Vai trò của ý thưc pháp quyền trong đời sống xã hội và ứng dụng trong quá trình xây dựng ý thức pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Gắn liền với quá trình phát triển ý thức pháp quyền trong lịch sử nói chung và trong xã hội Việt Nam nói riêng là quá trình hình thành phát triển của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa .Trong nhà nước đó,về bản chất pháp luật phải đảm bảo tính khách quan,công bằng , bình đẳng, pháp luaatj đảm bảo quyền con người quyền tự do dân chủ được quan tâm đặc biệt.kế thừa và phát huy những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, Đảng ta đã khẳng định:Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân , do dân , vì dân, quản lý mọi mặt đời sống xx hội bằng pháp luật đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Qua nghiên cứu: Vai trò của ý thức pháp quyền trong đời sống xã hội và ứng dụng trong quá trình xây dựng ý thức pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” chúng ta có thể xác định việc xây dựng hệ thống pháp quyền nói chung và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân , vì dân nói riêng phải đảm bảo được các yếu tố: 1. Phải phù hợp với chế đọ sở hữu,chế độ quản lý và chế độ phân phối của nền kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa 2. Phải phù hợp với tính chất xã hội hóa theo hướng pháy huy cao độ sáng kiến của cá nhân tạo điều kiện cho cá nhân tự do sáng tạo trong mọi hoạt động của mình

doc27 trang | Chia sẻ: Kuang2 | Ngày: 21/08/2017 | Lượt xem: 42 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Vai trò của ý thưc pháp quyền trong đời sống xã hội và ứng dụng trong quá trình xây dựng ý thức pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam,vấn đề chính quyền và việc xây dựng Đảng,hoàn thiện một nhà nước kiểu mới,nhà nước dân chủ ở Việt Nam luôn là mối quan tâm hàng đầu,một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng.Trong việc xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đảng khẳng định:”Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mac-LeNin và tư tưởng Hồ Chí Minh.Trong đó,chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng những tư tưởng,quan điểm,tư tưởng về pháp quyền,nhân quyền,về các quyền tự do dân chủ.Chính vì vậy quá trình đổi mới tư duy và hình thành quan điểm tư tưởng về pháp quyền hệ tư tưởng pháp quyền trở thành một tất yếu lịch sử.Nó không chỉ là sản phẩm riêng của nghĩa tư bản mà là tinh hoa,sản phẩm trí tuệ của xã hội loài người,của nền văn minh nhân loại.Tuy nhiên quá trình xây dựng ý thức pháp quyền sâu rộng trong xã hội là một quá trình lâu dài và khó khăn,đây là vấn đề của cơ cấu định chế,chính sách trên cơ bản dân trí,tư tưởng ,văn hóa,xã hội.Một công trình xây dựng cơ chế và tư tưởng cả về công quyền lẫn xã hội dân sự. Trong giai đoạn hiện nay,khi chúng ta đang hướng tới xây dựng nhà nước pháp quyền và đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế,vấn đề pháp chế hóa chính quyền xã hội là một công trình thiết yếu và khả thi.Vì vậy việc nghiên cứu: ”Vai trò của ý thưc pháp quyền trong đời sống xã hội và ứng dụng trong quá trình xây dựng ý thức pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” là một vấn đề trọng yếu của Việt Nam trên con đường pháp chế hóa xã hội NỘI DUNG CHÍNH PHẦN I Ý THỨC PHÁP QUYỀN VÀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP QUYỀN TRONG ĐỜI SỐNG Xà HỘI I-MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ Ý THỨC PHÁP QUYỀN 1-Khái niệm về ý thức pháp quyền Ý thức pháp quyền là toàn bộ các hệ tư tưởng quan điểm của một giai cấp về bản chất và vai trò của pháp luật,về quyền và nghĩa vụ của nhà nước,các tổ chức xã hội và côn dân,về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội,cùng với nhận thức và tình cảm của con người trong việc thực thi luật pháp của nhà nước Hệ tư tưởng pháp quyền với tính chất là cách thức tổ chức và vận hành của một chế độ nhà nước và xã hội,không những được xây dựng ở chế độ tư bản mà còn được xây dưng ở chế độ xã hội chủ nghĩa.Như vậy trong nhận thức lí luận cũng như trong thực tiễn có hệ tư tưởng pháp quyền tư sản và hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa Ra đời và tồn tại trong xã hội có giai cấp và nhà nước,ý thức pháp quyền luôn luôn mang tính chất gia cấp.Giai cấp nắm chính quyền không những củng cố địa vị thống trị về kinh tế bằng các luật lệ mà còn dựa trên hệ tư tưởng pháp quyền để lập luận về sự cần thiết và tính hợp lí của luật pháp của mình.Hệ tư tưởng pháp quyền tư sản đã giải thích luật pháp tư sản như là biểu hiện cao nhất của các quyền tự nhiên của con người.Nhưng trên thực tế luật pháp tư sản bảo vệ quyền chiếm hữu tư nhân về tư kiệu sản xuất,bảo vệ chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa và trật tự của xã hội tư bản.Pháp luật và hệ tư tưởng pháp quyền xã hội chủ nghĩa lấy chủ nghĩa Mac-LeNin hệ tư tưởng của giai cấp công nhân làm nền tảng,phản ánh lợi ích của toàn thể nhân dân lao đọng,bảo vệ cơ sở kinh tế cua chủ nghã xã hội và trật tự của chủ nghĩa xã hội.Pháp luật xã hội chủ nghĩa là công cụ bảo vệ xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích chính đáng của mọi giai cấp và tầng lớp xã hội Ngoài tính giai cấp ý thức pháp quyền còn bao hàm các giá trị đặc thù.Tính đặc thù của Ý thức pháp quyền đượcxác định nởi nhiều yếu tố.Các yếu tố này về thực chất là rất đa dạng phong phú và phức tạp.Chúng được xác định bởi các điều kiện văn hóa,lịch sử,kinh tế,tâm lí xã hội và môi trường địa lí của mỗi dân tộc.Chúng không chỉ tạo ra các đặc tính riêng biệt của mỗi dân tộc trong quá trình dựng nước,giữ nước và phát triển mà còn quyết định mức độ tiếp thu và dung nạp các giá trị phổ biến của nhà nươc pháp quyền.Việc thừa nhận tính đặc thù của ý thức pháp quyền có ý nghĩa nhận thức quan trọng 2-Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ý thức pháp quyền 2.1.Đặc điểm lịch sử,chính trị,trình độ phát triển của kinh tế-xã hội Ý thức pháp quyền vừa mang tính phổ biến vừa mang tính đặc thù,vừa là giá trị chung của nhân loại,vừa là giá trị riêng của mỗi dân tộc mỗi quốc gia.Do vậy,không thể có một hệ tư tưởng pháp quyền như mô hình chung thống nhất cho mọi quốc gia.Mỗi quốc gia dân tộc,dân tộc tùy vào các đặc điểm lịch sử,chính trị,kinh tế,xã hội và trình đọ phát triển mà xây dựng cho mình một hệ tư tưởng pháp quyền phù hợp Hơn nữa,mức đọ ảnh hưởng của tư tưởng đối với sự phát triển của xã hội phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể,vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế mà trên đó tư tưởng nảy sinh,vai trò lịch sử của giai cấp mang ngọn cờ tư tưởng,vào mức đọ phản ánh đúng đắn của tư tưởng dưới các nhu cầu phát triển của xã hội,vào mức đọ mở rộng của tư tưởng của quần chúng.Chính vì vậy trong mỗi bức trnh phức tạp của lịch sử,kinh tế,chính trị,xã hội lại tồn tại một hệ tư tưởng háp quyền riêng biệt.Mặt khác sự phát triển,hoàn thiện của nhà nước và pháp luật cũng không tách rời sự phát triển tiến bộ của nền văn minh nhân loại và trình đọ phát triển văn hóa xã hội cụ thể của quốc gia trong từng thời kì(trình đọ dân trí,vấn đề dân chủ và công bằng xã hội,vấn đề quyền con người và quyền công dân).Đó là mối quan hệ biện chứng.Các tiền đề chính trị,kinh tế,tư tưởng,xã hội và quốc tế thúc đẩy sự hình thành ngày càng đày đủ và hoàn thiện hơn những tư tưởng,quan điểm,sự lãnh đạo,chỉ đạo xây dựng nên ý thức ohaos quyền trong xa hội dưới sự lãnh đạo của giai cấp thống trị.Cơ sở hạ tầng thay đổi tất yếu dẫn đến sự thay đỏi của nhà nước và pháp luật.Tình hình quốc tế thay đỏi cũng đòi hỏi phải có những đói sách tư tưởng,nhận thức thích hợp phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới.Một mặt giữ được bản sắc và truyền thống của hệ tư tưởng cũ,mặt khác biết tận dụng những nhân tố mới,tinh hoa mới của thời đại.Kết hợp nhuần nhuyễn và hiệu quả giữa sức mạnh tính quyết định của nội lực với súc mạnh của thời đại để hình thành một hệ tư tưởng mới tiến bộ,nhân văn,tạo sức bật mới trong hội nhập và phát triển 2.2-Ý thức chính trị Ý thức chính trị(đặc biệt là tư tưởng chính trị)có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển cua xã hội.Thông qua tổ chức nhà nước nó tác động trở lại cơ sở kinh tế và có thể trong những giới hạn nhất định thay đỏi cơ sở kinh tế.Hệ tư tưởng chính trị cũng giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hôi.Nó thâm nhập vào các hình thái ý thức xã hội khác.Ý thức pháp quyền và chính trị là hai hình thái có sự tương đồng cả về nội dung lẫn hình thức.Hệ tư tưởng chính trị được thể hiện trong đường lối cương lĩnh chính trị của các chính đảng,của các giai cấp khác nhau cuungxnhư luật pháp,chính sách nhà nước,công cụ của giai cấp thống trị.Từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống quan điểm nhận thức của các giai cấp trong xã hội về tư tưởng,hành vi của mình về đạo đức và ý thức chính trị chỉ xuất hiện và tồn tại trong các xã hội có giai cấp và nhà nước,phản ánh cá quan hệ chính trị kinh tế xã hội giữa các giai cấp,các dân tộc và các quốc gia cung như thái đọ của giai cấp đối với quyền lực nhà nước.Ở trạng thái tâm lí xã hội những cảm xúc và tâm trạng về chính trị của quần chúng thường thiếu bền vững và không ổn định.Song những trạng thái tâm lí xã hội như vậy lại có vai trò tô lớn và trực tiếp đối với hành vi chính trị của quần chúng đông đảo,thông qua đó hệ tư tưởng chính trị tác động vào đời sống chinhs trị của xã hội.Từ đó tác động vào các tư tưởng,quan điểm của các giai cấp về các vấn đề chính trị như pháp luật và việc thực thi pháp luật của con người.Một giai cấp có hệ tư tưởng chính trị tiến bộ đi lên sẽ có một hệ tư tưởng pháp quyền đúng đắn,tác động tích cực đến phát triển xã hội.Ngược lại giai cấp có hệ tư tưởng chính trị lạc hậu,phản động sẽ phát sinh một hệ tư tưởng pháp quyền tiêu cực,kìm hãm sự pháy triển của xã hội 2.3-Ý thức đạo đức Ý thức đạo đức là toàn bộ nghững quan niệm,tri thức và các trạng thái tình cảm tâm lí chung của các cộng đồng người về các giá trị thiện ác,lương tâm,trách nhiệm,hạnh phúc công bằngvà về những qui tắc đánh giá điều chỉnh hành vi ứng xử giữa các cá nhân với xã hội.Trong tiến trình phát triển của xã hội đã hình thành những giá trị đạo đức mang tính toàn xã hội,tồn tại trong mọi xã hội và ở các hệ thống đạo đức khác nhau.Ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền có mói quan hệ chặt chẽ với nhau trong xã hội.Ý thức đạo đức là nền tảng căn bản xây dựng nên ý thức về các vấn đề xã hội của con người.Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp thì nội dung chủ yếu của đạo đức phản ánh quan hệ giai cấp.Mỗi giai cấp trong giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử xã hội đều có những quan niệm đạo đức riêng của mình.Giai cấp tiêu biểu cho xu thế phát triển đi lên của xã hội thì đại diện cho một nền đạo đức tiến bộ,từ đó xây dựng được hệ thống những tư tưởng pháp quyền tiến bộ.Giai cấp phản động đại diện cho một nền đạo đức suy thoái sẽ hình thành hình thái tư tưởng pháp quyền mang tính đối kháng xới những tư tưởng nhân văn tiến bộ Xét về con người nói riêng đạo đức phản ánh khả năng tự chủ của con người,sự ý thức về lương tâm,danh dự và lòng tự trọngcủa con người là nét cơ bản quyết định bộ mặt đạo đức của con người cũng là biểu hiện bản chất xã hội của con người.Đó là những qui tắc đơn giản nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội,cần thiết cho việc giữ gìn trật tự xã hội chung và sinh hoạt thường ngày,tác đọng đến nhận thức tình cảm của con người trong việc thực thi những qui tắc xã hội nói riêng và pháp luật nói chung 2.4-Sự hình thành của nhà nước pháp quyền Qua thực tiễn tồn tại và phát triển cuả lịch sử nhân loại và các quan điểm,tư tưởng về tính chất xây dựng và vận hành cảu bộ máy nhà nước qua các thời kì lịch sử.Khái niệm nhà nước pháp quyền đề cập đến phương thức tổ chức,xây dựng vầ vận hành bộ máy nhà nước nói chung thông qua hệ thống pháp luật như hiến pháp,luật và các văn bản quy pham pháp luật.Nói cách khác,nhà nước pháp quyền là nhà nước được xem xết dưới góc độ pháp luật,trong đótính tối cao của pháp luật được tôn trọng,các tư tưởng,hành vi chính trị,tôn giáo của bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào trong xã hội cũng được giới hạn bởi khuôn khổ pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật.Vì vậy sự hình thành và phát triển nhà nước pháp quyền tác động trực tiếp đến sư phát triển của ý thức pháp quyền.Phát trienr một nhà nước pháp quyền đi đôi với việc xác lập được bản chất và vai trò của pháp luật,cũng như xác định quyền lập pháp,hành pháp tư pháp trong bộ máy quyền lực nhà nước.Việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp,cơ bản của công dân từ đó đẩy mạnh sự phát triển của ý thức pháp quyền trong xã hội Trong xã hội hiện nay tồn tại 2 hình thái nhà nước pháp quyền chính:Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền tư sản.Ứng với sự phát triển của mỗi hình thái đó hệ tương pháp quyền cũng phát triển trong mỗi hình thái cũng không đồng nhất do sự khác nhau trong bản chất và nội dung pháp luật về tính chất,xây dựng và vận hành của 2 nhà nước đó.Rõ nhất là sự khác nhau trong các quy phạm về hiến pháp,pháp luật về tính chất cơ cấu nhân sự và việc xây dựng vận hành của bộ máy quyền lực:Quốc hội và nghị viện,tổng thống và chủ tịch nước,thủ tướng chính phủ,tòa án.Pháp luật trong nhà nước pháp quyền XHCN thừa nhận tất cả quyền lực thuộc về nhân dân,do nhân dân bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước và chỉ có nhân dân thông qua các đại biểu của mình là chủ thể duy nhất có quyền tuyên bố chấm dứt hoạt động của quốc hội,chính phủ hoặc bầu ra chính phủ,quốc hội mới.Trong khi đó,Hiến pháp và pháp luật tư san lại thừa nhận quyền lực cá nhân tổng thống hoặc thủ tướng có quyền giải tán nghị viện hoặc giải tán chính phủ Trong Nhà nước pháp quyền XHCN,Nhà nước và nhân dân đều phải thừa nhận tính tối cao của pháp luật,vì pháp luật XHCN thể hiện ý chí của toàn thể nhân dân.Trong nhà nước tư sản,nhà nước và nhân dân cũng phải thùa nhận tính tối cao của pháp luật nhưng pháp luật tư sản không phải là pháp luật của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí của giai cấp thống trị.Nói cách khác,luật pháp của nhà nước tư sản chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và gạt ra ngoài quyền lợi của giai cấp vô sản,của người lao động.Đây là nội dung cơ bản khác biệt giữa nhà nước pháp quyền XHCN và TBCN tạo nên sự khác nhau về vai trò và bản chất của pháp luật,cũng như sự khác biệt trong việc xây dựng ý thức pháp quyền của công dân II-NHỮNG TIỀN ĐỀ XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP QUYỀN TRONG Xà HỘI 1-Tiền đề kinh tế Sự ra đời và vận hành của một nền mới tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong đời sông kinh tế-xã hội của đất nước.Trình độ mới của lực lượng sản xuất phát triển làm thay đổi và xuất hiện nhiều quan hệ kinh tế mới trong sản xuất,kinh doanh,cung ứng dịch vụ,phân phối,lưu thông hàng hóa tiền tệĐiều này tất yếu dẫn đến nhu cầu khách là nhà nước phải thực hiện các biện pháp mà trước hết là xây dựng hệ thống pháp quyền,tạo ra cơ chế đảm bảo quyền sản,kinh doanh,cạnh tranh trên thị trường.Hay nói khác đi,buộc nhà nước phải thay đổi phương thức quản lí kinh tế-xã hội bằng pháp luật,phải xây dựng một nền ý thức pháp quyền đủ ở mức tạo thành hành thang pháp lí kiện toàn cho mọi hoạt động kinh doanh,tạo cơ sở pháp lí cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Hơn nữa,việc chỉ ra một cách đúng đắn những hạn chế của cơ chế quản lí cũ giúp chúng ta tìm được cách khắc phục nó một cách hiệu quả.Việc xóa bỏ cơ chế cũ phải diễn ra đồng thời với việc xây dựng cơ chế quản lí mới,từ đó tạo ra động lực mạnh mẽ để giải phóng năng lực sản xuất từng bước hoàn thiện nền pháp quyền khi các điều kiện kinh tế,chính trị của đất nước phát triển đến một trình độ nhất định,tạo điều kiện vật chất và tinh thần cần thiết để các quyền cơ bản của công dân trên mọi lĩnh vực của xã hội được đảm bảo thực thi một cách đầy đủ và triệt để 2-Tiền đề chính trị xã hội Cùng với quá trình đổi mới kinh tế,những tác đọng về mặt chính trị-xã hội cũng tạo ra tiền đề quan trọng trong quấ trình hình thành tư duy,lí luận về ý thức pháp quyền.pháp luật là phương tiện triệt để củng cố,duy trì trật tự văn hóa xã hội.Giữa pháp luật và nhà nước phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau.Để tạo nên sự ổn định của nhà nước,làm cho hệ thống bộ máy nhà nước vận hành đúng quỹ đạo,phát huy được hiệu lực quản lý , điều hành thì phải xây dựng một hệ tư tưởng pháp luật đúng đắn Trong hệ thống chính trị nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội là những bộ phận cấu thành cơ bản . Việc xây dựng ý thức pháp quyền phải được đặt trong bối cảnh đổi mới đồng bộ các thành tố cơ bản của hệ thống chính trị , trong mối quan hệ tác động qua lại giữa nhà nước và các tổ chức chính trị . Ngoài ra hệ thống chính trị xã hội cũng góp phần tạo ra tiền đề môi trường chính trị xã hội đặc biệt quan trọng trong việc nhận thức lý luận về xây dựng pháp luật nói riêng và ý thức pháp quyền nói riêng III-VAI TRÒ CỦA Ý THỨC PHÁP QUYỀN TRONG ĐỜI SÔNG Xà HỘI Ý thức pháp quyền có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội nói chung và đời sống pháp luật nói riêng . Pháp luật và hệ tư tưởng pháp quyền là tiền đề tư tưởng trực tiếp và tham gia vào tất cả các quá trình xây dựng pháp luật , thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật . Việc xác định vai trò của ý thức pháp quyền chính là xác định vai trò ý thức pháp luật của con người đối với xã hội hay cụ thể hơn là vai trò của con người trong ý thức về pháp luật , về tính hợp pháp và không hợp pháp trong hành vi của mình được quy định trong pháp luật . Về việc chấp hành và thực thi pháp luật . Từ đó tạo ra nhu cầu cần nắm vững pháp luật , tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân nắm pháp luật làm công cụ bảo vệ xã , bảo vệ chế độ và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình . Pháp luật là một hiện tượng khách quan nhưng sự ra đời hình thành và phát triển của nó lại phải thông qua nhân tố chủ quan là con người , nói cách khác là thông qua ý thức pháp luật của con người . Xã hội càng phát triển thì pháp luật càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội , do đó ý thức pháp luật của con người cũng dần trở thành nguyên tắc và tiền đề của việc quản lý xã hội . Những thay đổi khách quan trong đời sống xã hội trước hết được phản ánh trong ý thức pháp luật rồi sau đó mới thể hiện các quy phạm pháp luật tương ứng . Pháp luật chính là sự thể hiện những nhận thức về các hiện tượng pháp lý tồn tại trong đời sống xã hội , từ đó đưa ra những cách xử sự chung cho các chủ thể Ý thức pháp luật là tiền đề tư tưởng trực tiếp để con người dưới sự lãnh đạo của chính Đảng , thiết lập trật tự xã hội bằng các xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện của đất nước , cũng cố và phát huy hiệu lực của nhà nước và pháp luật trong việc quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội . Việc từng bước phát triển hệ thống , quan điểm , nguyên tắc cơ bản về xây dựng hệ tư tưởng pháp quyền tạo khuôn khổ pháp lý để nhà nước quản lý bằng pháp luật trên các lĩnh vực : kinh tế , xã hội , anh ninh quốc phòng . Điều đó có ý nghĩa quan trọng trên lĩnh vực xây dựng nhà nước và pháp luật , làm cơ sở cho đổi mới hệ thống chính trị , đổi mới tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước phù hợp hơn với hoàn cảnh lịch sử Ý thức pháp luật là biểu hiện khả năng nhận thức của con người trong lĩnh vực pháp luật . Nếu ý thức pháp luật tích cực nó trở thành điều kiện trực tiếp quan trọng để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật . Ngược lại nếu ý thức pháp luật còn ở trình độ thấp không đầy đủ thì việc xây dựng hệ thống pháp luật sẽ không phù hợp với yêu cầu khách quan của xã hội , từ đó kìm hãm sự phát triển của xã hội . Có thể nói trong quá trình xây dựng và phát triển của một đất nước việc xác định và phát huy hiệu lực điều chỉnh của vấn đề ý thức pháp quyền có một ý nghĩa hết sức quan trọng , không những góp phần cũng cố bảo vệ một cách có hiệu quả những thành tựu của cách mạng mà còn nhằm phát huy những thành tựu đó , tạo đà cho bước phát triển mới của xã hội trong bối cảnh chính trị thế giới đã và đang biến đổi sâu sắc PHẦN II QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY I-BẢN CHẤT CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM Ý thức pháp quyền là một hệ thống các tư tưởng quan điểm của một giai cấp về bản chất, vai trò của pháp luật, quyền và nghĩa vụ của nhà nước, tổ chức cá nhân về tính hợp pháp và không hợp pháp của hành vi con người trong xã hội, nhận thức và tình cảm của con người trong việc thực thi luật pháp của nhà nước.Xây dựng ý thức pháp quyền cũng chính là xây dựng một nền tảng pháp chế căn bản, thể hiện rõ được tất cả những vấn đề liên quan đến pháp luật, nhà nước và con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Ở Việt Nam, quá trình xây dựng ý thức pháp quyền gắn liền với quá trình xây dựng nhà nước Pháp quyềnViệt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Chỉ khi có một nhà nước như vậy mới có thể phát huy được quyền dân chủ của nhân dân, đảm bảo quyền sống, quyền được làm việc, được lao động, được học hành, được đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội Chính vì vậy, bản chất của quá trình xây dựng ý thức pháp quyền ở Việt Nam chính là quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân, vì dân. Nghiên cứu về vấn đề ý thức nghĩa pháp quyền ở Việt Nam, ta đi vào nghiên cứu những đặc điểm, yêu cầu, bối cảnh thực trạng và giải pháp của việc xây dựng nhà nứơc pháp quyền ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay. II-YÊU CẦU CỦA QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG Ý THỨC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang đựơc đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta.Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển,Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã và luôn là một Nhà nứơc hợp tiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp và pháp luật.Các đạo luật tổ chức Quốc hội, Chính phủ,Toà án nhân dân,Viện kiểm soát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiên pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992.Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp luật cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan Nhà nước.Vì vậy, có thể nói quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946.Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù.Ngày nay, quá trình này đang được tiếp tục ở một tầng cao phát triển mới với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới. Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam xuất phát từ định hướng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ dân giàu, nứơc mạnh, xã hội công bằng dân chủ,văn minh.Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội có mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu thế toàn cầu hoá.Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách Nhà nứơc,cải cách pháp luật,bảo đảm cho Nhà nước không ngừng vững mạnh,cơ hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hành dân chủ, củng cố độc lập,tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế. 2. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta là một nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền đã được xác định trong lý luận và thực tiễn của một chế độ dân chủ hiện đại, vừa phải khẳng định được bản sắc, đặc điểm của riêng mình. Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, trong đó có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nói riêng ,đã được các đề tài của chương trình KX.04 khái quát trên những nét chính sau: Thứ nhất:Cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền xã hộichủ nghĩa là nền kinhtế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy định khách quan của thị trường,mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong chủ nghĩa tư bản và kinh tế thị trường trong chủ nghĩa xã hội.Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời tạo ra nét đặc trưng của Nhà nứơc Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Thứ hai:Cơ sở chính trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ nhất nguyên, Chế độ dân chủ nhất nguyên là điều kiện cơ bản để tạo ra một đời sống dân chủ có tính thống nhất cao, một hệ thống chính trị thống nhất và một đòi hỏi có tính nội tại của chế độ Nhà nước luôn phải là thuộc tính của Nhà nước xã hội chủ nghĩa – Một Nhà nứơc đòi hỏi tính thống nhất và tính tổ chức cao trong tổ chức cũng như trong hoạt động của mọi cấu trúc Nhà nước để có thể đạt được các mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội. Tính chất chuyên chính được thể hiện trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà lệ thuộc vào việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực Nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Vì vậy, điều kiện để xây dựng Nhà nước pháp quyền không thể là chế độ đa đảng hay chế độ một Đảng và không thể coi đó là căn cứ để đánh giá tính chất và trình độ của một nền dân chủ. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản - Đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội với đời sống Nhà nước không những khôgn trái với bản chất Nhà nước Pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiến quyết đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân ở nước ta. III.THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP A-THỰC TRẠNG 1. Vấn đề trật tự pháp chế Với trường hợp Việt Nam, từ những vấn đề như mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo đến phân biệt địa phương đều có thể được cai chế bởi luật pháp trong công tác hành sử trật tự xã hội bằng sự kiện tạo định chế khách quan, tiêu chuẩn hành vi và quy tắc cưỡng chế cho công dân. Dĩ nhiên, luật pháp không chữa hết căn bệnh và giải toả hết mâu thuẫn xã hội, nhưng luật pháp có khả năng duy trì sự tính liên tục cho một cán cân quân bình cần thiết để xã hội được tiến hoá. Cái khó của một chế độ pháp trị là khả năng tự điều chỉnh cơ chế và giá trị biện minh pháp lý trong giai đoạn chuyển hướng toàn bộ của đại khối công dân Việt Nam hiện nay với ý thức mới trong năng động của hoàn cảnh và nhu cầu mới. Trước hết, chúng ta phải bắt đầu với tiền đề rằng nhu cầu trật tự pháp chế là ưu tiên tối thượng và là nền tảng hiện hữu của quốc gia.Một quốc gia có thể có khuyết điểm nhiều nhưng không thế bất lực và vô trật tự nếu muốn tồn tại vì nếu không có một nền tảng trật tự tối thiếu, nó sẽ bị sụp đổ. Từ tiền đề ưu tiên trật tự đó,em xin đề cập tới hai vấn đề trật tự pháp chế của Việt Nam hiện nay vốn đang có mầm móng đe doạ sự ổn định toàn diện của xã hội. a. Mâu thuẫn giữa trung ương và địa phương: Như chúng ta đó biết Việt Nam là một đất nước cú lịch sử văn húa lõu đời,ngay từ xa xưa ụng cha ta đó phải khẳng định rằng:phộp vua”thua”lệ làng”.Suy nghĩ này đó ăn sõu vào tiềm thức cua người dõn tạo nờn một cản trở khú khăn cho việc xõy dựng ý thức phỏp quyền ở Việt Nam.Như V.I>LeNin đã từng nói “người ta có thể đập tan ngay một thiết chế nhưng không bao giờ đap tan ngay được một tập quán”.Bên cạnh nạn “sứ quân” trên nhiều lĩnh vực pháp chế và hành chính công quyền ở Việt Nam là một vấn nạn lớn cho nhu cầu trật tự pháp chế quốc gia. Khi mà thẩm quyền của quốc gia bị dừng lại ở cổng làng thì nạn thao túng và lạm dụng quyền lực ở cấp độ địa phương là hệ quả không thể tránh khỏi. Nạn sứ quân có nhiều hình thức.Tinh thần che chở bè quái, quen biết trên căn bản cá nhân và tổ chức là trọng tâm; tinh thần thượng tôn luật pháp là thứ yếu. Chúng ta có thể nói rằng những phạm vi luật pháp trầm trọng ở Việt Nam hiện nay ( ma tuý, buôn lậu, phá rừng, ô nhiễm môi trường, kinh doanh phi pháp) phần lớn đều được chủ động từ những phần tử ảnh hưởng đến chính quyền địa phương dưới nhiều hình thức. Chính quyền trung ương chỉ có thể càm thiệp vào khi mà vấn đề đã trở nên quá lớn và không thể còn che đậy được nữa. Hiện tượng bất mãn, đấu tranh của quần chúng nông thôn ở các vùng ở Vịêt Nam gần đây vì nhiều vấn đề ở nhiều địa phương khác nhau đang báo động đến vấn đề trật tự pháp chế lớn lao này. Nếu có một nguy cơ nào lớn nhất để làm tiêu huỷ biện minh cai trị của Đảng Cộng sản và tan vỡ cơ chế công quyền Việt Nam thì đó là sự bất lực của chính quyền trung ương đối với các vấn đề địa phương này. B-GIẢI PHÁP Thứ nhất: xây dựng một hệ thống cơ chế giám sát và thanh tra thường trực của trung ương đối với chính quyền địa phương. Với cơ chế này, chính quyền trung ương mới có đầy đủ thông tin, chức năng và khả năng chế tài liên tục và kịp thời đối với nạn sứ quận địa phương hiện nay. Thứ hai:Điều chỉnh hiến pháp quốc gia nhằm cải tổ toàn bộ và sâu rộng cơ chế chính quyền và đảng bộ của cấp tỉnh, huyện và xã. Một trong những nguyên nhân chính cho những hiện tượng tiêu cực sâu rộng ở địa phương phát xuất từ sự tự thiếu hiệu năng của cơ chế công quyền cấp tỉnh và huyện đối với cán bộ của đảng và chính phủ. Cải tổ cấu trúc là căn bản, xong đến định chế chức năng, và kế tiếp là nhân sự. b. Hố ngăn cách giữa pháp chế quốc gia và hành chánh công quyền: Vấn đề của chính quyền Việt Nam hiện nay là chức năng và cơ chế hành chánh công quyền chưa đặt nền tảng thẩm quyền trên cơ sở luật pháp. Gần như là tất cả vai trò của chính phủ Việt Nam là sự kiến tạo trật tự hành chánh bằng quyền hạn lập quy (chính sách và chỉ thị) không có cơ sở pháp lý. Vì thế, nhà nước Việt Nam hiện nay chỉ đang ở mức độ và giai đoạn thực thi chính sách hành pháp chứ chưa thể hiện luật pháp quốc gia. Từ đó, hệ thống công quyền và quyền hạn cướng chế ván chưa phải là của một nhà nước pháp quyền. Đây là một mâu thuẫn vo lý cao độ giữa chính sách hành pháp và cơ sở pháp ký vốn đang làm suy giảm biện minh chính thống của thẩm quyền quốc gia cũng như soi mòn mọi cơ hội tiến đến một xã hội pháp trị. Có nhiều lý do tính trạng thiếu hiệu năng của chính sách hành pháp: Thứ nhất, chính sách thiếu biện minh chính thống. Thứ hai là chính sách không có khuôn thước quy tắc và tính liên tục để giải quyết mâu thuẫn. Chính sách tự nó thiếu cơ sở lý luận và chi tiết, đồng thời mang tính bất thường, hay bị thay đổi, cho phép cơ quan và nhân viên công quyền một mức độ tuỳ quyền không rõ rệt. Chính sách cũng không bị cai chế bởi một cơ quan giám định độc lập nào nhằm có thể tuỷ theo đièu kiện thực thi để có thể thay đổi hay bổ sung. Hơn nữa, chính sách thường được ban hành theo nhu cầu, hình thành trong vội vã, thiếu cơ sở nghiên cứu và góp ý sâu rộng, không phản ánh được những nguyện vọng liên hệ cho nên có những hậu quả không lường trước. Trên lĩnh vự kinh tế, nhất là khi đi vào kinh tế thị trường, cai quản kinh tế bằng chính sách sẽ không tạo được một định chế khă tín cho thương trường. Do đó, đối với Việt Nam nay, sự chuyển tiếp từ hành chách chính sách đến hành chách pháp chế là một điều kiện căn bản cho cơ đồ pháp chế hoá xã hội. Nói đến điều kiện này nói đến hiến pháp quốc gia vai trò lập pháp chế hoá xã hội. Nói đến điều kiện này là nói đến hiến pháp quốc gia và vai trò lập pháp của Quốc hội. Việt Nam cần phải tu chính hiến pháp quốc gia để được cập nhật hoá với thực tế của thời đại và nhu cầu quốc dân. Đồng thời, chức năng, vai trò và định chế của quốc hội cũng cần phải thay đổi sâu rộng. Đây là những việc lớn có tầm vóc lịch sử. Việt Nam có xứng đáng với lịch sử hay không là tuỳ vào tốc độ và bản chất chuyển hoá ở cấp độ pháp chế này 2. Vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Có thể nói trong quá trình bảo vệ , xây dựng và phát triển đất nứơc, việc phát triển huy hiệu điều chỉnh của hệ thống pháp luật có ý nghĩa hết sức to lớn, không những góp phần củng cố, bảo vệ một cách có hiệu quả những thành quả của cách mạng mà nhằm phát huy những thành quả đó, tạo đà cho bước phát triển mới của đất nước trong bối cảnh chính trị thế giới đã và đnag có nhiều biến đổi sâu sắc. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO và đang trong giai đoạn đẩy mạnh quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng đòi hỏi chúng ta xây dựng và hoàn thiện một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, minh bạch. Hơn nữa, nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý đã được đặt ra và quán triệt trong giai đoạn đấu tranh loại bỏ cơ chế pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung bao cấp. Xây dựng cơ chế pháp lý cho cơ chế kinh tế mới. Ngày nay một lần nữa nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý lại được đặt ra với tính cấp thiết mạnh mẽ, kiênm quyết, vượt ra khỏi khuôn khổ có tính hệ thống lâu nay trong việc xây dựng pháp lý và thi hành pháp luật. Tư duy pháp lý mới có thể đựơc phác thảo trên những nét chính sau. a, Xác định và quán triệt cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp nước ta trong giai đoạn phát triển đến 2010 và các giai đoạn tiếp theo. Điều này có ý nghĩa là chúng ta không thể áp dụn một cách máy móc các mô hình lý thuyết hiện nayđang đựơc áp dụng ở các quốc gia trên thế giới. Nhưng chúng ta cũng không thể không tính đến sự ảnh hưởng và chi phối của các lý thuyết này đối với sự vận động của đời sống pháp luật hiện đại. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng các cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp nước ta cần đặt trong mối quan hệ giữa hai yếu tố: dân tộc và hiện đại. Trong kịch sử, dân tộc ta rất thông minh và chủ động trong việc tiếp thu pháp luật nước ngoài để cách tân đất nước. Ngày nay, chúng ta cũng cần tiếp thu có chọn lọc các giá trị pháp luật nước ngoài một cách chủ quan và thông minh để tiếp tục củng cố và phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc tiếp thu các giá trị và kinh nguyệm pháp luật nước ngoài cần tuân theo ba điều cơ bản. Thứ nhất, tư tưởng của pháp luật du nhập phải tương đồng với ý thức pháp lý đang thống trị ở nước tiếp nhận. Thứ hai, pháp luật du nhập phải tương đồng với cầu trúc, hình thái và phương thức tổ chức quyền lực Nhà nước tại quốc gia sở tại. Thứ ba, pháp luật du nhập phải phù hợp với phương thức sản xuất xã hội, phải được số đông thành viên trong xã hội chấp nhận và ủng hộ. b, Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàn cầu hoá, bảo đảm sự tương thích của pháp luật quốc gia với các không gian pháơ lý có tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta đẩy mạnh việc đổi mới công tác lập pháp. Việc đổi mới công tác lập pháp công tác lập pháp có thể khái quát trên một số nét sau: Một là, đổi mới công tác kế hoạch lập pháp. Kế hoạch làm luật nếu chỉ được tiến hành trên cơ sở đề suất của các cơ quan hữu quan để tập hợp, cân đối và thông qua sẽ không thể khắc phục được tình trạng không hoàn thành kế hoạch, vì không ít dự án luật được đăng ký theo kiểu “giữ chỗ” và trên thực tế, rất khó xây dựng do chưa xác định được đầy đủ tính chất mục tiêu, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh. Sự đăng ký văn bản theo kiểu “ghi danh” đã không ràng buộc một cách chặt chẽ trách nhiệm của cơ quan đề xuất dự luật. để khắc phục tình trạng này, nên chăng, thay vì xây dựng và thông qua kế hoạch làm luật hàng năm và 5 năm thường kệ, Quốc hội chỉ cần thông qua các sáng kiến pháp luật. Cá nhân, cơ quan (theo quy định cỉa pháp luật) nêu sáng kiến pháp luật có trách nhiệm lập luận các căn cứ cần thiết của mục tiêu, đối tượng cần điều chỉnh và tính khả thi của công tác xây dựng văn bản, trên cơ sở đó, Quốc hội thảo luận, thông qua và giao trách nhiệm xây dựng dự thảo cho các cơ quan, tổ chức cá nhân phù hợp. Hai là, thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật được xây dựng và thông qua phần nhiều có dung lượng khá lớn các quy phạm và đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh cũng khá lớn. Chính sự đầu tư “nhân, tài vật lực” cho các đạo luật có quy mô lớn đã làm cho công việc soạn thoả các dự thở căn bản bị kéo dài, tính chất đồng bộ và tính thống nhấy của dự thảo trong mối quan quan hệ với các đạo luật khác nhiếu khi không được bảo đảm. Đặc biệt, các đạo luật lớn vì phức tạp nên thường phải tranh luận, thảo luận, nhiều thời gian mới mong đạt được sự thống nhất các thảo luận, chỉnh lý và thông qua tại Quốc hội thường kéo dài. Khoảng cách giữa nhu cầu cấp bách phải điều chỉnh và khả năng điều chỉnh của đạo luật ngày càng xa đã dẫn đến tình trạng, đợi được luật ra đời, cuộc sống đã chuyển sang một mức độ phát triển khác. Để khắc phục tình trạng này, thay vì xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô lớn nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô điều chỉnh pháp luật, dễ dàng tương thích với các không gian pháp lý quốc tế. Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản không chỉ thể hiện ở sự gọn nhẹ về nội dung, để xây dựng mà còn thể hiện ở việc dễ kiểm soat tính đồng bộ và thống nhất, dễ kiểm soát tính đồng bộ và thống nhất, để sửa đổi khi có nhu cầu và dễ áp dụng trên thực tế. Ba là, đổi mới cách thức và quy trình thông qua luật: Phong cách lamg luật lâu nay của cơ quan lập pháp thể hiện ở các hoạt động thảo luận của các đại biểu Quốc hội, thẩm định của các uỷ ban của Quốc hội, giải trình tiếp thu của cơ quan soạn thảo, đã rất khó nâng cao được chất lượng và hiệu quả của đạo luật. Sự thảo luận chủ yếu ở dạng câu chữ đã chiếm khá nhiều thời gia, trong khi nội dung dự thảo lại ít được chú ý. Do vậy, ý kiến thảo luận của đại biểu Quốc hội đối với các dự thảo chất lượng cao. Để khắc phục tình trạng này, trước khi dự thảo được đửa ra thảo luận nghiên cứu, các trường đại học với nhiệm vụ đánh giá về mặt khoa học bởi các nhóm chuyên gia từ các viện nghiên cứu, các trường đại học với nhiệm vụ đánh giá về phương diện khoa học toàn bộ dự ánluật, từ hình thức biểu đạt, cấu trúc đến nội dung các điều luật, nhằmphát hiện ra các lỗi cả về kỹ thuật văn bản, lẫn nội dung văn bản. Sự thẩm định khoa học về dự thoả văn bản do các nhóm chuyên gia thực hiện một cách độc lập vừa là cơ sở để ban soạn thảo chỉnh lý văn bản, vừa là tài liệu tham khảo cho các đại biểu Quốc hội khi thảo luận dự thảo. Mặt khác, để nâng cao chất lượng các đạo luật, quy trình thông qua dự thảo cần được tiến hành thao hai bước: thảo luận, thông qua tại một uỷ ban tương ứng của Quốc hội và thảo luận, thông qua tại phiên họp toàn thể của Quốc hội. Như vậy, chỉ khi nào dự thảo được thông qua tại một uỷ ban của Quốc hội thì mới được xem xét, thảo luận, thông qua tại Quốc hội. Quy định như vậy không chỉ nêu cao vai trò làm luật của các uỷ ban của Quốc hội, mà còn tiết kiệm thời gian làm việc của Quốc hội., nâng cao đạo luật. Bốn là, tăng cường lắng nghe ý kiến nhân dân đóng góp xây dựng các dự thảo luật: Các dự thửo luật một khi được xây dựng ngắn gọn, ít điều khoản sẽ rất dễ dàng cho nhân dân tiếp cận.Sự tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật của đông đảo các tầng lớp nhân dân là điều kiện quan trọng để pháp luật phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm cho pháp luật thật sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cần quy định, việc lấy ý kiến của nhân dân (chứ không chỉ lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức hay của một số cán bộ) đối với các dự án luật là điều kiện bắt buộc trong quá trình xây dựng dự thảo. Đặc biệt, việc tiếp thu ý kiến của nhân dân vào các dự thảo (tiếp thu ý kiến nào, không tiếp thu ý kiến nào, vì sao) phải được thông báo công khai và ninh bạch. Có như vậy nhân dân mới cảm thấy ý kiến của mình được tôn trọng và mặt khác mới củng cố niềm tin của họ vào pháp luật. 3. Vấn đề xây dựng giá trị văn hóa và đạo đức. Trong quá trình hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, bên cạnh việc đề cao vai trò của pháp luật, đồng thời chúng ta phải đề cao và pháp huy hơn nửa giá trị của văn hóa và đạo đức. Sở dĩ phải nhấn mạnh như vậy, bởi vì thực tế thời gian qua cho thấy: trong khi chúng mang tính năng động sáng tạo, đã thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế nhưng chúng ta lại thiếu đầu tư thích đáng cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, thiếu những giải pháp hữu hiệu trong việc xây dựng nền văn hóa pháp lý,giáo dục đạo đức. Có thể nói rằng ở lĩnh vực giáo dục văn hóa, đạo đức, ở nhiều nơi, nhiều lúc chúng ta mới đẩy mạnh các giải pháp mang tính hình thức mà chưa coi trọng tính hiệu quả xã hội của nó. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy chúng ta đã có hàng vạn bản “hương hóa”, “cụm văn hóa” hàng triệu “Gia đình văn hóa” Bên cạnh đó còn có hàng vạn bản “hương ước”, “Quy ước”, “quy ước văn hóa” được ra đời thế nhưng tình trạng “thiếu văn hóa” vẫn đang diễn ra một cách nghiêm trọng cả ngoài xã hội cũng như trong nhiều cơ quan nhà nước dưới nhiều dạng thức khác nhau: coi thường pháp luật,vi phạm pháp luật một cách ngang nhiên,đưa và nhận hối lộ, chạy chức, chạy quyềnThực tế trên đây thêm một lần nữa chúng ta thêm thấm thía vời nói của C.Mác: “Pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra mà không phải là do ý muốn tùy tiện của một cá nhân” Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng xác định rõ mối quan hệ mật thiết giưa pháp luật và đạo đức. Người ta chỉ rõ ràng: Xây dựng Nhà nước phải dựa trên hai tiêu chuẩn, trong đó đạo đức là gốc, pháp luật là chuẩn. Theo đó, nếu chúng ta chí chú trọng ban hành luật mà thiếu quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống chuẩn mực về đạo đức sẽ khó tránh khổi sự tha hóa về nhân cách, dẫn đến khủng hoảng xã hội. Do đó, vấn đề đặt ra lúc này là đối với chúng ta là phải bảo đảm sự đồng bộ giữa quá trình phát triển kinh tế, hoàn thiện hiện hệ thống pháp luật gắn liền với việc phát huy và đề cao các giá trị đạo đức và phải đặt quá trình đó trong mối quan hệ với việc xây dựng và hoàn thiện thể chế dân chủ trên nền tảng một nền văn hóa pháp lý phát triển. 4. Vấn đề phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hàng pháp luật của công dân. Trong những năm qua, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật. Với sự nỗ lực và cố gắng của các cấp, các nhành, công tác phổ biến , giáo dục pháp luật của cán bộ và nhân dân. Tuy nhiên sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được tập trung đúng mức, trách nhiệm của các cấp, các ngành đối với công tác này chưa được xác định cụ thể, rõ ràng nên kết quả đạt được còn thấp so với yêu cầu, sự hiểu biết pháp luật của cán bộ và nhân dân còn nhiều hạn chế. Trên thực tế, trong thời gian qua, tình trạng coi thường và vi phạm pháp luật diễn ra một cách nghiêm trọng và trắng trợn ở nhiều nơi, trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội của chúng ta. Nhiều giá trị đạo đức bị đảo lộn. Trong mối liên hệ đó là câu hỏi lỡn được dặt ra là: tại sao xã hội rơi vào tình trạng đó trong khi hệ thống pháp luậtt đang ngày càng được lấp đầy. Có thể nói rằng: Trong một thời gian khá dài, chức năng điều chỉnh của pháp luật chưa được phát huy một cách mạnh mẽ, lối sống lệch chuẩn của một bộ phận công dân không đựơc ngăn chặn kịp thời kiên quyết và có hiệu quả đã trở thành “ một dịch bệnh” lây lan nhanh và vượt qua khỏi tầmv kiểm soát của các cơ quan chức năng và trở thành “lối sống” của một biện pháp dân cư trong xã hội. Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiẹn đại hoá đất nước xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân công tác phổ biến, giáo dụch pháp luật cần được tăng cường thường xuyên, liên tục và ở tầm cao hơn, nhằm làm cho cán bộ và nhân dân hiểu biết, chấp hành nghiêm chỉnh luật, thông qua đó mà kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật. a. Xác định rõ phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giao dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.Trong những năm tời, cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thục hiện thật tốt công tác này để góp phần tạo chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân. b. Các cấp uỷ Đảng có trách nhiệm lãnh đạo chính quyền các cấp tôt chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp với địa bàn và đối tượng khác nhau: xây dựng kế hoạch, chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật thiết thực cho các cấp, các ngành, các cơ quan, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ. Mỗi cán bộ đảng viên phải xác định việc tìm hiểu, học tập pháp luật là nhiệm vụ thường xuyên, là một trong những tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, đảng viên thông qua việc gương mẫu chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên mà thuyết phục, giáo dục quần chúng, thành viên trong gia đình ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật. c. Đảng toàn Quốc hội lãnh đạo việc phố biến kịp thời và đầy đủ các luật mới đựơc thông qua đến cán bộ và nhân dân, nhất là những quy định pháp luật liên quan trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Khi tiếp xúc với cử tri sau mỗi kỳ họp Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, trước hết là các đại biểu chuyên trách có trách nhiệm giới thiệu các luật mới được thông qua. d. Ban cán sự Đảng Chính phủ lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên về phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt là chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt là chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chuẩn bị kế hoạch, chương trình dài hạn về phổ biến, giáo dục luật cho nhiều năm sau. Tiếp tục kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động của hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp và hoạt động của các cơ quan có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật. Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành trong công tác phố biến, giáo dục pháp luật. Bộ, ngành nào chủ trì dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thì bộ, ngành đó phải chịu trách nhiệm chính về việc phổ biến và thực hiện văn bản pháp luật đó trong cán bộ, công chức của bộ, ngành mình; đồng thời có trách nhiệm phối hợp với Bộ tư pháp, các đoàn thể ở Trung ương và chính quyền các cấp triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân.Cần bố trí một khoản ngân sách cần thiết cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, có chính sách trợ giá các loại sách, tài liệu phục vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hoặc phát miễn phí các loại sách và tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, nhất là nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số. e. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội lãnh đạo đoàn thể, tổ chức của mình chủ động và tích cực phối hợp các cơ quan nhà nứơc thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đoàn viên, hội viên, cộng tác viên; tuyên truyền, giáo dục và có các biện pháp vận động nhằm nâng cao hiểu biết về pháp luật, tạo thói quen nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; biểu dương, nhân rộng gương người tốt việc tốt ; giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan Nhà nước, của cán bộ, công chức, kịp thời tập hợp ý kiến của nhân dân trong các đợt đóng góp ý kiến cho các dự án luật và trong việc thực hiện pháp luật để phản ánh, kiến nghị với các tôt chức Đảng và các cơ quan Nhà nước. f. Các cơ quan thông tin dại chúng ở Trung ương và địa phương phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng và thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng các chuyên mục, chuyên trang về pháp luật với hình thức phong phú, sinh động; tăng thời lượng nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật bằng Tiếng Việt và tiếng các dân tọc thiểu số. Phát triển và nầng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cộng tác viên viết về pháp luật, bảo đảm tuyên truyền đúng, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nứơc. g. Tăng cường đổi mới các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật (đưa pháp luật ( đưa pháp luật vào giảng dạy trong nhà trường, xuất bản các tài liệu phổ thông về pháp luật; sư dụng hệ thống đài truyền thanh ở cở sở, tủ sách pháp luật xa, phường, thị trấn) đa dạng cách thức phổ biến, giáo dục pháp luật như tăng cướng xuất bản và phát hành sách hỏi đáp pháp luật (kể cả sách song ngữ), tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hoà giải, giải quyết khiếu nại, tố cáo,củng cố, tăng cường đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật và tạo những điều kiện, môi trường thuận lợi để đội ngũ này làm tốt nhiệm vụ. h. Ban cán sự đảng bộ Giáo dục và đào tạo phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp và các bộ, ngành, địa phương tiếp tục hoàn thiện chương trình, giáo trình, sách giáo khoa về pháp luật phục vụ trực tiếp cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luạt trong nhà trường theo phương châm kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành. i. Ban nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tư tưởng – văn hoá Trung ương, Ban Khoa giáo Trung ương, Ban cán sự đảng Bộ Tư pháp theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chỉ thị này và định kỳ báo cáo Ban bí thư. C-KẾT LUẬN Gắn liền với quá trình phát triển ý thức pháp quyền trong lịch sử nói chung và trong xã hội Việt Nam nói riêng là quá trình hình thành phát triển của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa .Trong nhà nước đó,về bản chất pháp luật phải đảm bảo tính khách quan,công bằng , bình đẳng, pháp luaatj đảm bảo quyền con người quyền tự do dân chủ được quan tâm đặc biệt.kế thừa và phát huy những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, Đảng ta đã khẳng định:Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân , do dân , vì dân, quản lý mọi mặt đời sống xx hội bằng pháp luật đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Qua nghiên cứu: Vai trò của ý thức pháp quyền trong đời sống xã hội và ứng dụng trong quá trình xây dựng ý thức pháp quyền ở Việt Nam hiện nay” chúng ta có thể xác định việc xây dựng hệ thống pháp quyền nói chung và xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân , vì dân nói riêng phải đảm bảo được các yếu tố: Phải phù hợp với chế đọ sở hữu,chế độ quản lý và chế độ phân phối của nền kinh tế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa Phải phù hợp với tính chất xã hội hóa theo hướng pháy huy cao độ sáng kiến của cá nhân tạo điều kiện cho cá nhân tự do sáng tạo trong mọi hoạt động của mình Đảm bảo lợi ích và quyền hành đều thuộc về nhân dân,giải quyết mối quan hệ công dân- nhà nước là mối quan hệ chính trị cơ bản để xây dựng nhà nước pháp quyền do dân vì dân Xây dựng quyền lực nhà nước của các công dân trên nền tảng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn Nhà nước pháp quyền XHCN phải được tổ chức vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải phù hợp với những giá trị tiến bộ của nhân loại -Ý nghĩa bản thân: đây là một đề tài mang tính ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong công cuộc phát triển đất nước hiện nay.Nghiên cứu đề tài này đã bổ sung cho em những nhận thức toàn diện hơn về quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân , vì dân dựa trên nền tảng của ý thức pháp quyền đã và đang được phát triển trong xã hội.Từ đó đặt ra yêu cầu về ý thức thực thi nghiêm chỉnh pháp luật và nâng cao hểu biết pháp luật của ban thân TÀI LIỆU THAM KHẢO 1-Sách:Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thời kì đổi mới (Nhà xuất bản chính trị quốc gia) 2-Giáo trình triết học 3-Tạp chí cộng sản (số 23-tháng 12/2005) 4-Mạng :google.com.vn;chungta.com;báo điện tử Hà Nội mới

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc8969.doc
Tài liệu liên quan