Thực trạng xuất khẩu hàng may Việt Nam

Thực trạng XK hàng may VN.MỞ ĐẦU PHẦN I. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 1.Lịch sử phát triển ngành dệt may Việt Nam 2.Khái quát về ngành dệt may Việt Nam hiện nay 3.Đặc điểm kinh tế kỹ thuật về ngành dệt may 3.1. Các lĩnh vực trong ngành may 3.1.1. Lĩnh vực dệt sợi 3.1.2. Lĩnh vực nhuộm 3.1.3. Lĩnh vực may . 3.2. Vốn và công nghệ sủ dụng trong ngành dệt may. 3.3. Rủi ro thường gặp trong sản xuất và lưu thông hàng dệt may. PHẦN II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG MAY VIỆT NAM 1.Thực trạng về xuất khẩu của ngành may Việt Nam. 9 1.1. Về sản phẩm. 9 1.2.Về giá bán sản phẩm. 10 1.3. Hệ thống phân phối sản phẩm và các chính sách liên quan. 11 1.3. Các điều kiệu ra nhập thị trường. Error! Bookmark not defined. 1.4. Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. 13 2. Các phương thức xuất khẩu gia công của nganh may Việt Nam. 14 2.1. Gia công ủy thác theo hình thức CMT. 15 2.1.1. Các doanh nghiệp may Việt Nam không phải chịu rủi ro trong qua trình sản xuất lưu thông theo hinh thức gia công CMT. 15 2.1.2. Gia công CMT còn là hình thức sản xuất và phân phối phù hợp với Việt Nam. 17 2.2. Xuất khẩu hàng hóa theo điều kiện FOB. 19 2.3. Tình hình thực hiện gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp may Việt Nam 21 2.4. Thực trạng chuyển đổi từ CMT sang FOB. 22 PHẦN 3. CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG MAY VIỆT NAM 1. Về phía các doanh nghiệp. 24 1.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm. 24 1.2. Xác định hợp lý mức độ đa dạng hoá đối tác gia công trên các thị trường. 25 1.3. Đầu tư đổi mới công nghệ. 26 1.4. Định hướng chiến lược: chuyển dần từ CMT sang FOB. 26 2. Liên kết dệt- may, một nhân tố quan trọng. 27 2.1. Sự cần thiết phải tăng cường mối quan hệ dệt-may ở Việt Nam. 27 2.2. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt -may hiện nay. 29 2.3. Các biện pháp thúc đẩy sự lên kết dệt-may. 31 KẾT LUẬN 32

doc34 trang | Chia sẻ: thanhnguyen | Ngày: 20/09/2013 | Lượt xem: 559 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng xuất khẩu hàng may Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g lĩnh vực xuất khẩu.Như vậy so với các ngành khác thì dệt may vẫn là ngành xuất khẩu chủ yếu có tốc độ tăng trưởng cao. Xét theo cơ cấu sở hữu, ngành dệt may Việt Nam gồm 3 bộ phân: (1) sở hữu nhà nước, (2) ngoài nhà nước, (3) vốn đầu tư nước ngoài.Từ năm 1995 đến năm 1999 vị trí giũa các khu vực sở hữu này cũng có những sự thay đổi đáng kể.Năm 1995, giá trị sản lượng của khu vực nhà nước đạt 4.532 tỷ đồng; khu ngoài nhà nước đạt 2.986 tỷ đồng, tức tương đương khoảng 2/3 khu vực nhà nước; còn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.606 tỷ đồng, chỉ bằng 1.3 khu vực nhà nước. Bảng 1: Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. 1994 1995 1996 1997 1998 Hàng dệt may 550 800 1.150 1.349 1.531 13.6% 14,7% 15,8% 14,7% 16,4% Dầu thô 866 1.024 1.346 1.413 1.232 21,4% 18,8% 18,6% 15,4% 13,2% Gạo 425 549 855 870 1.024 10.5% 10,1% 11,8% 9,5% 10,9% Thủy sản 551 620 661 781 818 13,6% 11,4% 9,1% 8,5% 8,7% Cà phê 95 495 337 491 594 2,3% 9,1% 4,6% 5,3% 6,3% Tổng cộng ( gồm cả các mặt hàng khác) 4.501 5.449 7.256 9.185 9.361 Nguồn: Lập từ The Economít Intelligence Unit Country Profile 2000 Chú thích : dòng trên: kim ngạch xuất khẩu( triệu USD); dòng dưới: tỷ lệ trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Đến năm 1999, trong khi tổng già trị sản lượng của khu vực nhà nước đạt khoảng 5.973 tỷ đồng thì khu ngoài nhà nước và đầu tư nước ngoài đạt tương ứng 4.323 tỷ đồng và 4.103 tỷ đồng, thu hẹp khoảng cách so với khu vực nhà nước. 3. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành dệt may VIệt Nam. 3.!. Các lĩnh vực trong ngành dệt may. Ngành công nghiệp dệt may được chia thành ba lĩnh vực dệt , nhuộm và may. 3.1.1. Lĩnh vực dệt sợi(sợi tự nhiên sợi hóa học). Hoạt động cụ thể của lĩnh vực này là sản xuất sợi và chỉ.Sợi có thể chia làm sợi tự nhiên và sợi hóa học.Sợi tự nhiên gồm sợi thực vật , sợi động vật,sợi khoáng vật còn sợi hóa học gồm sợi tái sinh sợi tổng hợp , sợi vô cơ. Sản xuất sợi tự nhiên có liên quan mật thiêt với lĩnh vực nông nghiệp, khoang sản. Sản xuất sợi hóa học thì lại liên quan nhiều tới lĩnh vực công nghiệp hóa học. Sợi tùy theo độ dài có thể chia làm sợi loại ngán và sợi loại dài.Sợi ngắn (Staple) la sợi có độ dài ngắn, được chế biếnthành chỉ, bao gồm nhiều loại sợi tự nhiên như bong, lông cừu, đay. Nhưng lụa la một loại sợi tự nhiên được xếp vào loại sợi dài (trừ tơ lụa đã dệt). Trái với sợi ngắn, loại sợi có nguyên liệu dài gọi là sợi dài(filament- sợi nhân tạo).Đặc trưng của sợi dài là không gồm sợi trong công đoạn làm chỉ. Rất nhiều sợi nhân tạo là sợi tổng hợp như là polieste, nilon hay sợi tái sinh như la leon, axetat. Nhưng cũng có khi người ta cắt ngắn các sợi dài như là polieste, nilon để làm sợi ngắn. Ví dụ như loại sợi pha giữa bong và polieste(T/C) được tổng hợp từ sợi dài nhân tạo và sợi bong ngắn.Trong gia công dệt có nhiều công đoạn quan trọng không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng của chỉ mà còn quyết định khả năng cung cấp. Trong ngành dệt may, đây là lĩnh vực cần ưu tiên tập trung vốn, đặc biệt lĩnh vực sản xuất sợi dài. Lĩnh vục này có tính quy mô nên đòi hỏi đầu tư cho thiết bị lớn hơn so với các lĩnh vực khác. 3.1.2. Lĩnh vực nhuộm: dệt vải, dệt kim. So với lĩnh vực dệt thì lĩnh vực này tốn niều nhân công hơnvà có đặc trưng về kỹ thuật và sản xuất đa dạng nhất. Trong sản xuất sợi tổng hợp để chế biến vải, lĩnh vực này cũng đòi hỏi đầu tư nhiều vốn để hoạt động mang tính quy mô về kinh tế. Nhưng đối với sợi tư nhiên như bông thì không liên quan nhiều tới quy mô, nhất là sản xuất dệt kim với quy mô nhỏ cũng có thẻ triển khai được. Ở đây ta gộp dệt vải và dệt kimvào lĩnh vực nhuộm. lĩnh vực nhuộm ngòai đặc điểm tập trung nhiều nhân lục so với lĩnh vực dệt còn có đặc điểm về tỏ chức sản suât mang tính quy mô hóa. Việc chuyên môn hóa được thực hiện thông qua các công đoạn nhuộm, hiêu chỉnh, gia công in và hoàn thiện sản phẩm. 3.1.3. Lĩnh vực may. Lĩnh vực may yêu cầu nhân lực ít nhất và tinh quy mô về kinh tế thấp nhất nên thu hút nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sản xuất trong lĩnh vực nàyđòi hỏi vốn đầu tư ban đầu nhỏ, không bị ứ đọng nên được đầu tư nhiều ở các nước đang phát triển. Nội dung hoạt động chủ yếu của lĩnh vực này là sản xuất hang dệt may với công đoạn: Cắt vải, may, hoàn thiện sản phẩm( giặt là). 3.2. Vốn và công nghệ sử dụng trong ngành dệt may. Ngành công nghiệp dệt may là một ngành công nghiệp nhẹ, phát triển lên từ ngành dệt may truyền thống. Do đặc thù của ngành là thủ công nên cần nhiều lao động trong các khâu sản xuất, công nghệ cũng không đòi hỏi quá phức tạp. Nên có thể thấy, đầu tư vào ngành này không cần quá nhiều vốn. Hơn nữa ngành dệt may có một ưu thế là thu hồi vốn nhanh, suất đầu tư thấp, rất phù hợp với quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ. 3.3. Rủi ro thường gặp trong sản xuất và lưu thông hàng dệt may. Có rất nhiều rủi ro trong sản xuất và lưu thông hang dệt may. Những rủi ro đó phát sinh từ hai nguyên nhân chin là tính hay thay đổi của thị trường và việc thiếu trao đổi thông tin giữa các doanh nghiệp. Tính hay thay đổi của thị trường phát sinh do sự thay đổi thị hiếu nhanh chóng của người tiêu dùng về màu sắc, hất liệu kiểu dáng, mẫu mã. Bên cạnh đó, ngành dệt may với hình thức sản xuất lưu thông phức tạp và tốn thời gian nên thiếu thông tin trao đổi giúa các doanh nghiệp. Từ hai nguyên nhân này vấn đề điều tiết rủi ro phải được đặt lên thành vấn đề lớn đối với các công ty. Duới đây là một ví dụ về vấn đề điều phối rủi ro thường được áp dụng trong ngành dệt may. Việc tiêu thụ hàng dệt may chịu ảnh hưởng rất lớn của thời trang và thị hiếu của người tiêu dùng. Do vậy, các nhà điều phối dựa vào hoạt động marketing để tiến hành lập ké hoach sản xuất và thiết kế mẫu mã theo cácn có thể được thị trường chấp nhận. Nếu sản phẩm đó không phù hợp với thị trường thì sẽ không tiêu thụ được nên các nhà điều phối phải luôn lường được những rủi ro nay.Mặt khác, một số vấn đề kỹ thuật trong quá trình sản xuất nguyên phụ liệu thường làm phát sinh yêu cầu về lô hàng tối thiểu. Do đó, đối với các doanh nghiệp cung cấp như doanh nghiệp dệt, nguộm dể nhân được đơn đặt hàng từ các nhà điều phối phải yêu cầu các nhà điều phối mua toàn bộ số lượng tối thiểu với mức giá quy định trong hợp đồng. Do thiết kế của các nhà điều phối thường khác nhau, nói cách khác là việc sản xuất vải và các phụ liệ mang tính quan hệ đặc thù nên nếu yêu cầu này không được thỏa mãn thì các doang nghiệp sản xuất khó bán sản phẩm của mình cho các nhà điều phối khác. Như vậy, nếu các điều khỏan trong hợp đồng không chặt chẽ thì các doanh nghiệp cung cấp sẽ gặp nhiều khó khăn. Trên đây chỉ là một ví dụ về rủi ro phát sinh trong sản xuất dệt may. Để nâng cao giá trị gia tăng hàng dệt may cần giải quyết được vấn đề điều phối giữa các doanh nghiệp trong sản xuất và lưu thông. Nói cách khác , việc phân phối hợp lý các rủi ro phát sinh trong sản xuất và lưu thông hàng dệt may là chìa khóa quan trọng để nâng cao giá trị gia tăng của ngành. PHẦN II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG MAY VIỆT NAM 1. Thực trạng xuất khẩu của ngành may Việt Nam. 1.1. Về kim ngạch xuất khẩu. Theo hiệp hội dệt may Việt Nam, cả nước hiện có trên 1000 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng dệt may trong đó phần lớn là các doanh nghiệp chuyên ngành may. Trong 3 năm trở lại đây, ngành may có những bước phát triển đáng kể. Nếu năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành mới đạt 500 triệu sản phẩm thì đến năm 2003 tổng kim ngạch xuất khẩu đã đạt 600 triệu sản phẩm. Kim ngạch xuất khẩu hàng may luôn giữ vị trí áp đảo trong cơ cấu xuất khẩu của ngành và chiếm khoảng 70% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành dệt may. 1.2. Về sản phẩm. Trong thời gian qua, ngành may Việt Nam đã đạt được một số kết qủ đáng khích lệ. Mặt hàng xuất khẩu đa dạng hơn trước như: sơ mi nam nữ, áo jacket. Áo khoác nam nư, quần jean, bộ quần áo nam nũ. Nhiều sản phẩm mới ra đời đặc biệt là một số mặt hàng chất lượng cao có tiêu chuẩn quốc tế như: sơ mi cao cấp, áo jacket, quần jeans. Nhiều sản phẩm đã khặng định được chỗ đứng trên một số thị trường khó tính như Pari, London, Amstecdam, Berlin, Tokyo, NewYork. Nhưng, điều kiện kỹ thuật và công nghệ còn hạn chế nên phần nhiều sản phẩm của ngành thuộc nhóm sản phẩm trung bình chất lượng còn ở mức khiêm tốn( mặc dù cũng có một số sản phẩm có chất lượng cao). Nhìn chung các doanh nghiệp may chưa đáp ứng được những yêu cầu đối với hàng may như mốt, mẫu mã, đường nét, chất liệu, màu sắc…của thị trường xuất khẩu. Sản phẩm của ngành có nhiều đặc điểm riêng biệt khiến thị hiếu khách hàng thay đổi nhanh chóng phụ thuộc vào mốt, thời vụ. Công nghệ sảm xuất thời trang lại khá đơn giản dễ bắt chước, vì vậy dù công tác mẫu mốt đã có những bướcphát triển đáng kể nhưng chủ yếu các doanh nghiệp vẫn sử dụng mẫu mốt của người thuê gia công. Do đó công tác sản phẩm thường phụ thuộc vào khách hàng. Tóm lại, xét về sản phẩm, tuy chất lượng và cơ cấu sản phẩm của ngành đa dạng và phong phú hơn trước song so với nhu cầu và thị hiếu khách hàng tì còn nhiều khoảng trống chưa đáp ứng được, nhất là đối vợi thị trường của các nước Tư Bản phát triển. Hàng may xuất khẩu của ngành chưa có nhãn mác thương mại riêng, đó là lí do làm giảm khả năng cạnh tranh của snr phẩm may trên thị trường xuất khẩu. 1.3. Về giá bán sản phẩm. Ngàng may có đặc điểm là có hàm lượng lao động cao, yêu cầu công nghệ không quá hiện đại mà phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của người lao động. Đặc điểm này làm cho ngành may được đánh giá là có tính phù hợp cao trong giai đoạn phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay. Nước ta có nguồn lao động dồi dào, cần cù sáng tạo, đặc biệt là giá lao động thấp hơn hẳn so với các nước trong hku vực đã tạo ra lợi thế cạnh tranh của sane phẩm may Việt Nam. Bảng 2: Tiền công lao động theo giờ ở một số nước. TT Nước Tiền công(USD/giờ) TT Nước Tiền công(USD/giờ) 1 2 3 4 5 6 7 8 Nhật Pháp Mỹ Anh Đài Loan Hàn Quốc Hồng kông Singapo 16,31 12,63 16,93 10,16 5 3,6 3,39 3,16 9 10 11 12 13 14 15 Malaixia Thái Lan Philipin Ấn Độ Trung Quốc Inđônêxia Việt Nam 0,95 0,87 0,67 0,54 0,34 0,23 0,18 Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam Tuy nhiên giá lao động rẻ chỉ là lợi thế nhất thời, không ổn định trong cạnh tranh. Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển mạnh, các qua trình sản xuất được tự dộng hóathì giá gia công rẻ không còn là thế mạnh như trước nữa. Mặt khác, phần lớn lượng nguyên vật liệu và đôi khi cả phụ liệu đầu vào của các doanh nghiệp may là nhập khẩu theo dạng tạm nhập tái xuất do khách hàng đặt gia công cung cấp. Cũng có nhiều khách hàng mua vải và phụ liệu của các doanh nghiệp Việt Nam để đưa đến các doanh nghiệp gia công, nhưng giá cả của nguyên phụ liệu sản xuât trong nước thường cao hơn giá nhập khẩu, mẫu mã lại nghèo nàn, kếm hấp dẫn, chất lượng các lô hàng thường không đồng đều, thủ tục mua bán phức tạp, tiến độ giao sai hợp đồng thương xuyên xải ra… Chính vì vậy các doanh nghiệp may thường xuyên nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài, đẩy giá sản xuất và giá bán sản hàng may lên rất cao. Cho nên dù có lợi thế về giá nhân công như đã nói ở trên song mức giá của các doanh nghiệp may ViệtNam thường cao hơn giá sản phẩm cùng loại của các nước ASEAN. Ví dụ mức giá của TCT Dệt May Việt Nam thường cao hơn giá sản phảm cùng loại của các nước ASEAN từ 10-12%, cao hơn hàng Trung Quốc hơn 20%( số liệu năm 2001). Cũng do việc nhập khẩu đầu vàodẫn đến quá trình sản xuất của các doanh nghiệp khoong ổn định, phụ thuộc vào nhà cung cấp, việc thực hiện hợp đồng nhiều khi không theo tiến độ thời gian đã định trước, làm ảnh hưởng không tốt đến uy tín của doanh nghiệp với bạn hàng. Ngoài ra, việc nhiều doanh nghiệp thiếu vốn kinh doanh phải vay vốn ngắn hạn để đầu tư phát triển và trả lãi xuất vay cao cũng làm giảm khả năng cạnh tranh về giá của sản phẩm may. Nói tóm lại , giá bán sản phẩm vẫn chưa phải là lợi thế cạnh tranh của hà may Việt Nam. 1.4. Hệ thống phân phối sản phẩm và các chính sách liên quan. “ Poscelin, một công ty Hồng Kông thương mang đến những hợp đồng gia công 2-3 triẹu áo jacket mỗi năm, nay gần như không còn làm ăn với ngành may Việt Nam nữa. Một khách hàng lón khác đến từ Israel, trước đây mua của Việt Nam đến 5 triệu áo sơ mi để xuất khẩu đi hàng chục nước trên thế giới, nay cũng cắt giảm đến nửa đơn đặt hàng ở Việt Nam để chuyển sang gia công ở Myanma…” Đây chỉ là một vài ví dụ mà Hiệp hội Dẹt May Việt Nam đã đưa ra để cho thấy nhiều khách hàng lớn của ngành may đang dần rời bỏ Việt Nam để tìm đến những nguồn cung ứng mới ở Trung Quốc, Bắc Mỹ, Đong Âu, Bắc Phi… Theo một số chuyên gia nghiên cức ngành dệt may thì ngành may Việt Nam đang mất dần lợi thế cạnh tranh do nhiều nguyên nhân, trong đó có các nguyên nhân liên quan đến hệ thống phân phối và các chính sách của nhà nước. Hiện tại, hình thức phân phối sản phẩm của ngành may chủ yếu dựa trên phương thức gia công xuất khẩu trong đó các doanh nghiệp may Viẹt Nam hầu như không chịu rủi ro về việc tiêu thụ hàng hóa. Vai trò của các doanh nghiệp may Việt Nam trong quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩmcòn rất hạn chế nên tỷ lệ giá trị gia tăng được hưởng cũng rất thấp. Kênh lưu thông hàng may mặc còn chưa hoàn thiện, các doanh nghiệp thiếu thông tin về thị trường, tự mình phát triển thị trường tiêu thụ dẫn đến không hiệu quả và buộc phải dựa vào khách hàng nước ngoài. Trong khi đó, trước khi quyết định dặt gia công hay mua hàng may ở một nước nào, khách hàng thường cân nhắc các yếu tố như: hệ thống chính trị ở nước bán hàng ổn định và đẩm bảo làm ăn lâu dài với mức rủi ro thấp; chi phí gia công và các chi phí khác; thời gian sản xuât và giao hàng;các ưu đãi thưong mại và thuế ở các nước nhập khẩu. Trong các yếu tố đó, Việt Nam có ưu thế là có hệ thống chính trị ổn định, đảm bảo làm ăn lâu dài, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều yếu tố không thuận lợi như môi trương kinh doanh chưa thực sự thông suốt, đổi mới chậm chạp, thủ tục hành chính rươmg rà, phức tạp; các chi phí khác ngoại trù chi phí gia công như chi phí thông tin liên lạc, vận chuyển khá cao; Việt Nam chưa được nhiều ưu đãi thương mại vàthuế của thị trường nhập khẩu chính,hàng may xuất khẩu sang các nước vẫn bị khống chế bằng hạn ngạch và bị đánh thuế nhập khẩu cao. Do vậy nhiều khách hàng ở Nhập, EU và nhiều nước khác đang có xu hướng chuyển đơn đặt hàng sang các nước Trung Quốc, Đông Âu… để hưởng các ưu đãi về thương mại, thuế quan và tận dụng các chi phí vận chuyể và liên lạc rẻ. 1.5. Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Có thể nói khi xâm nhập các thị trường may thế giới đặc biệt là thị trường EU, Nhập Bản, Mỹ bằng con đường xuất khẩuthì đối thủ cạnh tranh khổng lồ và đáng gờm nhất đối với các doanh nghiệp may Việt Nam là Trung Quốc. Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới lại nằm trên con đường tơ lụa nên ngành may Trung Quốc phát triển hàng ngàn năm nay, vừa đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước, vừa đảm bảo giao thương quốc tế. Trung quốc giữ vị trí hàng đầu trong ngành dệt may thế giới về sản lương bong, vải bông và san phẩm may mặc và đứng thứ hai thế giới về xơ hóa học. Công nghiệp dệt may Trung Quốc luôn giư vị trí tiên phong trong nền kinh té quốc dân, giá trị sản lượng của ngành dệt may chiếm xấp xỉ 20% tổng giá trị sản lượng công nghiệp toàn quốc và là ngành công nghiệp lớn nhất nước. Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Trung Quốc chiíem tỉ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch buôn bán hàng dệt may toàn cầu, trung bình kim ngạch xuất khẩu hàng may chiếm khoảng 20% kim ngạch xuất khẩu toàn cầu, trong đó các thị trường truyền thống của Trung Quốc là Hồng Kông, Nhập Bản, Mỹ, EU và Australia. Năm 2002, những thị trường này chiếm khoảng 80% tổng giá trị xuất khẩu của Trung Quốc. Theo dự đoán của các chuyên gia nghiên cứu của ngân hàng Thế giới, sau khi gia nhập WTO, đến năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của ngành may Trung Quốc sẽ chiếm đến 47% thị trường may mặc của thế giới. Hiện nay nhiệm vụ chiến lược của Trung Quốc là tăng khả năng cạnh tranh thông qua việc cơ cấu lại ngành dệt may, điều chỉnh quy mô sản xuất, hiệ đại hóa thiệt bị và nâng cao gia trị gia tăng của san phẩm nhằm mục đích chuyển từ một quốc gia có ngành công nghiệp dệt may lớn thành nước có ngành công nghiệp dệt maymạnh. Chiến lựoc này được thực hiện dựa trên một số ưu thế của ngành dệt may Trung Quốc như: Đội ngũ nhân viên kỹ thuật giỏi, giá hàng may thấp( chỉ khoảng 80% giá hàng cùng loại của Việt Nam); công tán marketting có hiệu quả, cơ cấu ngành dệt may đã phát trển ở mức nhất định và đặc biẹt là hệ thống chính sách hỗ trợvà khuyến khích của chính phủ Trung Quốc. Bên cạnh Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Singapo đều là các nước xuất khẩu hàng may với kim ngạch xuất khẩu cao hơn Việt Nam bởi họ tạo được nhiều lợi thế cạnh tranh hơn so với các sản phâme của Việt Nam. Năm 2001, kim ngạch xuất khẩu hàng may của Thái Lan bằng 4 lần, Trung Quốc bằng 25 lần của Việt Nam. Có thể nói, mức độ cạnh trnah trên thị trường may trong khu vực Châu Á hiện đang rất gay gắt. 2. Các phương thức xuất khẩu gia công của ngành may Việt Nam. Hiện nay dệt may là một trong những ngàn xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam. Tuy nhiên, sức cạnh tranh quốc tế của ngành dệt may Việt Nam lại bị hạn chế cả về mặt hàng và quy chế sản xuất.Hầu hết hàng dệt may Việt Nam được sản xuất từ vải cotton hoặc vải pha cotton polyester(T/C). Đât là những sản phẩm được sản xuất hàng loạt với chất lượng vừa và thấp. Việc sản xuất các sản phẩm chất lượng cao như comle nam, váy phụ nữ gặp nhiều kho khăn về kỹ thuật may và nguyên vật liệu nên khối lượng xuất khẩu các mặt hàng này rất thấp. Ngòai mặt hàng may mặc, Việt Nam khôgn xuất khẩu được các sản phẩm khác như tơ, sợi, vải… 2.1. Gia công ủy thác theo hình thức CMT. Phần lớn hoạt động xuất khẩu hàng may mặc được thực hiện dưới dạng sản xuất, lưu thông theo hợp đông gia công ủy thác( dưới đây sẽ gọi là gia công ). Do các doanh nghiệp Việt Nam chỉ thực hiên ba công đoạn là cắt (cut) , may( make), hoàn thiện (trim) nên hình thức sản xuât kưu thông này gọi là gia công CMT. Trong sản xuất lưu thông hàng may mặc dực trên hình thức này, toàn bộ nguyên phụ liệu đều do khách hàng nước ngoài cung cấp cho các doanh nghiệp may Việt Nam. Cụ thể, khách hàng nước ngoài sẽ cung cấp các nguyên liệu như vải và các phụ liêuj như khóa kéo, vải độn, vải lót, khuy… còn các doanh nghiệp may Việt Nam chỉ tiến hành may. Khách hàng nước ngoàicòn cung cấp cả các thiết bị máy móc loại tốt để đo đạc những kích thước nhỏ nhấtcần thiết khi làm mẫu cứng và cắt trên vải. Sản phẩm may hoàn thiện sẽ được khách hàng nước ngoài mua lại. Khi đó, khách hàng nước ngoài sẽ thanh toand chi phí gia công (phí CMT) cho các doanh nghiệp may Việt Nam. Diều đó có nghĩa là gia công CMT là hinh thức sản xuất lưu thông mang tích chất “ chế độ bao tiêu”. Hầu hết các nguyên phụ liệu sử dụng trong hình thức gia công CMT đều phải nhập khẩu. Các nguyên phụ liệu do Việt Nam sản xuất thường gặp phải các vấn đè về chất lượng cạnh tranh giá và thời hạn giao hàng không thể đáp ứng yêu cầu sản xuất may mặc xuất khẩu. Hơn nữa, qua điều tra phỏng vấn các doanh nghiệp Việt Nam có liên quan đến ngành dệt may thì toàn bộ bên thuê gia công đều là nhà điều phối, công ty thượng mại hay công ty bắn lẻ của nước ngoài. 2.1.1. Các doanh nghiệp may Việt Nam không phải chịu rủi ro trong qua trình sản xuất lưu thông theo hinh thức gia công CMT. Trong xuất khẩu hàngmay mặc theo hình thức gia công CMT, các doanh nghiệp may Việt Nam chỉ nhận được một phần giạ trị rất nhỏ trong đơn giá sản phẩm. Theo điều tra của các doanh nghiệp may Việt Nam, giá trị bình quân về tỷ lệ CMT trong đơn giá thành phẩm là 0,153 nghĩa là các doanh nghiệp may Việt Nam chỉ đóng góp khoang 15% giá trị thành phẩm. Nếu doanh nghiệp may Việt Nam tự mua nguyên vật liệu hoặc tự tạo ra những sản phẩm theo thiết kế của mình thì về mặt lý thuyết họ có thể đạt được giá trị gia tăng cao hơn. Tỷ lệ giá trị gia tăng phụ thuộc vào vị trí của doanh nghiệp trong sản xuất lưu thông. Hiện nay, do vai trò cảu các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng may mặc còn han chế nên tỷ lệ gia trị gia tăng được hưởng còn thấp. Hình 4 sẽ khái quát quá trình sản xuất lưu thông hàng may mặc. Bảng 3: Sơ đồ tự sản xuất, lưu thông hàng may mặc. Xuất khẩu Cắt May Hoàn thiện (CMT) Mua nguyên phụ liệu Lựa chọn nhà cung ứng Thiết kế sản phẩm Nguồn: Nhóm nghiên cứu Trường ĐHKTQD xây dựng. Nhìn chung, để tạo ra sản phẩm, ngành may phải bắt đầu từ việc xây dựng kế hoạch sản phẩm. Ở giai đoạn này, các doanh nghiệp may quyết định quy cách sản phẩm như máu sắc, loại vải sửu dụng và chiế lược tiêu thụ bao gồm cơ cấu sản phẩm, thiết kế thương hiệu… Trong giai đoạn lụa chọn nhà cung ứng, doanh nghiệp xây dựng hêh thống các nhà cung cấp đầu vào dựa trên kế hoạch về sản phẩm. Việc bảo đảm chất lượng, đàm phán giá cũng được thực hiện trong giai đoạn này. Trong giai đoạn mua nguyên phụ liệu, các doanh nhgiệp sẽ mua vải và phụ liệu và phụ liệu tù các nhà cung ứng đã được quyết định ở giai đoạn trước với những bước chủ yếu là: quản lý thời hạn giao hàng và quản lý vốn. Tiếp theo là khâu cắt, may và hoàn thiện sản phẩm. Giai đoạn cuối cùng là xuất khẩu hàng may mặc thành phẩm, đưa sản phẩm ra lưu thông ở trên thị trường. Nếu không tích lũy được kinh nghiệm và thông tin về thị trường thì các doanh nghiệp may sẽ gặp nhiều khó khăn khi hoặt động và có thể chịu nhiều rủi ro ở các công đoạn đặc biệt là công đoạn xuất khẩu. Nhưng trong quá trình sản xuất lưu thông, các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng may mặc theo hinh thức gia công CMT chỉ được khách hàng nước ngoài ủy thác gia công ở các công đoạn cắt, may, hoàn thiện( CMT) tức là khâu thứ tư, còn các khâu khác do nước ngoài đảm nhiệm. Điều này có nghĩa là, những khó khăn, khúc mắc nếu đặt hàng các doanh nghiệp dệt nhuộm sản xuất gia công nguyên phụ liệu sẽ không xảy ra đối với các doanh nghiêp may Việt Nam. Về sản xuất, các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện gia công CMT cũng không phải chịu bất cứ trách nhiệm nào về khiếu nại do chất lượng nguyên phụ liệu kém hay chậm xuất hàng thành phẩm do giao vại muộn. Hàng may mặc được sản xuất theo bản thiết kếcó sẵn cũng không phải chịu những rủi ro do sự thay đổi chóng mặt của thời gian mốt trên thịu trừong hàng may sẵn bởi khách nước ngoài đã nhận tiêu thụ toàn bộ sản phẩm sản xuất ra. Ngay cả trên lĩnh vực lưu thông, doanh nghiệp may VIệt Nam không cần phát triển hay giữ vững các kênh tiêu thụ hàng may mặc. Tức là các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện gia công CMT không phải hứng chịu bất kỳ rủi ro nào kể trên. Giả sử, các doanh nghiệp may Việt Nam có thể huy động nguyên phụ liệu và tự thiết kế sản phẩm, quản lý chất lượng thì doanh nghiệp phía Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhuận lưu thông liên quan đến khâu chuẩn bị nguyên phụ liệu như vải. Hơn nữa, do các chi phí quản lý về thiết kế, sản xuất và chất lượng được chuyển sang phía Việt Nam nên trên lý thuyết phần giá trị gia tăng đó cũng thuộc về phía doanh nghiệp may Việt Nam. Mặc dù vậy, việt nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng cuối cùng lại tương ứng với với việc các doanh nghiệp may Việt Nam phải đối mặt với rất nhiều rủi ro phát sinh trong năm khâu sản xuất lưu thông của ngành may. 2.1.2. Gia công CMT còn là hình thức sản xuất và phân phối phù hợp với Việt Nam. Trong gia công ủy thác theo hình thức CMT, khách hàng nước ngoài không chỉ cung cấp cho các doanh nghiệp may Việt Nam những yếu tố cần thiết trực tiếp cho sản xuất như nguyên vật liệu gồm nguyên liệu, phụ liệu; bản thiết kế, bản thuyết minh, mẫu thiết kế… mà còn chuyển giao cả kỹ thuật sản xuất và quản lý. Khách hàng nước ngoài cử các chuyên gia kỹ thuật và nhà quản lý sản xuất đến tận dây chuyền may ở các nhà máy may Việt Nam, từ việc lắp rắp dây chuyền may dựa trên phân tích các công đoạn may ghi trong bản thuyết minh, hướng dẫn kỹ thuật trong công đoạn may, hướng dẫn hoàn thiện, là ép và hướng dẫn kiểm tra sản phẩm. Việc chuyển giao kỹ thuật một cách trực tiếp cho các doanh nghiệp may Việt Nam thông qua chuyên gia kỹ thuật và các nhà quản lý của phía khách hàng nứoc ngoài được thực hiện đặc biệt thường xuyên trong giai đoạn đầu đặt quan hệ giao dịch giữa khách hàng nước ngoài và doanh nghiệp may Việt Nam. Nếu quan hệ giao dịch kéo dài và việc chuyển giao kỹ thuật sản xuất, quản lý tiến triển tốt thì việc hướng dẫn kỹ thuật trực tiếp của khách hàng nước ngoài cho doanh nghiệp Việt Nam sẽ dần ít đi. Theo đièu tra đối với các doanh nghiệp may Việt Nam, hiên nay hầu hết các doanh nghiệp đang thực hiện gia công ủy thác xuất khẩu đều nhận được hướng dẫn trực tiếp về kỹ thuật từ phía khách hàng nước ngoài thông qua các chuyên gia kỹ thuật, nhà quản lý được khách hàng cử đến với thời hạn dài( khoảng vài tháng đến một năm) cũng là cơ hội tốt để học hỏi về quản lý. Có nhiều trường hợp nhờ sự hướng dẫn kỹ thuật mà trình độ sản xuất được nâng cao rõ rệt. số lượng đơn đặt hàng gia công xuất khẩu tăng đáng kể. Việc cử chuyên gia hướng dẫn kỹ thuật sẽ tốn kém chi phí nên đói với các khách hàng nước ngoài, chi phí này được tính vào khoản đầu tư để xây dựng những mối quan hệ giao dịch đặc biệt. Để bù đắp chi phí đầu tư này, khách hàng nước ngoài phải giữ mối quan hệ giao dich lâu dài. Hơn nữa, trong trường hợp khách hàng nước ngoài cung cấp máy móc thiết bị không hoàn lại thì họ lại càng mong muôn quan hệ giao dịch lâu dài. Điều này rất quan trọng đối với các doanh nghiệp may Việt Nam bơi khi doanh nghiệp may Việt Nam đã thành công trong việc nhận đơn đặt hàng theo hinh thưc gia công CMT và nếu khôgn phát sinh các trục trăc nhu chiến dụng nguyên vật liệu để sản xuất gia công ủy thác thì có thể xây dựng được quan hệ giao dịch tương đối bền vững. Như vậy, tuy gia công CMT đem lại phần giá trị gia tăng tương đối nhỏ so với giá thành sản phẩm, song khá ổn định và có thể góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật cũng như quản lý cho các doanh nghiệp may Viêt Nam. Hiên nay việc duy trì hình thức gia công này vẫn đem lại những lợi ích nhất định. Nhưng trong tương lai nếu muốn gia tăng thị trường xuất khẩu và khặng định vị thế của ngành may thì việc duy trì hinh thức này sẽ không còn phù hợp. 2.2. Xuất khẩu hàng hóa theo điều kiện FOB. Trái với hình thức xuất khẩu theo theo phương thức gia công quốc tế, trong hình thức xuất khẩu trực tiếp FOB( Free On Board), các doanh nhgiệp may Viêt Nam tự mua nguyên phụ liệu rồi bána nr phẩm cho các doanh nghiệp nước ngoài. Hiện tại, trong sản xuất lưu thông hàng dệt may đang tồn tại ba hình thức xuất khẩu FOB được gọi là FOB kiểu I, FOB kiểu II và FOB kiể III. FOB kiểu I: khách hàng nước ngoài chỉ định nhà sản xuất vải, quy cách, màu vải, từ đó nhà may mua vải, sản xuất xà xuất khẩu hàng theo đơn đặt hang. Điểm khác biệt của doanh nghiệp may thực hiện xuất khẩu FOB kiểu I và doanh nghiệp may thực hiện xuất khẩu theo hình thức gia công uỷ thác là phía Việt Nam phải chịu trách nhiệm trong việc thanh toán tiền mua vải. Khi tiến hành thanh toán tiền mua vải, các doanh nghiệp may Việt Nam có thể có thể thu được lợi nhuận lưu thông. Trên thực tế, chuyên lệch về lợi nhuận giữa hình thức này và hình thức gia công ủy thác CMT là không đáng kể. FOB kiểu II: Trong hình thức này, khách hàng đưa ra mẫu hàng hóa cho doanh nghiệ may Việt Nam báo giá và nhận đơn đặt hàng. Ở đây, doanh nghiệp tự chuẩn bị vải bằng cách tìm mua trongnội bộ công ty hoặc treen thị trường. Do tự chuẩn bị vải nên các doanh nghiệp này có thể chủ động đưa phần lợi nhuận của khâu mua vải vào báo giá sản phẩm của công ty mình, do đó lợi nhận được tăng lên. FOB kiểu III: Với hình thức này, doanh nghiệp may Việt Nam tự thiết kế mẫu mã hàng hóa, tìm mua nguyên vật liệu và xuất khẩu với nhãn hiệu riêng của mình. Doanh nghiệp may Việt Nam phải đảm trách toàn bộ quá trinh sản xuất từ khâu lập kế hoạch, thiết kế sản phẩm, tìm mua nguyên vật liệu, cắt may hoàn thiện sản phẩm và phân phối. Phạm vi hoạt động của họ lớn hơn nhiều, bao trùm toàn bộ quá trình như đã trình bày ở hình 4, mức độ rủi ro của thị trường mà doanh nghiệp may phải gánh chịu cũng lớn hơn và do đó lợi nhuận mà họ nhận được cũng cao hơn. Có thể nói rằng trong ba hình thức xuất khẩu trực tiếp thì FOB kiêu III là loại có nhiều rủi ro nhất nhưng cũng có khả năng đem lại nhiều lợi nhuận nhất. Việc phát triển công nghiệp may phải phát huy được những lợi thế cơ bản vốn có, nhưng cũng phải tính đến những khó khăn và yếu kém của ngành may như đã đè cập ở trên để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh. Trong quan hệ thượng mại quốc tếcủa các doanh nghiệp may, việc xuất khẩu trực tiếp dưới hình thức mua nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm(FOB), về lý thuyết, có lợi hơn là xuất khẩu dưới hình thức gia công (CMT) do bên Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhuận lưu thông liên quan đến khâu thiết kế, chuẩn bị nguyên phụ liệu, phân phối. Song vơi nhưng khó khăn và yếu thế hiện nay, các doanh nghiệp may Viêt Nam vẫn cần thiết duy trì một mức độ nhất định việc xuất khẩu bằng hình thức gia công.Về lâu dài, xuát khẩu trực tiếp phải trở thành phương thức xuất khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp Việt Nam nhưng gia công là bước đi quan trọng để tạo lập uy tín của sản hẩm dệt may Việt Nam trên thị truêòng thế giói. Thông qua gia công, các doanh nghiệp may có thể học hỏi kinh nghiệm Marketting quốc tế, tổ chức quản lý sản xuất, tiếp thu công nghệ mới, từng bước đổi mới công nghệ, tích luỹ nguồn lực tài chính, chuẩn nị các điều kiên càn thiết để thực hiện xuất khẩu trực tiếp một cách có hiệu quả. Như vậy, trong những năm tới, phương thức gia công vẫn phải được tiếp tục thực hiệnvới các doanh nghiệp may Việt Nam và thực hiện gia công xuất khẩu phải được xem như là một bước chuẩn bị cho việc chuyển sang hình thức xuất khẩu trược tiếp. 2.3. Tình hình thực hiện gia công xuất khẩu của các doanh nghiệp may Việt Nam Thực trang gia công xuất khẩu hàng may mạc hiên nay ở Việt Nam hiện nay thể hiện trên hai mặt chủ yếu là quy mô sản xuất và quy mô xuất khẩu. Về quy mô sản xuất:Theo thống kê của hiệp hội gia dày Việt Nam (VITAS), các cở sở man mặc là thành viên của VITAS với 392 cở sở thuộc các thành phần kinh tế ở 35/61 tỉnh thành, thành phố trong cả nước, trong đó chủ yếu là các cơ sở may gia công xuất khẩu. các cơ sở này đã thu hút gần một triệu lao động thường xuyên. Năng lực sản xuất của toàn ngành đã lên tới 400 triệu sản phẩm sơ mi quy chuẩn /năm và được tập trung chủ cyếu ở một số thành phố như Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Nam, thành phố Hò Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Cần Thơ… Quy mô của các doanh nghiệp nói trên cũng khác nhau. Có các doanh nghiệp có năng lực sản suất lên đến 10 triệu sản phẩm/ năm, nhưng cũng có nhiều cơ sở, năng lực sản xuất chỉ đạt 1 triệu sản phẩm/ năm. Nhìn chung, mỗi cơ sở chỉ tập trung một sản xuất một số sản phẩm nhất định. Điều này có lý dotử sự đầu tư chuyên môn hoá của các cơ sở gia công, nhưng cũng có lý do từ các cơ sở đặt gia công, vì hầu hết khách hàng nước ngoài cũng có thế mạnh ở một số mặt hàng nhất định. Do năng lực sản xuất hạn chếnên hầu hết các doanh nghiệp chị nhận được các đơn đặt hàng với số lượng nhỏ. Về quy mô xuất khẩu:Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đã tăng mạnh trong các năm qua. Bình quân giai đoạn 1992-2001 tăng gần 29%/năm, riêng giai đoạn 1991-1999, tăng binh quân 35%/năm. Năm 2001, kim ngach xuất khẩu đạt 2.15 tỷ USD. Hàng dệt may của Việt Nam đã được xuất khẩu đi 174 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, và đã có mật ở hầu hết các thị trường lớn của thế giới, nhue thị trường Nhật Bản, EU, Bắc Mỹ, các nước SNG, Đong Âu, Trung Đông… Trong cơ caaus thị trường xuất khẩu. khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu thu được tà các thị trường phi hạn ngạch. chứng tỏ hàng dệt may Việt Nam bước đầu đã có khả năng cạnh tranh về giá cả và chất lượng trên thị trường thế giới. 2.4. Thực trạng chuyển đổi từ CMT sang FOB. Phỏng vấn các doanh nghiệp Việt Nam cho thấy khác nhiều doanh nghiệp đang đi theo con đườn hoạt động sản xuất lưu thông hàng may mặc dựa vào hình thức xuất khẩu FOB. Theo số liệu điều tra của tù 23 doanh nghiệp may. Có tới 20 doanh nghiệp được phỏng vấn đang thực hiện xuất khẩu hàng may theo hình thức FOB. Tuy nhiên, ở các doanh nghiệp đang thực hiện xuất khẩu theo điều kiện FOB thì tỷ trọng của xuất khẩu hàng hoá theo điều kiện FOB trong hoạt đọng sản xuất hiện nay còn thấp. Theo điều tra này, hầu hết các doanh ngiệp may Việt Nam xuất khẩu hang hoá theo điều kiện FOB đều thực hiện dưới hình thức FOB kiẻu I, chiếm đên 93,6%, còn 6.4% còn lại là kiểu II và kiểu III thì không tồn tại. Trong số các doanh nghiệp được điêu tra, chỉ có một số ít, doanh nghiệp cho biết họ đang tập trung vào việc tăng xuất khẩu hàng hoá theo điều kiện FOB. Các doanh nghiệp hiểu rằng việ đẩy mạnh xuất khẩu theo hình thức FOB, đặc biệt là kiểu III là rất khó thực hiện. Thậm chí có một vài doanh nghiệp cho biết họ tập trung vào hình thức CMT hơn là xuất khẩu hàng hoán theo hình thức FOB vốn phải chịu nhiều rủi ro. Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao ở Việt Nam việc chấp nhận rủi ro để “ hiện đại hoá” hình thức sản xuất lưu thông hàng may mặc bằng cách chuyển từ gia công uỷ thác theo hình thức xuất khẩu CMT sang xuất khẩu hàng hoá theo FOB kiểu II, III lại gặp nhiều khó khăn. Từ nhiều ý kiến của các doanh nghiệp may, có thể đưa ra 3 nguyên nhân chủ yếu sau: 1.Thiếu thông tinvề thị trường vải và tình hình sản xuất vải. 2. Thiếu nền tảng giao dich ổn định với các doanh nghiệp cung ứng nguyên phụ liệu như các doanh nghiệp nhuộm… 3. Chưa hoàn thiện kênh lưu thông hàng may mặc Ba nguên nhân trên liên quan chặt chẽ với nhau và thể hiện ngành dệt may Việt Nam chưa có cơ cấu phân tán và xử lý rủi ro trong snr xuất lưu thông. Ví dụ, khi phỏng vấn nhiều doanh nghiệp đua ra lý do mà họ khó chuyển đổi sang FOB kiểu II, III là do chi phí thu thập thông tin về vải rất cao. Trên thực tế, việc thu thập thông tin về vải mất rất nhiều thời gian nên nhiều khi các doanh nghiệp bỏ mất co hội kinh doanh. Phải giải quyêt được ba nguyên nhân trên, các doanh nghiệp may Việt Nam mới có thể chuyển đổi sang hinh thức FOB kiểu II và loại III. Có như vậy mới thu được nhiều giá trị gia tăng nhờ xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh và khẳng đinh được tên tuổi của ngành may Việt Nam trên thị truờng quốc tế. PHẦN III. CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU HÀNG MAY VIỆT NAM 1. Về phía các doanh nghiệp. Đặt trong những cơ hội và thách thức trên, có thể khẳng định rằng trong những năm trước mắt, các doanh nghiệp may Việt Nam chưa thể từ bỏ việc xuất khẩu hàng may mặc bằng phương thức gia công để chuyển sang phương thức mua nguyên vật liệu xuất khẩu sản phẩm. Nhưng để đảm bảo tính chủ động và tính hiệu quả xuất khẩu bằng phương thức gia công, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần thiết phải có những đổi mới trong tổ chức sản xuất và quản lý. 1.1. Nâng cao chất lượng sản phẩm. Các thị trường chính của Việt Nam đều là những thị trường đòi hỏi khắt khe về chất lượng, bợi vạy, việc quan tâm bảo đảm chất lượng phải được đặt lên hàng đầu với các doanh nghiệ may xuất khẩu. Đẻ đảm bảo chất lượng theo đúng yêu cầu khách hàng, cần chú ý tới những vấn đề chủ yếu sau đây: Kiểm tra chặt chẽ chất lượng và bảo quản nguyên phụ liệu. Tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu của đối tác nước ngoài đặt gia công về chủng loại và chất lượng nguyên phụ liệu, quy trình công nghệ sản xuất, quy cánh kỹ thật, nhãn mác, bao bì dóng gói. Thực hiện tốt công tác kiểm tra chất lượng từng công đoạn trong qua trình sản xuất đén khâu thành phẩm cuối cùng. Nâng cao trinh độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm của người lao đọng trong quá trình sản xuất sản phẩm. Xây dựng và áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến(ISO 9000, ISO 14000 và SA 8000) ở các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu. 1.2. Xác định hợp lý mức độ đa dạng hoá đối tác gia công trên các thị trường. Trong quan hệ đối tác gia công, cả hai bên đặt hàng gia công và bên nhận gia công đều có mối quan hệ tương tác phụ thuộc lẫn nhau, nhưng trong đó bên nhận gia công ( các doanh nghiệp may Việt Nam) thường phụ thuộc nhiều hơn. Sự phụ thuộc thể hiện ở chỗ bên nước ngoài quy định toàn bộ nhiệm vụ sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam, từ chủng loại, sản lượng, thời gian giao hàng đến hệ thống định mức kinh tế- kỹ thuật sản phẩm. Việc làm, thu thập và đời sống của người lao động cũng phụ thuộc vào nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đó là một thực tế mà các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận khi trình độ sản xuất và quản lý còn yếu kém. Trong điều kiện đó, việc đa dạng hoá đối tác gia công và thị trường gia công mạng lại những lợi ích nhất định cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam như: tăng tính chủ động cho doanh nghiệp may Việt Nam, giảm thiểu rủi ro khi đối tán nước ngoài cắt hợp đồng, trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp không sử dụng hết công suất, việc đa dạng hoá các đối tác gia công nước ngoài cho phép công ty sử dụng đầy đủ thiết bị máy móc thiết bị hiện có và tăng thêm việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, việc mở rộng các đối tác gia công cũng gây nên những bất lợi cho doanh nghiệp. Đó là sự phức tạp trong quản lý, tổ chức sản xuất để đồng thời thực hiện tốt nhiều đơn đặt hàng, sự phân tán manh mún của các đơn đặt hàng làm giảm hiệu quả của sản xuất. Bởi vậy, vấn đè là giải quyết mối quan hệ giữa đa dạng hoá và tập trung hoá đối tác nước ngoài đặt gia công cho doanh nghiệp. Nói chhung, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nên hướng tới ổn định đối tác nước ngoài đặt gia công, đồng thời giúp các doanh ngiệp Việt Nam tranh thủ sự giúp đỡ về kỹ thuật và tài chính của đối tác nước ngoài để đầu tư nâng cao đổi mới công nghệ , nâng cao trình độ sản xuất và huấn luyện lao động. 1.3. Đầu tư đổi mới công nghệ. Bên cạnh việc phát triển theo chiều rộng (xây dựng các doanh nghiệp mới thuộc các thành phần kinh tế hoắc các trung tâm dệt may), việc phát triển theo chiều sâu phải được coi là hướng chủ đạo trong phát triển công nghiệp dệt may Viẹt Nam trong tuơng li. Bởi lẽ, khi ưu thế về giá nhân công rẻ đang mất dần , thì trình độ công nghệ cao là yếu tố cơ bản tạo nên sức hút với đối tác nước ngoài đặt gia công và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Định hướng chung cho đổi mới công nghệ của ngành may là: trong khâu chuẩn bị sản xuất: thiết kế giác sơ đồ trên máy tính, trang bị máy trải vải tự động và máy cắt theo chương trình, cắt bằng tia laser; trong khâu may ráp sản phẩm: đầu tư trang thiết bị chuyên dùng tự động vào các dây chuyền sản xuất; trong khâu hoàn thiện sản phẩm: đầu tue các máy thùa khuyết, ép định hình và là ủi chất lượng cao… Để thực hiện có hiẹu quả việc đầu tư đổi mới công nghệ trong ngành may, cấn giải quyết các vấn đè trọng yếu như nâng cao chất lượng lập và thẩm định dự án đầu tư, đa dạng hóa các nguồn vốn, nâmg cao chất lượng công tác đào tạo lao động, đổi mới tổ chức quản lý sản xuất. Trong đổi mới tổ chức sản xuất, đặc biệt quan tâm đến công tác quản lý lao động. Các doanh nghiệp cần chú trọng đến đời song của người lao động, tạo sự gắn bó của người lao động với doanh nghiệp, hạn chế tình trạng luân chuyển lao động. Sử dụng các hình thức kích thích để nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động, coi đó là cơ sở quan trọng hàng đầu để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập cho người lao động và phát huy lợi thế về nhân công và luôn quan tâm đến việc cải thiện môi trường. 1.4. Định hướng chiến lược: chuyển dần từ CMT sang FOB. Về lâu dài, phương thức xuất khẩu trực tiếp sẽ trở than phương thức xuất khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp may Việt Nam. Điều quan trọng bây giờ phải chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thực hiện xuất khẩu trực tiếp có một cách có hiệu quả. Những điều kiện quan trọng nhất là: tăng lượng vố kinh doanh, trước hết là vốn lưu động của doanh nghiệp bằng các nguồn khác nhau; tạo lập và nâng cao uy tín thương hiệu hàng may mặc Việt Nam trên thị trường quốc tế, chú trọng việc thiết kế mẫu mã hàng hóa. Các doanh nghiệp may Việt Nam càc xác định bước đi thích hợp trong việc chuyển từ gia công xuất khẩu sang xuất khẩu trực tiếp. Tùy theo khả năng cụ thể củ mình, doanh nghiệp dệt may có thẻ lựa chọn các kiểu mua nguyên liệu, xuất khẩu thanh phẩm thích hợp. 2. Liên kết dệt- may, một nhân tố quan trọng. Quan hệ dệt-may trong nước là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng khá lớn tới khả năng sản xuất cũng như hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp may. Điều này càng có vai trò quan trọng với việc tạo thế chủ động và đem lại nhiều giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp may xuât khẩu. Quan hệ dệt may được thể hiện qua nhiều hinh thức: cac doanh nghiệp dệt cung cấp nguyên liệu cho cac doanh nghiệp may, các doanh nghiệp may tự cung cấp nguyên liệu cho mình bằng sản phẩm tự sản xuất, quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp dệt với nhau và cới các doanh nghiệp may nhằm đảm bảo nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm của nhau, hỗ trợ lẫn nhau. 2.1. Sự cần thiết phải tăng cường mối quan hệ dệt-may ở Việt Nam. Quan hệ chiều dọc của ngành dệt may có thể biể thị như sau: Nguyên liệu Kéo sợi Dệt vải In nhuộm May Trong thực tế, mặc dù không nhất thiết phải phát triển tất cả các khâu trong hệ thống sản xuất dệt may một cách đồng đều, nhưng nếu tạo ra được mối liên hệ chặt chẽ giữa các khâu trong điều kiện sẵn có thì sẽ có tác động to lớn trong việc đảm bảo tính chủ động, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm may Việt Nam trên thị trường trong nước và thế giới . Sự cần thiết tăng cường mối quan hệ dệt may có thể thể hiện trên các khía cạnh sau đây: - Liên kết giữa khâu dệt và khâu may có thể góp phần nâng cao chất lượng nguyên liệu cho các doanh nghiệp may do ngành dệt có thể bám sát hơn nhu cầu cửa ngành may về các nguyên liệu. Ngành may mặc, mặc dù có kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh , chủ yếu vẫn thể hiện phương thức gia công xuất khẩu (CMT), do dố cần chuyển dần sang phương thức tự sản xuất và xuất khẩu (FOB) để đạt hiệu quả cao hơn. Nhưng ngoài khó khăn về nhãn mác, thương hiệu, nguồn vải và phụ liệu ổn định, kịp thời và đam bảo chất lượng cũng là một trở ngậi lớn đối với ngành dệt may hiệ nay. - Tăng cường liên kết dệt may tạo điều kiện giảm chi phí do giảm được các chi phí trung gian. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng hơn nếu xem xét số liệu về cơ cấu hàng dệt may nhập khẩu. Chẳng hạn, tỷ lệ vải nguyên liệu trong hàng hóa dệt-may năm 1994 là 99,9%, đến năm 1997, tỷ lệ này giảm đi nhưng vẫn ở chiếm đến 90%. Theo đánh giá của hiệp hội Dệt May Việt Nam, sản phẩm may mặc xuất khẩu của Việt Nam đang đắt hơn sản phẩm cùng loại trong khu vực từ 10-15%. Do trong nước chưa chủ động được nguyên liệu hoặc nguyên liệu sản xuất trong nước có giá cao. - Liên kết dệt may cho phép giảm bớt nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, tăng giá trị gia tăng cho ngành dệt may và tăng đóng gốp của ngành vào nên kinh tế quốcdân. Bảng 4. Tỷ trọng ngành dệt- may trong tổng kim nhạch xuất khẩu và nhập khẩu của nền kinh tế. 1994 1995 1997 1998 1998 2000 2001 2002 Xuất khẩu 14 16 17 15 15,1 13,1 13,2 16,7 Nhẩp khẩu 6,7 8,7 9,1 15,0 9,6 9,1 9,8 9,9 Nguồn: Viện kinh tế khoa học Hà Nội, trang 29. Viện ngiên cứu thương mại, Bộ thương mại. Các số liệu trong bảng 4 cho thấy, mặc dù đóng góp của ngành dệt may trong xuất khẩu của cả nước đang tăng lên, nhưng phần nhập khẩu của ngành cũng tăng tương ứng. Vì vậy, tăng cường liên kết giữa dệt may là nhu cầu cấp thiết hiện nay. - Liên kết dệt- may góp phần tạo điều kiện cung cấp vải sợi ổn định, chủ động cho may xuất khẩu. Thực tế cho thấy, việc nhập khẩu vải sợi và phụ liệu khiến cá doanh nghiệp gặp bất lợi, không chủ động được thời gian giao hàng. Vì vậy, nếu được cung cấp vải và phụ liệu ổn địnhtrong nước, các doanh nghiệp may sẽ giảm bót được rủi ro trông xuất khẩu. - Liên kết dệt may tạo đièu kiện mở rộng thị trường của ngàn dệt từ đó tăng quy mô để đạt lợi thế về quy mô, giảm giá ngành, tăng súc cạnh tranh của ngành dệt, tăng tích lũy để tiếp tục tái đầu tư cho công nghệ mới nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành may. 2.2. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt -may hiện nay. Điểm yếu nhất của ngành dệt nước ta hiện nay là chưa đủ khả năng đáp ứng các loại vải cho các doanh nghiệp may xuất khẩu cả về số lượng, chủng loại và chất lượng. Theo đánh giá của các chuyên gia trong nước thì vải Việt Nam kém hơn nhiều so với các nước trong khu vực nhưng giá thành lại cao hơn. Tỷ lệ vải trong nước có chất lượng đáp ứng được yêu cầu của ngành may xuất khẩu chỉ khoảng 10-15%, còn các nguyên phụ liệu cho ngành dệt may như xơ, sợi, hóa chất, thuốc mhuộm, phụ liệu may hầu hết là nhập của nước ngoài. Chính vì vậy mặc dù kim ngạch xuất khẩu của ngàn dệt may Việt Nam đạt gần 2 tỷ USD vào năm 2001 nhưng giá trị làm ra trong nước chỉ chiếm 1/4, còn lại là vải và phụ liệu của nước ngoài. Theo đánh giá của các tổ chức liên quan, mối quan hệ dệt may ở Việt Nam hiện nay còn thấp và chưa hiệu quả. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến mối quan hệ dệt may không hiệu quả. Ý kiến của các doanh nghiệp dệt: Theo ý kiến tự đánh giá về khả năng của các doanh nghiệp dệt trong cung ứng vải cho các doanh gnhiệp may, những nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ thấp kém của tiêu thụ hàng hóa (vải) trong nội bộ doanh nghiệp dệt may: - Các doanh nghiệp dệt tự cho rằng họ chưa chủ động trong việc tìm kiếm khách hàng và thiết kế mẫu mới. Đạc biệt trong các doanh nghiệp nhà nước, hoạt động marketing còn thụ động. - Các đơn đặt hàng về mỗi loại vải củ cac doanh nghiệp may ở Việt Nam có số lượng nhỏ, mầu sắc nhiều, hoa văn phức tạp, thời gian ngắn,… gây khó khăn cho các doanh nghiệp dệt trong tổ chức sản xuất và đảm bảo giá cạnh tranh. - Chất lượng vải chưa đáp ứng yêu cầu cầu của các doanh nghiệp may do bông, xơ, sợi chất lượng thấp, năng lực hoàn tất kém. - Một số khách hàng nước nhoài có khuynh hướng chỉ định vải ở một nước thứ ba là cho các doanh nhgiệp dệt vải trong nước mất cơ hội tiếp cận các doanh nghiệp may. Ý kiến của các doanh nghiệp may: Các doanh nghiệp may mua vải của các doanh nghiệp dệt đưa ra những nguyên nhân cơ bản sau: - Giá cả củ vải trong nước kếm sức cạnh tranh.Các sản phẩm nội địa thường có giá cao hơn các san phẩm cung loại trong khu vực từ 10-15%. - Chất lượng vải chưa cao. Chất lượng vải chưa cao thể hiện ở nhiều điểm. Thứ nhất là độ bền: vải sợi nội địa có độ bền thấp hơn vải sợi nhập khẩu. Thứ hai là cấp độ hóa: vải trong nước có cấp độ hóa thấp. Khi khách hàn yêu cầuvải không được có chứa một loại chất hoa học nào đó thì các doanh nghiệp dệt Vệt Nam không đáp ứng được.Tứ ba là khả năng đáp ứng yêu cầu cấp đọ sản phẩm không cao. Ví dụ các doanh nghiệp trong nước không thể dệt được các loại vải như Rincòi, một laọi vải chống nhăn để may áo sơmi. Thứ tư là mầu sắc: mầu sắc của các loại vải sợi trong nước ít đa dạng. Bên cạnh đó chất lượng vải sợi trong nước giữa các lô hàng hoắc các mể thườn không ổn định do các doanh nghiệp dêtk không có công thức chính xác về pha chế màu nhuộm, Ngoài ra, thời gian cung cấp không ổn định. Tóm lại, mặc dù nhu cầu nguyên liệu vải sợi trong nước rất cao nhưng các doanh nghiệp dệt trong nước lại không đủ năng lực để đáp ứng. 2.3. Các biện pháp thúc đẩy sự lên kết dệt-may. Có nhiều chủ trương đã dược đưa ra để thúc đẩy sự liên kết này. Trong đó có một ý kiến được nhiều sự đồng tình hơn cả, đó là: Phát triển công nghiệp dệt sợi nằm trong khuôn khổ phát triển các ngành thay thế nhẩp khẩu với mục tiêu chủ yếu là đáp ứng một trong những yếu tố thượng nguồn chủ yếu của công nghiệp may mặc: bảo đảm tính chủ động và hiệu quả trong phát triển công nghiệp may mặc hiện nay vốn phụ thuộc vào nguồn vải và phụ liệu nhập khẩu từ nước ngoài. Theo chủ trương này thì kịch bản sẽ là : chú trọng phát triển ngành sợi –dệt Việt Nam. Trên thực tế đây cũng là kịch bản mà hiện nay nước ta đang theo đuổi. “ Chiến lược tăng tốc phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010 nhằm giải quyết việc làm và nâng cao kim ngạch xuất khẩu” đã chú trọng đâu tư cho ngành dệt nhằm tạo ra nguồn vải và ohụ liệu chất lượng cao phục vụ cho may xuất khẩu, tăng tỷ trọng xuất khẩu FOB, tăng giá trị và lợi nhuận thông qua hình thức xuất khẩu nay. Trong những năm tới, việc phát triển công nghiệp dệt sợi Việt Nam sẽ được thực hiện song song theo hai phương hướng: đầu tư chiều sâu cải tạo và nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu may mặc phục vụ nội địa hóa và xuất khẩu, đồng thời đầu tư mới xây dựng một số nhà máy kéo sợi bông và sản xuất sợi tổng hợp, dệt vải nhẹ( cho may áo sơmi), vải nặng( cho may quần âu và veston) vải tổng hợp( cho may áo jacket), dệt kim và dệt vải công nghiệp… Định hướng phát triển này sẽ góp phần tăng tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm may mặc từ 25% hiện nay lên 50% vào năm 2005 và 75% vào năm 2010. KẾT LUẬN Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp may nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc. Với kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, mặt hàng dệt đã trở thành mặt hàng đứng đầu trong số các mặt hàng xuất khẩu. Nó đã giải quyết công ăn việc làm cho nhiều công nhân, đem lại nguồn thu lớn cho nhà nước. Song hiện nay, ngành may chủ yếu xuất khẩt theo hình thức gia công ủy thác CMT, phụ thuộc nhiều vào các khách hàng nước ngoài. Việc chuyển đổi từ gia công ủy thác CMT sang xuất khẩu trực tiếp FOB đang gặp phải những trở ngại nhất định. Nếu không chuyển sang FOB, ngành may Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn trong cạnh tranh và khó có thể khặng định được vị trí cũng như tên tuổi của mình trên thị trường quốc tế. Để việc chuyển đổi diễn ra nhanh chóng và thuận lợi trước hết đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp dẹt và doanh nghiệp may. Thứ hai các doanh nghiệp may cần tích cực đổi mới công nghệ, phương thức quản lý, tăng cường thiết kế mẫu mã, kiểu dáng để tạo ra tên tuổi riêng cho mình. Ở đây, không thể thiếu vai trò quan trọng của nhà nước. Việc đơn giản hóa các thủ tục hành chính, xây dựng các chính sách về thuế và khuyến khích thương mại hợp lý sẽ giúp cho việc xuất khẩu hàng may mặc tốt hơn, nhanh chóng hơn; thu hút nhiều hơn khách hàng cũng như các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Nước ta vừa chính thức gia nhập tổ chức thượng mại quốc tế WTO, cả nước đang đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn. Điêu đó đòi hỏi các nghiệp phải có những bước đi đúng đắn để có thể nắm láy cơ hội, đương đầu với thách thức. Trong bối cảnh chung đó, các doanh nghiệp dệt may càng cần phải liên kết chặt chẽ hơn, tự hoàn thiện, đổi mới nâng cao mình để hàng may mặc Việt Nam có thể cạnh tranh và đững vững trên thị trường thế giới. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc61669.DOC