên liệu và hóa chất độc cần cho công nghệ sản xuất và không thể tái chế chúng, khi đó biến đổi chúng thành những hợp chất không độc (ví dụ trung hòa chất thải acid bằng kiềm, sử dụng các hợp chất hoạt động mạnh để oxi hóa hợp chất hữu cơ). • Trong trường hợp không thể biến đổi chúng thành chất thải không nguy hại, khi đó cẩn thận tồn trữ và xử lý chúng. • Có những trường hợp chất thải là những hoá chất có giá trị cần cho nhiều công nghệ sản xuất khác nhau. Do đó cần phải có những hệ thống tái chế chất thải trong từng xí nghiệp và giữa các xí nghiệp liên quan. • SKHCN&MT và Sở CN phải chịu trách nhiệm để xây dựng các kế hoạch/chương trình chi tiết để nghiên cứu thị trường chất thải và khuyến khích các xí nghiệp trao đổi chất thải. • Mỗi xí nghiệp cần phải xây dựng kế hoạch chi tiết quản lý chất thải nguy hại, trong đó đề cập đến sự giúp đỡ của thành phố về việc tìm ra thị trường tái sử dụng sản phẩm của họ. • Thu gom và vận chuyển chất thải nguy hại từ từng xí nghiệp hoặc KCN cần phải được hoạch định tốt và phải tuân thủ nghiêm ngặt các qui định về kỹ thuật và độ an toàn. Chất thải công nghiệp nguy hại phải được phân loại ngay tại điểm xả và vận chuyển riêng từng loại chất thải tùy vào đặc tính của chúng. Cần phải lưu ý một lần nữa là phải phân loại các chất thải không đồng nhất và giữa chất thải nguy hại và không nguy hại. • Một khi nguồn chất thải nguy hại được xác định và đã tận dụng mọi phương cách để giảm thiểu hoặc tái sử dụng chất thải, xí nghiệp phải có biện pháp kiểm soát chất thải nghiêm ngặt. Tùy thuộc vào mức ô nhiễm (chất lượng và số lượng) để quyết định việc đóng cửa xí nghiệp hay đổi mới công nghệ. II.1.3. Quản lý CTRCN ở các loại hình công nghiệp vừa và nhỏ. Hiện nay, thành phố có khoảng trên 28.,000 doanh nghiệp qui mô vừa và nhỏ nằm ngoài các KCN tập trung, các XNVN này đa phần đều nằm xen lẫn vào các khu vực đô thị của thành phố và đây là vần đề khó khăn nhất mà thành phố đang phải đương đầu. Thực tế cho thấy chỉ có một phần nhỏ các chất thải rắn công nghiệp là được tuần hoàn và tái sử dụng bên trong và bên ngoài các xí nghiệp này. Còn lại hầu hết các chất thải rắn công nghiệp từ các XNVN được trộn lẫn với chất thải sinh hoạt (rác) và được chở đi đổ bỏ tại các bãi rác thành phố. Một thực tế tệ hại hơn cũng được ghi nhận: các chất thải công nghiệp từ các XNVN đôi khi được đổ trực tiếp xuống các kênh rạch hay các bãi đất trống gây ra một tình trạng ô nhiễm khá nặng nề cho môi trường, tình trạng mất vệ sinh môi trường và mỹ quan đô thị khá nặng nề cũng như đe doạ chất lượng các nguồn nước mặt và nước ngầm. Hơn nữa, có một phần đáng kể các chất thải được xem như là nguy hại chứa trong thành phần các chất thải rắn công nghiệp từ các XNVN, và điều này có thể mang lại một mối đe dọa trực tiếp cho sức khỏe cộng đồng. Vấn đề thậm chí còn nghiêm trọng hơn nếu chúng ta xem xét đến lượng chất thải được tạo ra hàng ngày từ các XNVN, vào thời điểm hiện nay là khối lượng lớn nhất nếu chúng ta so sánh với các chất thải tương tự tạo ra từ các xí nghiệp công nghiệp qui mô lớn (nằm ngoài các KCN tập trung) và từ các KCN KCX tập trung. Việc di dời, đóng cửa hay thay đổi, đổi mới công nghệ sản xuất tại các XNVN trong một số trường hợp là không thực tế. Một chiến lược hợp lý cho việc quản lý chất thải công nghiệp từ các XNVN là vấn đề cấp bách cần thiết. Thứ tự Ngành công nghiệp Số lượng các cơ sở đã khảo sát Tải lượng ô nhiễm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Chế biến thực phẩm Dệt nhuộm May mặc, in vải Da Thủy tinh Giấy và bột giấy Gỗ Cơ khí Luyện kim Hóa chất Nhựa Xi mạ 42 16 18 4 22 29 16 75 21 5 11 07 2.637,4 55,9 249,7 183,6 447,0 264,4 499,4 535,7 160,8 102,3 441,7 42,6 Tổng cộng 365 5.620,5 II.1.4.Quản lý CTRCN ở các loại hình công nghiệp qui mô lớn nằm ngoài các KCN-KCX. Chiến lược này được phát triển với đối tượng chính là nhằm vào các xí nghiệp công nghiệp qui mô lớn nằm ngoài các KCN-KCX tập trung. Việc giải quyết các vấn đề về chất thải rắn từ các lọai hình công nghiệp lớn nằm ngoài KCN-KCX, mục đích chính cũng tương tự như với chất thải rắn của lọai hình công nghiệp vừa và nhỏ. Do đó, ở mục này chỉ đề cập đến những đặc điểm đặc biệt liên quan đến tính chất thực tế tại các xí nghiệp công nghiệp qui mô lớn. Bảng 4: Tải lượng CTR Thứ tự Ngành công nghiệp Tải lượng ô nhiễm (tấn/ năm) Số lượng các cơ sở đã khảo sát 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Chế biến thực phẩm Dệt nhuộm,maymặc, da Vật liệu xây dựng Giấy và bột giấy Gỗ Cơ khí Hóa chất Nhựa, cao su Dầu khí Các ngành khác 8.648,7 2.467,4 3.466,2 2.662,0 764,2 17.585,2 718,2 547,1 325,4 2.398,9 31 28 5 17 14 44 4 20 4 24 Tổng cộng 39.583,3 291 CN từ các nhà máy quy mô lớn Giải pháp này áp dụng phù hợp cho các xí nghiệp công nghiệp qui mô lớn: - Thu gom và vận chuyển: Chất thải công nghiệp thường được phân loại tại điểm xả và được vận chuyển riêng tùy từng lọai và tùy đặc tính của chất thải. - Thực hiện tốt việc phân lọai chất thải tại điểm xả, đặc biệt phân lọai chất thải nguy hại từ hỗn hợp chất thải rắn. Bảo đảm mỗi loại chất thải được thu gom riêng biệt trong từng container. - Phân loại tại điểm xả: Tất cả các nguyên liệu không độc và có thể bán, được xem như là chất thải công nghiệp sẽ được phân thành từng loại như giấy (báo, tạp chí và những dạng chất thải giấy khác), kim loại (sắt, các kim loại không phải sắt như vỏ đồ hộp), thủy tinh (chai lọ, thủy tinh vụn), nhựa, quần áo, gỗ, rác thực phẩm - Các nguồn thải khác cũng nên được phân loại, trước khi thải ra ngoài, thành những dạng như sau: chất thải nguy hại (ngoại trừ những chất dễ cháy), chất dễ cháy và chất không cháy. - Xây dựng một địa điểm để xử lý sơ bộ chất thải. Địa điểm này được sử dụng để: thu gom, trung chuyển, xử lý sơ bộ như phân loại, điều biến (thay đổi tính chất) sơ bộ… Khi xây dựng địa điểm này cần phải tuân thủ tất cả các yêu cầu về kỹ thuật và quản lý; đặc biệt phải chú trọng bảo đảm điều kiện môi trường của khu vực xung quanh và tạo một điều kiện thuận lợi nhất để vận chuyển chất thải từ xí nghiệp đến bãi chôn lấp hoặc thị trường chất thải. - Áp dụng các phương pháp thích hợp để tiền xử lý chất thải tại địa điểm xử lý, một số biện pháp được đề nghị như sau: + Phương pháp đốt: đây là phương pháp có khả năng ứng dụng rất cao để xử lý một số loại chất thải tại địa điểm xử lý chất thải trong phạm vi xí nghiệp: thực phẩm, giấy và một số loại chất thải không độc có khả năng cháy khác. Một số loại lò đốt thông dụng và đơn giản được sử dụng cho mục đích này: lò đốt stocker và lò đốt fluidising bed. + Xử lý chất thải không có khả năng đốt: trong một số trường hợp, có thể xử lý sơ bộ chất thải nguy hại không có khả năng đốt và những nguyên liệu độc, biến đổi chúng thành dạng ít độc hơn, sạch hơn, thích hợp hơn cho chôn lấp hoặc xử lý tiếp theo tại khu xử lý chung của thành phố. Phương pháp này rất phù hợp cho một số loại chất thải công nghiệp hóa chất. Một số quá trình công nghệ đơn giản hoàn toàn có thể áp dụng trong phạm vi khu xử lý của xí nghiệp là: trung hòa (bằng hóa chất), ổn định, làm ráo nước, phân hủy sơ bộ. + Nhìn chung, trong phạm vi xí nghiệp, kiến nghị không xử lý chất thải nguy hại và độc hại ngoại trừ việc cẩn thận phân loại và vận chuyển ra khỏi xí nghiệp. II.1.5. Quản lý chất thải rắn công nghiệp ở cá Khu Công nghiệp và Khu Chế xuất (KCN – KCX) STT Tên khu công nghiệp Diện tích (ha) 1 Bình Chiểu 27 2 Tân Tạo 442 3 Vĩnh Lộc 207 4 Hiệp Phước 332 5 Tân Bình 133 6 Tân Thới Hiệp 215 7 Lê Minh Xuân 100 8 Tây Bắc Củ Chi 216 9 Cát Lái 127 10 Phong Phú 163 11 KCX Tân Thuận 300 12 KCX Linh Trung 1 62 13 KCX Linh Trung 2 62 14 KCN cao 320 Bảng 5: Các Khu Công Nghiệp, Khu Chế Xuất & Khu Công Nghệ Cao Kiến nghị những tuyến đường thích hợp nhất cho các phương tiện thu gom chất thải, hoàn thiện kế hoạch thu gom chất thải…là nhiệm vụ của mỗi xí nghiệp trong KCN. Hơn nữa, mỗi KCN (ban quản lý) phải thành lập những con đường và kế hoạch tương tự cho toàn bộ KCN. - Chất thải công nghiệp được phân loại tại nguồn và được thu gom trong các container riêng biệt tại địa điểm gọi là “điểm tập kết rác” của xí nghiệp. Điểm này dùng để chứa rác thu gom và là trạm trung chuyển. - Các xe tải hoặc các xe chở rác khác sẽ chở các container rác đã được tập kết tại đây đến trạm xử lý sơ bộ của KCN. Trạm này được xây dựng với chức năng sau: + “Xử lý” chất thải: sau khi phân loại, các chất thải cần xử lý được đốt bằng lò đốt. Có thể áp dụng các biện pháp xử lý đơn giản khác như đã trình bày ở các phần trước. + Tái sử dụng chất thải: xây dựng một diện tích để chứa loại chất thải này. Phân loại chất thải để tái xử lý trước khi vận chuyển ra khỏi KCN đến thị trường chất thải. Dạng chất thải có thể tái sử dụng trong phạm vi KCN có thể được thỏa thuận giữa các nhà máy. + Trạm trung chuyển: Chất thải được phân lọai trước khi đưa ra khỏi nhà máy đến các khu xử lý chung của thành phố (như đã trình bày ở các phần trước). Khu vực xử lý sơ bộ chất thải của các KCN nên được hoàn thành trễ nhất vào năm 2005. Chất thải nguy hại được phân loại và thu gom riêng và được đăng ký với công ty môi trường đô thị để được xử lý ở khu xử lý chất thải nguy hại của thành phố PHẦN IV. Đề xuất quy trình quản lý và tái sử dụng ở địa phương Thu gom chất thải Vận chuyển chất thải Xử lý chất thải Thiêu đốt Ủ sinh học làm Compost Các phương pháp khác Tiêu hủy tại bãi chôn lấp Phương pháp xử lý ở địa phương Thuyết minh quy trình PHẦN V. KẾT LUẬN Dù có áp dụng công nghệ xử lý nào, thì việc nâng cao nhận thức về chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng cho cộng đồng là một nội dung không thể thiếu được. Công tác giảm phát sinh chất thải, thu gom hết chất thải phân loại rác thải từ nguồn là rất quan trọng, vì nguồn rác thải đầu vào xử lý giảm đi, tách riêng từng loại vật liệu (nhất là các chất thải nguy hại phải được tách để xử lý riêng) sẽ là yếu tố quyết định của các sản phẩm đầu ra và khả năng tái chế, tái sử dụng chất thải, làm giảm nguy cơ gây ô nhiễm môi trường của các chất thải độc hại, nguy hại lẫn trong chất thải chung. Để có thể xử lý hiệu quả chất thải rắn trong các đô thị Việt Nam, Nhà nước cần phải tăng đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Hiện nay Nhà nước đã dành tỷ lệ 1% chi ngân sách cho sự nghiệp bảo vệ môi trường và đến 2010 là 2%. Đây là điều kiện tốt để phát triển các công nghệ môi trường, đặc biệt là để xử lý chất thải công cộng, chất thải rắn đô thị... Tuy nhiên, trong nguồn vốn vay ODA và vốn viện trợ không hoàn lại cũng cần dành một phần đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường. Và trong đàm phán các dự án về môi trường cần ưu tiên sử dụng công nghệ hợp lý về môi trường ở Việt Nam. Việc thực hiện nghiêm Luật Bảo vệ môi trường, đặc biệt là áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, từ thu phí nước thải tiến tới thu phí khí thải, phí chất thải rắn, chất thải nguy hại sẽ có tác động mạnh mẽ tới quá trình lựa chọn, áp dụng công nghệ. Chuyển từ phạt hành chính đối với những vi phạm Luật Bảo vệ môi trường thành phạt kinh tế. Áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp tính toán lợi ích kinh tế để đầu tư lắp đặt trang thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường. Đồng thời, khuyến khích giảm giá thuê đất, ưu đãi thuế và vay vốn đầu tư các dự án sản xuất các trang thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường. Xây dựng chế tài hợp lý trong việc chuyển giao kết quả nghiên cứu chế tạo công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường vào sản xuất, kinh doanh. Chú trọng đào tạo, nâng cao chất lượng các kỹ thuật và chuyên gia về công nghệ môi trường ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ... Lựa chọn các chuyên gia am hiểu chuyên môn, làm việc khách quan tham gia vào Hội đồng chuyên gia để xây dựng cơ chế, chính sách thẩm định công nghệ môi trường quốc gia. Cần lượng hóa đánh giá từng loại công nghệ theo các tiêu chí: Hiệu quả xử lý ô nhiễm, chi phí kinh tế, trình độ công nghệ xử lý, phù hợp với điều kiện Việt Nam và an toàn về môi trường. Thúc đẩy áp dụng công nghệ xử lý do trong nước chế tạo. Công nghệ xử lý rác thải đô thị Seraphin và ASC đã được thiết kế, chế tạo trong nước, qua thời gian vận hành thực tế ở một số cơ sở trong nước đã cho hiệu quả xử lý vượt trội hơn so với công nghệ của nước ngoài chế tạo. Để có thể ứng dụng rộng rãi công nghệ này cần tiến hành tổ chức khảo sát, thẩm định, đánh giá kỹ lưỡng về mặt kinh tế- kỹ thuật, xác định những điểm cần phải hoàn thiện và có kế hoạch triển khai cụ thể, như vậy mới có thể khai thác, phát huy được hiệu quả các công nghệ nội sinh. Phải coi chất thải cũng như là một loại tài nguyên. Quá trình xử lý cần khai thác triệt để tính hữu ích của chất thải. Tái sử dụng, tái chế, thu hồi năng lượng từ chất thải… là để phát triển một nền kinh tế tuần hoàn phục vụ cuộc sống con người, góp phần làm giảm khối lượng chất thải, giảm chi phí xử lý. Đây là những yếu tố cần thiết trước khi đi đến một quyết định chọn công nghệ xử lý phù hợp. Cho đến nay, xử lý cuối đường ống vẫn được xem là một công cụ hữu hiệu đối với giảm thiểu ô nhiễm môi trường, mặc dù nó vẫn còn tồn tại một số khuyết điểm. Trong tương lai công nghệ xử lý sẽ tập trung vào những công nghệ ít sử dụng hoá chất và ưu tiên đối với áp dụng công nghệ sinh học, bên cạnh đó các công nghệ tiên tiến như màng lọc, ôxy hoá tiên tiến sẽ được quan tâm hơn đối với việc tái sử dụng nước thải. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. L.T. Hải, IER, Sở CNTPHCM 10 / 2003. báo cáo “ Nghiên cứu tiền khả thi dự án xử lý CTRCN Tp. HCM “ 2. Công ty VINAM và Sở KHÁCN, 10/2004, Qui hoạch tổng thể quản lý chất thải rắn (Thành phố Hồ Chí Minh - giai đoạn đến năm 2020) (Bản thảo đã chỉnh sửa). 3. UNDP, Sở KHÁCNMT TPHCM, Dự án VIE96023, Xây dựng chiến lược quản lý môi trường cho Thành phố Hồ Chí Minh, phần “chiến lược quản lý CTR Công nghiệp”. 4. L.T. Hải, IER, Sở KHÁCN TPHCM, 10/2004. Báo cáo đề tài NCKH cấp TP “Nghiên cứu đề xuất thị trường trao đổi và tái chế CTRCN và CTÁCNNH cho khu vực TPHCM đến 2010“. 5. IER, 2002, Dự báo và đánh giá về mức độ và tính chất ô nhiễm do đô thị hóa và công nghiệp hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh và vùng lân cận (vùng kinh tế trọng điểm). 6. SONADEZI, VEPA, CENTEMA, 11/ 2003. Hội thảo phát triển khu công nghiệp sinh thái.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docdo-an-quan-ly-va-tai-xu-dung-chat-thai-ran-cong-nghiep.doc