Tại sao nước ta phải phát triển nền kinh tế thị trường, muốn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chúng ta phải làm gì

LỜI NÓI ĐẦU Đất nước Việt nam chúng ta đã trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt và hậu quả của chúng để lại rất nặng nề, tình hình đất đất nước gặp phải nhiều khó khăn. Chúng ta phải đối mặt với hàng loạt vấn đề như: diệt giặc đói, giặc dốt . Chính vì thế mà Đảng và Nhà nước ta đưa ra những chính sách những đường lối để phát triển kinh tế, vượt qua khó khăn, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Công cuộc đổi mớ và phất triển đất nước được coi là chính thứ bắt đầu và toàn diện từ năm 1986 tại Đại hội VI Đảng đến nay được 17 năm. Công cuộc đó diễn ra là nhờ có sự chuẩn bị sâu xa từ nhiều năm trước, từng phần, ngay sau cách mạng tháng Tám cách đây 58 năm ,trong 3 thập kỷ vừa kháng chiến vừa kiến quốc .Suốt quá trình đó là những cố gắng kiên trì không mệt mỏi để đi tìm con đường ,bước đi,cách làm phù hợp vơi đât nước ta . Chúng ta không sao chép không dập khuôn của nươc ngoài,đó là sự kết hợp những sáng kiến “phá rào” của nhân dân của cơ sở với những bước tiến trong chính sách, trong chỉ đạo của các cơ quan có trách nhiệm của Đảng và Nhà Nước. Tại đại hội đảng 7 , đảng ta đã quyết định chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đại hội IX đánh giá việc thực hiện chiến lược và quyết định Chiến lược phát kinh tế – xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI : chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghệp. Công cuộc đổi mới đó đươc coi la thực sự song bài viết này chỉ xin dề cập đến vấn đề đổi mới kinh tế – xã hội,phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. NộI DUNG I.KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM 1.1. Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta . 1.1.1.Đặc tính chung thống nhất của nền kinh tế thị trường . Kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế tồn tại và phát triển trong nhiều hình thái kinh tế – xã hội. Kinh tế hàng hoá là loại hình kinh tế tiến bộ, là nấc thang cao hơn kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc trong sự phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “ đầu ra ”của sản phẩm đều thông qua thị trường. Ngày nay không ai phủ nhận vị trí vai trò đặc biệt quan trọng của kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường trong quá trình phát triển nền sản xuất xã hội; không ai phủ nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường trong nhiều chế độ xã hội khác nhau, không ai còn ngây thơ cho rằng kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của chủ nghĩa tư bản. Đảng ta khẳng định rằng : “sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng “. Trong xã hội nếu có sản xuất và lưu thông hàng hoá thì tất yếu có thị trường. Quy mô của lưu thông hàng hoá và sức mua của xã hội quyết định dung lượng thị trường. Đến lượt mình, sử dụng, mở rộng và lành mạnh hoá thị trường lại có tác dụng thúc đẩy và lưu thông hàng hoá phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng. Thị trường gắn liền với lĩnh vực lưu thông hàng hoá, thị trường hình thành ở đâu có cung - cầu hàng hoá, nói đến thị trường là nói đến hàng hoá, giá cả, tiền tệ, người bán, người mua .Thị trường là tổng hoà những mối quan hệ mua - bán trong xã hội, được hình thành và phát triển trong những điều kiện lịch sử kinh tế -xã hội nhất định. Cơ sở của thị trường là sự phân công lao động xã hội, sản xuất và sức mua của xã hội . Nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước. Cơ chế thị trường ở đây là cơ chế kinh tế nảy sinh một cách tất yếu từ sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, qua thị trường để tự điều chỉnh và cân đối của nền kinh tế theo yêu cầu của các quy luật khách quan như : giá trị, cung – cầu, cạnh tranh, lưu thông tiền tệ. Cơ chế thị trường đòi hỏi phát triển sản xuất hàng hoá, mọi sản phẩm là hàng hoá hoặc có tính hàng hoá, mở rộng thị trường về mọi phương diện, tự do sản xuất kinh doanh, tự do thương mai, đa dạng hoá hình thức sở hữu và hình thức phân phối. Trong đó nó có các đặc trưng: đặc trưng cơ bản nhất là cơ chế hình thành giá cả một cách tự do, người bán và người mua thông qua thị trường để xác định giá cả, đặc trưng cơ bản thứ hai là lựa chọn tối ưu hoá các hoạt động kinh tế để đạt được lợi nhuận tối đa. Cơ chế thị trường chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế hàng hoá. Sự can thiệp của Nhà Nước phải thích hợp với yêu cầu của các quy luật đó như : Nhà nước phải sử dụng chủ yếu các công cụ, biện pháp kinh tế, pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, các chính sách kinh tế xã hội . để tác động tới thị trường, điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp cho phù hợp. Kinh tế thị trường luôn có hai mặt tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực là cơ chế tự điều tiết nền kinh tế rất linh hoạt, mềm dẻo, nó có tác dụng kích thích mạnh và nhanh sự quan tâm thường xuyên đến đỏi mới kĩ thuật, công nghệ quản lý, nhu cầu và thị hiếu của nguời tiêu dùng, nó có tác dụng lớn trong tuyển chọn các doanh nghiệp và các cá nhân quản lý kinh doanh giỏi. Về mặt tiêu cực, trên thị trường chứa đựng những tính tự phát, nhiều yếu tố bất ổn, mất cân đối. Các nhà sản xuất kinh doanh vì chạy theo lợi nhuận gây ra niều hậu quả xấu như: môi trường bị huỷ hoại, tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, phá sản, thất nghiệp, phân hoá xã hội cao, lợi ích công cộng bị coi nhẹ . để hạn chế những khuyết tật đó, đòi hỏi nhà nước phải quản lý nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường. Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, định hướng, . Cơ chế thị trường chịu sự tác động rất mạnh của các quy luật kinh tế hàng hoá, do đó sự can thiệp vĩ mô của Nhà nước phải phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá. 1.1.2 Tính đặc thù của nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường có vai trò rất quan trọng. Đối với nước ta muốn chuyển từ nền kinh tế còn kém phát triển lên nền sản xuất hàng hoá lớn xã hội chủ nghĩa thì không còn con đường nào khác là phải phát triển kinh tế hàng hoá .K inh tế hàng hoá khắc phục được kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp,đẩy mạnh phan công lao đông xã hội phát triển các nghành nghề tạo việc làm cho người lao động ,khuyến khích ứng dụng công nghệ-kỹ thuật mới nhằm tạo năng suất lao động xã hội cao tăng số lượng chất lượng hàng hoá .Vì vậy phát triển kinh tế hàng hoá coi là chiếc đòn xeo để xây dựng chủ nghĩa xã hội là phương tiện khách quan để xã hội hoá xã hội chủ nghĩa nền sản xuất .Nền kinh tế thị trường nước này không thể là bản sao của nền kinh tế hàng hoá của nước khác.

docx21 trang | Chia sẻ: thanhnguyen | Ngày: 11/10/2013 | Lượt xem: 2516 | Lượt tải: 6download
Tóm tắt tài liệu Tại sao nước ta phải phát triển nền kinh tế thị trường, muốn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chúng ta phải làm gì, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHẦN MỞ ĐẦU 1-Tính cấp thiết của đề tài : Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu: Tất cả mọi người đều mong muốn một cuộc sống ấm no hạnh phúc trong một xã hội tốt đẹp. Một xã hội mà trong đó mọi người hạnh phúc, bình đẳng, ai cũng có việc làm và sống trong một môi trường trong sạch văn minh và hiện đại. Chính vì vậy mà bất cứ một xã hội nào mà trong đó chứa đựng những mâu thuẫn và đi ngược lại với mong muốn của con ngươì đều sẽ phải diệt vong thay thế vào đó một xã hội tốt hơn. Đối với Việt Nam sau khi giành độc lập chúng ta đã đi theo con đường XHCN, sau khi thống nhất đất nước Đảng và Nhà nước ta đã quyết định đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Với sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Nước ta đã có những thành tựu kinh tế xã hội khắc phục được những hậu quả chiến tranh để lại nhưng sau đó cùng với sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội và dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu, nước ta cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó và chúng ta vẫn quán triệt đi theo CNXH và quyết định đổi mới chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang một nền kinh tế nhiều thành phần mở cửa quan hệ với các nước trên thế giới qua các đaị hội Đảng VI, VII, nền kinh tế đã phục hồi và dần dần đạt được nhiều thành tích, đời sống được cải thiện và đến đại hội VIII xác định xây dựng một nền kinh tế thị trường dưới sự quản lí của Nhà nước định hướng XHCN nó phù hợp với sự khách quan và sự phát triển chung của nhân loại. Tuy vậy nước ta xuất phất từ một nước nông nghiệp và đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn CNTB chịu sự ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh không những vậy cơ chế quan liêu bao cấp đã in sâu vào trong dân. Qua 20 năm đổi mới thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng, toàn Đảng và toàn dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng. Kinh tế thị trường với sự phát triển của nó đã đưa đến thành công bước đầu cho công cuộc xây dựng đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Vậy kinh tế thị trường đó là cái gì? hoàn cảnh ra đời, cái gì dẫn tới phải phát triển kinh tế thị trường - đặc điểm của nền kinh tế thị trường là như thế nào - các giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường ra sao? Đó là hàng loạt các câu hỏi đặt ra cần được giải quyết, tìm hiểu rõ về nó, ta có thể nắm bắt được kiên thức cơ bản nhất về nền kinh tế thị trường ở nước ta. Vì thế đề tài “Tại sao nước ta phải phát triển nền kinh tế thị trường, muốn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta chúng ta phải làm gì?” là vô cùng thiết thực và cần thiết, qua đó cộng với niềm thích thú, sự học hỏi của mình (sinh viên kinh tế) em thấy đề tài này là hoàn toàn phù hợp và thỏa mãn với mình. 2-Cái mới của đề tài: Từ đề tài, có được cái nhìn đúng đắn hơn về nền kinh tế Việt Nam trong thời kì đổi mới và hoàn thiện vốn kiến thức của mình. 3-Phương pháp nghiên cứu: Lý luận dựa trên nghiên cứu của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. 4-Giới hạn vấn đề cần nghiên cứu: nền kinh tế thị trường tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 5-Kết cấu đề án; Được chia làm 3 phần Phần 1: Phần mở đầu Phần 2:Phần nội dung Chương I: Một số vấn đề về lí luận Chương II: Giải pháp cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Phần 3: kết luận PHẦN NỘI DUNG Chương I : Một số vấn đề lí luận 1. Lí thuyết về nền kinh tế thị trường 1.1-Khái niệm về kinh tế thị trường: Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường chỉ khác nhau về trình độ phát triển ; kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng hoá phát triển, điều đó có nghĩa là phạm trù hàng hoá, phạm trù tiền tệ và thị trường được phát triển và được mở rộng. Hàng hóa không chỉ bao gồm những sản xuất đầu ra của sản xuất mà còn bao gồm cả các yếu tố đầu vào của sản xúât. Đúng hướng thị trường và cơ cấu thị trường được mở rộng hoàn thiện. Mọi quan hệ kinh tế trong xã hội đều tiền tệ hoá. Khi đó người ta gọi kinh tế hàng hoá là kinh tế thị trường. 1.2-Những đặc trưng của kinh tế thị trường (KTTT) : Những đặc trưng chung nhất, vốn có của kinh tế thị trường: Một là: Tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tế thị trường. Đặc trưng này xuất phát từ đặc điểm khách quan của việc tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Đồng thời cũng là biểu hiện và yêu cầu nội tại của kinh tế hàng hoá. Hai là: Trên thị trường hàng hoá rất phong phú. Người ta tự do mua, bán hàng hoá. Trong đó người mua chọn người bán, người bán tìm người mua. Họ gặp nhau ở giá cả thị trường. Ba là: Giá cả để hình thành ngay trên thị trường. Giá cả thị trường vừa là biểu hiện bằng tiền của giá thị trường, vừa chịu sự tác động của quan hệ cạnh tranh và quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ. Trên cơ sở giá thị trường, giá cả là kết quả của sự thương lượng và thoả thuận giữa người mua và người bán. Đặc trưng này phản ánh yêu cầu của luật lưu thông hàng hoá. Bốn là: Kinh tế thị trường là một tất yếu của thị trường. Nó tồn tại trên cơ sở những đơn vị sản xuất hàng hoá độc lập và khác nhau về lợi ích kinh tế. Năm là: Kinh tế thị trường là hệ thống kinh tế mở. Nó rất đa dạng, phức tạp và được điều hành bởi hệ thống tiền tệ và hệ thống pháp luật của Nhà nước. 1.3- Những ưu và nhược điểm nền kinh té thi trường *Cơ chế thị trường có các ưu thế sau: Trước hết, cơ chế thị trường kích thích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất. Hai là, cơ chế thị trường có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng. Vì trong kinh tế thị trường tồn tại một nguyên tắc ai đưa ra thị trường một loại hàng hoá mới và đưa ra sớm nhất thì sẽ thu được lợi nhuận nhiều nhất. Ba là, trong nền kinh tế thị trường hàng hoá rất phong phú và đa dạng. Do đó nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoã mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu vật chất, văn hóa và sự phát triển toàn diện của mọi thành viên xã hội. * Khuyết tật của cơ chế thị trường: Cơ chế thị trường có những khuyết tật mà bản thân nó không tự giải quyết được. Thường xuyên tạo ra mất cân đối, bất hợp lý ở tầng vĩ mô làm giảm hiệu quả trên quy mô nền kinh tế quốc dân. Cơ chế thị trường cũng có những yếu tố làm giảm tốc độ phát triển kinh tế do nảy sinh độc quyền từ cạnh tranh tự do và việc giữ bí quýêt kinh doanh của từng đơn vị. Trong hoạt động thực tiễn của cơ chế thị trường do chạy theo lợi nhuận đơn thuần nên khó tránh khỏi các hiện tượng buôn gian, bán lận, đâù cơ, làm hàng giả… và nhiều bệnh trạng xã hội khác như phân hoá giàu nghèo, thất nghiệp, lạm phát, phá sản dẫn đến sựu phá hoại lực lượng sản xuất, vi phạm đạo đức, lối sống, gây ô nhiễm môi trường, phá hoại thiên nhiên… Trên phạm vi quốc tế, cơ chế thị trường dễ dẫn đến mâu thuẫn giữa các nước, các trung tâm kinh tế đặc biệt dễ tạo ra trật tự kinh tế bất công giữa các nước giàu và nước nghèo. Do những nhược điểm trên cần có sự điều tiết của nhà nước để hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trường. 2. Sự cần thiết phải phát triển nền kinh tế thị trường 2.1- Sự cần thiết khách quan Phân công lao động xã hội phát triển cảc về chiều rộng lẫn chiều sâu. Phân công lao động xã hội trong từng khu vực, từng địa phương cũng ngày càng phát triển. Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tính phong phú, đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường. Trong nền kinh tế nước ta tông tại nhiều hình thức sở hữu, đó la sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu cá nhân, sở hữu hỗn hợp. Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập, lợi ích riêng, nên quan hệ kinh tế của họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hóa và tiền tệ. Thành phần kinh tế nhà nước va kinh tế tập thể tuy cùng dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định, có quyền tự chủ trong kinh doanh và có lợi ích riêng. Mặt khác các đơn vị kinh tế có sự khacs nhau về trình độ kỹ thuật-công nghệ, về trình dộ tổ chức quản lý, nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau. Quan hệ kinh tế còn cần thiết trong quan hệ đối ngoại, đặc biệt trong điều kiện phân công lao động uốc tế đang phát triển ngày càng sâu sắc, vì mỗi nước là một quốc gia riêng biệt, là người chủ sở hữu đối với các loại hàng hóa đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới. Sự trao đổi ở đây phải theo quy tắc ngang giá. như vậy nền kinh tế thị trường tồn tại ở nước ta là một tất yếu, khách quan. 2.2- Sự cần thiết tất yếu phải chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trước sự suy thoái nghiêm trọng, viện trợ nước ngoài lại giảm sút đã đưa nền kinh tế nước ta tới sự bức bách phải đổi mới. Tại đại hội VI của đảng đã chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần và thực hiện chuyển đổi sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Đến đại hội VII đảng ta đã xác định việc đổi mới cơ chế kinh tế nước ta là một tất yếu khách quan và trên thực trạng diễn ra việc đó tức là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là một sự thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như trong thực tế lãnh đạo của đảng trên mặt trận làm kinh tế. Việc chuyển đổi trên hoàn toàn đúng đắn. Nó phù hợp với thực tế của nước ta phù hợp với các qui luật kinh tế và xu thế của thời đại. Nếu không thay đổi cơ chế vẫn giữ cơ chế kinh tế cũ thì không thể nào có đủ sản phẩm để tiêu dùng chứ chưa nói đến tích luỹ vốn để mở rộng sản xuất. Thực tế những năm cuối của thập kỷ 80 đã chỉ rõ thực hiện cơ chế kinh tế cho dù chúng ta đã liên tục đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, nhưng hiệu quả của nền sản xuất xã hội đạt mức rất thấp. Sản xuất không đáp ứng nổi tiêu dùng ,tích luỹ hầu như không có đôi khi còn ăn lạm cả vào vốn vay của nước ngoài. Do đặc trưng của nền kinh tế tập trung là rất cứng nhắc cái đó chỉ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế . Và chỉ có tác dụng phát triển nền kinh tế theo chiều rộng. Nền kinh tế chỉ huy ở nước ta tồn tại quá dài do đó nó không những còn tác dụng đáng kể trong việc thúc đẩy sản xuất mà nó còn sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực làm giảm năng xuất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Xét về tồn tại thực tế ở nước ta những nhân tố của nền kinh tế thị trường . Về vấn đề này có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Nhiều nước cho rằng thị trường ở nước ta là thị trường sơ khai. Thực tế kinh tế thị đã hình thành và phát triển đạt những mức phát triển khác nhau, ở hầu hết các đô thị và vùng hẻo lánh đang được mở rộng với thị trường quốc tế.Nhưng thị trường ở nước ta phát triển chưa đồng bộ còn thiếu hẳn thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường lao động ,thị trường vốn và thị trường đất đai về cơ bản vẫn là thị trường tự do, mức độ can thiệp của nhà nước còn rất thấp. Xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nước ta đang hoà nhập với nền kinh tế thị trường thế giới ,sự giao lưu về hàng hoá dịch vụ và đầu tư trực tiếp của nước ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi hơn với thị trường thế giới.Tương quan giá cả các loại hàng hoá trong và giá cả hàng hoá quốc tế. Xu hướng chung phát triển kinh tế thế giới là sự phát triển kinh tế của một nước không tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế. Sự cạnh tranh giữa các quốc gia đã thay đổi hẳn về chất không còn là dân số đông ,vũ khí nhiều ,quân đội mạnh mà là tiềm lực kinh tế. Mục đích của các chính sách của các quốc gia tạo được nhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình là tốc độ phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện, thất nghiệp thấp , tiềm lực kinh tế đã trở thành thước đo chủ yếu , vai trò và sức mạnh của mỗi dân tộc, là công cụ chủ yếu để bảo vệ uy tín duy trì sức mạnh của các đảng cầm quyền. Tuy vậy,nền kinh tế thị trường hướng tới của nước ta sẽ không phải là nền kinh tế thị trường thuần tuý. Lý thuyết “để mặc” cho thị trường tự do cạnh tranh là không tồn tại. Ngoài bàn tay “vô hình” , vai trò của chính phủ để điều tiết, khắc phục những khuyết tật của thị trường tạo cho nền kinh tế ổn định và phát triển. Đối với nước ta vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường cũng sẽ rất quan trọng. Sự phát triển kinh tế –xã hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu xã hội, nhân văn nhất định. Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh sự gia tăng về lượng (tăng trưởng kinh tế) còn bao hàm những thay đổi về chất(những biến đổi về mặt xã hội). “Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhân dân. Nâng cao tiêu chuẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khoẻ và bình đẳng về cơ hội là tất cả những yếu tố cơ bản của phát triển kinh tế. Bảo đảm các quyền chính trị và công dân là một mục tiêu phát triển rộng hơn ”. Học thuyết về hình thái kinh tế xã hội của C.Mác là một thành tựu khoa học của loài người. Nó phác hoạ quy luật vận động tổng quát của lịch sử nhân loại, và sự phát triển của xã hội loài người sẽ tiến tới chủ nghĩa cộng sản, mà giai đoạn thấp của nó là chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội không đói lập với phát triển, với kinh tế thị trường, mà là một nấc thang phát triển của loài người được đánh dấu bằng tiến bộ-xã hội của sự phát triển. Nó là cách thức giải quyết các quan hệ xã hội vì cuộc sống tốt đẹp của đại đa số nhân dân lao động, của toàn tể xã hội, là sự thiết lập một trật tự xã hôi với mục tiêu công bằng văn minh. Sự phát triển chỉ đem lại sự giàu có và sự thống trị của tư bản, của một số ít người trong xã hội, thì sự phát triển đó mang tính chất tư bản chủ nghĩa là sự phát triển cổ điển.Sự phát triển đem lại sự giàu có, phồn vinh, hạnh phúc cho đại đa số nhân dân lao động cho toàn thể xã hội, thì sự phát triển đó mang tính chất xã hội chủ nghĩa, là sự phát triển hiện đại. Cuộc đấu tranh cách mạng trường kỳ gian khổ và quyết liệt của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng nhân dân lao động, đem lại hạnh phúc và giàu sang cho nhân dân lao động.Vì vậy, sự phát triển của Việt Nam trong hiện tại và tương lai phải là sự phát triển vì sự giàu có, phồn vinh và hạnh phúc của nhân dân lao động, vì sự hùng mạnh và giàu có của cả xã hội, của toàn xã hội, của toàn dân tộc, là sự phát triển mang tính chất xã hội chủ nghĩa, sự phát triển hiện đại. Nghĩa là, chúng ta phải phát triển nền KTTT định hướng XHCN. Điều đó không chỉ đơn thuần là sự phát triển kinh tế nhằm đạt được mục tiêu dân giàu nước mạnh, mà còn bao hàm vấn đề quan trọng mang tính hiện đại, là thiết lập một kiểu tổ chức xã hội, một trật tự xã hội với nộng dung công bằng và văn minh. Nhà nước XHCN, “của dân, do dân và vì dân” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện quan trọng đảm bảo thực hiện sự định hướng đó. Chương II Thực trạng và giải pháp cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 1.Thực trạng của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. 1.1Trình độ phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn sơ khai. Đó là do các nguyên nhân: Cơ sở vật chất kĩ thuật còn ở giai đoạn thấp. Kết cấu hạ tầng như đường giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin liên lạc...còn lạc hậu kém phát triển. Hệ thống thông tin kém phát triển làm cho các vùng miền bị chia cắt, tách biệt nhau, do đó làm cho nhiều tiềm năng ở địa phương không khai thác được, các địa phương không thể chuyên môn hóa để phát triển thế mạnh. Do cơ sở vật chất – kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao động xã hội kém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm. Nên kinh tế nước ta chưa thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngôài còn rất yếu. Do cơ sở vật chất và kỹ thuật còn lạc hậu, nên năng xuất lao động thấp, do đó khối lượng hàng hóa nhỏ bé, chủng loại nghèo nàn, chất lượng thấp, giá cao vì thế cạnh tranh còn yếu. 1.2 Thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành nhưng chưa đông bộ. Thị trường hàng hóa – dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp, còn nhiều tiêu cực. Thị trường hàng hóa sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới thiệu việc làm và suất khẩu lao động mới thành lập nhưng nảy xinh hiện tượng khủng hoảng. Thị trường tiền tệ và thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều chắc trở. Thị trường chứng khoán ra đời nhưng cũng chưa có nhiều “hàng hóa” để mua và bán và cũng có ít doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia thị trường này. 1.3 Nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường do vậy kinh tế nước ta có nhiều loại hình sản xuất hàng hóa cùng tồn tại, đan xen nhau, trong đó sản xuất nhỏ phân tán còn phổ biến. 1.4 Sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối ngoại, hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh trình độ phát triển kinh tế – kỹ thuật nước ta còn thấp so với hầu hết các nước khác. 1.5 Q uản lý nhà nước về kinh tế – xã hội còn yếu. 2. Các giải pháp phát triển nền kinh tế thị trường Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn qua 15 năm đổi mới. Tuy vậy cũng cần phải có những phương hướng để phát triển nền kinh tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn hội nhập mở cửa với các nước trên thế giới. Những phương hướng cụ thể đó là: 2.1 Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần Trước đây khi xây dựng kinh tế kế hoạch chúng ta đã thiết lập một cơ cấu cơ sở gồm hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Vì vậy, khi chuyển sang kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường, cần phải đổi mới cơ cấu cũ bằng cách đa dạng hóa các hình thức sở hữu, diều đó sẽ đưa đến hình thành những chủ thể kinh tế độc lập, có lợi ích riêng. Trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu, thực hiện nhất quán lâu dài phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Lấy việc phát triển sức sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm mục tiêu quan trọng để khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức kinh doanh. Theo tinh thần đó tất cả các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, đều được khuyến khích phát triển. Phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Muốn vậy cần tập trung nguồn lực phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước trong những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, sắp xếp lại khu vực doanh nghiệp nhà nước, thực hiện tốt cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn. Xây dựng và cũng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Không ngừng đẩy mạnh cải tiến kỹ thuật, công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước.Thực hiẹn chế độ công ty đối với các doanh nghiệp có vốn của nhà nước, doanh nghiệp thực hiện cạnh tranh bình đẳng trên thị trường, tự chịu trách nhiệm trong xản xuất kinh doanh. Phát triển kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức đa dạng trong đó có hợp tác xã là nòng cốt. Nhà nước cần giúp đỡ hợp tác xã về đào tạo cán bộ, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường. Khuyến khích kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển ở cả thành thị và nông thôn. Nhà nước tạo điều kiện và giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển có hiệu quả. Khuyến khích kinh tế TBTN phát triển trong những nghành sản xuất kinh doanh mà luật pháp không cấm. Phát triển kinh tế TBNN dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữa kinh tế tư nhân trong và ngoài nước tạo điều kiện cho kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển, tăng khả năng cạnh tranh, thu hút vốn và công nghệ hiện đại. 2.2 Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học - công nghệ; trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội. Để phát triển kinh tế hàng hóa phải đẩy mạnh phân công lao động xã hội. nhưng sự phát triển phân công lao động xã hội do trinh độ phát triển của LLSX quyết định, cho nên muốn mở rộng phân công lao động xã hội cần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước để xây dựng vật chất - kỹ thuật của nền sản xuất hiện đại. Để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước rút ngắn được thời gian so với các nước đi trước, vừa theo tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, cần ứng dụng nhanh và phổ biến khoa học và công nghệ hiện đại trên thế giới. Cùng với việc trang bị khoa hoc – công nghệ hiện dại cho các nghành, các lĩnh vực cần tiến hành phân công lại lao động và phân bố dân cư trong phạm vi cả nước, cũng như từng vùng, từng địa phương; hình thành cơ cấu kinh tế hợp lí cho phép khai thác tốt các nguồn lực của đát nước, tạo nên sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của nền kinh tế. 2.3 Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường. Phát triển thị trường hành hóa và dịch vụ thông qua đẩy mạnh sản xuất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hệ thống giao thông vận tải để mở rộng thị trường. Hình thành thị trường sức lao động có tổ chức để tạo điều kiện cho sự di chuyển sức lao động theo yêu cầu phát triển kinh tế và hiệu quả nguồn nhân lực. Xây dựng thị trường vốn, từng bước hình thành và phát triển thị trường chứng khoán để huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất. Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường nhà ở. Xây dựng và phát triển thị trường thông tin, thị trường khoa học công nghệ. Bên cạnh đó xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể chế, tăng cường kiểm tra, giám sát của nhà nước, để thị trường hoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, công khai,minh bạch,hạn chế kiểm soát độc quyền kinh doanh. Có biện pháp hữu hiệu chống buôn lậu và gian lận thương mại. 2.4 Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại Trong quan hệ kinh tế đối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào nội bộ của nhau. Mở rộng kinh đối ngoại theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa các hình thức đối ngoại. Hiện nay, cần đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là trọng điểm nền kinh tế đối ngoại. Giảm dần nhập siêu, ưu tiên nhập khẩu tư liệu sản xuất để phục vụ sản xuất. Tranh thủ bằng mọi khả năng và bằng nhiều hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài hướng vao nhiệm vụ cải tiến kỹ thuật, công nghệ. Việc sử dụng vốn vay có hiệu quả để trả được nợ, cải thiện được cán cân thanh toán. Chủ động tham gia tổ chức thương mại quốc tế, các diễn đàn một cách có chọn lọc và có bước đi hợp lý. 2.5 Giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật. Phải hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về kinh tế để thể chế hoá cương lĩnh, chiến lược và các chủ trương chính sách của Đảng, hình thành khuôn khổ pháp lý đồng bộ cần thiết cho các hoạt động kinh tế. KTTT là một nền kinh tế còn mang tính tự phát và cạnh tranh, thậm chí còn khốc liệt với những đặc trưng đó, nó cần được kiểm soát bởi một hành lang pháp lý đó là hệ thống pháp luật. Bắt nguồn từ đó, việc xây dựng một hệ thống pháp luật hàm chứa các yếu tố: hướng dẫn, kiểm soát và định hướng sẽ gây ra tác động biến chứng của thượng tầng kiến trúc đến cơ sở hạ tầng trong quá trình vận động của cơ chế thị trường theo định hướng XHCN. 2.6 Xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế của nhà nước. Việc xóa bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hình thành đồng bộ và vận hành hiệu quả cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với phát triển nền kinh tế hàng hóa ở nước ta. Quản lý của nhà nước về kinh tế trong điều kiện KTTT có nhiều khắc biệt so với cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Quản lý nhà nước về kinh tế trong thời kỳ này ngoài hoạch định chiến lược, chính sách, chế độ và sử dụng cơ cấu pháp luật phải lấy phương pháp kinh tế làm chính. Thực chất của phương pháp này là sử dụng các công cụ kinh tế ở tầm vĩ mô (nội dung chủ yếu của cơ chế quản lý) để điều tiết các quan hệ kinh tế theo định hướng của nhà nước. Phương pháp này được coi như đặc tính vốn có đầy hiệu lực trong điều hành KTTT. Do vậy, việc xây dựng một cơ chế quản lý kinh tế đồng bộ thực hiện đồng bộ ba chức năng: kích thích điều tiết, kiểm soát các quan hệ kinh tế có ý nghĩa tích cực trong việc thúc đẩy lực lượng sản xúât nhìn theo góc độ về sự thích ứng của nó với quan hệ sản xuất. Để thực hiện giải pháp này, văn kiện đại hội VIII Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Nhà nước phải thực hịên tốt các nhiệm vụ định hướng sự phát triển, trực tiếp đâù tư vào một số lĩnh vực cần thiết, thiết lập khuôn khổ lập pháp, hệ thống chính sách nhất quán, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, thực hiện tốt các chính sách xã hội, quản lý tài sản công và kiểm kê, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội. Cán bộ các cấp chính quyền không can thiệp vào chức năng quản trị kinh doanh và quyền tự chủ hoạch toán của doanh nghiệp. Những giải pháp trên đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo và tài năng, tận tuỵ với sự nghiệp xây dựng đất nước 2.7 Định hướng phát triến giáo dục và đào tạo. Tiếp tục quán triệt quan điểm giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục và đào tạo. Triển khai thực hiện có hiệu quả luật giáo dục đào tạo. Định hình qui mô giáo dục đào tạo, điều chỉnh cơ cấu đào tạo, nhất là cơ cấu cấp học, ngành nghề và cơ cấu theo lãnh thổ phù hợp với nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển nền kinh tế xã hội. Nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên các cấp. 2.8 Định hướng phát triển văn hoá. Phát huy bản sắc dân tộc, bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể làm nền tảng cho sự giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng, giữa các vùng trong cả nước và giao lưu văn hoá với nước ngoài. Tiếp tục đưa các hoạt động văn hoá thông tin về vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc. Phát triển phong trào toàn dân tham gia thực hiện nếp sống văn minh, gia đình, bản làng văn hoá. 2.9 Bảo vệ và cải thiện môi trường. Kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững. Đảm bảo sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tiết kiệm và tái chế, tái sử dụng nguồn tài nguyên không tái tạo được. Tăng cường kiểm tra và giám sát môi trường trong từng dự án đầu tư và từng quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, các vùng lãnh thổ. Áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất ít các chất thải, ít gây ô nhiễm môi trường. KẾT LUẬN CHUNG Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, cải cách, hội nhập kinh tế quốc dân và phát triển là các nhân tố có tác động qua lại chặt chẽ, thúc đẩy lẫn nhau để đạt và duy trì được tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước khắc phục nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế. Ở Việt Nam thời gian qua việc tổ chức lại nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta đã gặt hái được những thành công mà thế giới đánh giá cao. Đó là chúng ta đã vận dụng đúng đắn quan điểm toàn diện trong việc phát triển nền kinh tế ngay từ khi bắt đầu đổi mới. 20 năm đổi mới 1986 – 2006 đã cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý báu. Những bài học đổi mới do các đại hội VI, VII, VIII của Đảng nêu lên vẫn còn có giá trị lớn. Trong quá trình đổi mới chúng ta luôn kiên trì mục tiêu độc lập dân chủ và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, dựa vào dân, vì dân phù hợp thực tiễn như Bác đã nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó ngàn lần dân biết cũng xong”. Việc lựa chọn kinh tế thị trường định hướng XHCN là nội dung cốt lõi của chính sách đổi mới nền kinh tế của Đảng và nhà nước ta là hoàn toàn đúng đắn, là mục tiêu hướng tới tương lai vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh. Do đó muốn thành công chúng ta phải vận dụng quan điểm toàn diện một cách cụ thể, thiết thực, xem xét tổng thể các yếu tố để xây dựng nền kinh tế thị trường như Lênin đã nói: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối quan hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”. Cuối cùng, khẳng định dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nước ta các lợi thế tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam về lao động, về tài nguyên thiên nhiên, về vị trí địa lý trong khu vực sẽ được phát huy một cách cao độ, đưa nền kinh tế thị trường Việt Nam tiến nhanh, sánh kịp với các nước có nền kinh tế hiện đại như NIC Châu á và ASEAN. Chúng ta tin vào Đảng, vào sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. MụcLục Trang *Phần mở đầu 1 *Phần nội dung Chương I Một số vấn đề lý luận 1. Lý thuyết về nền kinh tế thị trường 3 2. Sự cần thiết phải phát triển nền kinh tế thị trường 4 Chương II Thực trạng và giải pháp cho nền kinh tế thị trường định hướng XHCN 1. Thực trạng của nền kinh tế thị trường 7 2. Các giải pháp phát triển nền kinh tế thị trường 8 *Phần kết luận 13 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình kinh tế chính trị, NXB chính trị quốc gia 2. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ CNXH, NXB sự thật-1991 3. Kinh tế thị trường định hướng XHCN, NXB thống kê 1995 4. Kinh tế xã hội Việt Nam: thực trạng, xu hướng và giải pháp, NXB thống kê 8/1986. 5. Văn kiện Đại hội Đảng VII, VIII, IX 6. Thời báo kinh tế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxKTCT12.docx
Tài liệu liên quan