Thực trạng cải cách hệ thống tài chính tại một số nước và Việt Nam

Các ngân hàng thương mại cần đầu tư vào các công nghệ mới, đặc biệt là về hệ thống phần mềm xử lý thông tin khách hàng, chia sẻ thông tin tạo thành một hệ thống liên ngân hàng. Có như vậy các Ngân hàng sẽ tiết kiệm được thời gian và tránh được các rủi ro, hạn chế được tình trạng thiếu thông tin dễ dẫn đến các tổ chức tội phạm quốc tế lừa đảo và tiến hành các hoạt động rửa tiền. Mặt khác, thông qua việc liên kết thông tin các ngân hàng sẽ tạo thành một hệ thống mạnh có thể trở thành một lợi thế cạnh tranh đối với các ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, bắt buộc các Ngân hàng của Việt Nam phải đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, vì chỉ có như vậy thì các ngân hàng thương mại của Việt Nam mới có thể cạnh tranh được với các Ngân hàng nước ngoài. Thêm vào đó, các Ngân hàng Thương mại cảu Việt Nam cần áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong các lĩnh vực hoạt động để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của cả khách hàng trong và ngoài nước cũng như tạo ra một hệ thống ngân hàng thống nhất và bền vững.

doc35 trang | Chia sẻ: Kuang2 | Ngày: 19/08/2017 | Lượt xem: 135 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Thực trạng cải cách hệ thống tài chính tại một số nước và Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ước với hoạt động của ngân hàng thương mại trước hết là củng cố những nguyên tắc thị trường trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. - Tăng cường gắn bó giữa các ngân hàng với khu vực sản xuất. - Gắn tổ chức hoạt động và cơ cấu mạng ngân hàng với khía cạnh khu vực, giảm sự mất cân bằng của các ngân hàng theo khu vực. - Tăng cường bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư, nhà tài trợ và các cổ đông ngân hàng. Cụ thể đã đưa ra hệ thống bảo hiểm tiền gửi và hoạt động. Hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động của hệ thống ngân hàng theo hướng bình đẳng và minh bạch. Lành mạnh hoá hệ thống tài chính, tái cấu trúc các tổ chức tín dụng gặp khó khăn. Nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng theo hướng mở rộng lĩnh vực kinh doanh. Như vậy, cùng với việc hoàn thiện cơ chế thị trường, hoàn thiện các công cụ tài chính -tiền tệ ngân hàng ở Liên bang Nga là những nhiệm vụ quan trọng đảm bảo thực hiện mục tiêu chiến lược của Nga trong những năm đầu của thế kỷ 21. 4. Cải cách hệ thống tài chính của Hàn Quốc Đối với Hàn Quốc, cải cách hệ thống tài chính tập trung chủ yếu vào tài chính ngân hàng với lý do sau: Các ngân hàng của Hàn Quốc đã phải chịu đựng những tác động nặng nề nhất kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính Châu á nổ ra vào giữa năm 1997. Sự mất giá của đồng nội tệ cùng với mức lãi suất cao trong những năm 1997- 1998 đã làm nhiều công ty không thể trả nổi các món nợ ngân hàng. Điều này đã đẩy hệ thống ngân hàng Hàn Quốc rơi vào tình trạng “hiểm nghèo” và nhiều ngân hàng đã buộc phải tuyên bố mất khả năng thanh toán. Các biện pháp mà Chính phủ Hàn Quốc tiến hành cải cách hệ thống ngân hàng như sau: Thứ nhất, chỉ những tổ chức có thể hoạt động hiệu quả mới được tiếp tục hoạt động và khi cơ cấu lại thì thiệt hại phải được phân bổ một cách minh bạch và hạn chế tối đa cho những người đóng thuế. Thứ hai, việc cơ cấu lại phải củng cố các nguyên tắc tài chính bằng việc chia sẻ thiệt hại trước hết cho các cổ đông, sau đó mới đến các chủ nợ, và có thể cả một số người gửi nhiều tiền. Thứ ba, phải có biện pháp duy trì nguyên tắc tín dụng đối với người vay vốn của ngân hàng và có những biện pháp khuyến khích tăng vốn từ nguồn tư nhân mới. Thứ tư, tốc độ cơ cấu lại phải nhanh để có thể khôi phục được tín dụng, đồng thời duy trì được lòng tin của quần chúng đối với hệ thống ngân hàng. Bên cạnh các biện pháp trên, Chính phủ Hàn Quốc còn dự kiến tư nhân hoá các quĩ đầu tư và sáp nhập các ngân hàng, đồng thời nới lỏng những hạn chế đối với các ngân hàng thương mại gặp khó khăn. Theo cách này, kể từ tháng 3 năm 2000 các ngân hàng Hàn Quốc đang gặp khó khăn do giảm sút tiền gửi sẽ được phép mở rộng hoạt động sang lĩnh vực môi giới. Uỷ bán giám sát tài chính Hàn Quốc cũng tuyên bố nới lỏng những hạn chế đối với việc chuyển đổi, sáp nhập các ngân hàng thương mại thành các công ty môi giới nhằm cho phép các ngân hàng này cung cấp các dịch vụ tài chính hợp nhất. Đồng thời các ngân hàng thương mại Hàn Quốc có thể nhằm tiền gửi tiết kiệm trong thời hạn 5, 6 năm thay vì 3 năm như hiện nay. 5. Kinh nghiệm đối với Việt Nam: Trong hai thập kỷ qua, các nước đang phát triển Châu á đã rất quan tâm đến việc cải cách lĩnh vực tài chính theo hướng tự do hoá và đã đạt được những thành công nhất định. Qua nghiên cứu quá trình cải cách khu vực tài chính của một số nước ta có thể rút ra vài nhận xét sau: Thứ nhất, những nước tương đối thành công hơn thường là những nước có tốc độ cải cách từ từ và đáp ứng nguyên tắc cơ bản của trình tự cải cách kinh tế tối ưu mà Mc.Kinnon đã đưa ra là không thể xoá bỏ kiểm soát vốn trước khi tự do hoá thương mại và tài chính. Đó là trường hợp của Trung Quốc. Thứ hai, sự kém thành công hơn trong cải cách tài chính ở một số nước có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau tạo nên, nhưng tốc độ cải cách quá nhanh (đặc biệt trong việc phi điều tiết hệ thống ngân hàng), cải cách không đồng bộ (ví dụ cải cách quá nhanh trong lĩnh vực tổ chức và quản lý, nhưng lại quá chậm trong lĩnh vực luật pháp, hoặc chưa đáp ứng những tiêu chuẩn quốc tế trong quá trình cải cách như tiêu chuẩn kế toán) Thứ ba, trong điều kiện của các nước đang phát triển - trình độ quản lý yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong phát triển kinh tế thị trường, cải cách với tốc độ từ từ là phù hợp hơn. Trong quá trình cải cách cần phải đảm bảo một số nguyên tắc sau: - Không nên tự do hoá hệ thống ngân hàng trong nước hoặc mở cửa hoàn toàn đối với các dòng vốn vào trong điều kiện một bộ phận của hệ thống không có khả năng trả nợ hoặc trở nên không trả được nợ khi tự do hoá. - Nên tự do hoá các dòng vốn vào dài hạn, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài, trước các dòng vốn vào ngắn hạn. - Cần loại bỏ từng bước những méo mó như nguyên tắc kế toán, kiểm toán và công bố thông tin cân xứng, đảm bảo ngầm của chính phủ để khuyến khích các dòng vốn vào quá nhiều (chính sách tỷ giá, tiền tệ) Qua phân tích trên ta thấy rằng đối với Việt Nam trong thời gian tới có thể cải cách theo các hướng sau: Thứ nhất, Chính phủ và ngân hàng trung ương phải thể hiện vai trò lãnh đạo rõ ràng và nhất quán trong việc cải cách hệ thống ngân hàng. Thứ hai, tái điều chỉnh khu vực tài chính- ngân hàng gắn liền với việc cải cách hệ thống doanh nghiệp để tạo ra một trật tự kinh tế thị trường lành mạnh cho mọi đối tượng thị trường hoạt động. Thứ ba, chương trình cải cách chủ yếu là dùng công quĩ và có thể phát hành trái phiếu nội địa để tái cấp vốn cho hệ thống ngân hàng, mua nợ khó đòi để lành mạnh hoá tài chính của các ngân hàng thương mại nhằm khôi phục khả năng tín dung của nó. Thứ tư, cải cách hệ thống tài chính cần phải được tiến hành từ từ để tránh những cú sốc ngoại sinh. Bên cạnh đó, cải cách hệ thống tài chính một cách đồng bộ là hết sức quan trọng. 6. Quá trình cải cách hệ thống tài chính ở Việt Nam 6.1. Cải cách chính sách tài chính 6.1.1. Chính sách lãi suất Từ khi có Pháp Lệnh Ngân hàng đến nay, Ngân hàng Nhà nước (NHNH) đã không ngừng đổi mới cơ chế điều hành lãi suất nhằm từng bước tiến tới tự do hoá lãi suất. Bắt đầu từ năm 1989, Việt Nam đã thực hiện chính sách lãi suất thực dương tạo cơ hội cho các ngân hàng thu hút được nhiều hơn các nguồn vốn trong dân cư. Tiếp theo đó, chính sách lãi suất đã được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình kinh tế tài chính trong nước và quốc tế. Lãi suất đã được thay đổi từ chỗ khống chế lãi suất cho vay theo ngành sang cơ chế lãi suất trần tín dụng và bỏ dần các mức chênh lệch khống chế nhằm nâng cao tính tự chủ cho các ngân hàng. Năm 1992, NHNN đã thực hiện một bước đổi mới đáng kể về điều hành chính sách lãi suất bằng việc chuyển từ cơ chế lãi suất âm sang cơ chế lãi suất dương. Có thể nói đây là bước khởi đầu, tạo cơ sở cho việc theo đuổi mục tiêu tự do hoá lãi suất và tạo đòn bẩy quan trọng để các ngân hàng thương mại (NHTM) chuyển hoạt động kinh doanh từ thua lỗ sang có lãi. Trên cơ sở lãi suất thực dương, NHNN đã từng bước nới lỏng sự quản lý trực tiếp lãi suất của mình và trao dần quyền tự chủ về quy định lãi suất cho các NHTM. Bước sang năm 1996, NHNN đã tiến hành cải cách đáng kể tiếp theo về điều hành lãi suất thông qua việc tự do hoá lãi suất tiền gửi và thực hiện quy định trần lãi suất cho vay. Việc chỉ khống chế lãi suất cho vay tối đa, không quy định lãi suất tiền gửi được thực hiện nhằm từng bước tiến tới tự do hoá lãi suất mà vẫn đảm bảo sự kiểm soát mặt bằng lãi suất của NHNN, phù hợp với sự phát triển của các công cụ hiện có. Với quy chế này, các NHTM được phép tự do quy định mức lãi suất huy động, tự chủ hơn trong kinh doanh. Song việc quy định trần lãi suất cho vay có một số hạn chế nhất định do lãi suất nhiều khi không phản ánh đúng cung cầu vốn trên thị trường, không gắn liền với mức độ rủi ro của món vay, gây nên sự méo mó trong phân bổ nguồn vốn tín dụng. Từ tháng 8/2000, NHNN đã thực hiện bước đổi mới cơ bản về điều hành lãi suất, thay thế cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay bằng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng đồng tiền Việt Nam, và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ. NHNN công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tính dụng được lựa chọn theo quyết định của thống đốc ngân hàng trong từng thời kỳ. Trên cơ sở lãi suất cơ bản do NHNN công bố, tổ chức tín dụng (TCTD) ấn định lãi suất cho vay đối với khách hàng theo nguyên tắc không vượt quá mức lãi suất cơ bản và biên độ do NHNN quy định trong từng thời kỳ. Ngoài ra, NHNN đã có cơ chế chính thức liên hệ lãi suất đồng USD trong nước và lãi suất đồng USD quốc tế thông qua lãi suất đồng USD trên thị trường tiền tệ Singapore. 6.1.2 Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng cũng có những thay đổi căn bản đáng kể theo hướng tiến dần tới mục tiêu tự do hoá tín dụng thể hiện ở việc xoá bỏ các hạn mức tín dụng. Trước hết cần phải kể đến việc Chính phủ và NHNN đã ban hành các cơ chế tín dụng khá đồng bộ, tạo khuôn khổ hành lang pháp lý ngày càng có tính hệ thống phù hợp với cơ chế thị trường, hạn chế tới mức thấp nhất bao cấp qua tín dụng và cơ chế “xin-cho”, từng bước tách tín dụng theo chính sách ra khỏi hoạt động tín dụng của các NHTM. Các cơ chế tín dụng mới ngày càng được hoàn thiện theo hướng chỉ đưa ra các quy định mang tính nguyên tắc. Theo đó các TCTD chủ động tìm kiếm các dự án khá thi có hiệu quả và có khả năng trả nợ để quyết định cho vay và tự chịu trách nhiệm về việc cho vay. Phạm vi điều chỉnh của cơ chế tín dụng cũng ngày càng mở rộng phù hợp với quy định của luật pháp. Theo quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN1 ngày 25/8/2000 của thống đốc NHNN, quy chế cho vay mới được chỉnh sửa trên nguyên tắc thông thoáng về thủ tục nhưng vẫn đảm bảo an toàn hiệu quả của hoạt đông tín dụng, nâng cao năng lực kinh doanh của các TCTD. Bên cạnh các hình thức cho vay thông thường theo quy chế cho vay, Chính phủ và NHNN đã ban hành một số văn bản quy định về một số hình thức cấp tín dụng khác như cho thuê tài chính, bảo lãnh, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá trị ngắn hạn. Đặc biệt, để tạo môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng có hiệu quả, tháo gỡ các vướng mắc, nâng cao quyền tự chủ và trách nhiệm của các TCTD trong việc quyết định cho vay, tạo lập sự bình đẳng giữa mọi khác hàng và mọi TCTD trong đảm bảo tín dụng, Chính phủ đã ban hành Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các TCTD. Theo đó, vấn đề bảo đảm tiền vay được quy định theo hướng bở sung thêm hình thức tín chấp Thủ tục cấp tín dụng và đảm bảo tiền vay được đổi mới theo hướng đơn giản hoá. Việc đảm bảo tiền vay đối với các khoản tín dụng ưu đãi theo chính sách của Nhà nước được tách ra khỏi tín dụng thương mại. Ngoài ra, các TCTD được tự quyết định việc áp dụng các biện pháp bảo đảm hay không bảo đảm trong cấp tín dụng đối với từng khách hàng, không có sự chỉ định bắt buộc hay miễn trừ áp dụng biện pháp bảo đảm đối với từng loại TCTD và khách hàng của họ từ phía Chính phủ. Cho đến nay, cơ chế bảo đảm tiền vay cũng đã được ban hành khá hệ thống và đồng bộ. Bên cạnh Nghị định 178 nêu trên, Chính phủ, NHNN và các Bộ ngành khác đã ban hành một số các văn bản liên quan dến đảm bảo tiền vay như Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 “Về giao dịch bảo đảm”, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 “Về đăng ký giao dịch đảm bảo”, Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 “Về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất, góp vốn bằng giá trị sử dụng đất” và các Thông tư hướng dẫn các Nghị định nêu trên. 6.1.3 Chính sách tỷ giá a. Về quản lý ngoại hối Trong những năm qua, chính sách quản lý ngoại hối đã từng bước đổi mới theo hướng tăng cường khả năng quản lý, kiểm soát ngoại hối của Nhà nước, thu hẹp dần phạm vi hoạt động của ngoại tệ. Một loạt các chính sách, quy định về quản lý ngoại hối và các hoạt động liên quan đến ngoại hối đã được ban hành và ngày càng hoàn thiện và hỗ trợ thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ, tạo tiền đề thực hiện mục tiêu trên đất Việt Nam chỉ lưu hành đồng Việt Nam, hướng tới mục tiêu đồng Việt Nam trở thành đồng tiền có khả năng chuyển đổi và tự do hoá các giao dịch ngoại hối. Nghị định 63/1998?NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý ngoài hối đã xây dựng khung pháp lý khá toàn diện và hệ thống quản lý ngoại hối, phù hợp với yêu cầu chuyển đối sang kinh tế thị trường và tăng cường hội nhập quốc tế. Nghị định 63 đã đưa ra một số điểm khá cơ bản về quản lý ngoại hối tạo tiền đề cần thiết để tiến tới tụ do hoá các giao dịch ngoại hối như: Đưa ra khái niệm mới về ngoại hối, xác định rõ khái niệm người cư trú và người không cư trú, phân chia các giao dịch liên quan đến ngoại hối thành giao dịch vãng lai, giao dịch vốn và giao dịch liên quan đến ngoại hối của TCTD, chỉ thừa nhận vàng tiêu chuẩn quốc tế làm ngoại hối. b. Về điều hành tỷ giá. Năm 1989 là mốc quan trọng trong việc thay đổi cơ chế, chính sách điều hành tỷ giá hối đoái ở nước ta. Tháng 3/1989, Việt Nam bãi bỏ hệ thống bao cấp của nhà nước qua tỷ giá đối với các hoạt động ngoại thương, xoá bỏ chế độ tỷ giá kết toán nội bộ; đồng thời áp dụng cơ chế tỷ giá mới. Sau khi áp dụng cơ chế quản lý chặt đối với lưu thông ngoại tệ nói chung, tỷ giá hối đoái nói riêng, trên thực tế tỷ giá hối đoái đã được thả nổi và do vậy tỷ giá tăng lên nhanh chóng dẫn tới lạm phát cao đồng nghĩa với VNĐ giảm giá. Trước tình hình đó, NHNN đã áp dụng một loạt các chính sách bổ trợ như ban hành tín phiếu kho bạc, thay đổi mức dự trữ ngoại tệ bắt buộc để ép tỷ giá giảm xuống nên tỷ giá thị trường đã giảm xuống và ổn định trở lại vào năm 1992. Trong những năm qua, Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực trong việc duy trì tỷ giá hối đoái ổn định. Trong những năm 90, tỷ giá đã từng được duy trì khá ổn định, tuy nhiên vẫn là cứng nhắc. Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, một trong những điều kiện tiền đề cần thiết cho tự do hoá tài chính là việc điều hành tỷ giá theo nguyên tắc thị trường. Thời gian vừa qua, NHNN đã không ngừng đổi mới phương pháp điều hành tỷ giá để từng bước tiến tới mục tiêu trên. Từ năm 1994, với sự ra đời của thị trường liên ngân hàng, NHNN đã thực hiện bước đổi mới đáng kể đầu tiên về điều hành tỷ giá theo cơ chế mới thay cho chế độ đa tỷ giá trước đây. Do đó, tỷ giá mua bán trên thị trường chỉ được phép dao động trong biên độ cho phép. Từ 1994-1996, chế độ tỷ giá ở Việt Nam thiên về mục tiêu đảm bảo tính ổn định của tỷ giá danh nghĩa giữa đồng Việt Nam và đồng USD. Năm 1997, việc điều hành tỷ giá ngày càng trở nên linh hoạt, mục tiêu quản lý tỷ giá đã chuyển hướng từ nhấn mạnh tính ổn định sang điều hành linh hoạt trên cơ sở đảm bảo sự ổn định giá trị đồng Việt Nam. Sang năm 1999, NHNN thực hiện một bước đổi mới cơ bản về điều hành tỷ giá từ quản lý có tính chất hành chính theo hướng thị trường có sự quản lý của nhà nước. Kể từ ngày 26/2/1999, NHNN công bố tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Tỷ giá này được áp dụng làm cơ sở để các TCTD được phép kinh doanh ngoại tệ, xác định tỷ giá mua bán ngoại tệ, áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu. Trên cơ sở tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất trước đó do NHNN công bố, các TCTD được quy định tỷ giá giao dịch giữa VND và USD không vượt quá 0,1% so với tỷ giá này. Việc thay đổi cơ chế quản lý điều hành tỷ giá đã tạo quyền chủ động cho các NHTM trong việc tự quy định tỷ giá giữa đồng Việt Nam với các ngoại tệ khác 6.1.4. Kết quả đạt được Với tư cách là công cụ quản lý vĩ mô, là nguồn máu của cơ thể sống, là nguồn lực, bằng chính sách và cơ chế vận hành phù hợp, các chính sách tài chính đã góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế. Qua 10 năm đổi mới và mở cửa, hệ thống tài chính Việt Nam đã được xây dựng và phát triển, làm tốt vai trò của mình với nền kinh tế quốc dân và đã được một số kết quả như sau: Thứ nhất là, chính sách lãi suất đã đem lại một bước đệm quan trọng tiến tới tự do hoá lãi suất, góp phần luân chuyển vốn hợp lý. Lãi suất cơ bản hiện nay được coi là phù hợp với mức độ phát triển của thị trường tiền tệ và khả năng kiểm soát của NHNN. Việc xác định lãi suất cơ bản dựa trên lãi suất cho vay tốt nhất của các ngân hàng thương mại cộng với biên độ đủ rộng cho thấy yếu tố thị trường chứa đựng trong cơ chế lãi suất nà nhiều hơn cơ chế trần lãi suất cho vay trước đây. Như vậy, giá cả của đồng vốn trên thị trường đã gắn nhiều hơn với cung cầu vốn trên thị trường, đến mức độ rủi ro cua món vay. Điều này góp phần thúc đẩy sự luân chuyển vốn hợp lý. Việc quy định lãi suất tái cấp vốn cụ thể phù hợp với thông lệ quốc tế, cung cấp tín hiệu về mục tiêu nới lỏng hay thắt chặt chính sách tiền tệ. Như vậy, trong thời gian qua, cùng với việc chuyển sang cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu (hình thức tái cấp vốn). Bên cạnh đó, lãi suất tái cấp vốn do NHNN công bố cũng không ngừng được hoàn thiện nhằm nâng cao tính hiệu quả của công cụ tái cấp vốn trong điều hành chính sách tiền tệ. Từ tháng 5-1997, NHNN đã thực hiện chuyển từ việc quy định lãi suất tái cấp vốn theo tỷ lệ % trên lãi suất cho vay áp dụng đối với dự án cho vay của tổ chức tin dụng (bắng từ 60%-100% lãi suất ghi trên khế ước cho vay của tổ chức tín dụng) bằng việc quy định mức lãi suất tái cấp vốn cụ thể phù hơpự với thông lệ quốc tế, cung cấp tin hiệu về mục tiêu nới lỏng hay thắt chặt chính sách tiền tệ. Như vậy, trong thời gian qua cùng với việc chuyển sang cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu (hình thức tái cấp vốn được áp dụng khi NHNN tái chiết khấu thương phiếu, các giấy tờ có gấ ngắn hạn của TCTD) do NHNN công bố cũng được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp vớ mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, NHNN từng bước tiến tới mục tiêu tự do hoá lãi suất. Thứ hai là, việc đổi mới chính sách, cơ chế tín dụng phù hợp với các nguyên tắc thị trường và thông lệ quốc tế đã có những kết quả đáng kể. Những bước đổi mới trong lĩnh vực tín dụng đã được thực hiện theo hướng từng bước tiến dần tới mục tiêu tự do hóa tín dụng. Điều này có thể thấy được qua việc xây dựng và hoàn thiện các cơ chế, chính sách tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu chủ yếu là mở rộng tín dụng cho mọi thành phần kinh tế, tạo lập sự bình đẳng giữa các TCTD và các khách hàng, nâng cao tính hiệu quả, chất lượng của tín dụng và đổi mới cơ cấu tín dụng. Trên thực tế, về cơ bản các mục tiêu của chính sách tín dụng đã được thực hiện. Tín dụng đã không những tập trung cho khu vực quốc doanh mà còn mở rộng ra cho các khu vực ngoài quốc doanh. Vào năm 1991, tỷ trọng cho vay doanh nghiệp quốc doanh chiếm tới 90% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống ngân hàng. Cho đến năm 1999, con số này chỉ vào khoảng 48%. Trong khi đó, tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh qua các năm đã tăng dần lên từ con số 10% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của năm 1991 tới 52% vào năm 1999. Bên cạnh đó, cơ cấu tín dụng cũng đổi mơí đáng kể phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế đất nước và chuyển sang kinh tế thị trường. Vào đầu năm 1990, các ngân hàng chỉ tập trung cho vay ngắn hạn, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn chiếm tới 85% đến 90% tổng dư nợ. Nhưng qua các năm, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn ngày càng giảm bớt. Từ năm 1998, tỷ trọng tín dụng ngắn hạn trong tổng dư nợ chỉ còn khoảng 54%. Trong khi đó tỷ trọng cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ từng bước được nâng lên. Đồng thời, trong những năm qua, chất lượng tín dụng được hệ thống ngân hàng từng bước nâng cao. Tỷ lệ nợ quá hạn giảm dần từ 20,2% tổng dư nợ tín dụng vào năm 1991 xuống còn 12,5% vào năm 1999. Có thể khẳng định rằng một trong những bằng chứng rõ nét nhất thể hiện các bước đổi mới trong lĩnh vực tín dụng theo hướng tự do hóa tín dụng là việc tạo lập sự bình đẳng giữa các TCTD và khách hàng. Nếu như tín dụng đã được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế thể hiện sự bình đẳng đối với các khách hàng, thì sự bình đẳng giữa các TCTD được thể hiện thông qua việc NHNN đưa ra các quy định về cơ chế tín dụng và bảo đảm tiền vay áp dụng chung đối với mọi TCTD. Ngoài ra, từ quý II năm 1998, việc NHNN ngừng sử dụng các công cụ hạn mức tín dụng như một công cụ thường xuyên trong điều hành chính sách tiền tệ cũng là một bước tiến đáng kể trong tiến trình tự do hóa tín dụng. Điều này đã góp phần thực hiện việc phân bổ các nguồn vốn một cách hợp lý, tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh cho các TCTD. Ngoài ra, việc ngừng sử dụng hạn mức tín dụng được thực hiện trong quá trình NHNN chuyển dần điều hành chính sách tiền tệ từ điều hành bằng công cụ gián tiếp sang trực tiếp là một bước tiến phù hợp với các nguyên tắc thị trường và tiến trình tự do hóa tín dụng. Thứ ba là việc quản lý ngoại hối đã từng bước được nới lỏng cũng là một bước chuyển quan trọng để phù hợp với nền kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế. Sự can thiệp của NHNN tới thị trường ngoại hối đã từng bước giảm dần theo hướng hạn chế sử dụng các biện pháp hành chính, chủ yếu can thiệp thông qua việc ban hành các chính sách kinh tế. Kết quả có thể thấy rõ qua công tác quản lý ngoại hối trong những năm qua. Trong năm 1998, Chính phủ đã áp dụng một số biện pháp tạm thời có tính chất hành chính về tăng cường công tác quản lý ngoại hối mà đặc biệt là yêu cầu kết hối ngoại tệ đối với người cư trú là tổ chức nhằm giải quyết những ách tắc của thị trường liên ngân hàng, giảm thiểu những tác động của khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực tới nền kinh tế. Cho đến nay, theo quyết định 180/QĐ-TTg ngày 30/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ, tỷ lệ kết hối đã giảm xuống chỉ còn 50%. Đây là một bước tiến quan trọng của quá trình tự do hóa các giao dịch ngoại tệ. Vào năm 2001, các hạn chế khác về ngoại hối như yêu cầu tự cân đối ngoại tệ và thuế chuyển lợi nhuận về nước đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng đã có những bước nới lỏng đáng kể theo Luật đầu tư nước ngoài sửa đổi vào năm 2000. Ngoài ra, hạn chế đối với các giao dịch chuyển tiền cá nhân trước đây cũng đã được chấm dứt do Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định 170/1999/QĐ-TTg ngày 19/9/1999 Về việc khuyế khích người Việt Nam ở nước ngoài chuyển tiền về nước. Theo đó, người thụ hưởng được phép nhận các khoản tiền này bằng ngoại tệ hoặc VND theo yêu cầu, được bán cho các TCTD hoặc bán đổi ngoại tệ, gửi tiết kiệm ngoại tệ. Quyết định 170 đánh dấu một bước tiến mới trong việc nới lỏng chuyển tiền cá nhân, từng bước tự do hóa các giao dịch vãng lai. Bên cạnh đó, cơ chế điều hành tỷ giá mới đã góp phần ổn định tỷ giá, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo vai trò kiểm soát của Nhà nước. Đồng thời, cùng với các biện pháp đẩy mạnh sự phát triển của thị trường ngoại tệ, với cơ chế điều hành tỷ giá mới, tỷ giá VND được hình thành trên cơ sở giao dịch trên thị trường đã phản ánh tương đối khách quan sức mua của đồng Việt Nam so với ngoại tệ 6.1.5. Những vướng mắc cần tháo gỡ Bên cạnh những kết quả tích cực mà sự đổi mới chính sách tài chính Việt Nam đem lại, vẫn tồn tại một số yếu kém nhất định như tỷ lệ huy động vốn thấp, chất lượng tín dụng tại các ngân hàng không cao, các doanh nghiệp tư nhân rất khó tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng ngân hàng, dẫn tới thiếu cơ hội để phát triển. Điều đó được thể hiện cụ thể như sau: Thứ nhất là, mặc dù đã có cơ chế lãi suất dương, tính tự chủ của các ngân hàng đã được nâng cao, lãi suất dần dần được xác định theo cung-cầu thị trường và theo hướng biến động của lãi suất quốc tê, song do nền kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế mở, có quy mô nhỏ nên biện pháp của chúng ta vẫn chưa thực sự hiệu quả và tính bao cấp hành chính vẫn còn tồn tại. Ngoài ra, vẫn còn có sự can thiệp của chính quyền vào việc xác định lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng. Chính sách lãi suất của NHNN vẫn bộc lộ những yếu kém cơ bản, cụ thể như: Mặc dù NHNN đã thực hiện tự do hoá ngoại tệ, chuyển sang cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với đồng nội tệ nhưng vẫn còn quy định biên độ để khống chế lãi suất cho vay nội tệ. Điều này đã làm hạn chế tính chất thị trường hoá lãi suất của đồng nội tệ và dẫn đến những bất cập nhất định. Trước những biến động về lãi suất trên thị trường tài chính thế giới sẽ làm gia tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh đồng nội tệ vì các ngân hàng không có sự chủ động trong việc điều chỉnh lãi suất đồng nội tê. Lãi suất không bao quát đủ rủi ro tiền tệ và gây ra hạn chế tính chủ động trong kinh doanh mà lẽ ra các NHTM phải có để ấn định lãi suất cho vay cho phù hợp với thực trạng tình hình tài chính lẫn uy tín của từng khách hàng. Chưa tạo ra môi trường kinh doanh thực sự theo cơ chế thị trường của hệ thống TCTD trên thị trường tài chính. Hiện tại, vì sự điều phối vốn khả dụng của các NHTM trên thị trường tiền tệ chưa được thực hiện hiệu quả nên lãi suất thị trường liên ngân hàng chưa phản ánh đúng đắn cung cầu vốn khả dụng khiến cho lãi suất thị trường liên ngân hàng chưa thực sự trở thành nguồn cung cấp thông tin hiệu quả phục vụ cho việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Trong bối cảnh đó, công cụ lãi suất cấp vốn tỏ ra rất mờ nhạt trong việc tác động đến sự hình thành lãi suất kinh doanh của các NHTM. Mặc dù NHTM đã chuyển dần từ cơ chế tái cấp vốn dưới hình thức cho vay chỉ định, thế chấp chứng từ hồ sơ tín dụng sang cơ chế cho vay chiết khấu, cầm cố tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN và các chứng từ có giá khác. Thứ hai là, mặc dù hoạt động tín dụng đã có nhiều cải thiện, song xét trên phương diện vĩ mô, hoạt động tín dụng có tính thụ động, chưa chú trọng vấn đề phát triển thị trường, định hướng nền kinh tế. Hoạt động tín dụng vẫn còn mang tính bao cấp: Các doanh nghiệp nhà nước được hưởng nhiều ưu đãi trong vay vốn hơn so với các doanh nghiệp tư nhân. Bên cạnh đó, còn có nhiều hình thức tín dụng ưu đãi trong nền kinh tế. Thứ ba là, mặc dù chính sách điều hành tỷ giá trong thời gian vừa qua đã đạt được những thành tựu nhất định, được các tổ chức quốc tế đánh giá cao song vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định cần phải khắc phục. Một là, việc tỷ giá được quyết định theo thị trường với hoàn cảnh như nền kinh tế Việt Nam trước khủng hoảng tài chính khu vực đã tạo ra những cơn sốc định kỳ cuối quý hoặc cuối năm; lạm phát thường tăng vọt bất thình lình, hiện tượng đôla hoá trong hệ thốn lưu thông, thanh toán ngày càng tăng nhanh; sự mất cân đối giữa các vùng, các lĩnh vực; sự quản lý lỏng lẻo đã dẫn đến hàng loạt vụ đổ bể tín dụng vào năm 1991 và đầu năm 1992; nguồn thu ngoại tệ không được quản lý chặt chẽ, bị buông lỏng làm cho dự trữ ngoại tệ tăng chậm trong ba năm 1989-1991, mức dự trữ ngoại tệ tương ứng là 24 triệu USD, 24 triệu USD và 25 triệu USD; và một vấn đề nổi cộm khác là vấn đề nợ nước ngoài và công tác quản lý nợ, một cái giá phải trả cho việc thả nổi tỷ giá là gánh nặng nợ nước ngoài khi tính bằng đồng Việt Nam trong ngân sách nhà nước đã tăng mạnh. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, dưới chế độ tỷ giá trung bình thị trường, tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam đã có những bước phát triển đáng được ghi nhận. 6.2. Cải cách hệ thống Ngân hàng 6.2.1. Tính tất yếu phải cải cách hệ thống Ngân hàng a. Thực trạng của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Các ngân hàng thương mại của Việt Nam quá nhỏ bé về vốn. Riêng ngân hàng TMQD lớn nhất của Việt Nam là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vốn pháp định cao nhất chỉ là 5000 tỷ VND, Ngân hàng Công thương Việt Nam là 2500 tỷ VND. Đây là một bất cập rất lớn vì với vốn tự có hiện nay các ngân hàng thương mại Việt Nam chỉ có tỷ lệ từ 2,5% đến 4% so với tổng tài sản trong khi thông lệ quốc tế đòi hỏi tỷ lệ này ít nhất phải không dưới 8%. Rõ ràng là nội lực sơ khai của các Ngân hàng thương mại Việt Nam không đủ sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế. - Trình độ công nghệ và kinh nghiệm quản trị của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn ở mức lạc hậu so với khu vực và thế giới. Các dịch vụ của các Ngân hàng Việt Nam chỉ mới chiếm 1/20 tổng số dịch vụ của ngân hàng hiện đại trên thế giới. - Tình trạng nợ xấu (bad debt) trong đó có thể bao gồm cả nợ quá hạn không thu hồi được đang là gánh nặng đối với các Ngân hàng thương mại và làm cho hệ thống Ngân hàng thương mại đi tới tình trạng nguy hiểm. Mặt khác, việc xếp loại nợ quá hạn khó đòi của ta hiện nay chủ yếu là dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn mà chưa tính đến các tiêu chí khác như nợ đang còn trong diện nợ trong hạn hoặc quá hạn thông thường nhưng thực tế doanh nghiệp đã bị thua lỗ nặng, khả năng trả nợ rất thấp; như vậy nếu phân loại nợ xấu theo tiêu chuẩn quốc tế thì thực trạng nợ xấu trong hệ thống NHTMNN sẽ còn cao hơn (chiếm 25% tổng dư nợ hiện hành). - Các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác ở Việt Nam vẫn đang phải chịu một sức ép của việc cho vay chỉ định ở một mức độ nhất định. Quyền chủ động của họ tuy đã được mở ra nhưng mới chỉ là hình thức mà chưa đi vào thực chất. - Nhu cầu về bổ sung vốn của các NHTMNN trong giai đoạn 2005 – 2010. Bảng 1: Dự báo mức độ thiếu vốn và nhu cầu bổ sung vốn của các NHTMNN, giai đoạn 2005 - 2010 Năm Chỉ tiêu 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng tài sản có (tỷ VND) 734.867 918.583 1.148.230 1.435.287 1.794.109 2.242.636 Tốc độ tăng trưởng Tài sản có 25% 25% 25% 25% 25% 25% Tổng tài sản có điều chỉnh theo rủi ro (tỷ VND) 587.893 734.867 918.583 1.148.230 1.435.287 1.794.109 Vốn tự có (VĐL+ Quỹ BSVĐL) (tỷ VND) 19.121 20.268 21.484 22.773 24.140 25.588 Tỷ lệ tăng vốn tự có theo nguồn tích luỹ nội bộ 6% 6% 6% 6% 6% 6% Tỷ lệ vốn tự có/tài sản điều chỉnh theo rủi ro 3,3% 2,8% 2,3% 2,0% 1,7% 1,4% Tổng số vốn tự có tối thiểu theo thông lệ quốc tế (tỷ VND) 47.032 58.789 73.487 91.858 114.823 143.529 Tổng số vốn tự có bị thiếu (tỷ VND) 27.910 38.521 52.002 69.084 90.683 117.940 Như đã phân tích ở trên, các NHTMNN đang thiếu vốn trầm trọng. Để đáp ứng các thông lệ quốc tế về mức độ đủ vốn, hiện nay các NHTMNN cần bổ sung thêm 27 nghìn tỷ đồng, và đến năm 2010, mức vốn cần bổ sung vào khoảng 117 nghìn tỷ đồng. Đây là nguồn vốn nằm ngoài khả năng của ngân sách nhà nước, vì vậy huy động vốn từ công chúng đầu tư thông qua phát hành cổ phiếu là phương thức khả thi nhất trong giai đoạn hiện nay. Nó không những giúp giảm bớt áp lực đối với ngân sách nhà nước mà còn giúp các NHTMNN nâng cao năng lực tài chính thông qua tăng vốn điều lệ, đồng thời tạo điều kiện để các ngân hàng này phát hành các công cụ nợ dài hạn và công cụ phái sinh khác, góp phần đa dạng hoá nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. b. Mục tiêu cơ cấu lại các NHTMNN: - Xây dựng hệ thống NHTMNN thực sự trở thành lực lượng chủ đạo trong lĩnh vực ngân hàng, đảm bảo hoạt động lành mạnh, an toàn và hiệu quả. - Tạo ra các NHTMNN hoặc các tập đoàn tài chính có qui mô lớn, hoạt động đa năng, hiện đại, có sức cạnh tranh cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh của các NHTMNN trên thị trường trong và ngoài nước. 6.2.2. Nội dung cải cách: a. Xử lý nợ tồn đọng Xử lý nợ tồn đọng lành mạnh hoá tài chính của NHTMNN là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu trong chương trình tái cơ cấu hệ thống NHTMNN, bởi: - Nợ tồn đọng lớn chứa đựng nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng sẽ dẫn đến khủng hoảng tài chính tiền tệ. - Nợ tồn đọng tạo ra gánh nặng chi phí cho NHTMNN, suy giảm khả năng huy động vốn và cho vay đối với nền kinh tế, làm giảm lòng tin của dân chúng và uy tín quốc tế đối với hệ thống ngân hàng. b. Tăng vốn tự có của các NHTMNN Song song với việc giải quyết nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính của NHTMNN là việc tăng cường khả năng về vốn tự có để từng bước phù hợp với chuẩn mực quốc tế và khu vực. Tăng vốn tự có cho các NHTM là vấn đề bức bách đối với NHTMNN bởi lẽ: - Tăng vốn tự có là nhân tố quyết định để có thể tăng cường huy động vốn mở rộng đầu tư phục vụ phát triển kinh tế, vừa thực hiện tỷ lệ an toàn tối thiểu theo chuẩn mực quốc tế . - Theo quy định cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có. Với mức vốn tự có hiện nay, các NHTMNN không đủ sức tài trợ cho những dự án lớn như dầu khí, điện lực, hàng không, bưu chính viễn thông... làm giảm khả năng cạnh tranh của các NHTMNN. Theo tính toán để đảm bảo tỷ lệ an toàn tối thiểu hiện nay theo chuẩn mực quốc tế là 8% (tỷ lệ vốn tự có/tổng tài sản có) thì số lượng vốn cấp bổ sung cần được xử lý là 10.000 tỷ đồng và ước tính để bảo đảm mức tăng dư nợ bình quân ở mức 18%/năm c. Nâng cao năng lực quản lý của các nhà quản trị ngân hàng. Trong một môi trường cạnh tranh như nhau, sự thành công hay thất bại của một ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực quản trị của ngân hàng đó. Thực tế Việt Nam đã cho thấy rằng, trong điều kiện hoạt động không thuận lợi hiện nay nhưng các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài vẫn hoạt động tốt. Điều đó chứng tỏ rằng năng lực nội tại của ngân hàng là yếu tố quyết định trong kinh doanh. Vì vậy, điểm xuất phát để cải tổ hệ thống ngân hàng là phải đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị của các ngân hàng và việc gia tăng các yếu tố vật chất chỉ được thực hiện trên cơ sở chất lượng quản trị d. Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và đa dạng hoá các dịch vụ Các Ngân hàng Thương mại Việt Nam đang sử dụng các công nghệ còn lạc hậu so với các Ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Mặt khác, các dịch vụ cho vay và nhận tiền gửi còn nghèo nàn. Điều này sẽ là một bất lợi lớn của các Ngân hàng thương mại Việt Nam khi nền kinh tế chúng ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới, sự gia nhập thị trường của hàng loạt các Ngân hàng lớn với số vốn lớn, công nghệ hiện đại, chất lượng dịch vụ tốt, đa dạng các loại hình dịch vụ. Muốn đứng vững và cạnh tranh được với các ngân hàng nước ngoài bắt buộc các Ngân hàng thương mại của Việt Nam phải nhanh chóng cải tiến công nghệ, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng. Có như vậy thì các ngân hàng này mới có thể dứng vững trước sự cạnh tranh quyết liệt của các Ngân hàng nước ngoài trong thời gian tới. 6.2.3. Tình hình thực hiện công cuộc cải cách hệ thống ngân hàng thời gian qua. Chương trình cơ cấu lại NHTMNN những năm qua đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể: 60% nợ tồn đọng đã được xử lý. Một số NH (Ngoại thương, Đầu tư) về cơ bản đã xử lý xong nợ quá hạn trên bảng cân đối. Nhưng những khoản nợ cho vay theo chỉ định (tập trung chủ yếu vào các chương trình mía đường, đánh bắt xa bờ, xi măng lò đứng...) vẫn đang còn là gánh nặng với 1.836 tỉ đồng. Số nợ tồn đọng theo đề án còn lại chưa xử lý đúng thời gian dự kiến cũng là một gánh nặng lớn... Vốn tự có của các NHTMNN 2 năm gần đây dù đã được cấp thêm 11 nghìn tỉ đồng nhưng cũng mới chỉ đạt được hệ số an toàn cao nhất là 5,43% (NH Nông nghiệp). Theo ông Lê Xuân Nghĩa - Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển NH (NHNN), thay đổi cách tính nợ của hệ thống NH là rất cần thiết vì cách tính nợ như hiện nay mới chỉ cho thấy nợ quá hạn (theo thời gian) mà không thấy rõ thực chất nợ xấu, trong khi tình trạng nợ xấu trong các NHTMNN hiện rất trầm trọng. Cùng với quan điểm này, ông Vũ Quốc Sáu - Chủ tịch Hội đồng quản trị NH Đầu tư và Phát triển VN - trong một bài viết mới đây đăng tại tạp chí của NH này cho biết: "Nếu tính nợ theo tiêu chuẩn quốc tế, IMF cho rằng nợ quá hạn thực tế của các NHVN dao động ở mức 40% tổng dư nợ, gấp 8 lần mức cho phép... Trong đó, 58% nợ quá hạn không có khả năng thu hồi...". Vì thế, thực hiện cách quản lý mới, các NH buộc phải trích dự phòng rủi ro lớn hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến nộp ngân sách và tiền lương. Đây sẽ là vấn đề khó khăn nhất vì thu nhập của người lao động trong các NH sẽ bị giảm sút... Một công ty kiểm toán quốc tế đã tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên 962 tài khoản cho vay của một NHTM nhà nước (NN) với tổng dư nợ trên 16 nghìn tỉ đồng (chiếm 38% tổng dư nợ cho vay của NH này), kết quả cho thấy tỉ lệ nợ xấu chiếm tới 46%. Trong đó, nợ hiện hành chỉ có 17%, còn lại là nợ chú ý đặc biệt, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ khó đòi, nợ mất vốn...  Việc tái cơ cấu NHTM đã được Chính phủ thành lập hẳn một ban chỉ đạo do Phó Thủ tướng là trưởng ban, phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước là phó ban và các ủy viên là thứ trưởng của 6 bộ, ngành liên quan. Thế nhưng, theo tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển ngân hàng, cho đến nay chỉ mới xử lý được 60% nợ xấu. Mặc dù đã đưa được nợ xấu từ 14% năm 2000 xuống còn 5% thời điểm hiện nay, nhưng đây vẫn là một tỉ lệ rất lớn so tiêu chuẩn quốc tế, đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam vào cổng thách thức. Ông Đặng Văn Thảo, Phó Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển ngân hàng, cho biết đến 30/9/2004, ngoại trừ Ngân hàng Ngoại thương đã cơ bản xử lý được nợ tồn đọng, còn lại Ngân hàng NN-PTNT chỉ mới xử lý được 80%, Ngân hàng Đầu tư xử lý được 78%, Ngân hàng Công thương vẫn chưa đạt tiến độ đề ra do nợ tồn đọng quá lớn phát sinh từ những vụ án. Việc tăng vốn tự có trong giai đoạn tái cơ cấu, theo TS Nghĩa, cho đến nay đã có 4 lần tăng vốn nhưng vẫn chưa thực hiện xong. Dù tỉ lệ tăng vốn tự có hiện tăng lên 4%-5% so thời điểm trước năm 2001, nhưng xem ra vẫn chưa thấm tháp gì nếu so với tốc độ tăng trưởng tính bình quân 20%/năm. Tính thời điểm hiện nay, vốn tự có của các NHTM đạt 15.000 tỉ đồng, gấp 2,2 lần so với hồi cuối năm 2001, nhưng vẫn chưa đạt tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu theo tiêu chuẩn quốc tế. Cơ cấu lại mô hình hoạt động của hệ thống NHTM được thực hiện bằng 9 môđun: Quản lý rủi ro, quản lý vốn, quản lý tín dụng, giám sát hoạt động, xây dựng chiến lược kinh doanh mới, xây dựng hệ thống thông tin, chuyển sang hệ thống kế toán quốc tế, phát triển dịch vụ mới và quản lý nguồn nhân lực. Nhưng đến nay, 9 môđun này các NHTM vẫn chưa thực hiện một cách bài bản. Ngay như dự án do Chính phủ Hà Lan tài trợ 3 triệu euro cho hệ thống VCB thực hiện 9 môđun này, nhưng 3 năm trôi qua VCB chỉ tương đối hoàn thành 4/9 môđun. Theo TS Lê Xuân Nghĩa, điều rất dễ nhìn nhận việc tái cơ cấu NHTM giậm chân tại chỗ là do: Thiếu sự rõ ràng về vai trò, trách nhiệm của chủ sở hữu, ban giám đốc, hội đồng quản trị và chức năng các bộ phận trong ngân hàng; thiếu một nền tảng văn hóa doanh nghiệp; thiếu sự minh bạch, chưa tách hoạt động cho vay chính sách ra khỏi hoạt động của NHTM; quản trị tổ chức kinh doanh yếu... Và như vậy, kế hoạch của Chính phủ đề ra là sẽ hoàn thành tái cơ cấu NHTM vào năm 2006 xem ra bất thành. Một vấn đề được các chuyên gia ngân hàng đặt ra: Trung Quốc từng dùng biện pháp táo bạo là dùng vốn dự trữ ngoại tệ để tăng vốn tự có cho các NHTM. Vậy liệu Việt Nam có làm được điều này không? TS Nghĩa cho rằng Việt Nam không thể làm được. Thứ nhất, hiện nay chúng ta có một quan niệm không thật rõ ràng về hệ thống tài chính nói chung và NHTM nói riêng. Đơn cử như bỏ vài trăm triệu xây dựng một nhà máy thì dễ, nhưng bỏ vài trăm triệu để tăng vốn cho ngân hàng thì quả là chuyện lớn. Thứ hai, Việt Nam chúng ta cũng không có đủ tiền để tăng vốn hay xử lý nợ. Cách duy nhất để tái cơ cấu NHTM được thành công không còn con đường nào khác hơn là cổ phần hóa. Bởi chỉ có dựa vào kinh tế thị trường thông qua việc cổ phần hóa thì NHTM mới dễ dàng tăng vốn cũng như nâng cao năng lực quản lý nhờ cổ đông chiến lược từ bên ngoài. Thời điểm 31/12/2000, nợ tồn đọng của Vietcombank là 4.562 tỉ đồng. Đến nay, 96% tổng số nợ đó được xử lý từ nguồn vốn ngân sách và nguồn trích lập dự phòng rủi ro 188 tỉ đồng nợ tồn đọng còn lại dự kiến sẽ được xử lý ngay trong năm 2005. Vietcombank đạt hệ số an toàn vốn là 4,7% trong khi hệ số này theo chuẩn quốc tế tối thiểu là 8%. Phần III Một số kiến nghị về cải cách hệ thống tài chính ở Việt Nam I. Các giải pháp về cải cách các chính sách tài chính 1. Hoàn thiện chính sách tỷ giá Để thực hiện một chính sách tỷ giá hối đoái thực sự hoạt động có hiệu quả và phát huy tác dụng của mình thì vấn đề đầu tiên là việc lựa chọn một chế độ tỷ giá phù hợp, đồng thời là việc xác định tỷ giá hợp lý; tiếp đó là các chính sách điều hành, điều chỉnh tỷ giá phải phù hợp với mục đích đặt ra Thứ nhất, về lựa chọn và áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái Chính sách tỷ giá Việt Nam hịên nay cần theo các định hướng sau: - Về chiến lược dài hạn, phải áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi - Về chiến lược ngắn hạn và trung hạn cần áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết của nhà nước Trên thực tế hiện nay có 2 chế độ phổ biến được IMF khuyến nghị có thể áp dụng cho các nước đang phát triển, đó là chế đọ tỷ giá “ biên độ- rổ tiền tệ- trượt”(Band-Basket-Crawl:BBC) và chế độ tỷ giá bình quân thị trường( Market Average Exchange Rate reglme: MAERR) + Chế độ tỷ giá “biên độ- rổ tiền tệ- trượt”, có 3 điểm nổi bật sau:Tỷ giá ngang giá được phép thay đổi theo thời gian, tỷ giá ngang giá được hình thành theo một rổ tiền tệ, bao gồm các đồng tiền chủ chốt khác nhau mà không phải là một đồng tiền duy nhất, Biên độ dao động xung quanh tỷ giá ngang giá đủ rộng cho tỷ giá trên thị trường có thể dao động. + Chế độ tỷ giá trung bình thị trường: Chế độ này dường như linh hoạt hơn hệ thống BBC với nghĩa là NHTW từ bỏ khả năng xác định tỷ giá mang tính chuyên quyền, nó cho phép lực lượng thị trường giữ vai trò quan trọng trong việc xác địng tỷ giá, tạo cho thị trường hoạt động có hiệu quả hơn. Nhiều nhà kinh tế cho rằng BBC là chế độ phù hợp hơn với tư cách là chế độ trung gian cho Việt nam hiện nay. BBC dường như thích hợp hơn trong các giai đọan trung gian tiến tới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi Thứ hai, về xác định và điều chỉnh tỷ giá hối đoái + Về nguyên tắc khi áp dụng chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi thì mức giá được hình thành dưới các tác động của các yếu tố thị trường. Tuy nhiên đối với Việt Nam hiện nay khi chúng ta lựa chọn chê độ tỷ giá thả nổi có sự quản lý thì việc can thiệp vào thị trường bằng các biện pháp kinh tế và hành chính nhằm xác lập tỷ giá phù hợp, thúc đẩy xuất khẩu và thu hút ĐTNN là cần thiết và quan trọng. + Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, việc tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư trong và ngoài nước, mở rộng việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát lạm phát đề duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu được ưu tiên hàng đầu. Việc thực hiện những mục tiêu này đều có liên quan chặt chẽ đến chính sách tỷ giá hối đoái. + Trước mắt điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa ngang bằng tỷ giá hối đoái thực. Song để tránh gây sốc cho thị trường, loại trừ hoạt động đầu cơ, việc điều chỉnh phải được chuẩn bị chu đáo kỹ lưỡng và có những bước đi cẩn trọng, việc điều chỉnh cần được tiến hành theo một lộ trình có hoạch định trước. 2. Giải pháp cho chính sách lãi suất + Trong bối cảnh lãi suất đồng ngoại tệ đã được tự do hóa, thì đòi hỏi NHNN phải có những bước đi thích hợp để tiến tới tự do hóa lãi suất đồng nội tệ. Đó là cần tập trung phát triển thị trường tiền tệ: Hình thành và xây dựng cấu trúc các loại lãi suất chủ yếu trên thị trường tiền tệ như: lãi suất tái cấp vốn của NHNN; lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước và tín phiếu NHNN; lãi suất cho vay liên ngân hàng. Một khi các loại lãi suất này phát huy vai trò tích cực trong việc điều tiết lãi suất thị trường thì NHNN có thể loại bỏ cơ chế công bố lãi suất cơ bản để thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất. + Do thị trường tiền tệ đang trong quá trình hoàn thiện cho nên bước đi thích hợp cho tiến trình tự do hóa lãi suất đồng nội tệ hiện nay là nên thực hiện đối với lãi suất cho vay ngắn hạn, và NHNN vẫn phải duy trì cơ chế quản lý lãi suất cơ bản và biên độ giao dịch đối với lãi suất cho vay dài hạn. + Thời gian tới khi nền kinh tế có sự hội nhập hoàn toàn vào khu vực về kinh tế và tiếp đến là tài chính thì NHNN có thể thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất hoàn toàn, xóa bỏ chính sách lãi suất cơ bản và quản lý biên độ đối với lãi suất cho vay dài hạn đồng nội tệ. Đồng thời, NHNN sẽ tăng cường sử dụng công cụ lãi suất tái cấp vốn và kết hợp với lãi suất thị trường mở để can thiệp và điều chỉnh lãi suất thị trường. 3. Giải pháp cho chính sách tín dụng + Vốn tín dụng nhà nước phải tập trung cho vay các chương trình, các dự án , mục tiêu theo định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ưu tiên vào một số ngành mũi nhọn, các vùng trọng điểm, các dự án đầu tư có khả năng tạo ra tăng trưởng kinh tế cao.Nândg cao khả nằn hỗ trợ của tín dụng nhà nước và trách nhiệm ncủa các đơn vị sử dụng vốn vay thông qua xác định mức vốn vay và lãi suất cho vay hợp lý; đặc biệt những dự án thuộc các ngành nghề, vùng miền cần khuyến khích nên được ưu tiên ở mức thấop hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn của các ngân hàng thương mại. + Giảm số lượng các chương trình tín dụng chỉ định, giảm tỷ lệ tín dụng phải chịu tác động của việc chỉ định và giảm mức độ trợ cấp lãi suất. + Mở rộng qui mô và tăng nhịp độ phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình để huy động vốn phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đổi mới phương thức và cơ chế hoạt động của Quỹ hỗ trợ và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho Quỹ chủ động huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển. Mở rộng quyền phát hành trái phiếu đầu tư cho các địa phương thông qua các quỹ đầu tư phát triển ở địa phương để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trên địa bàn. II. một số Giải pháp về cải cách hệ thống ngân hàng: 1. Xử lý nợ tồn đọng 1.1 Thành lập công ty mua bán nợ tách ra khỏi các ngân hàng thương mại. Hiện nay các cả 4 ngân hàng thương mại quốc doanh đều đã thành lập công ty khai thác tài sản thế chấp và đưa vào hoạt động. Mặt khác, các ngân hàng thương mại quốc doanh cũng đã trích lập và xử lý dự phòng rủi ro. Tuy nhiên theo chúng tôi biện pháp này là không triệt để bởi những công ty và nguồn vốn hoạt động của các công ty này thực chất vẫn lấy từ các ngân hàng. Do đó để xử lý những khoản nợ này Nhà nước nên thành lập ra một công ty mua bán nợ độc lập với các ngân hàng thương mại này. 1.2 Tách bạch hoạt động cho vay chính sách với cho vay thương mại. Một trong những nguyên nhân sâu xa của những khoản nợ tồn đọng chính là việc chưa có sự tách biệt giữa cho vay chính sách với cho vay thương mại trong hoạt động của các ngân hàng. Trước đây Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ngoài hoạt động cho vay thương mại thường kiêm nhiệm luôn hoạt động cho vay chính sách theo các chương trình của Chính phủ. Những đối tượng này thường là không có khả năng trả nợ. Một tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với các ngân hàng TMQD khác, ngoài hoạt động cho vay trên thị trường thuần tuý họ thường phải tham gia vào các chương trình, dự án đầu tư của Chính phủ như các hoạt động đồng tài trợ cho vay những dự án mà Chính phủ quan tâm, trong đó có không ít những dự án có tính rủi ro cao. Điều này đã làm cho tình trạng nợ xấu, nợ tồn đọng của các ngân hàng thương mại thêm trầm trọng. Hiện nay, tuy chúng ta đã có sự tách biệt bằng việc thành lập Ngân hàng Chính sách, Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu long song đây mới chỉ là bước đầu và trong những vực nhất định. Vì thế trong tương lai Chính phủ cần phải để cho hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh hoạt động theo hướng thị trường hơn, can thiệp ít hơn vào hoạt động của các ngân hàng này. 2. Giải pháp tăng vốn cho các Ngân hàng thương mại 2.1 Cổ phần hoá từng bước các ngân hàng thương mại Cổ phần hóa là một quá trình tất yếu khi tiến hành cải cách hệ thống ngân hàng, do đó cần phải nhìn nhận cụ thể về vấn đề này. Không nên coi việc cổ phần hóa NHTMNN đơn thuần như một “chiến dịch ” phát hành chứng khoán để gọi thêm vốn thay cho phần cấp thêm vốn của nhà nước, mà phải được coi như là một cuộc cách mạng thực sựVừa tăng quy mô vốn, vừa cơ cấu lại hoạt động quản trị kinh doanh nhờ bổ sung những nhân tố quản lý và nhân tố công nghệ mới. Theo đó, cần áp dụng ngay các thông lệ quốc tế trong việc phát hành đồng thời cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ thông, hoặc trước tiên phải phát hành cổ phiếu phổ thông trên thị rường chứng khoán. Việc ưu tiên quyền mua cổ phiếu cho cán bộ, nhân viên của NHTMNN khi cổ phần hóa cần có quy chế riêng (ví dụ quy định số lượng được mua theo thâm niên công tác tại Ngân hàng, tỷ lệ giảm giá so với giá thị trường, quyền được hoán đổi giữa hai loại cổ phiếu và việc định đoạt nó.v.v) sau khi tôn trọng mọi nguyên tắc đấu giá cổ phiếu trên thị trường. Cần tính toán một tỷ lệ hợp lý ngay từ đầu cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phiếu trên thị trường. Tính hợp lý tốt nhất cho tỷ lệ này là đủ để bổ sung nhân tố quản trị và công nghệ mới trong Ngân hàng nhưng không vượt mức tỷ lệ khống chế chung cho nhóm nhân tố này. Đối với các nhà đầu tư trong nước cũng không nên phân biệt thể nhân hay pháp nhân, miễn là đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý và nằm trong tổng tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu ở mức độ chi phối nào đó theo quy định của hội đồng CPH. 2.2 Phát hành trái phiếu Chính phủ Đây là một biện pháp quan trọng để tăng thêm vốn cho các ngân hàng mà vẫn đảm bảo quyền sở hữu của Chính phủ trong các Ngân hàng thương mại quốc doanh. 3. Giải pháp nâng cao năng lực quản lý Xây dựng kế hoạch đào tạo và đào tạo lại cán bộ, tập trung trước hết vào các lĩnh vực chính yếu của tái cơ cấu như : nghiệp vụ quản lý chiến lược, quản lý rủi ro, kế toán, kiểm toán, quản lý tín dụng và dịch vụ mới. 4. Giải pháp hiện đại hoá công nghệ ngân hàng và đa dạng hoá các dịch vụ Các ngân hàng thương mại cần đầu tư vào các công nghệ mới, đặc biệt là về hệ thống phần mềm xử lý thông tin khách hàng, chia sẻ thông tin tạo thành một hệ thống liên ngân hàng. Có như vậy các Ngân hàng sẽ tiết kiệm được thời gian và tránh được các rủi ro, hạn chế được tình trạng thiếu thông tin dễ dẫn đến các tổ chức tội phạm quốc tế lừa đảo và tiến hành các hoạt động rửa tiền. Mặt khác, thông qua việc liên kết thông tin các ngân hàng sẽ tạo thành một hệ thống mạnh có thể trở thành một lợi thế cạnh tranh đối với các ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, bắt buộc các Ngân hàng của Việt Nam phải đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, vì chỉ có như vậy thì các ngân hàng thương mại của Việt Nam mới có thể cạnh tranh được với các Ngân hàng nước ngoài. Thêm vào đó, các Ngân hàng Thương mại cảu Việt Nam cần áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong các lĩnh vực hoạt động để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của cả khách hàng trong và ngoài nước cũng như tạo ra một hệ thống ngân hàng thống nhất và bền vững. mục lục

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docV0581.doc
Tài liệu liên quan