Tình hình xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vào EU

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 I. Giới thiệu chung về EU 2 1. EU 2 2.Thị trường nhập khẩu thủy sản EU 2 II. Quy trình nhập khẩu thủy sản vào EU 2 1. Quy trình xuất nhập khẩu 2 2. Thủ tục hải quan tại EU 4 3. Quy định về chứng từ và điều kiện kiểm tra đối với hàng nhập khẩu vào EU 6 III. Các biện pháp quản lý nhập khẩu 7 1. Thuế quan 8 2. Phi thuế quan 12 IV. Quan hệ thương mại thủy sản với Việt Nam 31 1. Tình hình xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vào EU 32 2. Chính sách của EU đối với Việt Nam 34 KẾT LUẬN 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

doc40 trang | Chia sẻ: thanhnguyen | Ngày: 20/09/2013 | Lượt xem: 758 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tình hình xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vào EU, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đã đạt đủ các tiêu chuẩn nêu trên thì hàng nhập khẩu vào EU sẽ được hưởng ưu đãi theo chế độ GSP, nhưng không phải với loại sản phẩm nào cũng được hưởng một mức thuế quan như nhau mà phụ thuộc vào tính cạnh tranh của từng loại sản phẩm đó. c) Mức thuế ưu đãi Cụ thể, chế độ GSP hiện hành chia làm 4 loại sản phẩm với 4 mức thuế ưu đãi khác nhau. Thứ nhất là loại sản phẩm có độ nhạy cảm cao: Mức thuế ưu đãi bằng 85% so với thuế quan chung (CCT). Thứ hai là loại sản phẩm nhạy cảm: Có mức thuế ưu đãi bằng 70% so với thuế quan chung (CCT). Thứ ba là loại sản phẩm bán nhạy cảm: Chịu mức thuế bằng 30% mức thuế CCT. Thứ tư là loại không nhạy cảm: Được miễn thuế hoàn toàn (0%). Hơn thế nữa không phải mặt hàng nào nằm trong danh mục giảm thuế này cũng nghiễm nhiên vào được thị trường EU vì theo điều 14 (điều khoản tự vệ) của quy chế GSP thì một số sản phẩm được đưa ra vẫn có thể bị thay đổi trong thời gian hưởng lợi khi mặt hàng đú “gõy ra hoặc đe dọa gây ra khó khăn cho các nhà sản xuất của EU”. EU thường xuyên điều chỉnh hệ thống thuế quan chung (CCT) như một công cụ hữu hiệu để quản lý hoạt động ngoại thương, do đó các doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi để đáp ứng những yêu cầu cần thiết và được hưởng lợi. Hàng năm Ủy ban châu Âu sẽ đăng trên công báo của Liên minh châu Âu về biểu thuế quan hưởng theo quy chế Tối huệ quốc (MNF) đối với tất cả danh mục hàng hóa nhập khẩu vào EU. Bên cạnh chế độ thuế quan trên, EU còn áp dụng nhiều loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt,… 1.3. Thuế giá trị gia tăng (VAT) VAT được áp dụng cho tất cả các loại hàng hóa được bán ở EU. Nhìn chung mức thuế VAT thấp đối với mặt hàng thiết yếu và mức thuế cao áp dụng cho các mặt hàng xa xỉ. VAT được xác định bằng tỷ lệ phần trăm trờn giỏ CIF. Hiện nay, mức thuế VAT ở các nước khác nhau thì khác nhau.  1.4. Thuế tiêu thụ đặc biệt Loại thuế này áp dụng đối với một số loại sản phẩm phụ thuộc vào ảnh hưởng của nó đối với công dân của EU. Thuế được áp dụng cho cả sản phẩm nội địa lẫn nhập khẩu. Thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào một số loại hàng hóa như: nước giải khát có cồn và không có cồn, bia, rượu, rượu mạnh, thuốc lá và các sản phẩm thuốc lá. Ngoài ra, ở một số nước EU loại thuế này còn đánh vào đường, dầu thực vật và các sản phẩm dầu dưới hình thức như một loại “thuế xanh” để gây quỹ thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường. Đối với hàng nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt do các nhà nhập khẩu phải trả, ngoài thuế quan và thuế giá trị gia tăng. 1.5 Thuế nông sản và hải sản: Liên minh châu Âu tham gia vòng đàm phán Urugoay nhằm hủy bỏ mức thuế nhập khẩu nông sản trước kia của mình và thay bằng các công cụ thuế được chấp nhận rộng rãi hơn. Thuế nông sản gồm nhiều phần khác nhau, thuế theo mùa và dựa trên giá thời điểm nhập khẩu. 2.Phi thuế quan Để đáp ứng yêu cầu về an toàn và chất lượng thực phẩm tiêu dùng, Luật thực phẩm của liên minh châu Âu thực hiện nguyên tắc quản lý chất lượng và kiểm soát định hướng quá trình qua các dây chuyền cung cấp thực phẩm - từ tàu đánh bắt hoặc trang trại NTTS tới bàn ăn. Vì vậy tìm hiểu các quy định của EU về vệ sinh an toàn thực phẩm là rất cần thiết giỳp cỏc Doanh nghiệp nắm rõ và vận dụng tốt khi muốn thâm nhập vào thị trường EU. 2.1 Quy định của EU về vệ sinh an toàn thực phẩm 2.1.1 Quy định của EU về kiểm tra chứng nhận - Quy định kiểm tra an toàn thực phẩm đối với thủy sản Các điều kiện vệ sinh đối với việc sản xuất và đưa vào thị trường các sản phẩm thủy sản cho người tiêu dùng nêu trên đều nhằm mục đích đảm bảo vệ sinh thực phẩm thủy sản nhằm bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng. Những luật lệ chung về vệ sinh thực phẩm và các thủ tục thẩm tra việc chấp hành các luật lệ việc chuẩn bị, chế biến, sản xuất, bao gói, bảo quản, vận chuyển, phân phối, lưu giữ, bán buôn và bán lẻ cần phải được tiến hành một cách vệ sinh. Các doanh nghiệp chế biến thực phẩm cần phải xác định rõ công đoạn nào trong các hoạt động của mình là cốt lõi để đảm bảo an toàn thực phẩm và đảm bảo rằng các biện pháp an toàn được xác định, được thực hiện, được quản lý và giám sát trên cơ sở các nguyên tắc sau đây, được áp dụng để xây dựng Hệ thống HACCP (Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm kiểm soát tới hạn trong quá trình chế biến thực phẩm). Mục tiêu của Chỉ thị là đảm bảo vệ sinh thực phẩm và bảo vệ sức khỏe động vật nuôi ở các nước thành viên EU. Để thực hiện mục tiêu đề ra, Ủy ban châu Âu sẽ thiết lập một danh sách cỏc vựng, cơ sở nuôi được phê chuẩn, tránh tình trạng động vật và sản phẩm nuôi nhập khẩu từ những vùng nhiễm bệnh nặng gây bệnh truyền nhiễm cho động vật nuôi trong khối (bệnh bò điên, lở mồm, long múng,…). Chỉ thị 91/67/EEC cú nêu: “Thay nước trong quá trình vận chuyển cần có các thiết bị được thiết kế để ngăn ngừa sự ô nhiễm môi trường: dễ tiến hành khử trùng nước, đảm bảo trong mọi trường hợp không trực tiếp thải nước vào nước biển hoặc nước trong các dòng chảy tự do”. . - Quy định các chất lây nhiễm bao gồm đioxin và kim loại nặng, thuốc trừ sâu: Quy định của Hội đồng (EEC) đề ra các quy định về các chất ô nhiễm trong thực phẩm với điều kiện là: + Thực phẩm chứa chất ô nhiễm với số lượng không thể chấp nhận xét theo quan điểm y tế cộng đồng và đặc biệt ở mức độc hại không đưa ra thị trường tiêu thụ được + Sẽ giữ ở mức ô nhiễm thấp có thể đạt được bằng các biện pháp sau đó + Đối với một số chất ô nhiễm nên thiết lập các mức tối đa nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng  Ủy ban yêu cầu Ủy ban Khoa học Thực phẩm (SCF) và Ủy ban Khoa học Dinh dưỡng Động vật (SCAN) đánh giá những rủi ro cho sức khỏe cộng đồng xuất phát từ sự có mặt của điụxin trong thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, bao gồm cả đánh giá lượng dung nạp điụxin và PCBs trong chế độ ăn của người dân EU, xác định yếu tố đóng góp chính.     Mục đích chung của chính sách EU về điụxin là làm giảm mức nhiễm điụxin và PCBs trong môi trường, thực phẩm và thức ăn chăn nuôi nhằm đạt được mức bảo vệ sức khỏe cộng đồng cao. Các yêu cầu trong tất cả các giai đoạn của chuỗi thực phẩm và thức ăn:         + Giảm mức ô nhiễm môi trường         + Giảm mức ô nhiễm của thức ăn chăn nuôi, bao gồm cả thức ăn cho thủy sản + Giảm mức ô nhiễm của thực phẩm     Ủy ban đã đề xuất cho các nước thành viên các biện pháp lập pháp sau đây liên quan đến thức ăn chăn nuôi: + Thiết lập các mức tối đa nghiêm ngặt nhưng khả thi + Thiết lập các mức thực tế tác dụng như công cụ cảnh báo sớm về mức điụxin cao + Thiết lập các mục tiêu để thực phẩm và thức ăn chăn nuôi nằm trong giới hạn khuyến cáo của các Ủy ban khoa học. 2.1.2. Quy định của EU về dư lượng      EU đưa ra các chỉ thị, quy định về việc cấm sử dụng một số chất có tính kích thích tuyến giáp, hoóc môn và các chất nhóm beta-agonist trong chăn nuôi. Hiện EU tiếp tục phản đối việc nhập khẩu thịt gia súc có sử dụng hoóc môn.      Bên cạnh đó là những quy định về các biện pháp giám sát một số hóa chất và dư lượng của chúng trong động vật sống và các sản phẩm động vật. Hóa chất được chia thành hai nhóm: A và B. Nhóm A – Các hoạt chất có tác dụng đồng hóa và các chất cấm sử dụng: 5 chất. Nhóm B – Thuốc thú y và các chất gây ô nhiễm môi trường. Đối với các chất thuộc nhóm B, việc giám sát đặc biệt nhằm kiểm soát sự tuân thủ mức giới hạn dư lượng tối đa.      Hiện EU đang thực hiện chính sách “dư lượng = 0” đối với các chất kháng sinh bị cấm hoàn toàn. EU ngày càng hạ thấp ngưỡng phát hiện dư lượng kháng sinh trên cơ sở hiện đại hóa thiết bị kiểm tra. Điều này đã gây cản trở rất lớn đối với hoạt động xuất khẩu thủy sản vào EU. Bên cạnh các chất kháng sinh bị cấm hoàn toàn, EU còn quy định các chất kháng sinh bị hạn chế (cho phép sử dụng nhưng quy định giới hạn tối đa). * Tính trong động, thực vật dưới nước, lưỡng cư và sản phẩm động, thực vật dưới nước, lưỡng cư: Các nước xuất khẩu thịt gia súc, gia cầm và thủy sản vào EU phải tuân thủ Quy định kiểm tra thú y đối với thịt gia súc, gia cầm và thủy sản. Nếu qua kiểm tra tại cảng đến, các nước thành viên EU phát hiện hàng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (nhiễm bẩn, nhiễm khuẩn, nhiễm độc tố sinh học, dư lượng kháng sinh quá mức cho phép: Chloramphenicol (CAP), Nitrofuran (NF), Furazolidone (FRZ),…>0), Ủy ban châu Âu sẽ cú cỏc biện pháp trừng phạt như trả lại hàng, tiêu hủy hàng, cấm hoặc hạn chế xuất khẩu, kiểm tra 100% các lô hàng thực phẩm xuất khẩu vào EU nếu phát hiện hàng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. 2.1.3. Quy định của EU về bao gói, ghi nhãn sản phẩm - Quy định nhãn hiệu cho thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ EU thực hiện những chương trình về dán nhãn với mục đích phát triển “các sản phẩm thân thiện với môi trường và “Chương trình nhãn hiệu cho thực phẩm có nguồn gốc hữu cơ” áp dụng cho tất cả nông, thủy sản được sản xuất trong khối EU và nhập khẩu từ các nước phát triển. EU áp dụng quy trình GAP (Good Agricultural Practice)– Quy trình canh tác nông nghiệp đảm bảo/ Quy phạm thực hành nuôi trồng tốt để thực hiện phương pháp sản xuất nông nghiệp hữu cơ. GAP bao gồm các tiêu chuẩn về quản lý đất đai, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh, hóa chất, chế phẩm sinh học, bảo vệ mùa màng, thu hoạch và sau thu hoạch, sức khỏe và an toàn cho người lao động. + Yêu cầu đối với quá trình sản xuất bao bì và thành phần của bao bì Quy định hàm lượng kim loại nặng tối đa trong bao bì và đưa những yêu cầu đối với quá trình sản xuất và thành phần của bao bì + Yêu cầu đối với quá trình sản xuất bao bì và thành phần của bao bì Bao bì phải được sản xuất sao cho thể tích và khối lượng được giới hạn đến mức tối thiểu để duy trì mức an toàn, vệ sinh cần thiết đối với sản phẩm có bao bì đối với người tiêu dùng. Bao bì phải được thiết kế, sản xuất, buôn bán theo cách thức cho phép tái sử dụng hay thu hồi, bao gồm tái chế và hạn chế mức tối thiểu tác động đối với môi trường khi chất phế thải bao bì bị bỏ đi. Bao bì phải được sản xuất theo cách có thể hạn chế tối đa sự có mặt của nguyên liệu và chất độc hại do sự phát xạ, tàn tro khi đốt cháy hay chôn bao bì, chất cặn bã. + Yêu cầu đối với bao bì có thể tái sử dụng Tính chất vật lý và các đặc trưng của bao bì phải cho phép sử dụng lại một số lần nhất định trong điều kiện sử dụng được dự đoán trước là bình thường. Quá trình sản xuất bao bì phải đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao động. Phải đáp ứng yêu cầu đặc biệt về thu hồi bao bì khi bao bì không được tái sử dụng trong thời gian dài và thành phế thải. + Yêu cầu đối với việc thu hồi và tái chế bao bì Bao bì thu hồi ở dạng vật liệu tái sử dụng được thì phải được sản xuất để nó có thể được dùng vào việc sản xuất thành những sản phẩm có thể bán được Loại bao bì thu hồi dạng phế phẩm năng lượng, phải thu được tối thiểu lượng calo cho phép. Nói chung là phải tái chế đạt 50 – 60% rác bao bì tính bằng số nguyên liệu tái chế hay đốt để thu lại năng lượng. Loại bao bì không thể tái sử dụng, phải đem đốt thì phải đảm bảo là không ảnh hưởng tới môi trường bởi các khí độc hại thải ra. Để bảo vệ môi trường, EU có rất nhiều biện pháp hạn chế tối đa ô nhiễm môi trường từ sinh hoạt hàng ngày, trong đó có quy định về bao bì và phế thải bao bì. + Yêu cầu về đóng gói, kí mã hiệu và dán nhãn Đóng gói và dán nhãn sản phẩm quan trọng khi sản phẩm được bán lẻ tại các siêu thị hay các điểm bán lẻ khác. Vấn đề ở việc đóng gói phù hợp với chuyên chở. Bên cạnh chuyên chở, môi trường cũng là một vấn đề trong đóng gói. Luật về môi trường (tái sử dụng, tái chế vật liệu đóng gói) hay quy định về độ độc hại có đưa ra một số yêu cầu liên quan tới vật liệu đóng gói. Những tỳi nilụng trong thùng carton phải "dùng được cho thực phẩm”. Đối với hải sản đóng hộp, cũng có quy định về lượng cadimi và thuỷ ngõn cú trong nó. + Chất liệu và kích thước bao bì Trọng lượng của sản phẩm Kích thước của sản phẩm Số lượng sản phẩm đóng trong một thùng carton An toàn sức khỏe Mùi Khả năng chất đè lên nhau Tính thẩm mỹ Thuận tiện xếp dỡ Vấn đề môi trường Việc quan trọng nhất là việc đóng gói bảo vệ cho hàng hoá khỏi bị hư hại và thuận tiện cho xếp dỡ. + Cách đóng gói cho hàng thuỷ hải sản: Bao bì cho người tiêu dùng Đóng gói cho người mua sỉ Đóng gói cho mục đích công nghiệp + Loại bỏ các bao bì Quá trình này được tính toán bằng số nguyên liệu tái chế lại và năng lượng thu lại được bằng cách đốt. Các nước thành viên được phép đặt ra các mục tiêu cao hơn, miễn là không làm ảnh hưởng đến buôn bán nội bộ EU. Vì chính sách môi trường thay đổi nhanh chóng, người xuất khẩu nên hỏi nhà nhập khẩu về các quy định có liên quan đên bao bì đóng gói. . + Gắn nhãn Nhón mỏc trờn bao bì phải cú cỏc thông tin Tên thương mại (ví dụ: tôm) Xuất xứ (ví dụ: Thái Lan) Cách chế biến (ví dụ: luộc, bóc vỏ) Cách bảo quản (ví dụ: đông lạnh) Kích cỡ (ví dụ: cỡ 100/200 một pound) Thành phần (ví dụ: tôm, nước, muối) Lượng (ví dụ: 1kg) Khối lượng sản phẩm (ví dụ: 900g) Ngày hết hạn sử dụng (ví dụ: dùng trước 31.1.2002, giữ ở -18 độ C) Khuyến cáo (ví dụ: không làm đông lại sau khi rã đông) Nhà sản xuất, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu. Nhãn hiệu của một số loài nhất định (cá tuyết, cá mòi, tôm) tươi hay đông lạnh từ nước thứ ba phải nêu rõ: Tên nước xuất xứ bằng chữ cái Latinh Tên khoa học và tên thuơng mại của sản phẩm. Tình trạng của sản phẩm (cắt bỏ đầu/ xương hoặc chưa) Kích cỡ và mức độ tươi. Khối lượng tịnh (kg) Ngày chuẩn bị và ngày gửi hàng Tên và địa chỉ của người gửi hàng Nhón mỏc trờn cỏc hộp phải ghi bằng ngôn ngữ tại thị trường tiêu thụ, và phải cho người đọc hiểu các thông tin sau: Khối lượng tịnh Thành phần (gồm cả phụ gia, chất bảo quản) Năng lượng (kiloJun) Tên và địa chỉ người đóng gói Hạn sử dụng Nước xuất xứ. 2.1.4. Quy định của EU về hoá chất, phụ gia - Chất phụ gia thực phẩm Phụ gia thực phẩm là các loại nguyên liệu khác nhau được dùng để thêm vào thực phẩm nhằm mục đích làm tăng thêm sự hấp dẫn của sản phẩm, hoặc làm đông đặc thực phẩm. Phụ gia thực phẩm là đối tượng điều chỉnh của luật pháp EU. EU đã ban hành các Chỉ thị đặt ra các yêu cầu đối với chất làm ngọt, phẩm mầu, hương liệu và các phụ gia thực phẩm khác để sử dụng cho thực phẩm. Quy định của EU về phụ gia trong thực phẩm là phẩm mầu, chỉ được dựng cỏc chất màu đã được quy định để làm phụ gia trong thực phẩm. Hạn chế những chất làm ngọt có nguồn gốc từ hoá học. Thực phẩm có chất làm ngọt thỡ trờn bao bì phải ghi tên chất làm ngọt đó dựng hoặc chất làm ngọt đó phải có thành phần từ những thành tố làm ngọt ghi trên bao bì. Việc dỏn mỏc sản phẩm có chất làm ngọt phải ghi khuyến cáo “sử dụng quá nhiều sẽ gây nên bệnh đường ruột” và phải chỉ rõ chất làm ngọt có nguồn gốc từ đâu. Hương liệu dùng làm phụ gia thực phẩm phải đáp ứng các yêu cầu sau: (1) Hương liệu không được đưa ra thị trường để bán cho người tiêu dùng cuối cùng nếu vi phạm những yếu tố sau: Tên hay tên kinh doanh và địa chỉ của nhà sản xuất, nhà đóng gói hay nhà phân phối không được ghi một cách rõ ràng, dễ đọc và không thể tẩy xóa; Dũng nhón “Flavouring” hay cỏc tờn đặc biệt khác không được mô tả đầy đủ và rõ ràng, chính xác; Lượng các loại hương liệu chứa trong nó không được cung cấp rõ ràng, dễ đọc và có thể tẩy xóa. (2) Hương liệu được dùng làm phụ gia thực phẩm phải đảm bảo rằng không chứa bất kỳ một nguyên tố hay hợp chất nào có hàm lượng độc tố nguy hiểm; phải tuân theo bất cứ một tiêu chuẩn nào về độ tinh khiết. Không chứa hơn 3 mg/kg asenic, chì không quá 10 mg/kg, Cadimi không quá 1 mg/kg và thủy ngân không quá 1 mg/kg. Ngoài chất làm ngọt, phẩm màu và hương liệu, trong chế biến thực phẩm, người ta còn sử dụng một số phụ gia khác. Ví dụ như tác nhân làm đông đặc, hay tác nhân làm thực phẩm.  Nói túm lại, các chất phụ gia cho vào thực phẩm chế biến, hương liệu, chất làm ngọt và tác nhân làm đông đặc thực phẩm phải là những chất không độc hại, không gây ô nhiễm môi trường. 2.1.5. Quy định chung của EU EU đưa ra các quy định, điều khoản chung về các điều kiện vệ sinh đối với việc sản xuất và đưa vào thị trường các thực phẩm thủy sản, các quy định điều kiện vệ sinh cho việc sản xuất và đưa ra thị trường các sản phẩm thủy sản, các chỉ tiêu vi sinh áp dụng cho việc chế biến các loài giáp xác và thủy sản, về chất lượng nước dùng cho người. Trong đó có quy định những sản phẩm (cỏ, tụm, nhuyễn thể…) để xuất khẩu vào EU phải không được rửa, nhúng, mạ hoặc xử lý bằng nước có quá nhiều clo, các quy định điều kiện vệ sinh tối thiểu áp dụng cho các sản phẩm thủy sản đánh bắt trên tàu, quy định các điều kiện vệ sinh động vật cho sản phẩm động vật thủy sản nuôi bày bỏn trờn thị trường, quy định các điều khoản riêng đối với các tổ chức kiểm tra chính thức các sản phẩm có nguồn gốc động vật nhằm mục đích làm thực phẩm cho người. Quy định đề ra các thủ tục kiểm soát vệ sinh các sản phẩm nhập khẩu,… - Quy định của EU về tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm      Với các yêu cầu trên, mô hình đảm bảo chất lượng của ISO được mô tả thông qua 20 tiêu chí khác nhau, hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất muốn xuất khẩu hàng của mình sang thị trường EU. + Tiêu chuẩn sản phẩm an toàn và các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng Chỉ thị về sản phẩm an toàn: được áp dụng đối với những sản phẩm đưa vào thị trường EU cho đến hết vòng đời của sản phẩm. Nhà sản xuất và phân phối chỉ được kinh doanh các sản phẩm an toàn. “sản phẩm an toàn ” được định nghĩa là sản phẩm không chứa đựng rủi ro (không thể chấp nhận) nào liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến sự an toàn hay sức khoẻ con người thông qua kiểu dáng, thành phần, chức năng, bao gói, hướng dẫn sử dụng hay bất kỳ yếu tố nào khác của nó. Chỉ thị về sản phẩm an toàn quy định rõ cho cả các sản phẩm tới tay người tiêu dùng cuối cùng (gồm cả lương thực thực phẩm và sản phẩm phi lương thực thực phẩm). Chỉ thị này điều chỉnh cả sản phẩm mới và các sản phẩm tân trang. Các quy định đối với các sản phẩm trình bày ở trên chủ yếu bắt nguồn từ Chỉ thị này. + Các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Một đặc điểm nổi bật trên thị trường EU là quyền lợi của người tiêu dùng rất được bảo vệ, khác hẳn với thị trường của các nước đang phát triển. Để đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng, EU tiến hành kiểm tra sản phẩm ngay từ nơi sản xuất và có hệ thống báo động giữa các nước thành viên, đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra sản phẩm ở biên giới. EU thông qua những quy định bảo vệ người tiêu dùng về độ an toàn chung của sản phẩm được bán ra, các hợp đồng quảng cáo, bán hàng tận nhà, nhón hiệu…Cỏc tổ chức nghiên cứu đại diện cho giới tiêu dùng sẽ đưa ra các quy chế về định chuẩn quốc gia hoặc châu Âu. Quy chế đảm bảo an toàn của EU đối với một số loại sản phẩm tiêu dùng như sau: - Các sản phẩm thực phẩm, đồ uống đóng gói phải ghi rõ tên sản phẩm, danh mục sản phẩm, thành phần, khối lượng tịnh, thời gian sử dụng sản phẩm, cách sử dụng, địa chỉ của nước sản xuất hoặc nơi bán, nơi sản xuất, các điều kiện bảo quản đặc biệt (nếu có), các điều kiện để chuẩn bị sử dụng hoặc các thao tác bằng tay, mã số và mã vạch để nhận dạng lô hàng. Các quy định với nội dung tương tự cũng được các văn bản pháp quy về hàng hoá quy định. Thị trường EU không cho phép nhập khẩu những sản phẩm đánh cắp bản quyền. Trong quá trình tiếp cận và tung sản phẩm vào thị trường, không thể bỏ qua khâu đăng kiểm tiêu chuẩn châu Âu, đây là khâu quan trọng để tạo chỗ đứng trên thị trường. Các doanh nghiệp thủy sản tại nước xuất khẩu phải có điều kiện sản xuất tương đương như các doanh nghiệp của nước nhập khẩu và phải có giấy chứng nhận của cơ quan kiểm tra chất lượng được EU công nhận. Đặc biệt cấm nhập khẩu những sản phẩm thủy sản bị nhiễm độc do tác động của môi trường hoặc do các chất phụ gia không được phép sử dụng. Để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, luật của EU cũng đề cập đến các loại phụ gia thực phẩm. EU cũn cú cỏc quy định khác như quy định tối đa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng, vi khuẩn, ô nhiễm phóng xạ… - Quy định của EU về truy xuất nguồn gốc sản phẩm + Quy định về xuất xứ hàng hoá EU quy định xuất xứ hàng hoá như sau: - Đối với các sản phẩm hoàn toàn được sản xuất tại lãnh thổ nước hưởng GSP như: khoáng sản, động vật, thủy sản đánh bắt trong lãnh hải và các hàng hoá sản xuất từ các sản phẩm đó được xem là có xuất xứ và được hưởng GSP. - Đối với các sản phẩm có thành phần nhập khẩu: EU quy định hàm lượng tri giá sản phẩm sáng tạo tại nước được hưởng GSP (tính theo giá xuất xưởng) phải đạt 60% tổng trị giá hàng liên quan. EU cũng quy định xuất xứ cộng gộp, theo đó hàng hoá của một nước có thành phần xuất xứ từ một nước khác trong cùng một tổ chức khu vực cũng được hưởng GSP thỡ cỏc thành phần đó cũng được xem là có xuất xứ từ nước liên quan. + Quy định của EU về khả năng truy xuất sản phẩm         Các sản phẩm này phải truy xuất ngược đến nhà cung cấp và khách hàng; và các hệ thống phải hoạt động để đảm bảo cung cấp thông tin này cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu. Tất cả các thực phẩm hoặc thức ăn chăn nuôi đưa ra thị trường phải được ghi nhãn đầy đủ để tạo điều kiện cho việc nhận diện và truy xuất nguồn gốc của chúng. Các nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm và thức ăn chăn nuôi phải có trách nhiệm: - Triệu hồi các sản phẩm bị từ chối do không phù hợp làm thực phẩm. - Thụng báo với cơ quan có thẩm quyền về các sự vụ trên và hợp tác với cơ quan này để giảm bớt hoặc loại trừ mối nguy liên quan. Yêu cầu các công ty phải: có khả năng truy xuất ngược về khâu sản xuất; cú cỏc hệ thống triệu hồi các sản phẩm không an toàn; thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các sản phẩm không an toàn. Quy định các điều kiện sản xuất thực phẩm an toàn và việc đưa ra thị trường các sản phẩm thủy sản, các quy định về vệ sinh cho ngành sản xuất thủy sản. 2.2 Quy định của EU về bảo vệ môi trường và nguồn lợi 2.2.1. Tiêu chuẩn môi trường của EU Hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về quản lý môi trường – ISO 14000     Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 là bộ Tiêu chuẩn về quản lý môi trường, được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận quốc tế bao gồm các yêu cầu đối với các yếu tố cơ bản có thể điều chỉnh được để thiết lập nên hệ thống quản lý môi trường có khả năng cải thiện môi trường một cách liên tục tại các cơ sở. ISO 14000 Bộ Tiêu chuẩn về quản lý Môi trường Hệ thống quản lý môi trường Kiểm tra đánh giá môi trường Các khía cạnh môi trường trong các tiêu chuẩn về sp Ghi nhãn môi trường Đánh giá kết quả hoạt động môi trường Đánh giá vòng đời sản phẩm Sơ đồ: ISO 14000 (Nguồn: Bộ Thương mại (2002), nghiên cứu tác động của quy định và tiêu chuẩn về môi trường liên quan đến thương mại và khả năng thích ứng của một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam) - Các tiêu chuẩn đánh giá tổ chức quy định trong ISO 14000 ISO 14001 là tài liệu quy định các yêu cầu đối với hệ thống quản lý của Bộ tiêu chuẩn ISO 14000. Nó bao gồm các yếu tố mà tổ chức cơ sở muốn đăng ký hoặc chứng nhận phù hợp với các tiêu chuẩn phải thỏa mãn. Các chức năng cơ bản của ISO 14001 tương tự như ISO 9001, ISO 9002 trong Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 được gọi là các tài liệu về yêu cầu đối với hệ thống quản lý. ISO 14000 – Các tiêu chuẩn về đánh giá tổ chức ISO 14050 THUẬT NGỮ VÀ ĐỊNH NGHĨA Đánh giá kết quả hoạt động môi trường (EPE) ISO 14031. Hướng dẫn đánh giá kết quả thực hiện môi trường Hệ thống quản lý môi trường (EMS) ISO 14001. Hệ thống quản lý môi trường. Quy định và hướng dẫn sử dụng ISO 14004. Hệ thống quản lý môi trường. Hướng dẫn chung về nguyên tắc và kỹ thuật hỗ trợ Kiểm tra đánh giá (KTDG) môi trường (EA) ISO 14010. Hướng dẫn KTDG môi trường, những nguyên tắc chung. ISO 14011 – Hướng dẫn KTDG môi trường, các thủ tục KTDG – Phần 1: KTDG hệ thống quản lý môi trường. ISO 14012 – Hướng dẫn KTDG môi trường – Các chuẩn cứ về trình độ đối với các đánh giá viên môi trường về hệ thống. Hệ thống kiểm tra và quản lý sinh thái (Ecological Management and Audit Scheme - EMAS) Mục tiêu của EMAS là đẩy mạnh sự cải thiện, tiếp tục việc thực hiện tiêu chuẩn môi trường của các tổ chức châu Âu, cùng với việc cung cấp thông tin cho cộng đồng và các đối tác quan tâm. EMAS là công cụ quản lý đối với các doanh nghiệp, các tổ chức để đánh giá, báo cáo và cải thiện việc thực hiện bảo vệ môi trường của họ. Mục tiêu EMAS mới: (1) Giới thiệu và thực thi bởi các tổ chức có hệ thống quản lý môi trường; (2) Đánh giá mục tiêu của những hệ thống này; (3) Tích cực đào tạo và trao đổi nhân viên của các tổ chức đó; (4) Cung cấp thông tin tới cộng đồng và các đối tác có liên quan. Để tham gia và có được chứng nhận áp dụng EMAS, doanh nghiệp phải tuân thủ các bước sau: (1) Kiểm soát việc đánh giá về môi trường, xem xét tất cả các khía cạnh về môi trường của các hoạt động, sản phẩm, dịch vụ, phương pháp thâm nhập, khung pháp lý, pháp luật của doanh nghiệp đó, thực tiễn quản lý môi trường đang tồn tại và các thủ tục. (2) Dựa trên kết quả thu được từ đánh giá việc thực hiện môi trường của doanh nghiệp, thiết lập một hệ thống quản lý môi trường có hiệu quả nhằm đạt được chính sách môi trường của doanh nghiệp được định nghĩa bởi sự quản lý cao cấp. Hệ thống quản lý này cần đề ra trách nhiệm, mục tiêu, biện pháp, thủ tục vận hành, nhu cầu đào tạo, hệ thống giám sát và truyền đạt thông tin. (3) Thực hiện việc kiểm tra môi trường, đánh giá hệ thống quản lý, sự tuân thủ chính sách của doanh nghiệp và Chương trình cũng như sự tuân thủ các yêu cầu pháp luật về môi trường thích hợp. (4) Cung cấp bản đánh giá về việc thực hiện môi trường của doanh nghiệp nhằm đưa ra các kết quả đạt được từ việc thực hiện các mục tiêu về môi trường và các bước trong tương lai sẽ được thực hiện để tiếp tục cải thiện việc thực thi môi trường của doanh nghiệp. 2.2.2 Hệ thống giá đối chiếu EU đã đưa ra một bảng giá đối chiếu cho một số hàng thuỷ hải sản chọn lọc như là điểm để xác minh giá cả thực. Giá đối chiếu không mang tính ràng buộc, và nước đang phát triển được phép nhập khẩu dưới giá này. Giá đối chiếu có thể là một hình thức bảo vệ thị trường EU. Các nước EU báo cáo nhập khẩu dưới giá đối chiếu cho EU ở Brussels. Nếu một lượng lớn cá tiếp tục được nhập khẩu dưới giá đối chiếu, EU sẽ lấy giá đối chiếu làm giá nhập khẩu tối thiểu, giống như đã từng làm với loại cá tuyết. Tuy nhiên khả năng sử dụng biện pháp này bị hạn chế bởi quy tắc của Tổ chức thương mại thế giới WTO 2.2.3. Cấm nhập khẩu EU áp dụng biện pháp cấm hoàn toàn hoặc chỉ cho phép nhập khẩu khi đáp ứng những điều kiện nhất định đối với những mặt hàng nguy hiểm như: các sản phẩm hóa chất độc hại, các chất phế thải…(cỏc mặt hàng được quy định theo tinh thần nghị định thư Montreal và Hiệp định Basel). Một số mặt hàng bị cấm nhập khẩu vào EU do ảnh hưởng đến an toàn, an ninh sức khỏe của cộng đồng như một số nông sản, thuốc tân dược, thực phẩm, các sản phẩm thủy sản có dư lượng kháng sinh, lượng chất độc cho phộp… 2.2.4. Cấp giấy phép nhập khẩu Không có yêu cầu về giấy phép nhập khẩu đối với hàng thủy hải sản vào thị trường EU. Tuy nhiên đối với các hàng hóa khác, EU áp dụng biện pháp cấp phép nhập khẩu. Liên minh châu Âu chỉ đề ra những biện pháp ảnh hưởng đến xuất khẩu đối với những sản phẩm thuộc chính sách an ninh và ngoại giao thông thường, chủ yếu là các loại vũ khí và hóa chất độc hại. 2.3. Quy định của EU liên quan đến bình đẳng thương mại 2.3.1. Công ước Pari Công ước Paris áp dụng cho sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, mẫu hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý (chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ) và chống cạnh tranh không lành mạnh. Các quy định của Công ước Pari đề cập đến 4 vấn đề lớn: (1) Nguyên tắc đối xử quốc gia Công ước Pari quy định đối với việc bảo hộ sở hữu công nghiệp, mỗi nước thành viên khác phải được sự bảo hộ tương tự như sự bảo hộ dành cho công dân mình. Chế độ đối xử quốc gia tương đương cũng phải được dành cho công dân của những nước không phải là thành viên của Công ước Pari nếu họ cư trú tại những nước thành viên hoặc nếu họ có cơ sở kinh doanh tại một nước thành viên. (2) Quyền ưu tiên Công ước Pari quy định quyền ưu tiên đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Cụ thể là trên cơ sở một đơn hợp lệ đầu tiên đã được nộp tại một trong số các nước thành viên, trong một thời hạn nhất định (12 tháng đối với sáng chế và giải pháp hữu ích, 6 tháng đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp) người nộp đơn có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ tại bất cứ nước thành viên nào khác và các đơn nộp sau sẽ được coi như đã nộp đơn vào cùng ngày với ngày nộp đơn đầu tiên. Ngoài ra những đơn nộp sau dựa trên cơ sở đơn nộp đầu tiên sẽ không bị ảnh hưởng bởi bất cứ sự kiện nào có thể xảy ra trong khoảng thời gian ưu tiên, chẳng hạn như công bố sáng chế hoặc bán sản phẩm mang nhãn hiệu hoặc kiểu dáng công nghiệp. Một số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mà các nước thành viên phải tuân thủ như Patent, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại… + Nhãn hiệu Một khi nhãn hiệu đã được đăng ký tại một nước thành viên, đăng ký đó sẽ độc lập với đăng ký có thể có tại một nước thành viên nào khác, kể cả nước xuất xứ. Do đó, nếu đăng ký bị mất hiệu lực tại một nước thành viên thì cũng sẽ không ảnh hưởng đến hiệu lực của đăng ký nhãn hiệu đó tại các nước thành viên khác. Nhãn hiệu tập thể cũng phải được bảo hộ. Bản chất của hàng hóa mang nhãn hiệu sẽ không ảnh hưởng đến khả năng đăng ký nhãn hiệu. Nhãn hiệu hàng hóa được sử dụng trên hàng hóa trưng bày tại các triển lãm chính thức hoặc được công nhận là chính thức nếu có khả năng được bảo hộ sẽ được hưởng sự bảo hộ tạm thời. + Tên thương mại Các nước thành viên phải bảo hộ tên thương mại mà không được đặt ra yêu cầu về việc nộp đơn yêu cầu bảo hộ hoặc đăng ký. Các nước có quyền tự do đưa ra định nghĩa tên thương mại và cách thức bảo hộ tên thương mại trong luật của mình. + Chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hóa Các thành viên phải cú cỏc biện pháp pháp lý để chống lại việc sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp các chỉ dẫn nguồn gốc mang tính chất lừa dối đối với các hàng hóa hoặc đặc điểm phân biệt của nhà sản xuất hoặc kinh doanh thương mại khác. Các nước phải tịch thu hàng hóa mang chỉ dẫn lừa dối hoặc cấm nhập khẩu những hàng hóa đó hoặc áp dụng bất cứ biện pháp nào khác để ngăn ngừa hoặc chấm dứt việc sử dụng những chỉ dẫn như vậy. Tuy nhiên, nghĩa vụ tịch thu hàng hóa khi nhập khẩu chỉ áp dụng khi biện pháp đó được quy định trong luật quốc gia. + Cạnh tranh không lành mạnh Mỗi nước thành viên phải dành sự bảo hộ có hiệu quả nhằm chống cạnh tranh không lành mạnh mà các quốc gia có quyền tự do quy định trong luật của mình. Điều 10bis quy định nguyên tắc xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh và một danh mục không đầy đủ các hàng vi cạnh tranh không lành mạnh. Tranh chấp giữa hai hoặc nhiều nước thành viên của Liên minh có liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước Paris, nếu không giải quyết được bằng con đường đàm phán đều có thể được giải quyết tại Tòa án Quốc tế. 2.3.2. Luật nhãn hiệu hàng hóa (Trademark Law Treaty) Mục đích của Hiệp ước là làm đơn giản hóa, hài hòa húa cỏc quy định về thủ tục và yêu cầu hành chính của các hệ thống đăng ký nhãn hiệu hàng hóa quốc gia và khu vực, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp đơn và chủ sở hữu nhãn hiệu. Các quy tắc của Hiệp ước làm rõ những yêu cầu về thủ tục mà cơ quan nhãn hiệu hàng hóa được phép hay không được phép đòi hỏi người nộp đơn hoặc chủ sở hữu nhãn hiệu. Hiệp ước không điều chỉnh những quy định nội dung về đăng ký nhãn hiệu của Luật Nhãn hiệu hàng hóa. 2.3.3. Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs) Với mục đích chống hàng giả nhãn hiệu hàng hóa, Hiệp định TRIPs quy định các nguyên tắc tổng quát về thủ tục bảo hộ một cách thỏa đáng và hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp tại các nước thành viên. Nhằm ngăn chặn hàng giả, Hiệp định TRIPs quy định luật nhãn hiệu hàng hóa quốc gia của các nước thành viên phải quy định một số thủ tục và các thủ tục này phải được công khai đối với chủ sở hữu quyền, trong số đó, có cơ chế thực thi, chẳng hạn như các thủ tục dân sự, hình sự và hành chính bao gồm các biện pháp tạm thời, bồi thường thiệt hại, tiêu hủy tang vật vi phạm. Hiệp định TRIPs cũng quy định các thủ tục kiểm soát hàng giả tại biên giới. 2.3.4. Hệ thống đăng ký tại EU: Nhãn hiệu Cộng đồng (Community Trade Mark - CTM) Cộng đồng châu Âu đã thông qua quy định về nhãn hiệu thương mại đem lại sự bảo hộ sở hữu trí tuệ trên khắp quốc gia thành viên. EU thành lập hệ thống đăng ký nhãn hiệu hàng hóa riêng, độc lập vào các nước trong cộng đồng, gọi tắt là CTM (Community Trade Mark). Để được đăng ký CTM, nhãn hiệu phải được cả 25 nước trong Cộng đồng đồng ý. Sau khi đăng ký tại cơ quan này, nhãn hiệu đó sẽ có hiệu lực ở tất cả các nước thành viên Cộng đồng châu Âu. Ngược lại nếu nhãn hiệu bị hủy bỏ hay mất hiệu lực ở một nước thành viên thì đương nhiên bị mất hiệu lực trong cả Cộng đồng. 2.3.5. Chống bán phá giá Định nghĩa bán phá giá (dumping) được trình bày trong các văn kiện GATT như sau: bán phá giá và việc bán những hàng hóa xuất khẩu ở một giá thấp hơn “giỏ trị bình thường” (giá trị bình thường nghĩa là giá bán sản phẩm ở nước xuất khẩu). GATT cũng xác định: Mức phá giá = Giá bán hàng tại thị trường trong nước – Giá xuất khẩu. EU áp dụng luật chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu từ nước thứ ba, kể cả các đối tác thương mại được hưởng ưu đãi, trừ các thành viên của khu vực kinh tế châu Âu (EEA) trong một số lĩnh vực chịu sự chi phối trong khuôn khổ chính sách cạnh tranh của EU.  Khi một mặt hàng nào đó được xác định là bán phá giá vào thị trường EU và có đơn kiện của người sản xuất của Liên minh thì Ủy ban châu Âu sẽ xem xét việc bán phá giá đó có ảnh hưởng đến lợi ích chung của EU hay không. Trên cơ sở đó sẽ đưa ra biện pháp xử lý cụ thể. “Trốn thuế bỏn phỏ giỏ” là cụm từ chỉ những nỗ lực của cỏc bờn đáng lẽ phải đóng thuế chống bán phá giá nhưng lại trốn tránh để không phải đóng loại thuế này bằng cách tìm mọi cách để hoạt động “chớnh thức” ở bên ngoài phạm vi thuế chống bán phá giá, trong khi đó lại vẫn tham gia lâu dài vào các hoạt động thương mại tương tự như trước đây. Ba loại trốn thuế chống bán phá giá là: Trốn thuế của các nước nhập khẩu, trốn đóng thuế của các nước thứ ba, và trốn đóng thuế của các nước “đang phát triển”. Các nguyên tắc về các biện pháp để ngăn chặn tình trạng trờn đó được thảo luận nhưng vẫn chưa đi đến cách giải quyết thống nhất. ủy ban chống bán phá giá của WTO đã bắt đầu tiến hành cuộc thảo luận, xem xét các biện pháp để có được giải pháp cho vấn đề này, và đã đạt được sự thoả thuận về phạm vi xem xét trong tương lai (gồm các quá trình và các chương trình nghị sự). Những cuộc thảo luận không chính thức và lâu dài về yếu tố nào gây nên tình trạng trốn thuế bán phá giá, đã được tổ chức. Đây là vấn đề đầu tiên được nêu lên trong chương trình nghị sự . Những quy định về chống bán phá giá của EU bao gồm các biện pháp chống trốn thuế bán phá giá (khác với các biện pháp của Mỹ). Những quy định trước đây chỉ là các quy định về chống trốn thuế đối với các nước nhập khẩu và các nước thứ ba. Tuy nhiên, những quy định mới về các biện pháp chống trốn thuế được phác thảo dựa trên kết luận của hội thảo (được rút ra trong các trường hợp bán phá giá ) và dựa trên các quan điểm được đưa ra tại các cuộc đàm phán Vòng Uruguay. Những quy định mới quy định hai biện pháp, đó là :   Biện pháp thứ nhất, những thay đổi trong mô hình hoạt động kinh doanh không thể được giải thích bằng những lý do pháp lý hay những suy đoán kinh tế . Biện pháp thứ hai, suy yếu hiệu lực về giảm thuế chống bán phá giá và đây là dấu hiệu của bán phá giá khi so sánh với giá thông thường .    EU cũng bổ sung thờm cỏc tiêu chí trong tiêu chuẩn xác định các biện pháp chống trốn thuế, EU cũng từng bước tiến hành các biện pháp hành chính để hoàn thiện các biện pháp chống bán phá giá từ việc đăng ký hàng nhập khẩu đến việc cấp các giấy chứng nhận đã đóng thuế. Phạm vi của các biện pháp này không chỉ rộng mà còn phải tính đến các cuộc điều tra mới về bán phá giá và mức độ thiệt hại do bán phá giá gây ra . Dưới đây là các trường hợp trốn thuế chống bán phá giá được hầu hết các nước quan tâm : (1) Khai báo sai thuế hải quan và những hành động bất hợp pháp khác ; (2) Chuyển sang xuất khẩu hàng hoá có mức độ chênh lệch nhỏ so với hàng hoá phải đóng thuế chống bán phá giá ( những sản phẩm cú ớt sự điều chỉnh ); (3) Xuất khẩu các linh kiện sản phẩm phải đóng thuế chống bán phá giá và lắp ráp các linh kiện tại nước nhập khẩu ( trốn thuế của nước nhập khẩu); (4) Xuất khẩu các linh kiện sản phẩm phải đóng thuế chống bán phá giá sang nước thứ ba và lắp ráp các linh kiện tại đó ( trốn thuế của nước thứ ba); Xuất khẩu sản phẩm phải đóng thuế chống bán phá giá từ nước thứ ba . IV. Quan hệ thương mại thuỷ sản với Việt Nam Việt Nam bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Cộng đồng châu Âu vào ngày 22-10-1990. Hiệp định hợp tác với EU vào ngày 17-7-1995, tạo cơ hội thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia thành viên và cả Cộng đồng trên mọi lĩnh vực hỗ trợ phát triển, khoa học kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, văn hoá xã hội, đầu tư kinh tế và thương mại. EU cũng là khối đã hoàn thành quá trình đàm phán để Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO. 1. Tình hình xuất nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vào EU       Từ những năm 1980, sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã xuất hiện trên thị trường EU dưới một nhàn hiệu chung là Seaprodex. Ngay từ những năm đầu thâm nhập thị trường EU, sản phẩm thủy sản được xuất khẩu chung với các sản phẩm nông sản khác với số lượng ít nhưng đã gây được cảm tình của người tiêu dùng châu Âu. Từ tháng 11/1999, Việt Nam được công nhận vào danh sách 1 (List A) các nước xuất khẩu thuỷ sản vào EU, sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã chính thức được công nhận về pháp lý để khẳng định được chỗ đứng tại 15 nước EU. Đến 01/01/2006, Việt Nam có 171 doanh nghiệp (trong tổng số 394 doanh nghiệp chế biến thủy sản lớn của cả nước) đủ tiêu chuẩn được cấp phép (code) xuất khẩu thủy sản vào thị trường EU. Từ năm 1996 – 1999, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU tăng rất nhanh với tốc độ trung bình hàng năm 54,92%. Theo số liệu thống kê của EU, năm 1996 kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản từ Việt Nam đạt 26,9 triệu USD, năm 1997 - 65,0 triệu USD, năm 1998 tăng lên 92,5 triệu USD. Theo số liệu thống kê của Trung tâm Tin học Bộ Thuỷ sản, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU năm 1999 đạt 89,1 triệu. Trong những năm 2000 – 2002, hoạt động xuất khẩu bị chững lại và có xu hướng giảm sút, sau khi EU tăng cường kiểm tra dư lượng các chất kháng sinh và hạ thấp ngưỡng phát hiện dư lượng các chất này trong sản phẩm. Nhờ những nỗ lực khắc phục của các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp và nông ngư dân Việt Nam, từ năm 2003, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng trở lại. Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang EU đạt 116, 7 triệu đụla, năm 2004 - 231,5 triệu đụla, năm 2005 - 367,3 triệu đụla. Hàng thủy sản hiện là mặt hàng có kim ngạch đứng thứ tư trong số các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU. Tuy nhiên, cho đến nay, tỷ trọng nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam hàng năm chỉ bằng 0,3-0,4% trị giá nhập khẩu thủy sản của toàn EU. Khối lượng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam vào EU năm 2005 mới đạt gần 120 nghìn tấn, trị giá 367,3 triệu USD, chiếm 7% kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước. Bảng 18: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào EU Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Kim ngạch (triệu USD) 71,8 90,7 73,7 116,7 231,5 367,3 Khối lượng (tấn) 20.290,8 26.659,1 28.612,8 38.186,8 73.459,2 110.911,2 (Nguồn: Trung tâm Tin học, Bộ Thuỷ sản) Trong giai đoạn từ 2000-2001, mặt hàng có khối lượng nhập khẩu lớn nhất của EU từ Việt Nam là tôm đông lạnh. Kim ngạch xuất khẩu tôm đông lạnh năm 2000 đạt 38,6 triệu đụla, năm 2001 - 43,6 triệu đụla. Năm 2002, kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam có giảm sút, chỉ còn 15,7 triệu đụla. Từ năm 2002, thương mại tôm giữa Việt Nam và EU đó cú những dấu hiệu phục hồi và có sự gia tăng cả về giá trị và khối lượng tôm xuất sang thị trường này trong năm 2003 và 2004. Năm 2003, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 5316 tấn tôm sang EU, tăng 28% so với 4000 tấn năm 2002. Năm 2004, tôm Việt Nam đã thâm nhập mạnh hơn vào các thị trường mới tại khu vực EU, khi các nhà xuất khẩu tôm Việt Nam chuyển hướng từ Bỉ, thị trường truyền thống số một tại EU, sang các thị trường khác như Anh, Đức, Italy. Đối với mặt hàng tôm của Việt Nam, vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, ngoài ra không bị cản trở bởi các biện pháp phi quan thuế nào khác. Bảng 19: Xuất khẩu thuỷ sản đông lạnh của Việt Nam theo thị trường Thị trường 2001 2002 2003 Khối lượng (Tấn) Giá trị  (1000USD) Khối lượng (Tấn) Giá trị  (1000USD) Khối lượng (Tấn) Giá trị  (1000USD) Eu-15 Ai Xơ Len 63.4 314.7 9.1 35.4 53.8 234.5 Bỉ  4 064.2  18 516.6  5 902.9  18 573.6  8 738.8  31 934.6 Bồ Đào Nha 173.3 324.8 115 244.3 384.5 675.6 Italy  6 841.9  13 074.7  10 048.9  17 490.8  11 589.4  23 043.2 Đức  4 896.5  20 707.6  3 834.0  11 750.0  5 383.5  18 244.8 Anh  3 028.3  14 796.2  2 519.2  6 288.1  2 653.1  14 975.9 Pháp  5 273.0  15 372.1  3 445.9  12 281.8  4 308.2  14 599.3 Tây Ban Nha  1 858.2  4 802.5  2 042.0  5 122.0  3 739.5  8 261.6 Đan Mạch 284.7  1 254.6 465  1 258.3 569.1  1 880.4 Thuỵ Điển 146.1  1 534.6 86.5 299.4 255.7  1 346.2 Các thành viên mới của EU Séc - Czech 963.2 973  1 147.3  1 345.7  1 337.4  1 217.1 Ba Lan - Poland 50.6 130.5 157.7 335.9 568.2  1 101.5 EU-25 (Nguồn: Trung tâm Tin học) Chính sách của EU đối với Việt Nam Những khó khăn và thách thức của ngành thủy sản Việt Nam khi gia nhập thị trường EU EU là thành viên của WTO nờn cú chế độ quản lý nhập khẩu chủ yếu dựa trên nguyên tắc của tổ chức này. Các mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch không nhiều nhưng biện pháp thuế quan lại được sử dụng khá nhiều. Mặc dù thuế quan của EU thấp hơn so với các cường quốc kinh tế lớn và có xu hướng giảm nhưng EU vẫn là một thị trường được bảo trợ chặt chẽ với hàng rào phi thuế quan (rào cản kỹ thuật) nghiêm ngặt. Rào cản kỹ thuật chính là quy chế nhập khẩu chung và các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU được cụ thể hoá ở 5 tiêu chuẩn của sản phõm, đó là: tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng, tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và tiêu chuẩn về lao động. Việc tự do hoá về thương mại và đầu tư trên thế giới cũng như cải cách về chính sách và cơ chế quản lý xuất nhập khẩu của EU ngày càng được nới lỏng nên cạnh tranh trên thị trường này sẽ ngày càng gay gắt do lượng hàng nhập khẩu rất nhiều. Chu kỳ sống của một sản phẩm sẽ phải ngắn hơn và phương thức dịch vụ tốt hơn. Qua số liệu thống kê, tuy kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào EU tăng trưởng cao trong những năm vừa qua, nhưng hàng thủy sản của ta chiếm thị phần rất nhỏ trên thị trường này, còn cách xa tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam. Nhu cầu nhập khẩu thủy sản hàng năm của EU rất lớn, nhưng yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh thực phẩm đối với mặt hàng này lại rất cao. Một vài lô hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU vẫn chưa an toàn (nhiễm khuẩn, nhiễm bẩn, bị phát hiện có dư lượng hoá chất, kháng sinh,...) và chất lượng chưa được ổn định. Đã xảy ra một số trường hợp doanh nghiệp Việt Nam làm giả chất lượng hàng thủy sản. Do vậy, EU chỉ nhập khẩu những sản phẩm từ những doanh nghiệp chế biến thủy sản ở Việt Nam đã được cấp chứng chỉ đủ tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh. Nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản khác của Việt Nam chưa tiếp cận được thị trường này Quy định về môi trường của EU rất nghiêm ngặt, bao gổm các quy định liên quan trực tiếp đến môi trường và các quy định liên quan gián tiếp đến môi trường và liên quan trực tiếp đến vệ sinh an toàn thực phẩm. Khi xuất khẩu hàng thủy sản sang EU, ngoài việc xuất trình các chứng chỉ về vệ sinh dịch tễ, vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật là yêu cầu bắt buộc, doanh nghiệp Việt Nam còn phải tuân thủ các quy định về môi trường của EU. Quy định riêng đối với Việt Nam về mặt hàng thuỷ sản:      Quyết định 2000/332/EC ngày 25/4/2000 Quyết định này quy định các điều kiện đặc biệt đối với việc nhập khẩu nhuyễn thể hai mảnh vỏ, loài da gai, giáp xác và chân bụng ở bất kể dạng nào được phép sử dụng cho người, có nguồn gốc từ Việt Nam. Quyết định 97/296/EC ngày 22-4-1997 thành lập danh sách các nước thứ Ba được phép xuất khẩu sản phẩm thủy sản dùng làm thực phẩm vào Cộng đồng châu Âu. Danh sách này được chia làm hai nhóm nước: (1) Nhóm I – Những nước thứ Ba được nói đến trong Quyết định đặc biệt của Hội đồng dựa trên cơ sở Chỉ thị 91/493/EEC (28 nước, ở châu Á có: Nhật Bản, Inđụnờxia, Malaixia, Philippin, Xingapo, Thái Lan, Hàn Quốc); (2) Nhóm II – Những nước thứ Ba đáp ứng được yêu cầu tại điều 2 (2) Quyết định của Hội đồng số 95/408/EEC (27 nước châu Á, trong đó có Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam). Quyết định của Ủy ban châu Âu ngày 16-11-1999, ban hành các điều kiện đặc biệt cho việc nhập khẩu các sản phẩm thủy sản có nguồn gốc từ Việt Nam. Theo Quyết định này, kể từ ngày 16-11-1999 EU áp dụng chế độ kiểm tra thông thường đối với Việt Nam (kiểm tra ngẫu nhiên 5% các lô hàng thủy sản xuất khẩu vào EU).             Quyết định 2002/863/EC ngày 29-10-2002 sửa ban hành danh sách những nước thứ Ba được phép xuất khẩu sản phẩm thủy sản dùng làm thực phẩm vào Cộng đồng châu Âu. Danh sách này chia làm hai nhóm nước: Nhóm Điều kiện Chế độ kiểm tra  I Các nước và vùng lãnh thổ được nói đến trong một Quyết định đặc biệt của Hội đồng trên cơ sở Chỉ thị 91/493/EEC (72 nước và vùng lãnh thổ ở châu Á, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Inđônêxia, Ấn Độ, Malaixia, Thái Lan, Việt Nam);  Kiểm tra thông thường  II Các nước và vùng lãnh thổ đáp ứng yêu cầu của điều 2 (2) trong Quyết định của Hội đồng số 95/408/EEC (35 nước và vùng lãnh thổ, ở châu Á có: Hồng Kông, Mianma).  Kiểm tra 100% lô hàng Tuy nhiên, nếu các nước thuộc Nhóm I vi phạm Quy định kiểm tra thú y ở mức độ nhất định (gây ảnh hưởng tới thị trường EU), EU sẽ áp dụng biện pháp kiểm tra 100% các lô hàng thủy sản nhập khẩu, thời hạn áp dụng biện pháp này dài hay ngắn tùy thuộc vào việc chấp hành Quy định kiểm tra thú y của các doanh nghiệp thủy sản nước đó. Nếu vi phạm nặng, EU sẽ đưa nước đó trả lại Nhóm II và áp dụng trở lại chế độ kiểm tra 100% các lô hàng thủy sản nhập khẩu.          Quỏ trình tiêu thụ sản phẩm cuối cùng, đặc biệt là tiêu thụ với giá trị gia tăng thông qua xuất khẩu, là động lực bảo đảm cho sự tăng trưởng và phát triển của các hoạt động sản xuất khai thác và nuôi trồng, bên cạnh việc giữ vững các thị trường truyền thống, ngành thuỷ sản đã chủ trương tích cực đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, trong đó EU là một trong những lựa chọn hàng đầu. Do đây là một thị trường lớn, ổn định, giá tốt nhưng cú đũi hỏi rất cao về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là sau những vụ ngộ độc thực phẩm, nên để thu được thành công ở thị trường này, ngành đã xác định không ngừng nâng cao chất lượng và vệ sinh an toàn sản phẩm là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong chiến lược xúc tiến thâm nhập thị trường. Ngành đã hướng dẫn các doanh nghiệp phấn đầu liên tục nhiền năm để tạo nên những bước chuyển biến tích cực theo hướng này. Từ Bộ Thuỷ sản đến các doanh nghiệp đã thực hiện hàng loạt biện pháp, từ cải thiện hệ thống thể chế, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao năng lực các cơ quan thẩm quyền, đổi mới cách tiếp cận trong quản lý chất lượng, an toàn sản phẩm, cho đến đầu tư đổi mới công nghệ, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cấp điều kiện sản xuất nhằm thoả món cỏc điều tương đồng với các nước nhập khẩu về hệ thống pháp lý, năng lực của cơ quan thực thi pháp lý và điều kiện sản xuất của các doanh nghiệp. Việt Nam đã thực hiện các chương trình giám sát dư lượng cỏc hoỏ chất độc hại có trong thủy sản nuôi từ vựng nuụi đến nhà máy chế biến, giám sát vùng thu hoạch nhuyễn thể hai mảnh vỏ và được EU đánh giá cao. Kết luận EU là một khối liên kết kinh tế chặt chẽ và sâu sắc nhất thế giới hiện nay và cũng là một khu vực phát triển kinh tế ổn định và có đồng tiền riêng khá vững chắc. Mặt khác, thị trường EU có nhu cầu lớn, đa dạng và phong phú về sản phẩm. Đây là thị trường liên kết chặt chẽ thành một khối mậu dịch thống nhất mạnh hạng nhất thế giới, có sức mua lớn, ổn định và cũng là một thị trường khó tính nhất về tiêu dùng thủy sản. Thị trường này, với sở thích tiêu dùng sản phẩm tụm, cỏ, nghờu,… kích thước nhỏ, chất lượng vừa phải có thể bổ sung cho thị trường Nhật và Mỹ về cơ cấu hàng hoá, tạo thế cân bằng cho hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Do vậy, tăng cường xuất khẩu sang EU chính là một trong những giải pháp giỳp cỏc doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam đảm bảo ổn định sản xuất Kênh nhập khẩu và phân phối hàng trong khối EU khá phức tạp và có nhiều đầu mối có phương thức ứng xử khác nhau. Các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm rõ những đặc điểm của kênh phân phối đó và các đầu mối nhập khẩu để có những biện pháp xâm nhập cụ thể. Với sản lượng xuất nhập khẩu hàng năm lớn, là một bản hàng ổn định, các doanh nghiệp thủy sản của Việt Nam đang dần chuyển mình để tạo được những dấu ấn trong hoạt động xuất nhập khẩu . Có thể nói hệ thống các quy định và tiêu chuẩn của EU đối với hàng hoá là hoàn chỉnh hơn cả, rất chặt chẽ, và không dễ thoả mãn.Nhưng với nguồn nguyên liệu nhiệt đới phong phú về chủng loại và khối lượng, chất lượng cao, cùng với việc nõng caovà hoàn thiện qua từng quy trình sản xuất, thủy sản Việt Nam đã hội tụ đầy đủ những điều kiện cần thiết để trở thành một đối tác lớn xuất khẩu thủy sản cho bạn hàng EU. Tài liệu tham khảo : Giáo trình kinh tế ngoại thương Quản lý hoạt động nhập khẩu cơ chế chớnh sách và biện pháp Thâm nhập thị trường EU – Những điều cần biết - PGS. TS. Đoàn Thị Hồng Vân – NXB Thống kê – 2004 Các quy định về môi trường của Liên minh châu Âu đối với nhập khẩu hàng nông, thủy sản - Bộ Thương mại; NXB chính trị quốc gia Tạp chí Thương mại thủy sản Cùng một số tài liệu khác.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc1 203.doc
Tài liệu liên quan