Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở Lục Nam – Bắc Giang

I. MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong số các cây thực phẩm thì dưa chuột bao tử là cây trồng ngắn ngày cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến rau quả xuất khẩu, được nhiều quốc gia ưa thích. Kết quả nghiên cứu cho thấy dưa chuột bao tử là cây có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả chứa nhiều vitamin A, B, B6, E và đặc biệt có nhiều men tiêu hóa có lợi cho quá trình đồng hóa và hấp thụ thức ăn tốt hơn. Nhận thấy được vai trò của dưa chuột bao tử những năm gần đây đã có nhiều cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước khảo sát nghiên cứu và chọn Việt Nam là nơi sản xuất dưa chuột bao tử làm nguyên liệu để chế biến cho xuất khẩu sang các nước như Nhật, Mỹ, Nga và một số nước Đông Âu. Xuất khẩu dưa chuột bao tử của Việt Nam trong những năm qua không ngừng tăng lên. Sản xuất và xuất khẩu dưa chuột bao tử của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Nhu cầu tiêu dùng dưa chuột và các sản phẩm chế biến từ dưa chuột tăng mạnh từ cuối năm 2008 đến nay. Theo số liệu thống kê của tổng cục hải quan, kim ngạch xuất khẩu dưa chuột và các chế phẩm từ dưa chuột 5 tháng đầu năm 2009 đạt hơn 22,2 triệu USD tăng 155% so với cùng kỳ 2008, ước tính trong tháng 6 kim ngạch có thể đạt tới gần 1,9 triệu USD, nâng tổng kim ngạch lên 24,1 triệu USD. Có 33 thị trường nhập khẩu dưa chuột từ Việt Nam, trong đó Liên Bang Nga là nước có kim ngạch cao nhất với 12,3 triệu USD, đây cũng là thị trường có kim ngạch cao nhất trong nửa đầu năm 2008. So với các cây trồng ngắn ngày khác, cây dưa chuột bao tử có nhiều ưu thế như chi phí cho sản xuất không cao, vòng quay thu hồi vốn nhanh, thời gian thu hoạch ngắn, bình quân 35 – 40 ngày có thể cho thu hoạch và thời gian thu hoạch kéo dài từ 60 – 80 ngày. Bên cạnh những thuận lợi như đã trình bày ở trên, cây dưa chuột bao tử ở Lục Nam cũng còn gặp phải những vấn đề khó khăn. Trước hết là về trình độ khoa học kỹ thuật của người nông dân còn thấp như trong các công đoạn chọn đất và chuẩn bị đất trồng, cách trồng, khoảng cách làm bầu, xử lý hạt, thời điểm phát bệnh và phun thuốc hóa học. Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Tìm hiểu tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở Lục Nam – Bắc Giang”. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Mục tiêu tổng quát Tìm hiểu tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên cả nước Tìm hiểu tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang Tìm hiểu của việc liên kết 4 nhà trong trồng dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang Tìn hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam Đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam. MỤC LỤC I. MỞ ĐẦU 1 1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2 1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2 1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2 II. NỘI DUNG 3 2.1 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên cả nước 3 2.2 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang 4 2.2.1 Tình hình sản xuất dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang 4 2.2.2 Tình hình chế biến dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang 7 2.2.3 Tình hình tiêu thụ dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang 9 2.2.3.1 Tình hình thu gom mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu trên địa bàn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang 9 2.2.3.2 Kênh xuất khẩu sản phẩm dưa chuột bao tử thành phẩm 12 2.3 Tình hình liên kết 4 nhà trong trồng dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam 14 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam 16 2.4.1 Quy mô diện tích 16 2.4.2 Giống 16 2.4.3 Quan hệ hợp tác 17 2.4.4 Kỹ thuật thâm canh và chăm sóc 17 2.4.5 Vốn đầu tư 17 2.4.6 Trang thiết bị chế biến của các công ty 18 2.4.7 Thị trường và tiêu thụ sản phẩm 18 2.5 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam 18 III. KẾT LUẬN 20

doc22 trang | Chia sẻ: thanhnguyen | Ngày: 10/09/2013 | Lượt xem: 467 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở Lục Nam – Bắc Giang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I. MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Trong số các cây thực phẩm thì dưa chuột bao tử là cây trồng ngắn ngày cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến rau quả xuất khẩu, được nhiều quốc gia ưa thích. Kết quả nghiên cứu cho thấy dưa chuột bao tử là cây có giá trị dinh dưỡng cao, trong quả chứa nhiều vitamin A, B, B6, E…và đặc biệt có nhiều men tiêu hóa có lợi cho quá trình đồng hóa và hấp thụ thức ăn tốt hơn. Nhận thấy được vai trò của dưa chuột bao tử những năm gần đây đã có nhiều cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài nước khảo sát nghiên cứu và chọn Việt Nam là nơi sản xuất dưa chuột bao tử làm nguyên liệu để chế biến cho xuất khẩu sang các nước như Nhật, Mỹ, Nga và một số nước Đông Âu. Xuất khẩu dưa chuột bao tử của Việt Nam trong những năm qua không ngừng tăng lên. Sản xuất và xuất khẩu dưa chuột bao tử của Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Nhu cầu tiêu dùng dưa chuột và các sản phẩm chế biến từ dưa chuột tăng mạnh từ cuối năm 2008 đến nay. Theo số liệu thống kê của tổng cục hải quan, kim ngạch xuất khẩu dưa chuột và các chế phẩm từ dưa chuột 5 tháng đầu năm 2009 đạt hơn 22,2 triệu USD tăng 155% so với cùng kỳ 2008, ước tính trong tháng 6 kim ngạch có thể đạt tới gần 1,9 triệu USD, nâng tổng kim ngạch lên 24,1 triệu USD. Có 33 thị trường nhập khẩu dưa chuột từ Việt Nam, trong đó Liên Bang Nga là nước có kim ngạch cao nhất với 12,3 triệu USD, đây cũng là thị trường có kim ngạch cao nhất trong nửa đầu năm 2008. So với các cây trồng ngắn ngày khác, cây dưa chuột bao tử có nhiều ưu thế như chi phí cho sản xuất không cao, vòng quay thu hồi vốn nhanh, thời gian thu hoạch ngắn, bình quân 35 – 40 ngày có thể cho thu hoạch và thời gian thu hoạch kéo dài từ 60 – 80 ngày. Bên cạnh những thuận lợi như đã trình bày ở trên, cây dưa chuột bao tử ở Lục Nam cũng còn gặp phải những vấn đề khó khăn. Trước hết là về trình độ khoa học kỹ thuật của người nông dân còn thấp như trong các công đoạn chọn đất và chuẩn bị đất trồng, cách trồng, khoảng cách làm bầu, xử lý hạt, thời điểm phát bệnh và phun thuốc hóa học. Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Tìm hiểu tình hình sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử ở Lục Nam – Bắc Giang”. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Mục tiêu tổng quát Tìm hiểu tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên cả nước Tìm hiểu tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang Tìm hiểu của việc liên kết 4 nhà trong trồng dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang Tìn hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam Đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam. II. NỘI DUNG 2.1 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên cả nước Trước kia cây lúa là cây trống chính, tuy nhiên khi điều kiện sống tăng lên thì nhu cầu về rau quả cũng tăng cao, các sản phẩm được chế biến từ dưa chuột bao tử cũng dần được ưa chuộng hơn cả trong và ngoài nước. Hiện nay dưa chuột bao tử được trồng chủ yếu ở Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nam, Bắc Ninh. Và một số thị trường xuất khẩu chủ yếu như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore… Diện tích trồng dưa chuột bao tử của Việt Nam đã tăng từ 148,42 nghìn ha năm 2005 lên 448,42 nghìn ha năm 2008. Khu vực sản xuất dưa chuột chủ yếu là vúng Đồng bằng Sông Hồng chiếm 23,28% về diện tích và 25,46% về sản lượng (năm 2007). Việc nâng cao năng lực chế biến dưa chuột bao tử đã được chú trọng hơn. Năm 2000 cả nước chỉ có 12 nhà máy và 48 cơ sở chế biến rau quả có dây chuyền và thiết bị còn lạc hậu, sản phẩm sản xuất ra con chưa phù hợp với thị trường, công suất 150 nghìn tấn/năm. Nhưng sau 4 năm triển khai đề án phát triển rau quả và hoa cây cảnh giai đoạn 2000 – 2010 đã có thêm 12 nhà máy chế biến công suất cao 290 nghìn tấn/năm với thiết bị hiện đại, sản phẩm sản xuất đã có mặt ở 50 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, thâm nhập vòa được những thị trường có yêu cầu cao về chất lượng cũng như mẫu mã sản phẩm như thị trường Mỹ và EU. Từ khi có quyết định số 80/2002/QĐ – TTg ngày 24/6/2002 về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng đến tháng 6/2006 Tổng công ty Rau quả Việt Nam đã ký 924 hợp đồng tiêu thụ sản phẩm dưa chuột bao tử. Dưa chuột bao tử khi các hộ trồng ra không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn dùng cho xuất khẩu ra các nước trên thế giới. Năm 2007, tổng công ty rau quả Việt Nam đã xuất khẩu được 47.423 tấn dưa chuột hộp và 552 tấn dưa chuột đóng lọ thủy tinh. Năm 2008, tổng diện tích trồng là 1.685,56 ha, sản lượng xuất khẩu là 70.478 tấn dưa chuột hộp và 1718 tấn dưa chuột đóng lọ thủy tinh. Tổng giá trị xuất khẩu là 7,98 triệu USD. Thị trường xuất khẩu dưa chuột và các dạng chế phẩm từ dưa chuột đã được mở rộng thêm 10 nước trong đó chủ yếu là các nước trong khối EU như Hà Lan, Bồ Đào Nha và khối ASEAN là Campuchia, Singapo. Nhu cầu tiêu dung dưa chuột và các dạng chế phẩm, từ dưa chuột đang tăng mạnh kể từ cuối năm 2008 đến nay. Theo số liệu cục Hải Quan, kim ngạch xuất khẩu dưa chuột bao tử và các dạng chế phẩm 5 tháng đầu năm 2009 đạt hơn 22,2 triệu USD, tăng 155,6% so với năm cùng kỳ năm 2008. Tháng 6 năm 2009 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm đạt gần 1,9 triệu USD nâng tổng kim ngạch xuất khẩu dưa chuột nửa đầu năm 2009 lên 24,1 triệu USD. Trong năm tháng đầu năm 2009, xuất khẩu mặt hàng dưa chuột đến các thị trường đều tăng. Trong đó xuất khẩu sang 3 thị trường Nga, Nhật Bản và Rumani chiếm ưu thế vượt trội chiếm 77,5% tổng kim ngạch. Có 33 thị trường nhập khẩu dưa chuột từ Việt Nam trong đó Liên Bang Nga đạt kim ngạch cao nhất với 12,3 triệu USD, tăng 155,55% so với cùng kỳ. Đây cũng là thị trường đạt kim ngạch cao nhất kể từ năm 2008 đến nay. Sản phẩm dưa chuột và các dạng chế phẩm từ dưa chuột được tiêu dùng Nga rất ưa chuộng. Trong đó có mặt hàng dưa chuột dầm dấm là mặt hàng luôn đạt kim ngạch cao nhất và có mức tăng trưởng xuất khẩu ổn định. Số liệu thống kê cho thấy kim ngạch xuất khẩu dưa chuột bao tử dầm dấm trong tháng 12 năm 2008 chỉ đạt gần 900 nghìn USD, nhưng tháng 3 năm 2009 đã tăng lên 2 triệu USD, tháng 5 năm 2009 đạt 3,1 triệu USD. Tính chung 5 tháng đầu năm 2009 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đạt hơn 9 triệu USD tăng 95% so với cùng kỳ. Tiếp đến là mặt hàng dưa chuột trung tử dầm dấm với kim ngạch đạt gần 2 triệu USD. Dưa chuột muối và dưa chuột ngâm với hành, ớt, tỏi, cà chua đạt gần 1,2 triệu USD. 2.2 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang 2.2.1 Tình hình sản xuất dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Cây dưa chuột được trồng tại tỉnh Bắc Giang từ rất lâu một số huyện trồng dưa chuột bao tử lớn như huyện Lạng Giang đã hình thành nên các vùng sản xuất với quy mô lớn đã đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lớn, tuy nhiên huyện Lục Nam cây dưa chuột mới được đưa vào trồng từ năm 2007. Xã đầu tiên được đưa vào gieo trồng dưa chuột bao tử đầu tiên của huyện đó là xã Đông Phú, hiện nay đã có thêm một số xã nữa là xã Thanh Lam, Bắc Lũng, Chu Điện….Tuy nhiên xã Đông Phú vẫn là xã có diện tích trồng dưa chuột lướn nhất của huyện có thể do đây là xã có các điều kiện phù hợp cho cây dưa chuột phát triển tốt, bên cạnh đó người dân cũng chăm chỉ tích cực tiếp thu các tiến bộ mới. Hiện nay diện tích trồng dưa chuột bao tử của cả huyện nói chung và diện tích trồng dưa trên địa bàn xã Đông Phú nói riêng đều có su hương tăng nên qua các năm. Bảng 1: Quy mô diện tích trồng dưa chuột bao tử của xã Đông Phú Thôn 2007 2008 2009 Gắn 1,2 3,15 4,35 Thanh sơn 1,1 2,46 3,56 Phong quang 2,3 3,35 5,65 Đoàn tùng 0,5 1,46 1,96 Cây đa 0,8 0,52 1,32 Tân tiến 2,5 2,03 4,53 Hưởng ban 2,8 1,98 4,78 Va 3,2 2,93 6,13 Trong 5,6 6,90 12,5 Yên bắc 8,5 7,97 16,47 Ngoài 1 1,48 2,98 Tổng 29,5 34,24 63,74 (Nguồn: báo cáo tốt nghiệp vai trò liên kết 4 nhà trong sản xuất dưa chuột bao tử tại xã đông phú huyện lục nam tỉnh bắc giang,năm 2009) Qua bảng số liệu cho thấy nhìn chung thì các năm diện tích trồng dưa chuột bao tử của xã đều tăng nên qua các năm, xã có diện tích trồng dưa chuột bao tử cao nhất và tăng nhanh qua các năm trong xã là thôn Yên Bắc và thôn Trong. Để tiếp tục mở rộng, phát triển sản xuất cây dưa chuột bao tử thành vùng tập trung, sản phẩm dưa thành hàng hóa góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong giai đoạn tới thì Ủy ban nhân dân huyện Lục Nam đã xây dựng đề án “ Phát triển vùng cây rau màu chế biến xuất khẩu trên địa bàn huyện Lục Nam giai đoạn 2009 – 2015”. Bảng 2: Dự kiến diện tích trồng thêm cây rau màu chế biến của huyên Lục Nam ĐVT: ha Danh mục 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Ngô chế biến 5 10 15 25 30 45 50 Dưa bao tử 30 40 60 700 85 95 130 Dưa chuột nhật 20 30 40 60 75 85 120 Cà chua bi 10 15 20 30 40 50 60 Ớt ngọt 3 5 7 9 10 15 20 (Nguồn: báo cáo tốt nghiệp vai trò liên kết 4 nhà trong sản xuất dưa chuột bao tử tại xã đông phú huyện lục nam tỉnh bắc giang,năm 2009) Qua bảng số liệu cho thấy thì xu hướng đến năm 2015 huyện quy hoạch trồng một số cây rau dùng để chế biến đều tăng nên qua các năm. Một trong những cây được phát triển mạnh nhất trong huyện đến năm 2015 đó là cây dưa bao tử và dưa chuột Nhật. Diện tích trồng cây rau màu chế biến năm 2009 là 68ha, tập trung ở các xã đó là xã Đông Phú, Bảo Sơn, Thanh Lâm, Bảo Đài, Tam Dị, Đông Hưng, bằng cây trồng dưa chuột bao tử, ớt ngọt, cà chua bi….Diện tích cây màu chế biến năm 2015 đạt 380ha tập trung chủ yếu ở các xã Đông Phú, Thanh Lâm, Chu Điện, Thị Trấn Đồi Ngô, trong đó diện tích trồng dưa chuột bao tử lướn nhất đó là xã Đông Phú đây là xã có điều kiện thuận lợi cho phát triển cây dưa chuột bao tử. Huyện Lục Nam nói chung, xã Đông Phú nói riêng có thế mạnh sản xuất cây dưa chuột, bên cạnh đó trên địa bàn tỉnh có 8 doanh nghiệp chế biến nông sản thục phẩm xuất khẩu. Trên thực tế sản lượng rau phục vụ chế biến của tỉnh mới chỉ đáp ứng được 50,55% nhu cầu công suất của nhà máy. Điển hình như công ty GOC công suất 14.000 tấn/năm, công ty TNHH phương đông và công ty TPBG công suất 3000 tấn/năm hàng năm các doanh nghiệp này đều phải đi thu mua các sản phẩm từ các tỉnh lân cận. Điều này cho thấy việc mở rộng quy mô diện tích của huyện Lục Nam cho đến năm 2015 là hoàn toàn hợp lý vì khi mở rộng quy mô sản xuất sẽ không phải lo nghĩ đến việc tìm đầu ra cho sản phẩm do các công ty sãn sàng thu mua các sản phẩm cho các hộ dân từ đó nâng cao thu nhập cho các hộ dân. 2.2.2 Tình hình chế biến dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Song song với việc không ngừng mở rộng diện tích trồng cây dưa chuột xuất khẩu trên địa bàn tỉnh, các doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất chế biến dưa chuột xuất khẩu cũng gia tăng nhanh chóng, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và hoạt động chế biến nông sản trên địa bàn.  Đến nay, số doanh nghiệp và cơ sở sản xuất chế biến trong lĩnh vực này không ngừng phát triển về số lượng và ngày càng chú trọng về chất lượng. Các đơn vị thu mua, công ty chế biến nông sản được thành lập và hoạt động hiệu quả đã dần hình thành mối liên kết chặt chẽ, tạo nên vòng khép kín giữa vùng nguyên liệu và cơ sở chế biến. Hiện nay trên toàn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang có 3 doanh nghiệp lớn chế biến dưa chuột bao tử đó là công ty CPCBTPXK Bắc Giang, GOC, công ty rau quả Xuất Khẩu Hải Dương . Để có đủ dưa nguyên liệu sản xuất chế biến, ngoài sản lượng dưa đầu tư trồng, thu mua trong tỉnh, một số doanh nghiệp còn đầu tư trồng và thu mua dưa nguyên liệu ngoài tỉnh như Hà Nam, Thái Bình, Bắc Giang, Hải Dương… Với các sản phẩm chế biến từ dưa chuột bao tử là: dưa chuột bao tử dầm dấm, dưa chuột bao tử muối. Tuy nhiên sản xuất chế biến dưa chuột xuất khẩu nói riêng và rau quả nói chung trên địa bàn tỉnh nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu về chế biến nông sản xuất khẩu trong giai đoạn hiện nay. Thực tế là doanh nghiệp, cơ sở chế biến dưa chuột xuất khẩu của tỉnh nhiều nhưng nhìn chung quy mô sản xuất nhỏ, đầu tư trung bình từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng, trình độ khoa học công nghệ thấp, sản xuất chưa ổn định, dây chuyền không đồng bộ. Chỉ có một vài doanh nghiệp có công nghệ chế biến hiện đại hoặc bán tự động, có quy trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm một cách bài bản, còn lại là chế biến thủ công, nhất là các cơ sở chế biến. Hầu hết các doanh nghiệp đều phát triển từ mô hình kinh tế hộ gia đình, vốn hạn chế nên thường tận dụng mặt bằng sẵn có và ít có điều kiện đầu tư mở rộng nhà xưởng, lắp đặt công nghệ sản xuất hiện đại. Thậm chí ở các cơ sở sản xuất nhỏ, lẻ mà quy trình sản xuất từ khâu thu gom, sơ chế, đóng lọ, dán nhãn… đều làm bằng phương pháp thủ công. Khảo sát tại một số cơ sở, doanh nghiệp chuyên chế biến dưa chuột xuất khẩu tại huyện lục Nam cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp, cơ sở đều tận dụng mặt bằng của gia đình hoặc thuê nhà xưởng để sản xuất. Các sở sản xuất trung bình mỗi năm xuất khẩu hàng chục tấn nông sản song mặt bằng nhà xưởng chỉ vỏn vẹn vài chục mét vuông; một số doanh nghiệp do nhà xưởng chật hẹp nên thực hiện nguyên liệu ở đâu thuê nhà xưởng sơ chế ở đó. Phương pháp chế biến này có ưu thế là rau quả tươi, mẫu mã đẹp, ít hao nguyên liệu nhưng khó kiểm soát chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phần lớn không có trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề mà chủ yếu lao động phổ thông. Hầu hết các doanh nghiệp chưa có thị trường ổn định, sản xuất mang tính tự phát, không có chiến lược lâu dài trong kinh doanh, nhất là chưa có chiến lược đầu tư cho vùng nguyên liệu và chiến lược thị trường trong và ngoài nước. Thông tin dự báo về thị trường nói chung là ít ỏi và thiếu chính xác, khi thị trường có biến động về nhu cầu tiêu thụ, về giá làm cho các doanh nghiệp và người dân chịu nhiều thiệt hại. Chính vì vậy sản phẩm làm ra của doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh thấp, không thâm nhập vào được các thị trường lớn, tiềm năng nhưng có những quy định, đòi hỏi khắt khe, nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm. Việc mở rộng sản xuất cây vụ đông nói chung và cây dưa chuột nói riêng phục vụ chế biến, xuất khẩu gặp không ít khó khăn. Hợp đồng ký kết giữa một số doanh nghiệp với nông dân chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng phá vỡ hợp đồng. Khi giá thị trường lên cao, nông dân bán sản phẩm ra ngoài, ngược lại khi giá xuống thấp lại “ép” doanh nghiệp phải thu mua. Phần lớn sản phẩm tiêu thụ qua nhiều khâu trung gian nên giá thu mua thấp. Trong khi đó chất lượng vệ sinh an toàn chưa bảo đảm. Nhiều hộ nông dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, thuốc kích thích sinh trưởng tùy tiện nên sản phẩm không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, chế biến. Một khó khăn khác là cây trồng chưa được quy hoạch thành vùng nguyên liệu tập trung, áp dụng tiến bộ kỹ thuật còn hạn chế nên năng suất, chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu. Hầu hết các nhà máy, cơ sở chế biến trên địa bàn tỉnh chưa phát huy tối đa công suất. Cũng vì các doanh nghiệp chế biến nông sản của tỉnh sản xuất không ổn định, mặt hàng dưa chuột dầm dấm là chủ lực, lại sản xuất theo mùa vụ, phụ thuộc phần lớn vào đơn hàng gia công nên bình quân các doanh nghiệp chỉ hoạt động từ 40-45% công suất, vào vụ đông là thời điểm nhiều nguyên liệu chế biến nhất, công suất cũng chỉ đạt 60-65%.   Kể từ vụ dưa đông 2009( tháng 11-tháng 1) và vụ dưa xuân năm 2010( tháng 4 đến tháng 6), do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của thị trường, nhất là thị trường Nga giảm mạnh, sản lượng dưa chuột xuất khẩu trên địa bàn tỉnh sụt giảm nghiêm trọng, lượng hàng tiêu thụ đạt 50% so với các vụ trước và vụ xuân 2010 chỉ đạt khoảng 30% . Tính đến tháng 8 năm 2010, lượng sản phẩm tồn kho của các doanh nghiệp là khá lớn, chủ yếu sản xuất vụ đông 2009, ảnh hưởng phần nào đến chất lượng sản phẩm và hoạt động của doanh nghiệp. Có doanh nghiệp còn nợ tiền dưa nguyên liệu của nông dân và tiền công lao động, nhiều doanh nghiệp thiếu vốn để đầu tư tái sản xuất. Trong thời gian tới tình hình trên không được sớm cải thiện và có những giải pháp khắc phục kịp thời sẽ dẫn đến không ít cơ sở sản xuất chế biến mặt hàng này phải đối diện với nguy cơ phá sản… Do tình hình dưa chuột xuất khẩu hiện rất khó khăn về đầu ra nên diện tích trồng cây dưa chuột xuất khẩu cũng bị thu hẹp đáng kể, giá dưa nguyên liệu giảm mạnh (dưa bao tử 4-6 cm vụ xuân 2010 có lúc giá chỉ còn 2.200 đồng/ kg, dưa trung tử 6-8 cm giá 1.000 đồng/ kg ) dẫn đến việc trồng không có lãi nên một số hộ dân đã từ bỏ hoặc thay thế cây dưa chuột xuất khẩu bằng cây trồng khác đem lại giá trị cao hơn 2.2.3 Tình hình tiêu thụ dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Hiện nay dưa chuột bao tử được sản xuất, chế biến ra thì chủ yếu nhằm mục đích cho việc xuất khẩu dưa chuột bao tử ra các nước ngoài, việc tiêu thụ trong nước là không nhiều do vậy chúng tôi tiến hành việc xem xét việc tiêu thụ dưa chuột bao tử nhằm cho mục đích xuất khẩu là chủ yếu. 2.2.3.1 Tình hình thu gom mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu trên địa bàn huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang Trước kia do sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, thiếu tập trung nên thu gom ở nhiều địa bàn cách xa nhau không chỉ trên địa bàn huyện mà còn sang cả các tỉnh khác như Hưng Yên hay Hải Dương nên các doanh nghiệp phải chịu chi phí lớn về vận chuyển trong khi đó đội ngũ nhân viên còn chưa có kinh nghiệm trong thu gom bảo quản nhấp là đối với dưa chuột bao tử, vì đây là sản phẩm tươi dễ bị dập nát. Từ khi có quyết định 80/2002/QĐ – TTg về việc sản xuất hàng hóa gắn với ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm hàng năm đã được người dân và các doanh nghiệp đón nhận và triển khai. Từ đó diện tích canh tác, sản lượng rau quả phục vụ chế biến ngày càng tăng lên và làm cho đa dạng hóa các sản phẩm rau quả hàng hóa, phù hợp với thực tế nhu cầu của thị trường. Hiện nay trên địa bàn huyện các công ty chế biến trên địa bàn huyện có hai hình thức thu gom dưa chuột bao tử đó là hình thức thu gom trực tiếp từ các hộ nông dân và hình thưucs thứ hai đó là thu gom từ các đại lý + Đối với việc thu gom từ các hộ nông dân: Thì các công ty thu gom thông qua một cơ quan ở địa phương để thu gom đó là Hợp Tác Xã, các hợp tác xã ngay từ đầu vụ đã tổ chức bàn bạc và thống nhất với các doanh nghiệp tiêu thụ dưa chuột bao tử cho các hộ dân, thống nhất giá, chất lượng, thời gian giao hàng và phương thức thanh toán. Các công ty sẽ làm hợp đồng với các hộ nông dân để có nguồn cung hàng ổn định, các công ty sẽ thông qua các hợp tác xã để thu mua sản phẩm cho mình. Một số tiêu chuẩn khi thu mua sản phẩm của các hộ nông dân như: Ví dụ: Dưa loại 1: đường kính không quá 1,5cm, dài 3,5 – 5cm , giá 6000 đ/kg. Dưa loại 2: đường kính không quá 2cm, dài 5 – 6cm, giá 3000 đ/kg. Sơ đồ: Hộ nông dân Hợp tác xã thu gom Công ty thu mua, chế biến Đầu tư Trên đây là sơ đồ về hình thức thu muẩn phẩm trực tiếp từ các hộ nông dân, ở hình thức thu mua này có ưu điểm là các các công ty sẽ gắn kết hơn với các hộ nông dân, họ hiểu được tâm tư nguyện vọng của người nông dân, các công ty thu mua sẽ quay lại đầu tư lại cho các hộ nông dân như giống và phân bón. Tuy nhiên hình thức này có hạn chế là hình thức thu mua qua các hợp tác xã nhiều khi chất lượng quả không đều nhau do các hợp tác xã không có các dụng cụ để tiến hành. Hiện nay với hình thức thu mua trực tiếp từ các hộ nông dân thông qua các hợp đồng đảm bảo đầu ra ổn định nên số hộ tham gia vào liên kết với các công ty đã tăng nên rất nhiều. Điển hình như ở xã Đông Phú công ty cổ phần thực phẩm Bắc Giang đã tăng diện tích làm hợp đồng với công ty. Bảng 3: kết quả vùng nguyên liệu của công ty CPTPXKBG tại xã Đông Phú Mục ĐVT 2007 2008 2009 Diện tích Ha 29,5 34,24 63,74 Sản lượng Tấn 542 647 1232 Số hộ trồng Hộ 432 580 786 (Nguồn: báo cáo tốt nghiệp vai trò liên kết 4 nhà trong sản xuất dưa chuột bao tử tại xã đông phú huyện lục nam tỉnh bắc giang,năm 2009) Để thuận tiện cho việc thu mua sản phẩm của công ty đối với các hộ nông dân nên công ty đã bố trí 12 trạm thu mua sản phẩm tại 11 thôn của xã Đông Phú nhằm đáp ứng được nhu cầu bán sản phẩm của nông dân được nhanh chóng, tránh hao hụt và đảm bảo chất lượng Bảng 4: Tình hình phân bố trạm thu mua sản lượng của các thôn năm 2009 Thôn Số lượng trạm Sản lượng Gắn 1 43.220 Thanh sơn 1 23.137 Phong quang 1 46.204 Đoàn tùng 1 16.357 Cây đa 1 4.872 Tân tiến 1 30.707 Hưởng ban 1 43.200 Va 1 51.998 Trong 1 82.069 Yên bắc 2 96.056 Ngoài 1 9.119 (Nguồn: báo cáo tốt nghiệp vai trò liên kết 4 nhà trong sản xuất dưa chuột bao tử tại xã đông phú huyện lục nam tỉnh bắc giang,năm 2009) + Thu gom qua đại lý thu mua: Các đại lý trên địa bàn huyện sẽ đứng nên thu mua sản phẩm của các hộ nông dân , chủ yếu là các hộ không tham gia vào hình thức liên kết hợp đồng với các công ty hay các nông dân có liên kết nhưngn vẫn lén bán hàng cho các đại lý do giá bán cao hơn. Hàng sau khi được thu gom sẽ được vận chuyển tới cổng nhà máy chế biến. Hình thức này có ưu điểm là các đại lý sẽ lựa chọn những sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho chế biến rồi bán cho các công ty, bên cạnh đó công ty sẽ không phải mất chi phí để cung cấp đầu vào cho các hộ nông dân. Tuy nhiên hình thức này có nhược điểm là các doanh nghiệp sẽ không hình thành được mối liên kết với các hộ nên lượng cung sẽ không ổn định, bên cạnh đó thì do các công ty thu mua sản phẩm thông qua trung gian nên giá mua sản phẩm sẽ cao hơn nên ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty. Sơ đồ hình thức thu mua từ các đại lý Hộ nông dân Đại lý thu mua Công ty chế biến Tuy nhiên ở huyện Lục Nam các công ty thường thu mua theo hình thức thu mua từ các hộ nông dân nhiều hơn là việc thu mua từ các đại lý nhằm đảm bảo nguồn cung, đồng thời nâng cao việc gắn kết giữa công ty với người dân, được thể hiện rõ nhất đó là việc các công ty thương cung cấp giống cho các hộ dân. 2.2.3.2 Kênh xuất khẩu sản phẩm dưa chuột bao tử thành phẩm Như chúng ta đã biết sản phẩm dưa chuột làm ra chủ yếu dùng để xuất khẩu hiện nay có hai kênh xuất khẩu mà các công ty chế biến trên địa bàn huyện cũng như tỉnh thường sử dụng đó là kênh xuất khẩu trực tiếp và kênh xuất khẩu thông qua các công ty xuất nhập khẩu. + Kênh xuất khẩu trực tiếp Đó là việc các công ty chế biến đóng trên địa bàn huyện sẽ xuất khẩu trực tiếp sản phẩm sang các nước trên thế giới. Ưu điểm của kênh này đó là hàng được tập kết nhanh chóng, giảm bớt khâu trung gian. Công ty có điều kiện tiếp nhận trực tiếp với thị trường nước ngoài nên nắm bắt kịp thời các thông tin về sản phẩm. Ngoài ra hình thức này giúp cho công ty đỡ bị ép giá nên sẽ có lợi cho công ty và có lợi cho các hộ dân. Tuy nhiên hạn chế của kênh này đó là khả năng tài chính vì việc mở văn phòng đại diện ở nước ngoài cần có nguồn tài chính lớn vì vừa phải quảng bá tên tuổi của công ty và công dụng của sản phẩm + Kênh xuất khẩu thông qua các công ty xuất nhập khẩu Đó là hình thức mà các công ty chế biến sẽ thông qua các công ty này để xuất khẩu sản phẩm của mình ra các nước trên thế giới. Các công ty này thường có trụ sở tại các trung tâm đô thị lớn như Hà Nội hoặc Thành Phố Hồ Chí Minh các công ty này chủ yếu có nhiệm vụ là xuất nhập khẩu các sản phẩm rau quả ra các nước trên thế giới, họ thường có nguồn tài chính lớn, có thương hiệu trên thế giới. Ưu điểm của kênh này sản phẩm được kiểm tra kỹ qua nhiều khâu trước khi đóng hàng xuất khẩu, khắc phục được hạn chế yêu cầu về mặt tài chính đối với các công ty nhỏ muốn xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài. Tuy nhiên kênh này cũng có hạn chế đó là do tài chính được san sẻ cho các đối tượng nên lợi nhuận thu được không lớn, bị động trong nắm bắt sự phản hồi từ khách hàng. Sơ đồ về các kênh xuất khẩu sản phẩm Kênh 1 Hộ nông dân công ty chế biến xuất khẩu Kênh 2 Công ty xuất khẩu Bảng 5: Về việc tiêu thụ dưa chuột bao tử của các công ty thông qua các kênh Giá trị: USD Hình thức tiêu thụ 2006 2007 2008 Xuất khẩu trực tiếp 121.637 106.561 135.516 Công ty XNK 65.610 60.308 66.427 Tiêu thụ nội địa 15.751 13.012 17.612 (Nguồn: báo cáo tốt nghiệp vai trò liên kết 4 nhà trong sản xuất dưa chuột bao tử tại xã đông phú huyện lục nam tỉnh bắc giang,năm 2009) Đây là số liệu tiêu thụ các sản phẩm của các công ty chế biến trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Giang. Qua bảng số liệu cho thấy các công ty chế biến đang có xu hướng chuyển dần từ việc xuất khẩu thông qua các công ty chuyên xuất nhập khẩu sang hình thức xuất nhập khẩu, một trong những lý do đó là các công ty đã dần có nguồn tài chính nhằm phục vụ cho việc mở các công ty đại diện, đông thời cũng nhằm mục tiêu lâu dài của công ty nhằm mở rông thị trường trên thế giới. Đồng thời qua bảng cũng cho thấy việc tiêu thụ các sản phẩm đóng hộp như dưa chuột dầm dấm hay ngâm muối việc tiêu thụ sản phẩm đó trong nước còn rất hàn chế, chỉ chiếm có chưa đầy 2% trong tổng lượng dưa chuột tiêu thụ mặc dù lượng tiêu thụ đó có tăng nên. Nhưng vấn đề đặt ra là với số dân 88 triệu dân lượng tiêu thụ trong nước còn quá nhỏ cần mở rộng thị trường trong nước nhiều hơn. 2.3 Tình hình liên kết 4 nhà trong trồng dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam Nhà nước Nhà nông Nhà khoa học Nhà doanh nghiệp Sơ đồ liên kết 4 nhà tại xã Đông Phú Sự liên kết giữa 4 nhà phải đặt nhà nông vào vịt trí tung tâm, ở đây cụ thể là đặt người trồng dưa chuột bao tử là hạt nhân của trung tâm. Mối liên kết này đạt được hiệu quả cao và bền vững thì sẽ đảm bảo đầu ra và đầu vào ổn định cho sản phẩm dưa chuột bao tử. Trong sơ đồ trên cho thấy mối quan hệ giữa 4 nhà là rất chặt chẽ, có sự tác động qua lại. Nhà nươc đưa ra các chủ trương, chính sách, định hướng hoạt động cho các doanh nghiệp hay các cơ quan nhiên cứu. Nhà doanh nghiệp cung cấp đầu ra, thu gom xử lý, chọn lọc sản phẩm. Nhà khoa học giúp đỡ về các vấn đề kỹ thuật, chuyên môn, bên cạnh đó nhà khoa học còn liên kết với nhà doanh nghiệp để thu hút vốn đầu tư và đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất. Nhà nông là trung tâm trong liên kết này, là người nhận được sự hỗ trợ. Huyện Lục Nam mới đưa cây dưa chuột bao tử vào trồng từ năm 2007, một trong những xã trồng cây dưa chuột bao tử đầu tiên của huyện đó là xã Đông Phú. Sau đây chúng tôi nghiên cứu sự liên kết 4 này thể hiện tại xã Đông Phú. Sự liên kết đó được thực hiện như sau: Nhà khoa học (Trung tâm nghiên cứu và chuyển gia công nghệ sản xuất nông nghiệp thuộc trường đại học Nông nghiệp Hà Nội) chịu trách nhiệm tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái, cung cấp hạt giống, vật tư phân bón. Hàng năm thì trung tâm nghiên cứu phối hợp với trung tâm khuyến nông huyện Lục Nam tổ chức được 10 buổi tập huấn và đi tham quan thực tế tại các địa phương có trồng dưa chuột bao tử trên địa bàn tỉnh như huyện Lạng Giang đó là một trong những huyện trồng dưa chuột khá sớm trên địa bàn tỉnh, các buổi tập huấn do cán bộ khuyến nông huyện tổ chức cho các hộ nông dân như tập huấn về kỹ thuật chăm sóc dưa chuột bao tử, quản lý và phòng trừ dịch bệnh...Bên cạnh đó trung tâm còn cung cấp thêm các giống dưa chuột mới như giống Mimoza, Mento 170… Nhà doanh nghiệp đó là nhà máy chế biến nông sản thực phẩm trên địa bàn tỉnh Bắc Giang chịu trách nhiệm bao tiêu sản phẩm với giá cả ổn định theo hợp đồng đã ký kết, một số công ty trên địa bàn tỉnh thu mua dua chuột bao tử trên địa bàn huyện như công ty thực phẩm Bắc Giang, công ty GOC, công ty xuất khẩu Hải Dương, các công ty này không những mua sản phẩm dưa cho các hộ dân với giá ổn định mà còn cung cấp đầu vào cho các hộ dân như cung cấp 100% lượng giống cho các hộ dân, ví dụ như công ty cổ phần thực phẩm Bắc Giang năm 2008 cung cấp 180 nghìn đồng tiền giống cho các hộ dân, năm 2009 số tiền cung cấp cho các hộ dân là 200 nghìn. Nhà nông là trung tâm của các mối liên kết, mọi sựu liên kết đều nhằm mục đích nhằm nâng cao khả năng sản xuất cho các hộ nông dân để từ đó nâng cao thu nhập cho các hộ dân, các hộ dân chịu trách nhiệm bố trí đất trồng phù hợp, trồng và chăm sóc cây theo đúng quy trình kỹ thuật để có sản phẩm cho các công ty đến thu mua sản phẩm. Ủy ban nhân dân xã, các cơ quan chuyên môn của huyện như phòng nông nghiệp, khuyến nông, bảo vệ thực vật…phối hợp cùng các nhà khoa học, doanh nghiệp chỉ đạo công tác quy hoạch vùng sản xuất , giám sát, thu mua, tiêu thụ, giúp đỡ tháo gỡ khó khăn và vướng mắc trong quá trình sản xuất. Hiện nay phòng Nông nghiệp huyện đã tiến hành quy hoạch vùng sản xuất dưa chuột bao tử để tránh tình trạng sản xuất dưa chuột nhỏ lẻ, một số xã đã được quy hoạch vùng sản xuất đó là xã Đông Phú, xã Thanh Lâm, xã Bắc Lũng….nhưng trong đó xã Đông Phú vẫn là xã trồng dưa chuột với diện tích lớn nhất trong địa bàn huyện Lục Nam 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam 2.4.1 Quy mô diện tích Quy mô diện tích là yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử tại địa phương. Có thể nhận thấy rằng những hộ có quy mô diện tích lớn sẽ có sự đầu tư cho chăm sóc và các khâu khác trong quá trình sản xuất đồng bộ hơn, giảm được chi phí trong nhiều công đoạn sản xuất. Từ đó năng suất sẽ tăng, hộ có các biện pháp nhằm bảo quản sơ chế. Cùng với đó là hộ sẽ tìm được nguồn đầu ra cho sản phẩm của mình. 2.4.2 Giống Giống là yếu tố cũng có vai trò rất quan trọng. Giống tốt sẽ cho năng suất cao, chất lượng đảm bảo. Hiện nay, trên địa bàn huyện trồng phổ biến giống dưa Mimoza. Giống sinh trưởng và phát triển nhanh, chống chịu được với những bệnh thường xảy ra đối với dưa chuột đó là sương mai và đốm vàng lá, từ đó giảm được chi phí sản xuất do phải phun thuốc bảo vệ thực vật. Thời gian thu hoạch kéo dài, giảm tính thời vụ. Năng suất trung bình đạt 1.5 – 1.6 tấn/ sào, cao hơn từ 10 – 15 % so với các giống cũ như Marinda. Hơn nữa, kích thước quả đồng đều, màu xanh đẹp, không bị biến màu sau thu hoạch, đặc ruột, giòn, ít bị mất gai sau khi rửa. 2.4.3 Quan hệ hợp tác Các hộ cần tham gia các mối quan hệ hợp tác để giảm bớt chi phí sản xuất, vừa đạt được hiệu quả kinh tế vừa đạt được hiệu quả xã hội. Tuy nhiên, hiện nay một thực tế đã xảy ra ở các hộ trồng dưa chuột bao tử tại huyện Lục Nam đặc biệt là những hộ trồng với diện tích nhỏ, manh mún, đang phải phụ thuộc vào các chủ hợp đồng làm chủ đại diện cho mình khi bán sản phẩm. Lợi dụng điều này, mà một số chủ hợp đồng đã phát sinh tiêu cực, nhiều chính sách đầu tư khuyến khích không đến được với người trồng dưa, thậm chí còn bớt xén, tính phần trăm quá cao khi bán dưa chuột của người dân cho nhà máy chế biến. Mặt khác, hiện nay đang có nhiều hộ không tham gia hợp tác đổi công lao động, sản xuất một cách độc lập trong khi diện tích trồng rất lớn. Vì thế mà không đáp ứng kịp thời vụ trong sản xuất cũng như cung cấp sản phẩm cho người thu mua của hộ. 2.4.4 Kỹ thuật thâm canh và chăm sóc Cây dưa chuột bao tử mới đưa vào huyện từ năm 2007 tính đến nay cây dưa chuột mới trồng được 3 năm mà thực chất là chỉ 5-6 vụ, mặc dù được các trung tâm khuyến nông hay các trung tâm chuyển giao tận tình hướng dẫn nhưng với cách thức trồng trọt truyền thống thì các hộ dân vẫn chưa chấp hành các yêu cầu kĩ thuật đề ra như các hộ vẫn phun thuốc trừ sâu và bón phân không hợp lý… bên cạnh đó nhiều hộ sản xuất còn chưa cơ giới hóa nhiều nên có một lượng lớn dưa chuột bị loại. 2.4.5 Vốn đầu tư Khó khăn về vốn đang là vấn đề rất được quan tâm đối với các hộ trồng dưa chuột bao tử hiện nay. Không chỉ là vốn cho đầu tư sản xuất cho sản phẩm mà còn là vốn cho công tác bảo quản, sơ chế sản phẩm khi vào mùa thu hoạch chính vụ. Hầu hết các hộ trồng dưa đều chủ yếu trông chờ vào hỗ trợ của công ty thu mua sản phẩm, ít hộ vay vốn ngân hàng vì thủ tục rườm rà, thời gian cho vay ngắn, không đủ để quay vòng vốn. 2.4.6 Trang thiết bị chế biến của các công ty Hiện nay các công ty chế biến dưa chuột bao tử vẫn sử dụng các trang thiết bị cũ và lạc hậu, nhiều khâu trong quá trình chế biến vẫn còn sử dụng lao động thủ công như lựa chọ kích thước quả để đưa vào chế biến…Máy móc của các công ty đang sử dụng vẫn chưa phát huy hết khả năng nên hạn chế biến dưa chuột bao tử. Nếu các công ty sử dụng trang thiết bị hiện đại sẽ nâng cao khả năg thu mua dưa chuột nên từ đó mở rộng thêm diện tích trồng dưa từ đó gián tiếp nâng cao thu nhập cho các hộ dân. 2.4.7 Thị trường và tiêu thụ sản phẩm Một sản phẩm khi sản xuất, chế biến ra thì khâu tiêu thụ đóng vai trò quan trọng, nhằm thu được vốn để quay vòng sản xuất. Hiện nay dưa chuột các hộ sản xuất ra và chế biến thì tiêu thị trong nước rất hạn chế mà chủ yếu dung để cho xuất khẩu vì người Việt Nam chưa chuộng các sản phẩm chế biến. Hiện nay thị trường sản phẩm chế biến từ dưa chuột bao tử đang được mở rộng và đang được hướng ra xuất khẩu tại các thụ trường lớn trên thế giới. Tuy nhiên việc xuất khẩu sản phẩm dưa chuột bao tử thành phẩm phần lớn đều thông qua các công ty xuất nhập khẩu, các công ty thu mua trên địa bàn huyện cũng như tỉnh chưa hình thành được kênh xuất khẩu trực tiếp sang các nước nên lợi nhuận của các công ty bị chia sẻ cho các trung gian. 2.5 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất, chế biến và tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện Lục Nam Xuất phát từ những yếu tố ảnh hưởng đến việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột để đề ra các giải pháp cho phù hợp. Về việc sản xuất dưa chuột trên địa bàn huyện thì các trung tâm chuyển giao hay các trung tâm khuyến nông huyện cần đưa them các giống dưa mới vào sản xuất, có năng suất cao chất lượng cao để đáp ứng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu, bên cạnh đó cần hướng dẫn người dân sản xuất dưa chuột an toàn nhằm nâng cao giá bán cho các hộ dân, cần phổ biến các kiến thức chăm sóc nhằm tránh việc trồng dưa theo kinh nghiệm của các hộ dân mà cần trồng dưa theo các tiêu chuẩn mà các công ty cũng như thị trường yêu cầu. Cần mở rộng và nâng cao mối quan hệ hơn nữa trong mối liên kết 4 nhà. Các doanh nghiệp cần cung cấp đầu vào cho các hộ nông dân như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…bên cạnh đó cần thực hiện các cam kết đã ký hợp đồng với các hộ dân để khi có sản phẩm thì các công ty đến tận dụng thu mua, đồng thời cũng tránh tình trạng được mùa mất giá sẽ kích thích các hộ dân sản xuất, ngoài ra phòng nông nghiệp huyện cần quy hoạch vùng sản xuất dưa chuột hợp lý tránh tình trạng nơi nơi trồng dưa chuột sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của dưa chuột ở các vùng sản xuất tập trung, chỉ nên quy hoạch ở các vùng có điều kiện thuận lợi cho trồng dưa chuột như có đường giao thông, thủy lợi và có điều kiện khí hậu thuận lợi… Về phía các cơ sở chế biến thì hiện nay các công ty đều sử dụng các thiết bị cũ và lạc hậu, một trong những nguyên nhân được đưa ra đó là chưa có vốn để thay đổi các trang thiết bị do vậy các ngân hàng hay Ủy ban nhân dân tỉnh cần có các chính sách tín dụng phù hợp để cung cấp vốn cho các công ty để thay đổi trang thiết bị sẽ nâng cao khả năng chế biến từ đó nâng cao việc thu mua sản phẩm. Về mặt tiêu thụ sản phẩm hiện nay việc sản xuất dưa chuột bao tử chủ yếu dung cho xuất khẩu, việc tiêu dùng trong nước còn rất hạn chế do đó các công ty cần sản xuất các mặt hàng đáp ứng nhu cầu trong nước nhiều hơn vì đây là thị trường rất tiềm năng, nếu chúng ta phát triển được thị trường trong nước thì sẽ giảm được rất nhiều chi phí cho việc xuất khẩu. Về mặt xuất khẩu thì hiện nay các công ty trên địa bàn huyện chủ yếu xuất khẩu qua các trung gian xuất nhập khẩu được đặt ở Hà Nội nên ảnh hưởng rất nhiều đến lợi nhuận của các công ty, một trong những nguyên nhân các công ty này chưa tiến hành xuất khẩu trực tiếp nhiều là do các công ty này chưa đặt được các cơ quan đại diện ở các nước ngoài vì chi phí cho việc đặt một cơ quan ở nước ngoài là rất lớn, nguyên nhân ở đây xuất phát từ việc thiếu vốn do vậy ngân hàng cần có các chính sách cho vay hợp lý để cho các công ty vay để từ đó nâng cao việc xuất khẩu trực tiếp sang các nước. III. KẾT LUẬN Hiện nay tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên cả nước nói chung đều tăng được thể hiện như diện tích trồng dưa chuột dưa bao tử cả nước đều tăng nên qua các năm, năng suất trồng dưa cũng tănmg nên do áp dụng vào sản xuất các giống dưa mới có năng suất chất lượng cao hơn, bên cạnh đó việc chế biến các sản phẩm từ dưa chuột bao tử cũng đa dạng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu tốt hơn cho khách hàng, số doanh nghiệp tham gia vào chế biến dưa chuột bao tử cũng ngày càng tăng. Về mặt tiêu thụ các sản phẩm dưa chuột bao tử không chỉ tiêu thụ trong nước qua các năm cũng tăng nên mà việc xuất khẩu các sản phẩm này ra các nước trên thế giới cũng tăng nên, số nước nhập khẩu sản phẩm này đã nên con số 33. Về việc sản xuất, chế biến, tiêu thụ dưa chuột bao tử trên địa bàn huyện nói riêng thì qua các năm trở lại đây đều có khởi sắc. Về tình hình sản xuất của cũng ngày càng tăng nên được thể hirnj thông qua diện tích trồng dưa của huyện Lục Nam và xã Đông Phú đều tăng nên qua các năm, diện tích dự kiến của huyện cho đến năm 2015 là 130ha đó là diện tích lớn đối với huyện. Về mặt chế biến sản phẩm dưa chuột này thì hiện nay có 3 công ty có trụ sở tại tỉnh đang tiến hành thu mua dưa chuột bao tử của các hộ nông dân với hợp đồng cụ thể nên giá tương đối ổn định cho các hộ dân, tuy nhiên các công ty đang sử dụng các thiết bị cũ và lạc hậy nên chưa phát huy hết khả năng chế biến của công ty. Về mặt tiêu thụ sản phẩm thì phần lớn sản phẩm làm ra đeeuf dùng cho xuất khẩu, một lượng rất nhỏ dùng cho tiêu dùng trong nước. Hiện nay để có hàng cho chế biến, cũng như xuất khẩu các công ty có hai hình thức thu gom sản phẩm đó là thu gom trực tiếp từ hộ nông dân và thu từ các đại lý tuy nhiên thu gom trực tiếp vẫn chiếm ưu thế hơn,về xuất khẩu sản phẩm ra các nước thì các công ty có hai kênh đó là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu thông qua các công ty xuất nhập khẩu tuy nhiên hiện nay các doanh nghiệp đều tăng việc xuất khẩu trực tiếp nhiều hơn. Hiện nay việc liên kết 4 nhà tại huyện đang có những ưu thế nhất định nên việc nâng cao là rất cần thiết. IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Vai trò liên kết 4 nhà trong trồng dưa chuột bao tử tại xã Đông Phú huyện Lục Nam, báo cáo tốt nghiệp, năm 2009 2. Phát triển sản xuất dưa chuột bao tử ở huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang, luận văn thạc sĩ, năm 2009 3. Vai trò liên kết trong sản xuất, tiêu thụ dưa chuột bao tử tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, báo cáo tốt nghiệp, năm 2009 MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docbai_quan_tri_kinh_doanh_nop_5722.doc
Tài liệu liên quan