Thi công tầng hầm nhà cao tầng

Tình hình xây dựng nhà có tầng hầm ở Việt Nam 1. Khái niệm về tầng hầm : Trong các công trình xây dựng dân dụng nhà nhiều tầng trên thế giới, người ta quy định phần tầng nhà là từ cao trình mặt đất tự nhiên trở lên. Nhà nhiều tầng có thể hiểu là từ 4 tầng trở lên, khi số tầng lên đến vài chục tầng thì người ta gọi đó là nhà cao tầng. Khái niệm cao tầng hiện nay tạm định lượng như nhà cao dưới 9 tầng gọi là nhà thấp tầng. Nhà từ 10 đến 24 tầng gọi là nhà cao trung bình. Nhà có từ 25 tầng trở lên được gọi là nhà cao tầng. Trong khu nhà cao tầng bao gồm tầng trệt (Tầng 1) sàn của nó nằm ngang trên mặt đất, tiếp theo là các tầng 2,3,4 . có độ cao sàn dương. Còn những tầng tiếp theo ở thấp hơn so với mặt đất (nằm dưới tầng trệt) đều được gọi là tầng hầm. Tầng hầm có thể nửa nổi nửa chìm hoặc nằm hoàn toàn trong lòng đất. Thường ở những toà nhà cao tầng thì tầng hầm gồm 2 tầng trở lên, tầng hầm trên cùng có thể là nửa nổi nửa chìm một khi ta muốn tận dụng sự thông gió, chiếu sáng tự nhiên, số lượng tầng hầm. Số lượng tầng hầm cho nhà nhiều tầng chủ yếu phụ thuộc vào ý đồ sử dụng của chủ đầu tư, tuy nhiên nó cũng phụ thuộc vào chiều cao của công trình và nền đất dưới công trình cũng như kỹ thuật xây dựng tầng hầm hiện tại. 2. Xu hướng phát triển nhà có tầng hầm : Nhà có tầng hầm đã có từ lâu trên thế giới, nó trở thành phổ biến và gần như là một thông lệ khi xây dựng nhà nhiều tầng. ở châu Ẹu do đặc điểm nền đất tương đối tốt, mực nước ngầm thấp, kỹ thuật xây dựng tiên tiến và cũng do nhu cầu sử dụng nên hầu như nhà nhiều tầng nào cũng có tầng hầm, thậm chí các siêu thị chỉ có 2-3 tầng nhưng có tới 2-3 tầng hầm. Công nghệ này còn được dùng để thi công các ga ngầm dưới lòng đường, đường cao tốc ngầm ở Paris. Việc xây dựng tầng hầm trong nhà nhiều tầng là điều rất bình thường nó trở nên qua quen thuộc mỗi khi thiết kế và thi công vì nó giải quyết được các vấn đề phát sinh do nhà nhiều tầng đặt ra. ở châu á nói chung có nhiều số nhà nhiều tầng có tầng hầm chưa phải là nhiều, nhưng ở một số nước và vùng lãnh thổ như Hồng Kông, §ài Loan, Hàn Quốc . thì số lượng nhà nhiều tầng có tầng hầm chiếm tỉ lệ khá cao, số lượng tầng hầm trong các nhà từ 1 đến 4 tầng hầm. ở Việt Nam ta, nhà nhiều tầng có tầng hầm cũng chỉ mới xuất hiện gần đây tại nhũng công trình liên doanh với nước ngoài hoặc các công trình vốn 100% vốn nước ngoài. Ta có thể kể đến một số công trình có tầng hầm ở TP. Hồ Chí Minh và thử đô Hà Nội, nhưng số tầng hầm mới ở mức từ 1 - 2 tầng hầm.

doc61 trang | Chia sẻ: banmai | Ngày: 27/03/2013 | Lượt xem: 8868 | Lượt tải: 30download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thi công tầng hầm nhà cao tầng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
e co dãn. ứng dụng của Voltex : Dùng để chống thấm chó các sàn bê tông đặt trên đấ, cho các tường cừ bằng gỗ, thép và bê tông đổ tại chỗ cũng như lắp ghép, cho các công trình đường hầm và đường ngầm, với các công trình xây dựng với bê tông phun. Voltex được sản xuất thành cuộn như cuộn giấy dầu, kích thước 1,2x4,5m, độ dầy 6,4mm. Trọng lượng 34kg. * ứng dụng cho mặt dưới sàn bê tông cốt thép : (Hình 27) Đối với lớp mặt nền là đất, sỏi được đầm nén chặt thì đòi hỏi lớp bê tông phủ lên trên phải dầy tối thiểu là 100mm, còn đối với lớp mặt nền là lớp bê tông lót thì khi lắp đặt Voltex đòi hỏi lớp bê tông bên trên phải dày tối thiểu là 150mm. Trong điều kiện có áp lực thuỷ tĩnh ta nên lắp đặt Voltex cho cả mặt dưới các đáy móng... Trước khi lắp đặt Voltex mặt nền phải được chuẩn bị kỹ càng. Tất cả các hạng mục như tầng hầm chứa thang máy, bể phốt, dầm, móng phải được lắp Voltex trước mục đích là tạo được một lớp ngăn nước liên hoàn chắc chắn. * Dùng Voltex những nơi có đầu cọc và dầm móng (hình 28) Voltex không nên ứng dụng để lắp đặt trên các đầu cọc móng. Cắt Voltex vừa khít quanh đầu cọc rồi xử lý Bentoseal dày tối thiểu 18mm tại góc kết cấu tiếp giáp giữa Voltex và cọc. Bentoseal dày 18mm được trám vát xéo mỗi chiều trên tấm Voltex và cọc tối thiểu 50mm. Waterstop RX nên được lắp ngay trên mặt đất đầu cọc vòng quanh cốt thép của cọc. * Với những tường cừ chắn đất : Như ta đã biết tường cừ chắn đất có thể là cọc cừ + tấm chắn đất bằng gỗ, có thể là cừ thép, hoặc là những tường chắn bằng bê tông phun trực tiếp lên thành hố đào, hoặc bằng những tấm bê tông đúc sẵn gắn vào cọc cừ. Việc thi công lắp đặt Voltex cũng không có gì đặc biệt. Tóm lại, việc chống thấm cho các kết cầu nằm dưới đât phụ thuộc rất nhiều vào loại vật liệu chống thấm với điều kiện thi công lớp chống thấm ấy. Với mỗi loại vật liệu sẽ phù hợp với một loại kết cấu khác nhau, vì thế khi chọn vật liệu để áp dụng cho công trình ta cần lưu ý đến tuổi thọ công trình. Với công trình tạm thời như tường cừ chắn đất cho quá trình thi công móng thì ta chọn loại vật liệu rẻ tiền tuổi thọ thấp để đỡ lãng phí. Với các công trình vĩnh cửu thì việc lựa chọn loại vật liệu là cực kỳ quan trọng đặc biệt là các tầng hầm vì bất kỳ một công trình nào khi đã bị thấm thì việc xử lý nó là rất phức tạp và hiệu quả không cao, có nhiều khi phải sửa đi sửa lại tỏng quá trình sử dụng. ở đây chúng ta giới thiệu sơ lược một số giải pháp chống thấm cho kết cấu nằm trong đất, tuy nhiên nó chỉ rất vắn tắt, nếu muốn áp dụng một cách bài bản ta phải tham khảo thêm các tài liệu có liên quan đến vấn đề này. Chương IV : Những vấn đề cần giải quyết trong quá trình thi công tầng hầm theo phương pháp từ trên xuống "Top - down" Việc đưa vào sử dụng phương pháp "Tường trong đất" để xây dựng tường chịu lực với chiều sâu 20m và lớn hơn trong những điều kiện địa chất khác nhau cho phép chúng ta tiến hành một công nghệ xây dựng các công trình ngầm (các tầng ngầm, các gara ngầm...) đặt sâu bằng phương pháp mới được gọi là phương pháp thi công từ trên xuống. Phương pháp này từ lâu đã được áp dụng ở nước ngoài và ngày nay là phương pháp cơ bản để xây dựng các công trình ngầm, các tầng hầm nhiều tầng. Quy trình xây dựng của nó đã được giới thiệu ở chương hai cũng như ưu nhược điểm của phương pháp này. Trước hết người ta tiến hành xây dựng tường trong đất đồng thời tiến hành thi công cọc móng công trình. Nếu trong quá trình thi công cần đến cột đỡ tạm thì nó cũng được thi công lúc với cọc. Giai đoạn tiếp theo là tiến hành đổ dầm sàn tầng trệt (sàn nằm trên mặt đất), sau khi bê tông sàn đã đạt cường độ chịu lực thì tiến hành đào đất và vận chuyển đất. §ào đến sàn tầng hầm 1 thì dừng lại sau đó lại tiến hành đổ dầm sàn đáy tầng hầm. Tại đáy đài ta tiến hành đổ đài móng sau đó đổ đáy tầng hầm. Cột của tầng hầm được thi công sau khi đào đất tầng hầm. Về quy trình là thi công từ trên xuống. Trong quá trình thi công ta cần giải quyết một loạt các vấn đề có liên quan kỹ thuật khác nhau. Hiện nay phương pháp phổ biến là dùng sàn bê tông đổ tại chỗ. §ể thi công hệ dầm sàn này trước hết ta đi giải quyết từng vấn đề một. §1. Hệ kết cấu tầng hầm : Với các kết cấu nhà cao tầng có tầng hầm thì hệ kết cấu của nhà nói chung và của tầng hầm nói riêng thường là bằng kết cấu bê tông cốt thép có thể là lắp ghép và đổ toàn khối tại chỗ. Tuy nhiên với những nhà rất cao tầng thì lúc này kết cấu thép sẽ hợp lý hơn, nhưng nhìn chung thì kết cấu tầng hầm vẫn là hệ kết cấu bằng bê tông cốt thép. Do tính năng sử dụng của tầng hầm như đã nói là nó dùng để làm kho chứa hàng, làm tầng phục vụ sinh hoạt công cộng, làm tầng kỹ thuật, làm gara ô tô, làm kho lưu trữ tài liệu mật... Vì thế kết cấu bằng bê tông cốt thép là hợp lý hơn cả. Hệ lưới cột dầm cũng giống như cho bất kỳ một nhà cao tầng nào chỉ có điều là nhịp của nó thay đổi theo yêu cầu sử dụng. Để thi công tầng hầm theo phương pháp "Top-down" ta cần phải có một hệ cột đỡ tạm cho các sàn tầng hầm. Số lượng cột tạm phải được tính toán và bố trí hợp lý để sao cho số cột là ít nhất nhưng khả năng làm việc cao nhất. §ể tính được số cột tạm cần thiết ta đưa vào tiến độ thi công phần thân nhà. Thông thường thì sau 30 ngày kể từ khi bắt đầu thi công thân nhà (Từ cốt 0,00 trở lên). Nếu theo phương pháp thi công từ dưới lên thì phải 5¸6 tháng sau ta mới thi công phần thân được. Số lượng sàn tầng của phần thân ta chọn tối thiểu là 2 sàn trở lên. Ta chọn sao cho khi thi công tiến độ của phần thân và phần ngầm càng nhịp nhàng càng tốt. Từ số lượng sàn ta chọn để tính toán cột tạm thứ nhất ta chọn lưới cột tạm, từ lưới cột tạm ta xác định được tải trọng mà cột phải chịu (cho tới khi thi công xong các cột tầng hầm cuối cùng và cột đã đủ cường độ chịu lực theo tính toán). Sau đó tính toán vật liệu để làm cột chống tạm. Còn cách thứ hai là từ một loại vật liệu cho cột chống tạm cụ thể là ta đi tính được số lượng cột chống tạm cần thiết. Vật liệu để làm việc cho cột chống tạm ở đây người ta sử dụng loại cột thép hình (H) có gia cường thép góc. Một phương án nữa cũng được đưa ra là cột ống nhồi bê tông. Cả hai phương án cột tạm này đều được thi công cùng lúc với cọc khoan nhồi chúng đều được giữ lại để làm cột cố định (vĩnh viễn) cho công trình. Điều ta quan tâm ở đây là làm thế nào để các cột tạm này sau khi đã được thi công thành cột vĩnh viễn có đầy đủ tính chất của một cột vĩnh viễn. Vấn đề chủ yếu là mối nối giữa cột và dầm sàn, mối nối giữa phần cột tầng trên đã thi công và phần cột dưới sẽ thi công, làm sao để chúng đạt yêu cầu về cốt thép, về bê tông đúng như thiết kế. Một phương án nữa cũng được đưa ra để thi công tức là trong quas trình thi công cọc nhồi người ta tiến hành thi công cột vĩnh viễn ngay. Trong cốt thép của cột người ta để lại các chi tiết để liên kết với dầm. Với phương pháp này người ta có thể thi công bê tông cột trong đoạn ống bao bằng bằng thép, khi đổ bê tông thì rút đầu nó lên. Việc dùng ống sẽ đảm bảo cho cột có tiết diện tròn đều, lớp bê tông bảo vệ sẽ đảm bảo thiết kế và chất lượng cột chắc chắn sẽ tốt hơn so với phần bê tông của cọc. Tóm lại, để thi công được sàn các tầng hầm người ta cần có các cột tạm, các giải pháp cột tạm đưa ra nhu trên đây đều khả thi, song vấn đề cần nghiên cứu thêm là chọn như thế nào cho phù hợp với biện pháp thi công và để cho cột tạm đạt chất lượng như mong muốn. Từ trước tới nay các cột tạm đều được tựa lên một cọc khoan nhồi, đường kính của cột không lớn hơn đường kính của cọc. Trên mỗi cọc là một đài cọc và các cột tạm nằm trên đài và nó cũng sẽ là cột vĩnh viễn sau khi đã thi công xong công trình. Nó phải thoả mãn với các điều kiện liên kết với các kết cấu khác và đảm bảo điều kiện kiến trúc chung của ngôi nhà đồng thời không ngăn cản, gây khó khăn chó quá trình khoan, đặt cốt thép, bơm bê tông... Trường hợp mỗi cột nằm trên một đài 2 cọc. ở phần trước, ta đã trình bày cho trường hợp cột của nhà nằm gọn trên một cọc khoan nhồi. Vấn đề cột tạm cũng nằm trên chính cọc khoan nhồi và tại đáy tầng hầm khi thi công đài cọc, cốt sẽ nằm chính trên đài (đúng tâm). Việc thi công đài không có gì khó khăn và đảm bảo đúng thiết kế. ở đây vấn đề đặt ra là mỗi đài năm trên hai cọc nghĩa là cột của công trình sẽ nằm giữa hai cọc, vậy cột tạm sẽ nằm ở đâu ?. Nếu để ở giữa hai cọc thì việc thi công sẽ rất khó khăn bởi lẽ cột phải nằm trên đài mà lúc này đài chưa được thi công, hơn nữa việc khoan lỗ cho cột nằm giữa hố khoan của 2 cọc là khó có thể thực hiện vì rất dễ bị sụt lở thành hố đào. Một giải pháp có thể sử dụng là : Ta đặt cột tạm trên một trong hai cọc, Trong lưới cột ta đặt so le, sau khi thi công xong cột vĩnh viễn thì ta sẽ dỡ bỏ cột tạm đi. Những cột tạm này được đặt trên một cọc nhồi, nó có thể bằng thép hình H, sau khi thi công sàn tầng trệt người ta tiến hành đào đất và thi công cột cố định. Cột cố định được thi công đúng vị trí có nghĩa là là nó nằm giữa hai cọc. Cột tạm lúc này mang đúng ý nghĩa của nó. Sau khi thi công xong toàn bộ cột dầm sàn của tầng hầm, người ta tiến hành cắt bỏ thu hồi cột tạm. Việc cất dỡ này chỉ tiến hàn sau khi cột và đài của tầng cuối cùng đã đạt đủ cường độ thiết kế. Trường hợp cột nằm trên đài nhiều cọc ở trên ta đã đưa ra giải pháp cột tạm cho đài 2 cọc, số lượng cột tạm cũng phải đưa vào tính toán cho sát với yêu cầu của thực tế tránh lãng phí không cần thiết. §ối với đài nhiều cọc thì vấn đề đặt ra cho cột tạm là phức tạp hơn. Thường thì khi đài nằm trên một nhóm cọc có nghĩa là tải trọng tác động lên móng rất lớn, khả năng thi công cọc có đường kính lớn bị hạn chế vì vậy người ta phải dùng nhiều cọc có đường kính nhỏ tuy nhiên với cọc khoan nhồi đường kính nhỏ nhất của cọc là d=600mm. Vậy khi đài nằm trên 4 cọc nhỏ trở lên thì việc bố trí cột tạm như thế nào ?. Dưới đây là một số đề xuất : - Với đài 4 cọc: - Với đài 5 cọc : Một công trình xây dựng với móng gồm 5 cọc khoan nhồi nghĩa là công trình này khá cao tải trọng tác động lên chân cột rất lớn, số tầng có thể là vài chục tầng, tuy nhiên số tầng hầm lại không thể tỉ lê thuận với số tầng của nhà được, cho tới nay số tầng hầm có chiều sâu trên 20 mét không phải là nhiều vì vậy việc tính toán cột tạm cũng chỉ dừng lại ở 3 --> 4 tầng trở lên. Việc tính toán như ta đã nói phụ thuộc vào tiến độ thi công phần thân nhà (Từ cốt 0,00 trở lên). Với một toà nhà có tầng hầm gồm 3 --> 4 tầng hầm chiều sâu tới 20m thì khi tính cột tạm ta chỉ tính cho cột chịu được tải trọng của toàn bộ tầng hầm cộng với 5 --> 6 tầng phần thân nhà là hợp lý vì lẽ tốc độ thi công của tầng hầm và nhà thường không nhịp nhàng, một sàn của phần thân thường thi công nhanh hơn sàn một tầng hầm. Với đài 5 cọc, phương án cọc tạm dùng cho công trình là chọn chính cọc trung tâm để đặt cột tạm. Số lượng cột tạm sẽ được đặt cho tất cả các móng, mỗi móng một cột tạm. Loại cột tạm ở đây có thể dùng thép hình H hoặc cột bê tông bằng thép ống nhồi bê tông, hoặc cột được thi công dưới dạng cọc khoan nhồi bê tông hoặc cột được thi công dưới dạng cọc khoan nhòi như đã trình bày ở mục trên. -Với những đài gồm 3 cọc, 6 cọc, 7 cọc... thì việc bố trí cột tạm cũng dựa trên cách thức trên. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà ta có cách bố trí hợp lý, tránh được lãng phí cần thiết. §2 Thi công sàn tầng hầm . Khi công tác thi công cọc khoan nhồi, tường trong đất (tường bao chịu lực) và các cột tạm được hoàn thành ta tiến hành thi công sàn tầng trệt (tại cốt 0,00). Hệ dầm sàn này được thi công trực tiếp lên nền đất của công trình, không cần hệ chống đỡ nào cả. §ể tạo mặt nền cho thi công dầm sàn, ta tiến hành dọn vệ sinh sạch sẽ toàn bộ mặt bằng công trình vì sau khi thi công cọc và tường bao trên mặt bằng sẽ là rất lớn do bùn đất cộng với vữa sét (bentonite) gây ra. Khi mặt bằng đã đã sạch sẽ, ta tiến hành đo đạc, giác lại toàn bộ móng công trình, nên nhớ rằng ở những lỗ cọc khoan nhồi không có cột tạm thì trước khi thi công bê tông dầm sàn. Loại vật liệu được chọn để dùng ở đây có thể là cát đen (cát san nền) là kinh tế và hợp lý hơn nó tạo độ chặt nhất định cho nền đất tạo điều kiện thi công cho dầm sàn, tránh được lún cho dầm sàn. Nhìn chung không nên dùng lại vật liệu đã đào lên để lấp lại, tuy rằng nó kinh tế hơn nhưng về mặt vệ sinh môi trường là không hợp lý về mặt ổn định hố lấp sẽ không bảo đảm sẽ gây lún trong thời gian đầu. 1. Chuẩn bị nền cho thi công bê tông dầm sàn : Có nhiều cách để tạo nền cho thi công dầm sàn. Trước tiên người ta phải tạo mặt nền đến cao độ cần thiết, sau đó tiến hành đầm lèn sao cho nền không bị lún dưới tác dụng của tải trọng do dầm sàn gây ra. ở những chỗ đặt đặt dầm ta phải khoét đất tạo thành khuôn cho dầm. Ịêu cầu là khi khoét đất làm khuôn thì đất thành của khuôn không được sụt, phải giữ đúng được hình dạng của dầm, Thực tế công trường cho thấy có thể chuẩn bị mặt nền cho bê tông dầm sàn như sau : * Sau khi đã đầm lèn và hạ nền đến cao độ yêu cầu, người ta tiến hành khoét lỗ khuôn dầm sau đó dùng vữa xi măng mác thấp láng một lớp lên mặt nền tạo mặt bằng thi công cốt thép và đổ bê tông. Lớp xi măng nền này đóng vai trò như côppha sàn và côppha dầm, cần lưu ý là khi hạ cốt nền và tạo khuôn phải tính đến cả lớp vữa này để sao cho cao độ của lớp vữa chính là cao trình đáy sàn, dầm còn chiều rộng khuôn chính là chiều rộng dầm. Sau khi lớp bê tông nền này đạt cường độ ta tiến hành đặt cốt thép cho sàn và dầm. Việc đặt cốt thép giống như cho mọi sàn bình thường chỉ có khác là ván khuôn để đỡ sàn và dầm chính là các lớp bê tông lót này. Trước khi đổ bê tông ta nên quét một lớp dầu luyn lên mặt nền để sau này dỡ cốppha được dễ dàng, mặt dưới của sàn được mịn, không bị dính lớp vữa lót. * Một cách khác để chuẩn bị nên cho công tác bê tông sàn dầm là : Trước hết cũng tiến hành đầm lèn đến độ chặt thiết kế, sau đó hạ nền và tạo khuôn cho dầm theo kích thước đã định. Dùng ván khuôn để làm cốppha cho sàn và dầm. Việc hạ nền và khoét tạo ván khuôn phải kể đến chiều dầy của ván khuôn. §ể dễ dàng tách ván khuôn ra khỏi bê tông người ta cũng quét lên nó một lớp dầu luyn và giữa nên và ván khuôn ta rải lên đó một lớp cát mỏng. Ván khuôn ở đây có thể là bằng gỗ, bằng thép. Thường thì người ta sử dụng ván bằng gỗ ép ngoài có phủ một lớp vật liệu chống thấm, chống nóng (lớp phíp). Việc sử dụng ván khuôn thép không thật an toàn cho thi công đào đất sau này. Đối với thi công ván khuôn dầm người ta thường đóng thành hộp dầm sau đó đặt chúng vào khuôn đã tạo sẵn. Trên mặt hộp dầm người ta dùng các thành đỡ văng 2 thành dầm lại với nhau. §ối với ván sàn nên đóng thành từng tấm có kích thước hợp với sức khiêng của 2 người công nhân. Sau khi đã đặt cốppha dầm - sàn vào đúng vị trí thiết kế, ta liên kết chúng lại với nhau để tránh bị xê dịch trong khi thi công. Trước khi rải cốt thép người ta phải bịt tất cả các khe hở giữa các tấm ván tránh cho bê tông bị rò rỉ nước xi măng. Việc chèn này có thể sử dụng các vật liệu dẻo như bitum trộn cát, dây đay... Nếu cần người ta có thể trải một lớp vải nilon lên trên ván khuôn để đảm bảo cho nước xi măng không bị rò rỉ. * Một phương pháp để chuẩn bị nền vữa nữa là sau khi nền đã được đầm chặt tạo khuôn cho dầm, người ta tưới lên mặt nền một lớp nước hoà xi măng cho cứng nền lại, việc tưới được tiến hành bằng phun tia nước để cho mặt nền không bị lồi lõm. Tỷ lệ pha xi măng-nước phải đủ để cho nền có độ cứng yêu cầu. Sau đó khi nền đã se dùng nước và bàn xoa để làm phẳng lần cuối. Khi nền đã khô ta dùng cót ép rải lên làm ván khuôn cho sàn dầm. §ể cho đễ bóc cót ép ta bôi lên đó một lớp dầu luyn. Các công việc tiếp theo theo trình tự như cho một sàn bình thường. Ợu điểm của phương pháp này là khi đào đất không bị nguy cơ cốppha rơi vào đầu, tăng độ an toàn cho công nhân đào đất. Vẽ hình 29 * Kiểm tra cao trình của tầng hầm Sau khi đã thi công lớp vữa lót nền xong người ta tiến hành kiểm tra độ thăng bằng của mặt nền bằng máy thuỷ bình trước khi lắp đặt cốt thép (với trường hợp không dùng côppha) hoặc trước khi lắp đặt cốt thép (với trương hợp dùng côppha đổ bê tông dầm-sàn). Sai số cho phép không quá ±5mm. Việc nghiệm thu cũng được diễn ra ngay sau giai đoạn kiểm tra. Chỉ được tiến hành lắp đặt cốt thép sau khi đã có biên bản nghiệm thu nền xi măng hoặc hệ côppha dầm-sàn. 2. Công tác cốt thép : Khi công việc chuẩn bị cho công tác bê tông đã xong (chuẩn bị nước, chuẩn bị ván khuôn..) ta tiến hành thi công cốt thép. Toàn bộ cốt thép dầm và sàn đều được gia công trên mặt đất tại các xưởng gia công, nó được lắp đặt tại các sàn tầng dưới dạng thanh rời, dạng lưới hay dạng khung tuỳ theo điều kiện vận chuyển xuống tầng hầm. Với sàn tầng trệt thì việc thi công cốt thép sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn vì mặt bằng rộng thoáng đãng không bị vướng, tầm quan sát rộng cần trục làm việc dễ dàng. Cốt thép cho sàn tầng này có thể được gia công thành khung, dầm, thành lưới sàn, được cần trục cẩu lên đưa vào trí thiết kế sau đó ta liên kết chúng lại với nhau. Trong khi cẩu lắp cốt thép sẽ làm cốt thép bị xê lệch, biến dạng vì vậy ta phải có biện pháp gia cường chúng bằng cách dùng các thanh neo thanh đỡ bằng gỗ hoặc bằng thép trong quá trình thi công cẩu lắp. Còn đối với sàn các tầng hầm dưới việc thi công cốt thép sẽ khó khăn hơn, chủ yếu là việc vận chuyển cốt thép vào vị trí. §ể thi công được nhịp nhàng, người ta phân chia mặt bằng của tầng hầm thành các phân đoạn để thi công. Việc phân chia này cũng giống như phân chia phân đoạn cho các sàn thân nhà. Việc lắp đặt cốt thép cho dầm sàn tầng hầm thường dưới dạng thanh rời, thời gian thi công sẽ dài hơn so với thi công cốt thép trên sàn tầng nổi vì công việc được tiến hành trong khuôn khổ một tầng hầm, không gian bị bó hẹp bởi sàn tầng hầm và hệ thống cốt tạm. Hơn nữa điều kiện thi công có khó khăn hơn vì phải dùng chiếu sáng và thông gió nhân tạo, mặt bằng thi công cũng ẩm ướt sẽ gây tác động không tốt đến sức khoẻ của công nhân, đặc biệt là tiếng ồn của máy móc sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thần kinh và làm cho năng suất lao động bị hạn chế. Tuy nhiên làm việc trong tầng hầm người công nhân sẽ có cảm giác an toàn hơn vì không phải làm làm việc trên cao. 3. Công tác đổ bê tông : Sau khi cốt thép được đặt vào vị trí thiết kế ta tiến hành nghiệm thu cốt thép. Mọi yêu cầu đối với cốt thép đều phải được đáp ứng một cách triệt để ví dụ như chủng loại cốt thép phải đúng theo thiết kế, khoảng cách và số lượng cốt thép, vị trí cốt thép, các mối hàn, buộc cũng như lớp bảo vệ cốt thép, độ vững chắc của cốt thép... nhất nhất đều phải đúng theo thiết kế. Phải chú ý cốt thép ở những chỗ mối nối như giữa cột-dầm, giữa dầm-sàn, sàn tường bao... Sau khi công tác cốt thép được nghiệm thu, ta tiến hành đổ bê tông. Việc cấp bê tông có thể thực hiện theo hai cách, cách thứ nhất là dùng bê tông thương phẩm chở đến công trường, bê tông được trút vào thùng và cầu trục sẽ chuyển bê tông xuống tầng hầm qua các lỗ chứa sẵn như ô cầu thang, giếng trời... Công nhân ở dưới tầng hầm sẽ tiếp nhận bê tông và dùng các xe chuyên dụng để vận chuyển bê tông đến vị trí đổ (thủ công). Cũng có thể bê tông được trộn trên mặt đất sau đó được vận chuyển xuống bằng cầu thang. Phương pháp này tỏ ra tốn thời gian, tốn nhân lực. §ể giảm thời gian thi công và giảm sức người, ta nên dùng bơm bê tông để đưa bê tông để đưa bê tông đến vị trí đổ. Vì bê tông được vận chuyển xuống dưới nên ta cũng không cần chọn máy bơm công suất lớn. ống bơm bê tông được đưa qua các lỗ chừa sẵn của sàn tầng trên, nó được rải sao cho ở tư thế thoải mái nhất, không làm vướng chân người công nhân. Nếu cần ta có thể treo ống bơm lên những giá 3 chân đặt cách nhau 2 --> 3m, cách mặt đất không quá 0,5m tránh cho ống có thể bị rách thủng do những vật liệu sắc nhọn của sàn gây ra. §ộ sụt của vữa bê tông phải đạt yêu cầu, không được khô quá cũng không loãng quá ảnh hưởng đến chất lượng bê tông. Việc bơm bê tông phải liên tục, không được dừng bơm quá 30'. Trước và trong quá trình bơm phải luôn luôn kiểm tra đường ống đầm bê tông, phát hiện rò rỉ kịp thời, tránh để sảy ra tai nạn vỡ ống gây thương tích cho người lao động. §ặc biệt chú ý đến những chố nối ống, chỗ quành, tránh để nước xi măng bị rò rỉ làm giảm chất lượng bê tông và đồng thời cũng làm giảm áp lực bơm bê tông. Nếu dừng bơm quá 30' do yêu cầu thi công hoặc do trục trặc của máy bơm thì phải lập tức phải tiến hành rửa ống bơm bằng nước sạch tránh bê tông bị đọng cứng trong lòng ống. Đầm bê tông : Với dầm ta dùng đầm dùi để đầm. Chú ý mũi đầm dùi không được chạm vào tấm đáy côppha dầm, nếu trường hợp côppha là lớp vữa xi măng thì càng cần phải chú ý điều này vì đầm dùi có thể phá thủng lớp lát, nước xi măng sẽ bị rò rỉ xuống đất gây rỗ cho bụng dầm. Cũng cần phải xác định bước đầm dùi đảm bảo sao cho mọi chỗ bê tông trong dầm đều nằm trong bán kính đầm. §ầm phải được cắm thẳng góc, thân đầm (phần tác động) phải ngập trong lớp vữa đầm là 2/3 thân đầm và mũi đầm phải cắm vào lớp vữa đầm trước ít nhất là 5cm. Nên nhớ không đầm quá lâu, chỉ đầm đủ thời gian nếu không sẽ gây ra hiện tượng phân tầng trong bê tông. §ối với sàn tầng ta dùng đầm bàn là thích hợp. Khi dịch chuyển đầm bàn chú ý sao cho mặt đầm bàn không được tách rời khỏi mặt sàn bê tông và đầm phải bao toàn bộ diện tích sàn, tuyệt đối tránh đầm sót, đầm chưa đủ thời gian. Việc đầm chỉ kết thúc khi trên bề mặt bê tông nổi lên một lớp nước xi măng là được. §ể hoàn thành mặt sàn ta phủ lên đó một lớp vữa XM-cát trộn khô sau đó dùng thước cán phẳng. Muốn cho lớp bê tông dầm-sàn đổ đúng chiều dầy thiết kế ta dùng miếng cữ bằng vữa xi măng đúc sẵn hoặc có thể vạch cốt mặt sàn lên thành côppha để nhận biết, tức là dùng sơn đỏ vạch lên côppha nhưng có thể vạch đỏ này bị vữa bê tông vấy bẩn, không còn rõ ràng nữa, một cách khác rất đơn giản là người ta cắt những đoạn ống tre hoặc gỗ rồi nối chiều dài bằng đúng chiều dày sàn (có tay xách) đặt lên sàn trước khi đổ bê tông cách nhau từ 1-->1,5m mỗi chiếc theo 2 chiều sàn. Khi đầm xong ta nhấc đoạn ống đó ra và lấp đầy lỗ bằng vữa bê tông bổ xung. Một điều không thể quên được khi đổ bê tông là phải đúc mẫu thử cường độ bê tông. Với mỗi đợt cấp bê tông ta phải đúc mẫu (mẫu lập phương) theo tiêu chuẩn của phòng thí nghiệm. Số lượng mẫu sẽ theo quy định hiện hành. Bảo dưỡng bê tông : Do đặc thù của tầng hầm và việc bảo dưỡng bê tông cũng có linh hoạt hơn so với các sàn tầng thân nhà. Đối với sàn tầng trệt, lớp bê tông sàn tầng cần được bảo dưỡng bê tông theo các cách ta vẫn dùng như phủ lên mặt sàn một lớp mùn cưa, vỏ bào, hay bao tải, cát và tưới nước là đủ. Trong thời gian 2 ngày đầu cứ 2 giờ ta tưới nước một lần, lần đầu tưới nước sau khi đổ bê tông từ 4¸7 giờ, những ngày sau khoảng 3¸10 giờ tưới một lần tuỳ theo nhiệt độ không khí (nhiệt độ càng cao tưới càng nhiều). §ối với bê tông dùng xi măng Poolăng thì thời gian tưới là 7 ngày (tối thiểu) còn đối với xi măng Ặxít nhôm thì chỉ cần tưới nước 3 ngày đêm. Việc di lại trên bê tông chỉ cho phép khi cường độ bê tông đạt 24 kG/cm2 (mùa hè từ 1¸2 ngày, mùa đông 3 ngày). Nếu bảo dưỡng không tốt sẽ sảy ra hiện tượng trắng mặt dẫn đến cường độ bê tông thấp so với cường độ thiết kế hoặc gây nứt chân chim. Với các sàn tầng hầm thì việc bảo dưỡng bê tông có thuận lợi hơn vì bê tông không bị ảnh hưởng của mưa nắng. Việc phủ bao tải, mùn cưa, cát lên trên mặt bê tông là không cần thiết. Thời gian tưới nước là 7 ngày, nhịp độ tưới có thưa hơn so với sàn tầng trệt nó phụ thuộc vào độ ẩm của bê tông, cần đặc biệt chú ý đến vấn đề giữ khô tầng hầm trong quá trình thi công, nhất là trong giai đoạn bảo dưỡng bê tông. ở chương 2 chúng ta đã đưa ra các biện pháp làm khô hố đào. Việc áp dụng biện pháp nào đều phụ thuộc vào trường hợp cụ thể. Với những công trình có tầng hầm từ 1¸2 tầng, mực nước ngầm không cao thì ta dùng biện pháp bơm nước từ các hố thu nước đặt dưới đáy hố đào và bơm liên tục 24/24 trong suốt thời gian thi công. Với những công trình tầng hầm nằm sâu dưới đất, mực nước ngầm cao ta nên dùng phương pháp hạ mực nước ngầm bằng giếng sâu hoặc bằng hệ thống ống kim lọc. Vấn đề chủ yếu ở đây là phải luôn luôn giữ cho đáy hố đào khô, nhất là khi bê tông bê tông mới đổ để tránh hiện tượng đẩy nổi gây nứt bê tông sàn và ảnh hưởng đến quá trình đông kết của bê tông. §3. Thi công đào đất tầng hầm : Khi bê tông dầm và sàn đã đạt được 70% cường độ thiết kế thì ta tiến hành đào đất đến sàn tầng hàm thứ nhất. Công việc đào đất có thể được thực hiện bằng cơ giới hoặc bằng đào thủ công, nó phụ thuộc vào loại đất và quy mô của công trình. Việc vận chuyển đất lên mặt đất được thực hiện bằng cầu trục, đất được đưa qua các lỗ sàn chừa sẵn như ô cầu thang bộ, thang máy hoặc được vận chuyển bằng xe ô tô theo đường lên xuống của tầng hầm theo thiết kế. 1. Thi công bằng phương pháp thủ công : Với những công trình có tầng hầm không sâu lắm, mặt bằng thi công chật hẹp, lưới cột dầy thì biện pháp đào đất băng thủ công là khả thi. Việc đào đất được bắt đầu từ các lỗ sàn để chừa sẵn, đất đào được đổ vào các thùng chứa có quai để móc vào móc cẩu khi đất đầy cần trục sẽ cẩu lên đổ vào nơi quy định hoặc đưa lên xe ô tô chở đến nơi cần đổ. ở những lớp đất trên mặt bằng thường là đất rời nên đất được đào bằng xẻng, đổ lên băng ca sau đó công nhân sẽ vận chuyển đến thùng đổ. Việc tổ chức đào đất theo ca kíp là hợp lý, thời gian làm việc dưới tầng hầm tối đa là 6 tiếng, đất được đào lên theo từng lớp từ trên xuống dưới, hết lớp này mới đến lớp tiếp theo theo đến độ sâu cần đào. Khi đào đến lớp đất dính thì không dùng xẻng được nữa, biện pháp tốt nhất là dùng kéo cắt đất thành từng cục công nhân vác ra tập trung bào thùng chứa. Phương pháp qua thực tế cho thấy rất hữu hiệu. Trong quá trình đào khi gặp lớp nước ngầm ta phải đào hố thu nước và dùng bơm để bơm cạn đi sao cho luôn có một lớp đất nền khô, dầy chừng 2m. Khi gặp đất có độ ngầm (giữ) nước lớn, có hệ số thấm nhỏ thì dùng một số lỗ khoan kết hợp với bơm sàn để hút nước. 2. Thi công đào đất bằng cơ giới : Việc đưa máy đào và máy xúc xuống làm việc ở tầng hầm sẽ gặp nhiều khó khăn bởi lẽ mặt băng thi công chật hẹp, hệ cột tạm cũng như sàn tầng đã thi công đều gây cản trở cho máy móc làm việc. Kinh nghiệm chỉ ra rằng với lưới cột từ 4x4m trở lên và chiều cao tầng lớn hơn 4m thì những cản trở này là không đáng ngại. Với những công trình có mặt bằng rộng (Chiều dài và chiều rộng lớn) ta có thể sử dụng các biện pháp như khi đào hố móng lộ thiên có mái dốc. ở đây đất được đào bằng các máy làm đất rồi đưa lên xe tự đổ đưa ra bãi thải theo các dốc đặt dọc theo các tầng hầm cho ô tô sau này để làm đường vận chuyển đất. Các máy thi công nến sử dụng các loại máy nhỏ có độ cơ động cao và không gây va chạm kết cấu công trình. Việc thi công bằng cơ giới ở tầng hầm sẽ gây tiếng ồn rất lớn vì không gian làm việc kín, thoát ồn rất khó. §ể giảm tiếng ồn tỏng thi công đào đất ta bố trí một đường xuống và một đường lên cho ô tô vận chuyển đất thành đường vòng kín. Ngoài các lỗ sàn để sẵn cho cầu thang, ta nen để thêm một số lỗ sàn nữa nếu mặt bằng công trình rộng để tạo điều kiện cho thông gió thoát ồn. §ối với đường lên xuống cho ô tô, để tránh bị lún trơn ta dùng các tấm bê tông đúc sẵn lát lên mặt đường dốc hoặc dùng các tấm ghi thép để tạo mặt đường sau khi thi công xong sẽ tháo dỡ và thu hồi lại. Với các công trình có mặt bằng chật hẹp, các công trình xây chen trong thành phố thì việc làm đường lên xuống cho ô tô chở đất là khó thực hiện. Lúc này ta vận chuyển đất bằng vận thăng hoặc bằng cần trục, còn công việc đào đất được thực hiện bằng máy. Trước hết cho máy ủi hoặc máy đào xuống làm tơi đất gom đất lại thành đống sau đó dùng máy xúc để xúc đất vào thùng chứa đưa lên mặt đất bằng cần trục. Thùng chứa được cấu tạo có đáy mở được để trút đất ra. Nếu dùng vận thăng để chuyển đất lên thì nên dùng loại vận thăng có sức nâng lớn để nâng cả ô tô tự đổ (ô tô đã đầy đất) lên mặt đất. Ậ tô sẽ chuyển đất đến bãi đổ thường thì việc làm tơi đất và gom đất được tiến hành bằng máy ủi máy đào là hợp lý vì không gian làm việc dưới tầng hầm bị hạn chế. 3. An toàn lao động và vệ sinh môi trường trong thi công đào đất : a. Những sự cố thường xảy ra khi thi công dưới đất. - Đang đào đất thì gặp mưa to : Phải lập tức dùng các loại để che mưa cho hố đào, sao cho lượng nước mưa chảy xuống hố đào là ít nhất, đồng thời phải tiến hành bơm ngay lượng nước mưa chảy xuống hố, tránh gây ra sụt lở thành hố đào, gây ướt nền đất làm khó khăn cho việc thi công đào và vận chuyển đất. Trường hợp đất được vận chuyển bằng ô tô lên xuống theo các dốc thì quanh dốc ta phải có rãnh thoát nước, không để nước chảy tự do xuống hố đào. - Gặp túi bùn trong hố đào : Khi công trình nằm ở vùng đồng bằng hay ven biển thì hiện tượng này hay gặp do nền đất trước đây là ao hồ bị san lấp hoặc trước đây là những hố bom để lại trong chiến tranh, nó được lấp đầy bằng rác và các phế thải xây dựng khi gặp hiện tượng này ta phải vét sạch lấy hết phần bùn rác và phế thải trong phạm vi tầng hầm. Nếu lớp bùn bị lấy đi sâu quá so với sàn của tầng hầm sắp thi công thì ta phải lấp lại bằng cát hoặc đất nặng đảm bảo ổn định cho việc thi công sàn tầng hầm. - Gặp đá mồ côi nằm trong đất tầng hầm : Phải phá đi, việc phá tuyệt đối không được dùng sức nổ, đảm bảo an toàn cho công trình. Phải tìm người có kinh nghiệm phá đá để làm việc này, phá theo thớ đá dụng cụ là đục, choòng, búa, đá phải được lấy đi qua hết lớp đáy của tầng hầm. - Gặp mạch nước ngầm có cát chảy : Phải làm giếng lọc để hút nước ngoài phạm vi hố đào. Khi nền khô tiếp tục đào đến nền tầng yêu cầu nhanh chóng thi công sàn tầng đó. Chú ý là nền luôn luôn được giữ khô, tránh cát bị chảy đi theo nước. Cần thiết là phải có biện pháp chống đỡ được đáy sàn đề phòng nước bị trôi di gây lún nền dẫn đến gãy sàn. - Nếu đào thấy vật ngầm như đường ống, dây điện ngầm (điện thoại, điện sinh hoạt) thì phải dừng ngay và báo cho các bên cơ quan hữu trách để tìm biện pháp giải quyết. Nếu gặp các di tích văn hóa cổ đại phải ngừng thi công ngay, báo cho cơ quan hữu trách biết, gặp mồ mả thì phải nhanh chóng thu dọn theo đúng quy định của địa phương trong công việc di chuyển mồ mả sót lại. - Gặp túi khí độc : Phải cho công nhân ngừng thi công ngay, chỉ khi nào hút khí mới được tiếp tục làm việc. b/ an toàn lao động trong thi công đào đất tầng hầm : -Phải làm rào chắn xung quanh khu vực thi công , ban đêm phải có đèn báo hiệu , tránh việc ban đêm người bị ngã , thụt xuống hố đào -Không được đào đất theo kiểu hàm ếch để tránh sập vách đất . -Công nhân thi công không được ngồi nghỉ dưới chân mái dốc đất , tránh hiện tượng sụt nở bất ngờ . -Công nhân thi công phải tuyệt đối chấp hành nội quy , kỉ luật lao động , phải có mũ bảo hiểm , dày , ủng , quần áo , găng tay bảo hộ lao động , kể cả kính bảo hộ tránh bụi -Phải thường xuyên kiểm tra dây cáp , dây cẩu đất. -Lối lên xuống hố đào cho công nhân phải có thang lên xuống , thang phải chắc chắn, chịu được tải trọng yêu cầu . -Khi đang đào gặp túi khí độc thì phải nghỉ ngay , kiểm tra độc độc hại , dùng quạt gió để thông khí độc , công nhân cần được trang bị mặt lạ phòng độc vầ thở bằng bình ôxy cá nhân . -Hết sức lưu tâm đến hệ đường ống , đường cáp còn ở hố đào , tránh va chạm khi chưa có biện pháp di chuyển. -Máy đào không di chuyển khi gầu đầy đất , không được đi lại trong phạm vi bán kính hoạt động của xe , máy , gầu. -§ường dây điện phục vụ cho quạt gió và cho chiếu sáng phải dùng dây cáp bọc , các mối nối dây phải được bọc kín, tránh rò rỉ điện ra nền đất , dây điện phải được treo lên các giá 3 chân . -Việc thông gió phải đảm bảo yêu cầu , tránh gây ngạt do thiếu ôxy dưới hố đào. -Chiếu sáng phải đảm bảo người công nhân nhìn rõ mục tiêu mình làm việc , đường giao thông trong hố đào tầng hầm phải được thắp đèn điện sáng , công nhân có thể di chuyển dễ dàng trong lòng tầng hầm , ánh sáng phải đủ , tránh cho công nhân bị ngã , bị trượt trong quá trình lao động . Vệsinhmôitrường: Trong quá trình thi công nhà nhiều tầng có tầng hầm thì vệ sinh môi trường cần được quan tâm đúng mức . Thứ nhất là số lượng máy móc làm việc khá lớn , mức độ gây ồn cũng cao,đặc biệt là máy thi công dưới lòng đất sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến người thi công đào đất vì vậy phải tìm biện pháp giảm tiếng ồn , phải có mũ cách âm cho người lái máy cũng như cho công nhân trực tiếp thi công dưới hố đào . Khi thi công cọc khoan nhồi sẽ gây bẩn , ô nhiễm môi trường do bùn đất , nước thải , bentonite . Phải có qui trình rõ ràng nơi đổ phế thải , chấp hành đúng vệ sinh môi trường . Ậ tô chở đất hay phế thải phải có thùng kín , bịt bạt để tránh nước rò rỉ ra đường phố , và bụi bẩn vào không khí . Việc vận chuyển chất thải như bùn đất , rác rưởi chỉ được thực hiện từ 10 giờ tối đến 5 giờ sáng. 4. Thi công các mối nối trong tầng hầm : Việc thi công các mối nối của hệ kết cấu tầng hầm theo phương pháp thi công từ trên xuống (top-dow ) nó không giống như thi công các mối nối bình thường khác , hơn nữa điều kiện thi công lại khó khăn hơn , đặt ra cho người kĩ sư xây dựng là phải tìm ra giải pháp hợp lí , sao cho mối nối đạt yêu cầu về chất lượng cũng như về mặt chịu lực , tính toàn khối của nó trong hệ kết cấu nói chung , tuy nhiên cấu tạo các mối nối không nên quá phức tạp để tạo điều kiện cho thi công được các mối nối đó. Trong kết cấu tầng hầm ta cần phải giải quyết các mối nối giữa sàn – tường bao , dầm –tường bao và dầm – cột – sàn. 1/ Mối nối giữa dầm sàn với tường bao (tường trong đất ) Như ta đã biết , kết cấu tường bao có thể là cừ thép , cừ bê tông , cọc bê tông khoan nhồi đặt liền nhau hay tường thi công trong đất (tường barette) hoặc tường lắp ghép . §ối với phương pháp thi công từ trên xuống thì tường bao đổ tại chỗ (tường trong đất ) là hợp lí nhất vì tường bao này sẽ tham gia chịu lực của kết cấu công trình , đồng thời là tường ngăn đất , dùng tường này sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hơn cả về mặt giá thành cũng như tính khả thi của nó trong quá trình thi công . Trong khi thi công tường trong đất người ta đã phải chú ý đến việc để các thép chờ trong cốt thép tường cho mối nối với sàn , dầm của tầng hầm . Trong hình (30.a) ta thấy cốt thép chờ cho sàn được neo cẩn thận vào thép của tường bao , phần chờ cho sàn được bẻ sát vào theo chiều dọc của tường hay theo chiều ngang của tường . Khi đào đất đến phần tường này ta bẻ thép chờ thẳng lại đúng vị trí của nó. §ể sàn gối lên tường , người ta dùng xốp hay gỗ đặt sẵn vào cốt thép tường (hình 30.c) kích thước của gối đỡ này phụ thuộc vào chiều dày sàn . Nếu sàn dày 15 cm thì chiều cao của hốc này khoảng 25 cm để sau này dễ điều chỉnh (sai số là ±10cm) . Còn chiều sâu của hốc ta thường lấy bằng 1/3¸1/4 chiều dày tường . Không nên lấy lớn hơn vì sẽ làm giảm yếu tường.§ể tránh giảm yếu nhiều cho tường , người ta để các hốc chờ theo kiểu cách nhật (không liên tục) như trong hình (31) Khi đào đến chiều sâu đặt xốp cho hốc chờ , ta moi miếng xốp đặt sẵn ra , bẻ thẳng cốt thép và làm vệ sinh cho hốc , nếu hốc không phẳng thì phải sửa sang lại cho mặt phẳng của gối phải song song với phương nằm ngang . Phải kiểm tra lại xem hốc đã đủ sâu chưa và đúng cao độ chưa ? nếu sai ta phải sửa , điều chỉnh để sàn tầng hầm được kê đúng cao trình thiết kế . Để đặt hốc chờ cho dầm ta cũng làm tương tự nhưng phải trích chính xác ngaykhi đặt lồng thép để đặt hốc cho đúng vị trí thiết kế . Vì sàn và dầm là toàn khối nên mặt trên của hốc chờ cho dầm có cùng cao độ với hốc chờ cho sàn . Mặt dưới của hốc chờ dầm thấp hơn mặt dưới của hốc chờ sàn .Thấp hơn bao nhiêu phụ thuộc vào chiều cao dầm. Ngoài việc để hốc chờ hoặc thép chờ cho sàn , người ta có thể liên kết sàn với tường bằngcáchsau : Khi thi công tường ta cứ thi công bình thường , không cần để thép chờ hay hốc chờ cho dầm . Khi đào đất đến cao trình của mối nối người ta dùng khoan bê tông khoan vào tường bao và cắm cốt thép sàn vào . Chiều sâu khoan bằng chiều sâu gối sàn , Có bao nhiêu thanh thép thì khoan bấy nhiêu lỗ . §ể dễ đưa thép sàn vào lỗ khoan ta nên khoan lỗ rộng hơn đường kính thanh thép sàn , dùng keo Sika để liên kết thép sàn với tường . Chỉ được dùng thép gai để làm thép sàn (hình32). Với kiểu liên kết trên ta sẽ tránh được sự giảm yếu của tường .Còn đối với dầm ta vẫn để hốc chờ như đã trình bày ở phần trên . Đối với dầm , sàn tầng trệt , việc thi công mối liên kết dầm sàn với tường bao sẽ đơn giản hơn . Khi thi công dầm giằng tường bao ta để sẵn hốc chờ cho dầm , đổ bê tông đến cao độ bụng sàn thì tiến hành đổ bê tông sàn và dầm đồng thời đổ nốt phần bê tông dầm giằng còn lại . 2\ thi công cột tạm cho tầng hầm Cột tạm cho tầng hầm được thi công cùng lúc với cọc khoan nhồi và tường trong đất . Số lượng cọc được tính toán sao cho đủ khả năng chịu tải trọng các sàn tầng hầm và một số sàn tầng nhà theo tiến độ . Số cột tạm này được bố trí trên mặt bằng bước cột , được đánh số thứ tự và ghi rõ kích thước từng cột , vật liệu để làm cột v.v… a.cố định tạm bằng thép hình có ống thép bảo vệ Khi cọc nhồi đã thi công đến cao trình thiết kế thì ta tiến hành đưa cột tạm xuống nếu cột tạm là thép hình (H) . Trên hình 34 trình bày việc lắp đặt cột tạm bằng thép hình . Cột tạm có thể được bảo vệ bằng ống thép ,tránh cột không bị dây bẩn bùn trong quá trình thi công . Cũng có trường hợp người ta không dùng ống thép để bảo vệ cột tạm mà để trần như bình thường . Trước tiên người ta đưa ống thép xuống lỗ khoan của cọc nhồi , ống được đặt vào phần bê tông của cọc khoảng 1m , mục đích là để ống thép không bị xê dịch và ở tư thế thẳng đứng . Sau khi cọc nhồi đạt 25% cường độ ta tiến hành đưa cột thép hình (H) xuống để làm cột tạm , dưới chân cột ta hàn sẵn một bản đế và các tấm đệm , điều chỉnh cột thẳng đứng và đúng tâm , sau đó rót một lớp vữa XM xuống khe đáy cột để chèn chân cột , mục đích để cột truyền đều tải trọng lên toàn bộ tiết diện của cọc nhồi.Phần cốt thép của cọc nhồi phải được đặt suốt dọc chiều dài cọc ( từ mũi cọc lên đến phần bê tông sàn đáy tầng hầm như trên hình vẽ ).Khi đào đất ta đào sâu hơn cao trình đáy sàn đáy tầng hầm từ 0.2đến 0.3m , thay thế bằng một lớp vật liệu dễ thoát nước như , cát thô , sau khi đầm chặt ta mới tiến hành thi công đáy tầng hầm . b/cột tạm bằng thép hình không có ống thép bảo vệ Trường hợp cột tạm bằng thép hình không được bảo vệ bằng ống thép , người ta dùng ni lông chuyên dụng để quấn quanh cột một lớp để chống không cho bùn , đất và nước vấy bẩn và làm han cột .§ể tăng độ cố định của cột (tránh cột bị cuốn ) ta chèn khe hở giữa cột và thành hố khoan bằng vật liệu dễ thoát nước như cát , sỏi cuội v.v… c/cố định tạm bằng ống thép nhồi bê tông Cột tạm được chế tạo bằng ống thép nhồi bê tông là đề nghị của một nhóm kĩ sư -cán bộ giảng dạy Trường §ại học Xây Dựng Hà Nội . Trong thực tế phương án chưa có công trình nào áp dụng .Tuy nhiên đây là phương án nhằm tạo ra cho công trình các cột cố định ngay trong khi thi công cọc khoan nhồi , xử lí thoả đáng các mối nối giữa dầm và cột còn mối nối giữa phần cột trên và cột dưới không cânf phải xử lí nữa . Cột tạm bằng ống thép nhồi bê tông sẽ ngăn cản được sự nở ngang của bê tông và tăng khả năng chịu lực của bản thân bê tông .Tuy vậy khi cột cao , mảnh thì vấn đề ổn định của cột phải được quan tâm hơn , và nếu phần vỏ thép gia chịu lực sẽ dẫn đến khả năng giảm chống nở hông nếu ứng suất cục bộ trong vỏ thép đạt giới hạn chảy. Theo chúng tôi thì đây là một phương án có ý tưởng hay , cần được nghiên cứu thêm để có thể áp dụng trong sản xuất xây dựng . Với những tầng hầm không sâu thì phương án này có thể áp dụng được , còn khi tầng hầm khá sâu thì ta phải giải quyết được vấn đề ổn định của cột , có như vậy mới đảm bảo an toàn cho công trình trong quá trình thi công . Việc thi công cột tạm này cũng được tiến hành trong quá trình thi công cọc khoan nhồi . Việc đưa ống thép xuống vị trí trong lòng cọc khoan nhồi có thể được thực hiện trước khi đổ bê tông tức là sau khi đã đưa cốt thép cọc xuống vị trí thiết kế . ống thép được cắm sâu vào phần cọc ít nhất là 1m , nó phải được kê chung quanh ống để ống nằm đúng tâm ,không bị xê dịch trong khi thi công bê tông cọc . §ầu trên của ống được treo vào giá đỡ đặt trên mặt đất . Việc đổ bê tông cọc vẫn được tiến hành theo qui trình bình thường , chỉ có điều khi công tác bê tông cọc đã hoàn thành ta chờ cho bê tông se mặt sau đó mới đổ bê tông cột , làm như vậy sẽ không bì trào ra khe hở giữa thành hố khoan và ống thép . §ể liên kết cột tạm với dầm sàn tầng hầm , ta có thể để sẵn một số ống nhựa xuyên qua ống thép với mục đích là để luồn cốt thép dầm qua cột . Nếu không dùng giải pháp này thì việc luồn các thép dầm vào cột được thực hiện bằng khoan bê tông . Ta dùng khoan khoan trực tiếp qua cột theo số lượng yêu cầu của cốt thép dầm . d/Cột tạm bằng bê tông cốt thép tiết diện tròn: Để làm cột tạm cho tầng hầm , ta có thể sử dụng một loại cột tròn được thi công cùng lúc với cọc khoan nhồi . Qui trình thi công tương tự như các cột tạm bằng ống thép nhồi bê tông . Việc thi công cốt thép cột được tiến hành cùng lúc với cốt thép cọc . ống thép làm khuôn cho cột có thể được đưa xuống trước khi đổ bê tông cọc nhồi, hoặc có thể được đưa sau khi đã thi công bê tông xong cọc nhồi. Trong lồng cốt thép cột ta để sẵn các chi tiết hoặc các lỗ để sau luồn thép dầm sàn . Sau khi đã làm sạch đáy cột , hút hết vữa sét , rửa sạch bằng nước sạch thì tiến hành đổ bêtông cột qua ống đổ , đầu ống luôn ở trong bêtông để tránh bê tông rơi tự do gây rung động thành ống làm ảnh hưởng đến độ thẳng đứng của cột . ống thép làm copha cột sẽ được rút dần lên theo quá trình đổ bê tông . Nếu tiết diện cột nhỏ hơn tiết diện cọc khoan nhồi thì trước khi đổ bê tông ta phải chèn khe giưã ống thép và thành hố khoan để khi ống thép làm khuôn được rút lên thì bêtông cột sẽ không bị xê ra . Chú ý tính toán thời gian để tránh rút ống sao cho hình dạng cột không bị biến dạng và phải giữ đưa lớp bê tông bảo vệ cốt thép đúng như thiết kế , nếu không cốt thép sẽ bị xâm hại bởi nướcngầm. 3.Thi công mối nối cột -dầm a.Đối với cột tạm bằng thép hình có hoặc không có ống thép bảo vệ : Việc thi công mối nối giữa cột và dầm là giống nhau , với cột có ống thép bảo vệ trước hết là ta phải dỡ bỏ đoạn ống thép ấy đi , việc dỡ bỏ được tiến hành theo từng giai đoạn . Khi thi công sàn tầng hầm thì đoạn ống bảo vệ thép hình trong phạm vi dầm sàn phải được dỡ bỏ để thi công đặt cốt thép dầm và cột . Trên hình 37(a,b) ta thấy khi thi công đặt cốt thép cho dầm sàn ta tiến hành bình thường giống như cho các dầm sàn gối lên cột . Tại vị trí cột ,cốt thép dầm được kéo qua cột , số lượng phải >50% số thép bụng dầm . Với thép cột ta phải để thép chờ cho phần cột trên và phần cột dưới bằng cách khoan thủng ván khuôn đáydầm sau đó đặt thép cột theo thiết kế , chiều dài phần chờ mỗi đầu phải lớn hơn 30d (d=đường kính cột thép ). Thép chờ cho phần cột dưới phải được bọc bảo vệ bằng nilông vì nó nằm trong đất , tránh bị han rỉ do bị xâm nhập nước trong đất nền . Đối với những nút dầm cột không có cột tạm việc thi công ván khuôn và cốt thép cũng tiến hành tương tự song cần chú ý phần ván khuôn đáy dầm phải phủ hết phần cột và cốt thép đáy dầm có thể kéo suốt với tất cả các thanh theo thiết kế b/Mối nối cột – dầm khi cột tạm là ống thép nhồi bê tông : Mối nối giữa dầm sàn và cột tạm bằng ống thép nhồi có thể thi công theo những các sau: Cách 1: Khi thi công đặt ống thép ta đặt sẵn những ống nhựa có đường kính trong lớn hơn đường kính cốt thép dầm , những ống nàyđược đặt xuyên qua cột . Sau khi thi công bêtông cột và đào đất đến cao trình dầm ta dỡ bỏ nút bịt ống (để tránh đất cát chảy vào ống ), sau khi đã đặt copha bụng dầm ta tiến hành đặt cốt thép dầm , cáchthanh bụng được luồn qua ống để sẵn trong cột . Số lượng ống nhựa để sẵn phụ thuộc vào số lượng thanh thép dầm (kể cả những thanh thép đặt cho phần mômen âm ) công việc còn lại tiến hành bình thường cho các dầm trong hệ khung cột – dầm – sàn Cách 2: Ta không cần để sẵn các ống trong cột mà cứ tiến hành thi công bêtông cột bình thường như cho cọc nhồi , khi đào đất đến cao trình dầm ,sau khi đã đặt ván khuôn dầm sàn , ta cho tiến hành khoan lỗ luồn thép dầm qua cột . Trước hết phải dùng khoan thép để khoan qua vỏ thép ống sau đó dùng khoan bêtông để khoan xuyên qua cột . Việc lắp dựng cốt thép cho dầm sàn cũng giống như cách 1 Hình 39 c/ Mối nối cột tạm dầm khi cột tạm bằng bê tông cốt thép tiết diện tròn: Việc thi công cột tạm bằng bêtông cốt thép tiết diện tròn đặt lên trên đầu cọc nhồi đã trình bày ở mục (2.d). Trong khi đặt cốt thép ta cũng tiến hành đặt các chi tiết liên kết với các dầm sàn sau này. §ơn giản hơn cả là ta đặt sẵn các ống trong lồng cốt thép cột các ống này có đường kính lớn hơn đường kính của cốt thép dầm , đồng thời cũng phải kế đến sai số trong thi công cột . Hơn nữa để cốt thép liên kết tốt với cột ta dùng keo Sika chất lượng cao để chèn khe giữa thép và ống . Việc đặt ống nếu gây khó khăn cho việc đổ bêtông thì ta chỉ đặt những ống cho thép bìa dầm , còn thép giữa dầm ta chỉ cần đặt thép mỗi bên 1/3 D cột , khi thi công mối nối ta khoan tiếp phần còn lại. Cũng có thể thi công theo 2 cách của mối nối hàn giữa dầm và cột bằng ống thép nhồi (mục n3.b) , nghĩa là ta không cần để ống cho thép dầm , cứ thi công bình thường sau đó khi đào đất đến cốt dầm ta tiến hành khoan lỗ luồn cốt thép . Cách thi công này có ưu điểm là đặt dầm và cốt thép dầm đúng cao trình thiết kế , song việc khoan bê tông qua cột cũng khá tốn công , rất có thể bị sai lệch khi khoan , gây rung động và tiếng ồn cho người lao động dưới tầng hầm . 4.Thi công cột cố định cho tầng hầm Như ta đã nói sau khi thi công bê tông dầm – sàn tầng trệt , chờ cho bê tông đạt 70 – 75% cường độ ta tiến hành đào đất dưới sàn bê tông ( tầng 1 của tầng hầm ) . Khi đào đến cốt nền yêu cầu của tầng hầm một ta cho thi công bê tông sàn – dầm tầng đó , sau đó 2 ngày ta cho tiến hành thi công cột cố định của tầng hầm . Việc thi công cột cố định có 2 loại , loại cột cố định không có cột tạm (thép hình H) vàloại cột cố định có cột tạm Ụ làm lõi cột .Qui trình thi công cho 2 loại cột này là giống nhau . Trước hết ta phải lắp dựng cốt thép dọc (có lồng đai trước) đặt thép vào vị trí thiết kế theo đúng chủng loại thép , số lượng thanh thép và phải tuân theo đúng yêu cầu cho chỗ nối thép . Việc nối thép có thể là buộc hoặc hàn. Sau đó ta lồng ván khuôn cột vào . Ván khuôn cột được làm thành hộp 3 mặt , lông vào cốt thép , căn chỉnh cho đúng sau đó lắp tiếp mặt thứ tư vào . Chú ý để sao cho tim cột trên phải trùng với tim cột dưới, tránh bị lệch tim dẫn đến giảm khả năng chịu lực của cột. Trên hình 41 trình bày chi tiết cột cố định (không có thép hình làm lõi ). Với cột có thép hình làm cột tạm thì qui trình thi công cũng như nhau, chỉ có khác là khi đổ bê tông cột ta cần phải đầm sao cho bêtông được tràn đầy sang 4 phía nếu không sẽ bị rỗ cột . Phần tiếp giáp giữa cột và dầm khi thi công bê tông sẽ gặp khó khăn vì bị vướng sàn tầng trên , hơn nữa bê tông sẽ co ngót làm cho mối nối cột – dầm không chắc đặc , cột bị tách khỏi dầm . §ể khắc phục điều này người ta đổ bê tông cột cách bụng dầm chừng 20cm , chờ cho bê tông co ngót xong , dùng bê tông trương nở bơm vào . Loại bê tông trương nở sẽ lấp đầy mối nối vì thế mối nối sẽ đặc chắc , đảm bảo đúng yêu cầu thiết kế. Hình .42a mối nối cột – dầm bằng bê tông chương nở 5. Thi công đáy tầng hầm: Đáy tầng hầm cho nhà nhiều tầng có thể sâu tới 20m và hơn thế nữa , vì thế tại đáy tầng hầm thường cóhiện tượng đẩy nổi của nước ngầm theo đường Asimet, đồng thời ở cao trình đáy tầng hầm thường rất ẩm ướt , khó thi công . Vì vậy vấn đề làm khô hố đào ở đây là rất quan trọng , quyết định chất lượng của bê tông đáy tầng hầm . Trước khi thi công bê tông sàn đáy tầng hầm ta phải tiến hành thi công đài móng bao gồm đào đất đến đáy đài , đổ bê tông lót đáy đài , phá đầu cọc , đặt lớp vải chống thấm Voltex sau đó thi công đến phần sàn đáy , ta cũng phải trải một lớp vải chống thấm Voltex , trước đó nền đã được xử lí bằng một lớp bê tông lót hoặc bằng lớp sỏi đá đầm chặt . Việc rải cốt thép đài và sàn được tiến hành cùng lúc . Sau khi đã hoàn thành việc đặt cốt thép ta tiến hành đổ bê tông , trước hết ta đổ đài sau đó đổ sàn . Qui trình đổ bê tông cũng giống như cho các sàn tầng trên . Với những nền đất lầy lội , để xử lí thành nền khô ráo , trước hết ta phải đổ sỏi , đá xuống rải thành một lớp đầm kĩ , tạo thành nền phẳng . Dùng các tấm bê tông đúc sẵn lát đi một lượt , dùng nhựa bitum chèn khe. Với nền bê tông lắp ghép này ta dễ dàng tiến hành thi công đáy tầng hầm . 6. Một số biện pháp rút ngắn thời gian thi công tầng hầm: Với tầng hầm nhà cao tầng có tầng hầm (từ 3 – 4 tầng hầm) thì thời gian thi công là khá dài , để rút ngắn thời gian thi công tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thi công , ta có thể đưa ra một số giải pháp sau : a/ Với tầng hầm có từ 2 tầng trở lên thay vì tiến hành thi công sàn tầng trệt sau khi đã hoàn thành thi công cọc , tường bao , cột tạm ta tiến hành đào đất tầng hầm đến cốt nền tầng hầm 1, việc đào đất này được chia thành một số đoạn với mục đích để thi công liên tục sàn tầng trệt với sàn sàn tầng hầm 1 . Khi đào đất xong phân đoạn 1 của tầng hầm ta tiến hành sang đào đoạn 2 , còn lại đoạn 1 tiến hành thi công sàn tầng hầm 1 . Khi đào đất xong đoạn 2 tiến hành thi công sàn đoạn 2 đồng thời ta cũng tiến hành thi công sàn tầng trệt ở đoạn 1. Việc thi công sàn tầng trệt được sử dụng các tầm sàn bê tông dày 5cm làm copha sàn sau đó đặt cốt thép và đổ bê tông . Các dầm cũng được sử dụng dầm lắp ghép . Vì vậy khi thi công cột tạm ta cần phải cấu tạo các gối đỡ dầm . §ối với cọc tạm bằng ống thép nhồi bêtông hay cột tạm tiết diện tròn bằng bêtông cốt thép đổ tại chỗ tựa lên cọc nhồi thì gối đỡ cho dầm không có gì phức tạp , tuy nhiên với cột tạm bằng thép hình Ụ thì gối đỡ cho dầm cần phải nghiên cứu thêm. Theo giải pháp này , việc đào đất cho tầng hầm một được tiến hành thuận lợi và dễ dàng hơn , thời gian thi công sẽ ngắn hơn . Tất nhiên chỉ với tầng hầm 1 còn từ tầng hầm 2 trở xuống vẫn thi công theo phương pháp Top – Dow .Giải pháp này cần một số cây chống cho sàn , tuy rằng không nhiều. b\một số giải pháp nữa có thể áp dụng để thi công là toàn bộ sàn tầng trệt được thi công bằng các cấu kiện lắp ghép , như vậy thời gian thi công sàn sẽ được rút ngắn nhiều . Sau đó việc đào đất và thi công các tầng hầm vẫn tiến hành tuần tự theo phương pháp “Top – Down”.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc_882luanvanthacsy2011_09_09_10_56_46.doc
Tài liệu liên quan