Chuyên đề Thực trạng và giải pháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Định

Việc dần hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tại thành phố Nam định đang ngày càng đáp ứng cơ bản các mục tiêu,nội dung,chính sách,chiến lược phát triển kinh tế,xã hội của tỉnh,sớm đưa các hoạt động sử dụng đất đai vào nề nếp,ổn định,khắc phục những thiếu sót,khuyết điểm về mặt quản lý đất đai. Từ đó có biện pháp khai thác cụ thể,hiệu quả,tiết kiêm,hợp lý đầy đủ vốn đất đai theo luật định.Sớm đưa thành phố Nam định trở nên văn minh,giầu đẹp phát huy truyền thông văn hoá,nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc.Đáp ứng đầy đủ về hiệu quả sử dụng đất nói riêng và phát huy thế mạnh trở thành đô thị phát triển nói chung.

doc79 trang | Chia sẻ: linhlinh11 | Ngày: 26/12/2018 | Lượt xem: 216 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Chuyên đề Thực trạng và giải pháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành phố Nam Định, Tỉnh Nam Định, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ông nghiệp và đất chuyên dùng sang điều này chủ yếu diễn ra ở các xã, phường ngoại thành do việc mở rộng đô thị hoá lan ra ngoại thành phố và do việc mở rộng địa giới thành phố Nam định. Đất chưa sử dụng và sông suối núi đá là : 182,46 ha chiếm 4,83 % diện tích đất đai của thành phố. Do đô thị hoá, CNH – HĐH nên diện tích đất chưa sử dụng trong tương lai sẽ được sử dụng hết cho các mục đích sản xuất và sinh hoạt của người dân thành phố. Một số chỉ tiêu bình quân : + Đất nông nghiệp : - Bình quân m2 / tổng nhân khẩu : 641,76 m2. - Bình quân m2/ nhân khẩu lao động : 1488,39 m2. - Bình quân m2/ hộ lao động : 1288,05 m2. + Đất ở : - Bình quân m2/ người : 23,5 m2. - Bình quân 174,1 m 2 /hộ. + Mật độ dân số: 140 người/ km2. + Tỷ lệ gia tăng dân số: 1,15%. Nhìn chung thành phố có nhiều tiềm năng và có điều kiện về dân số, lao động để phát triển cần có sự đầu tư đúng hướng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai. Cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho vùng, cung cấp nguyên, nhiên vật liệu cho vùng và cho các vùng trong cả nước. Tình hình biến động đất đai thành phố Nam định trong những năm qua : Tính đến năm 2004 tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Nam Định là: 3790,22ha so với năm 2003 là3765,47 ha tăng lên 43,75 ha. Điều này là do mở rộng địa giới hành chính. Biến động các loại đất thành phố nam định năm 2004 BIểU Số 7 ĐVT: ha Loại đất 2002 2003 2004 Tăng(+) giảm (-) so với năm trước 2003/2002 2004/2003 Đất nông nghiệp 1185,04 1157,34 1125,60 - 27,7 - 31,74 Đất chuyên dùng 790,04 841,38 864,82 51,34 23,44 Đất ở 1587,93 1601,75 1617,34 13,82 15,59 Đất chưa sử dụng 200,50 183,85 182,46 - 26,5 -6,39 Tổng diện tích 3763,51 3789,32 3790,22 25.81 0,9 ( Nguồn : Phòng Xây Dựng – Nhà Đất thành phố Nam định ) Trong đó biến động các loại đất cụ thể như sau : * Diện tích đất nông nghiệp : Năm 2003 diện tích đất nông nghiệp là : 1157,34 ha. Năm 2004diện tích này giảm xuống còn 1125,60 giảm 31,74 ha ( 2,74% ). Chủ yếu là do các nguyên nhân sau: - Chuyển sang đất ở là : 8,5 ha. Đất ở đô thị là : 6,3 ha. Đất ở nông thôn là : 2,2 ha. - Chuyển sang đất chuyên dùng là : 20,1 ha. Đất xây dựng cơ bản là : 16,5 ha. Đất giao thông là : 3,6 ha. - Do những nguyên nhân khác : 3,14 ha. ã Diện tích đất chuyên dùng: Biến động đất chuyên dùng thành phố nam định năm 2002,2003,2004 Biểu 9 ĐVT: ha Chỉ tiêu 2002 2003 2004 Tăng (+) giảm (-) so với năm trước 2002/2003 2003/2004 Tổng diện tích 15,90 847,36 864,82 31,46 17,45 Phân ra : + Đất xây dựng : 105,74 130,35 140,70 24,61 10,35 + Đất giao thông : 270,80 280,50 285,50 9,7 5,0 + Đất di tích lịch sử văn hoá 2,5 2,5 2,5 0 0 + Đất thuỷ lợi và mặt nước chuyên dùng 170,05 170,35 170,50 0,3 0,15 + Đất an ninh quốc phòng 165,70 168,47 168,47 2,77 0 + Đất chuyên dùng khác 101,06 95,19 97,15 -5,87 1,96 ( Số liệu : Phòng Xây dựng – Nhà đất thành phố Nam định) Tính đến 31/12/2004 toàn thành phố đang sử dụng 864,82 ha đất chuyên dùng so với năm 2003 này là: 847,36 ha tăng lên 31,46 ha. Diện tích đất chuyên dùng tăng lên là do các nguyên nhân sau : - Chuyển từ đất nông nghiệp sang : 17,8ha. - Chuyển từ các loại đất khác : 13,66 ha. * Diện tích đất thổ cư : Diện tích đất ở toàn thành phố là : 1617,34 ha so với năm 2003 diện tích này là : 1605,05 ha tăng lên 12,29 ha. Việc tăng diện tích đất ở là do chuyển mục đích sử dụng từ đât nông nghiệp sang và một phần nhỏ là do những nguyên nhân khác. Trong tương lai thanh phố Nam định có dự án xây dựng các khu nhà cao tầng, khu chung cư cho cán bộ và nhân dân sử dụng nhằm mục đích giải quyết nhu cầu về nhà ở và giảm nhu cầu về đất ở, giảm việc biến động các loại đất. * Diện tích đất chưa sử dụng : Hiện nay thành phố có 182,46 ha như vậy là giảm đi : 9,5 ha so với năm 2003 chủ yếu là do việc sử dụng một số diện tích khó sản xuất nông nghiệp vào mục đích trồng rừng và cải tạo lại để sử dụng vào mục đích khác và một số là do nguyên nhân đo đạc thiếu chính xác. Đất nông nghiệp giảm mạnh là do nhu cầu tất yếu của sự phát triển kinh tế – xã hội của thành phố.Việc phát triển các cơ quan thương mại, các cơ sở dịch vụ làm cho thu nhập của người dân tăng lên. Sản xuất nông nghiệp đang mất dần vị trí là ngành sản xuât chủ đạo do diện tích ngày càng thu hẹp, lực lượng lao động chuyển sang ngành công nghiệp, dịch vụ tăng lên. Nhu cầu về đât ở, đất xây dựng giao thông, công trình thuỷ lợi tăng lên. Mặt khác đất đai không thể sản sinh vậy tất yếu phải chuyển từ đất nông nghiệp sang. Do thành phố là nơi tập trung nhiều cơ quan của tỉnh, nơi có các đơn vị sản xuất kinh doanh đang hoạt động. Do đó nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, làm đường các công trình phục vụ công cộng, công trình phục vụ sản xuất kinh doanh, nhất là nhu cầu sử dụng đât để làm nhà ở, cho các cán bộ công nhân viên. Do đó việc chuyển mục đích sử dụng đất là không tránh khỏi. Như vậy diện tích đất nông nghiệp giảm đi nhanh chóng, cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng nông nghiệp giảm dần, công nghiệp và dịch vụ tăng dần. Với tốc độ đô thị hoá nhanh chóng như bây giờ làm cho thành phố Nam định có nguy cơ thiếu lương thực đòi hỏi phải thâm canh tăng vụ và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Việc biến động đất đai theo đòi hỏi tất yếu của sự phát triển đã làm cho công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải có những giải pháp tốt để nâng cao vai trò quản lý biến động đất đai. Phải đẩy mạnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho người sử dụng để họ yên tâm cải tạo, đầu tư nâng cao năng suất cây trồng coi đây là mặt trận hàng đầu để phát triển kinh tế, thế mạnh của vùng. Tuy nhiên việc giảm đất nông nghiệp để chuyển mục đích sang đất chuyên dùng, đất công nghiệp, đất ở đô thị, đất ở nông thôn cơ quan nhà nước phải có giải pháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ổn định việc sử dụng giúp nâng cao hiệu quả trong việc quy hoạch, kế hoạch đất đai, đẩy mạnh việc phát triển đồng bộ của các thị trường trong đó có thị trường bất động sản. 2. Công tác giao đất và sử dụng đất Giao đất là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước về đất đai, nó nhằm làm tăng hiệu quả sử dụng đất đai, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống của người dân. Mặt khác giao đất là một công tác đòi hỏi sự tính toán chặt chẽ quỹ đất đánh giá đúng đắn tiềm năng của từng vùng, từng loại đất để từ đó có kế hoạch cụ thể, quy hoạch hợp lý giao đất mang lại hiệu quả cao. Đánh giá được tầm quan trọng của công tác giao đất các cấp, các ngành của thành phố Nam định đã chỉ đạo và theo dõi sát sao nên công tác giao đất đã đạt được một số thành tựu đáng kể nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, khó khăn cụ thể như sau. Tình hình giao đất thành phố nam định năm 2004 BIểU Số 10 ĐVT: ha Chỉ Tiêu Tổng diện tích Giao quản lý UBND xã (phường) Hộ gia đình, cá nhân Tổ chức kinh tế – xã hội Liên doanh với nước ngoài Các mục đích khác 1. Giao đất Đất nông nghiệp 1125,60 185,62 842,43 52,30 45,25 Đất thổ cư 1617,34 295,70 1321,64 Trong đó : - Đô thị 1303,21 295,70 982,15 - Nông thôn 314,13 339,49 Đất chuyên dùng 864,82 615,80 2,45 37,41 5,56 203,60 Đất chưa sử dụng 183,46 115,43 156,74 2. Tổng diện tích 3790,22 1097,12 2166,5 115,43 5,56 405,59 3. Tỷ lệ % so với tổng số 100 28,95 57,16 3,05 0,15 10,7 ( Số liệu : Phòng Xây dựng – Nhà Đất thành phố Nam định ) * Đất nông nghiệp : Ngày 16/8/1998 UBND tỉnh Nam định có quyết định số 450/QĐ - UB về việc giao đất nông nghiệp ổn định đến năm 2000 cho nông dân. Thực hiện quyết định trên đến tháng 7/1999 toàn thành phố đã thực hiện xong QĐ450/QĐ - UB từ cơ sở và tiến hành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho nông dân. Thực hiện nghị định 64/CP của chính phủ đến nay toàn thành phố đã cơ bản hoàn thành công tác giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Hiện nay với 1125,60 ha đất nông nghiệp đã giao và cho thuê được 945,50 ha còn UBND xã quản lý và sử dụng 180,10 ha chiếm 16%. Trong đó giao cho các hộ gia đình và cá nhân quản lý sử dụng là 842,43 ha chiếm 79 %, các tổ chức kinh tế sử dụng 52,30 ha chiếm 4,4% và sử dụng vào mục đích khác là 45,35 ha. Vậy là hầu hết đất nông nghiệp đã được giao tới người nông dân quản lý và sử dụng đảm bảo việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển tuy vậy vẫn còn 431,34 ha do UBND xã quản lý như vậy là quá lớn các xã cần có kế hoạch sử dụng diện tích này sao cho mang lại hiệu quả cao và theo đúng quy định của luật đất đai ( đất 5 % ). Hiệu quả sau khi giao đất : Từ vị trí là ruộng của tập thể do tập thể tổ chức quản lý sử dụng người nông dân không quan tâm đến việc bồi bổ, cải tạo đất đến nay mọi thửa đất đều đã có chủ, ruộng đất đã thực sự gắn bó với cuộc sống hàng ngày của mỗi người dân.Việc giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ nông dân đã tạo ra động lực mới thực sự mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp. Giao quyền sử dụng đất nông nghiệp đã tạo nền tảng cơ bản cho kinh tế hộ gia đình phát triển, phát huy hết năng lực về vốn về lao động dư thừa trong nhân dân. Tuy vậy vẫn còn một số tồn tại trong việc giao đất nông nghiệp cho hộ nông dân đó là đất giao cho các hộ còn manh mún, phân tán nhiều thửa, nhiều mảnh trên một hộ. Tình trạng này vừa không thuận lợi cho các hộ tự chủ sản xuất, vừa không thể tạo ra cách tổ chức sản xuất hàng hoá. Tồn tại trên cần được nhanh chóng khắc phục nếu không sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường. + Đất ở: Từ ngày 1/1/2002 đến nay phòng xây dựng –nhà đất thanh phố Nam định nhận được 1672 đơn trong đó có 1372 đơn của cán bộ tỉnh và 300 đơn của cán bộ và nhân dân thuộc thành phố quản lý. Qua hơn 4 năm tỉnh có 32 quyết định giao đất ở cho các đối tượng cán bộ và nhân dân đóng trên địa bàn thành phố Nam định. Trong 32 quyết định có 18 quyết định cấp đất cho cán bộ thuộc tỉnh, 14 quyết định cấp đất cho cán bộ và nhân dân thuộc các xã(phường). Tổng diện tích của 32 quyết định là 29,213 ha với 1572 hộ. Việc mở rộng quy hoạch khu dân cư đã tạo điều kiện cho cán bộ, công nhân viên và những người có nhu cầu sử dụng đất để có đất để xây dựng nhà. Trong những năm qua, thành phố Nam định đã đẩy mạnh công tác quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng, hình thành nên những khu dân cư mới nhằm đẩy mạnh tốc độ đô thị hoá thành phố. Tuy vậy, công tác giao đất chưa theo kịp công tác quy hoạch, nhiều mảnh đất nằm trong quy hoạch khu dân cư vẫn chưa có đối tượng sử dụng. Do nhu cầu về vị trí, do tâm lý người sử dụng đất muốn có một địa hình thuận lợi cho việc sản xuất, kinh doanh và cho việc sinh hoạt nên nhiều vị trí không được sự chấp nhận của người sử dụng. Mặt khác, việc quy hoạch chưa được đồng bộ, nhiều vị trí không thuận tiện cho việc sinh hoạt và cho xây dựng nhà ở nên công tác giao đát tính đến năm 2003 mới chỉ được 1572 hộ. Tâm lý người được ưu tiên cấp đất không muốn ở những vị trí đã giao mà muốn chờ những vùng đất mới sắp quy hoạch có vị trí thuận lợi hơn làm công tác giao đất càng trì trệ. Để đẩy mạnh công tác giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các cấp, chính quyền phải có chính sách ưu tiên về giá cả đất đai, phải có những quyết định thật cứng rắn đối với những đối tượng được ưu tiên giao đất. Việc có những quyết định giao đất cho người sử dụng đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất nhưng do nhu cầu về vị trí quá cao nhiều mảnh đất nằm trong vùng quy hoạch chưa thể giao bán được, một mặt do vị trí không đẹp, không phù hợp với sở thích người sử dụng. Mặt khác do quy hoạch không đúng với yêu cầu sinh hoạt, điều đó cho thấy việc quản lý đất đai chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ làm cho tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thành phố Nam định còn trì trệ.Vì vậy thành phố cần được quy hoạch đồng bộ, có những kế hoạch, chính sách thật phù hợp để đẩy mạnh việc giao đất đến người sử dụng làm cho việc quản lý hiệu quả hơn. + Đất chuyên dùng: Diện tích đất giao cho các tổ chức từ năm 2000 – 2004 BIểU Số 11 Loại đất 2000 2001 2002 2003 2004 Đất nông nghiệp (ha) 2.18 30.62 1.89 2.51 1.25 Đất chuyên dùng (ha) 9.15 4.86 0.53 0.65 3.1 Đất khác(ha) 5.46 5.44 2.14 3.2 4.5 Tổng cộng 16.79 40.92 4.56 6.36 8.85 (Nguồn : Phòng Kế hoạch – Quy hoạch, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Nam định) Diện tích đất chuyên dùng toàn thành phố là 846,42 ha trong đó : + UBND các xã quản lý, sử dụng là:602,35 ha. + Giao tới hộ gia đình, cá nhân là :4,20 ha; + Các tổ chức kinh tế quản lý, sử dụng là :41,05ha; + Liên doanh với nước ngoài là :3,5 ha; + Các tổ chức khác quản lý, sử dụng là :213,72 ha. Vậy UBND các phường vẫn còn quản lý phần lớn đất chuyên dùng. Việc cho các tổ chức kinh tế thuê để sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng hiện nay việc này còn thực hiện quá chậm và diện tích còn rất nhỏ đặc biệt là đối với các liên doanh với nước ngoài. Sở Tài nguyên va môi trường cần có biện pháp để thúc đẩy việc này và có kế hoạch để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức kinh tế –xã hội sử dụng đất. Do thành phố Nam định đang thực hiện những chính sách kế hoạch quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch khu dân cư và các dự án nên diện tích đất ở và đất chuyên dùng tăng lên nhanh chóng. Nhưng thực tế việc chuyển đất nông nghiệp cứ thực hiện nhưng việc giao đất ở đến từng tổ chức, hộ sử dụng vẫn chưa thực hiện đầy đủ, có nhiều mảnh đất vẫn không có hộ sử dụng. Đây là việc làm thiếu sự tính toán chặt chẽ, làm cho đất đai biến động lớn, công tác quản lý càng khó khăn và bất cập hơn. Việc chuyển từ mục đích sử dụng đất để xây dựng trụ sở các cơ quan đơn vị còn nhiều biểu hiện lãng phí đất, giao đất xong không xây dựng. III. Hiện trạng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thành phố Nam định 1. Qui trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thành phố Nam định : Căn cứ công văn số 46/ĐC.ĐKTK ngày 15/12/2003 cuả sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Nam định về việc tổ chức đăng ký lập hồ sơ địa chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ công văn hướng dẫn số 87/HĐĐC số 88/ HĐĐC ngày 10/01/2005 của sở Tài nguyên và môi trường hướng dẫn việc đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ nghị định 181/2004 NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật Đất đai 2003 , lập hồ sơ địa chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND thành phố Nam định xây dựng kế hoạch triển khai và tổ chức thực hiện việc lập hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại địa bàn thành phố như sau: 1.Phổ biến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thành phố Nam định, UBND xã (phường) triển khai hội nghị cán bộ,quân,dân chính Đảng ở từng địa phương để nắm được chủ trương đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thành lập hội đồng đăng ký đất của xã,phường,đề nghị UBND thành phố quyết định. Hội đồng đăng ký có từ 5 tới 7 thành viên : + Phó chủ tịch UBND xã ( phường, thị trấn) : Chủ tịch hội đồng. + Cán bộ phụ trách tư pháp : Phó chủ tịch hội đồng. + Cán bộ địa chính : Thư ký hội đồng. + Chủ tịch hội đồng nhân dân : Hội đồng đăng ký đất tổ chức tuyên truyền phổ biến luật đất đai,quy định về đăng ký cấp GCN QSDĐ,những quyền lợi,nghĩa vụ của người sử dụng khi được cấp GCN QSDĐ,quyết định 201/QĐ QKTT,các thông tư hướng dẫn của Chính phủ. 2.Hội đồng đăng ký đất của các xã,phường xây dựng kế hoạch triển khai trên địa bàn của đơn vị mình UBND các xã (phường ) trực tiếp ký kết hợp đồng trách nhiệm với các đơn vị.trưng tập cán bộ để thực hiện việc cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 3.Ghép biên, kiểm tra trùng sót địa giới. Ghép bản đồ giữa các mảnh để tránh trùng sót thửa và diện tích,Ghép biên để tránh trùng sót với các xã (phường) lân cận. 4.Chuẩn bị các điều kiện để tổ chức đăng ký đất. Thu nhập các tài liệu bản đồ, sổ mục kê tạm,các tài liệu có liên quan đến công tác đăng ký đất. Chuẩn bị địa điểm để đăng ký đất Chuẩn bị sổ sách, bảng biểu,các vật tư chuyên dùng khác. Lập danh sách các chủ sử dụng đất Lập kế hoạch tài chính phục vụ công tác đăng ký đất bao gồm dự trù kinh phí hỗ trợ của tỉnh,của thành phố, kinh phí từ ngân sách xã (phường),kinh phí đóng góp của các chủ sử dụng đất.Các tổ chức và cá nhân. 5. Tổ chức đăng ký cho các chủ sử dụng đất: Tại điểm đăng ký hội đồng đăng ký cho các chủ sử dụng đất nhận đất của mình trên bản đồ, hồ sơ thửa đất để các chủ sử dụng đất làm thủ tục đăng ký. Hướng dẫn các chủ sử dụng đất kê khai đăng ký đúng và đủ, đồng thời xuất trình các loại giấy tờ hiện có về đất(kể cả bản chính và bản sao sau khi đối chiếu được giữ lại bản chính, đến khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại nộp bản chính đó ). Các chủ sử dụng đất viết đơn xin đăng ký cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu đã hướng dẫn. Đối với các tổ chức sử dụng đất phải có thêm xác nhận nhu cầu sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đối với đất chung của dòng họ phải có thêm biên bản họp họ tộc. Cán bộ tiếp nhận hồ sơ đăng ký của các chủ sử dụng đất kiểm tra lại cẩn thận trước khi nhu cầu các chủ sử dụng đất ký tên vào danh sách các chủ đã kê khai. 6. Hồ sơ : Mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành phố Nam định sử dụng là mẫu giấy được ban hành theo quyết định 181/2004 NĐ-CP ngày 29/10/2004. Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có giấy chứng nhận viết theo từng thửa đất ( mỗi giấy một thửa) có giấy viết theo hộ ( mỗi hộ một giấy ghi tất cả các thửa của chủ đang sử dụng ). Hồ sơ địa chính gồm : + Sổ địa chính. + Sổ mục kê đất. + Sổ theo dõi biến động đất đai. + Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. + Biểu thống kê diện tích đất đai. + Các loại bản đồ giải thửa, bản đồ địa chính cũ, bản đồ địa chính mới thành lập.. + Các loại hồ sơ đất đai cũ, mới. Trước khi bước vào triển khai đăng ký để xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành phố đều chỉ đạo cán bộ các cơ quan tiến hành đánh giá các tài liệu, hồ sơ hiện có của địa phương. 7. Xét duyệt đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chủ sử dụng đất. Sau khi đăng ký xong, hội đồng đăng ký đất của xã(phường) tổ chức phân loại và tổ chức hội nghị xét duyệt đơn của các chủ sử dụng đất: phân làm 2 loại: +Loại 1: Chủ đang sử dụng đất có đơn và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu có đủ các điều kiện sau: Có đủ giấy tờ hợp pháp hoặc sử dụng đất ổn định được UBND xã(phường) nơi có đất xác nhận. Không có tranh chấp quyền sử dụng đất. Chấp hành đúng mọi chính sách pháp luật của Nhà nước trong quá trình sử dụng. +Loại 2: Chưa đủ những điều kiện trên Đối với các đơn (chủ sử dụng đất) thuộc loại 2. Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các xã(phường), đề xuất ý kiến và xử lý vi phạm. Lập biên bản xét duyệt và lập danh sách các chủ sử dụng đất có đủ điều kiện để cấp và danh sách các chủ chưa đủ điều kiện để cấp. 8. Công khai hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã(phường) Sau khi lập xong hồ sơ, hội đồng đăng ký của xã(phường) thông báo về kết quả đăang ký và công khai hồ sơ tại UBND xã(phường). Thời gian công khai ít nhất là 10 ngày kể từ khi có thông báo rộng rãi cho toàn dân biết. Trong thời gian công khai, trường hợp có sai sót và có khiếu nại hội đồng đăng ký đất có trách nhiệm sửa chữa những sai sót đã phát hiện và giải quyết cac khiếu nại (giải quyết xong phải có biên bản giải quyết kèm theo). Lập biên bản công khai kết thúc hồ sơ: lập thành 3 bản để lưu hồ sơ ở 3 cấp. 9. Duyệt hồ sơ: Các cơ quan chuyên môn tổ chức kiểm tra; Số địa chính chủ trì phối hợp với phòng địa chính thành phố, tổ chức kiểm tra hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã(phường). Kiểm tra điều kiện về quyền sử dụng đất, các tài liệu đã làm ở các bước trước. Kết thúc kiểm tra có biên bản đánh giá chất lượng đạt được, phòng địa chính lập tờ trình đề nghị. Nếu hồ sơ thuộc thẩm quyền của thành phố thì đề nghị UBND thành phố tổ chức xét duyệt và quyết định. Nếu hồ sơ thuộc thẩm quyền của tỉnh thì đề nghị UBND thành phố lập tờ trình gửi UBND tỉnh và Sở Tai nguyên và môi trường tỉnh nhận hồ sơ lập trình đề nghị UBND tỉnh tổ chức xét duyệt và quyết định. 10. Tổ chức thực hiện phê duyệt cấp giấy chứng nhận: -Sau khi có quyết định phê duyệt của cấp có thẩm quyền cơ sở làm các thủ tục tiếp nhận tài liệu sổ sách và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. -Tổ chức viết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ sử dụng đất đã đủ điều kiện cấp -Lập sổ địa chính theo quy định số quy định số 499 của Tổng cục địa chính. -Lập sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận. -Tổ chức kiểm tra đối soát giấy chứng nhận, sổ địa chính. -Tổ chức hội nghị tổng kết. -Làm lễ phát giấy chứng nhận quyền sử dụng đất -Bàn giao những tồn tại cần phải giải quyết tiếp theo sau khi đăng ký đất cho UBND xã(phường). -Công bố những quy định về khai báo biến động. -Mở rộng khai báo biến động. 11.Giao nộp bàn giao tài liệu lưu trữ. Hội đồng đăng ký đất bàn giao tài liệu đăng ký để lưu trữ và sử dụng tại các cấp : Xã (phường),thành phố, tỉnh,trung ương theo quy định. 12. Kinh phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất : Lệ phí thu để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Tổng Cục Địa Chính như sau : - Hộ gia đình, cá nhân : + Thuộc xã trung du, đồng bằng : 10.000 đ/ giấy. + Thuộc vùng đô thị : 20.000đ/ giấy. - Tổ chức : 100.000đ/ giấy. - Việc hỗ trợ kinh phí của tỉnh tuy không ít nhưng vẫn chưa đủ để hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thành phố Nam Định. Bình quân về dịnh mức chi phí lao động vật tư và đầu tư kinh phí cho công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 tại thành phố Nam định là : Bình quân 1 giấy : 22.425 đ. Bình quân 1 thửa là : 1.401 đ. Việc thu lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các xã, phường đều có những hội nghị bàn thống nhất mức thu. Theo công văn số 141/CV - ĐC ngày 15/03/2003 của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Nam định về việc thu chi từ nguồn thu lệ phí địa chính. Việc thu lệ phí địa chính được giao cho các xã, phường trực tiếp thu và nộp tại kho bạc nhà nước. - Mức thu từng xã, phường như sau : BIểU Số 12 STT Tên đơn vị Mức thu 1 giấy (đ) Ghi chú 1 Phường Vị Hoàng 25.000 ủng hộ từ 5.000/1 giấy 2 Phường Trần Tế Xương 25.000 Như trên 3 Phường Trần Hưng Đạo 25.000 Như trên 4 Phường Cửa Bắc 25.000 Như trên 5 Phường Phan Đình Phùng 25.000 Như trên 6 Phường Hạ Long 20.000 Bìa đổi thu 15.000 7 Phường Bà Triệu 20.000 8 Xã Lộc Hòa 20.000 9 Phường Lang Tĩnh 20.000 10 Phường Lộc Hạ 20.000 ( Số liệu : Phòng Xây dựng – Nhà đất thành phố Nam định) Việc thu tiền cho cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở 3 cấp Tỉnh, huyện, xã ( phường) bình quân đối với một giấy là khoảng 23.500 đ. Theo qui định của Tổng Cục Địa Chính thì mức thu này gấp 2 lần đối với các xã trung du, đồng bằng. Gấp 0.5 lần đối với đất đô thị. Như vậy : Theo quyết định 114/QĐUB và thông tư 02 thì mức thu chưa thống nhất. Mức thu còn cao so với định mức cho phép, gây khó khăn cho những hộ nghèo, đói không có kinh phí để thực hiện đăng ký, nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tỉnh, thành phố, UBND xã (phường) phải có chính sách hỗ trợ thích đáng để người sử dụng đất yên tâm, tự nguyện đi đăng ký nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực hiện việc ghi nợ cho những gia đình khó khăn. Việc thu kinh phí và xác định các khoản chi phải công khai, tuyên truyền cho dân chúng ủng hộ và giúp đỡ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diễn ra nhanh hơn, thiết thực hơn. 2.Tình hình kê khai đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Nam định từ năm 2000 đến nay Sau khi có luật đất đai năm 1993, UBND thành phố Nam định (trước kia) và UBND tỉnh Nam Định đã ban hành hàng loạt các văn bản để triển khai thực hiện các nội dung của luật nhằm mục đích tăng cường và củng cố hơn nữa công tác quản lý nhà nước về đất đai. Để thực hiện nghị định số 181/ NĐ - CP ngày 29/10/2004, UBND tỉnh Nam Định ra chỉ thị 07/CT – UB ngày 05/02/2005về việc đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong toàn tỉnh. a) Công tác tổ chức kê khai đăng ký đất đai ở các xã, phường : Công tác kê khai đăng ký là bước đầu tiên của qui trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nó rất quan trọng, đòi hỏi phải đảm bảo đầy đủ chính xác để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xét duyệt hồ sơ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. ý thức được tầm quan trọng của công tác kê khai đăng ký nên UBND thành phố đã chỉ đạo các xã, phường triển khai khẩn trương nhanh chóng, yêu cầu phải lập hội đồng kê khai đăng ký và đi vào hoạt động. Kết quả kê khai đăng ký của thành phố nam định BIểU Số 13 Loại đất Số hộ cần đăng ký Số hộ đã đăng ký Tổng số hộ đã đăng ký Tỷ lệ đăng ký / tổng số 2002 2003 2004 Đất nông nghiệp 8533 3125 1765 2161 7051 82,63 Đất lâm nghiệp 84 0 24 0 24 28,57 Đất thổ cư 15768 3417 3720 1848 8985 56,98 Đất chuyên dùng 352 25 10 15 50 14,2 ( Nguồn : Phòng Xây dựng – Nhà đất thành phố Nam định ) Phường Vị Hoàng tuy có diện tích nhỏ, dân số ít nhưng là phường đầu tiên sớm nhất ( 1/5/1996 ) thành lập hội đồng kê khai đăng ký và tổ chức công tác kê khai đăng ký đất đai. Muộn nhất là xã Lộc Hòa đến 1/1/1999 mới thành lập được hội đồng kê khai đăng ký. Sau xã Thanh Trù còn một số phường, xã đến nay vẫn chưa thành lập được hội đồng kê khai đăng ký. Với các xã, phường đã có hội đồng kê khai đăng ký thì vẫn còn một số tồn tại như thành phần của hội đồng không có đủ hoặc thành phần hội đồng không đúng với qui định của pháp luật. Việc hoạt động của hội đồng kê khai đăng ký cũng có nhiều tồn tại, khó khăn cần khắc phục. Do sự không thống nhất về quan điểm, tính chất công việc, thời gian nên hội đồng kê khai đăng ký họp rất khó khăn dẫn đến công tác xem xét hồ sơ kê khai đăng ký của người dân mất rất nhiều thời gian. Qua biểu ta thấy đất nông nghiệp có tỷ lệ kê khai đăng ký được cao nhất 82,63 % điều này có được do công tác tuyên truyền tới từng người dân và do có sự đôn đốc, thẩm tra, giám sát của UBND thành phố. Đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất trong các loại đất và được UBND thành phố rất chú trọng đặt lên hàng đầu. Đất chuyên dùng có kết quả kê khai đăng ký đạt thấp nhất 14,2 % mà ở tỷ lệ này mới chỉ có các tổ chức, cơ quan tiến hành kê khai đăng ký còn các đối tượng sử dụng khác hầu như chưa làm được. Theo thời gian 2 năm 2001, 2002 kết quả công tác kê khai đăng ký đạt khá, trong khi đó năm 2004 đạt rất cao. Thành phố cần có sự quan tâm chỉ đạo nhiều hơn nữa tới công tác kê khai đăng ký, cần yêu cầu tất cả 100% xã, phường phải lập hội đồng kê khai đăng ký và đi vào hoạt động đẩy nhanh tiến độ kê khai đăng ký làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. b) Công tác xét hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất : Xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bước chuẩn bị cho việc ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, công tác xét duyệt yêu cầu phải đảm bảo công bằng, hợp tình, hợp lý, mỗi hồ sơ đều phải được xét trên mọi góc độ, chỉ tiêu khác nhau, thông báo công khai tới mọi người dân. Để công tác xét duyệt được thuận lợi thì yêu cầu bước kê khai phải đầy đủ, chính xác. Việc xét duyệt hồ sơ được diễn ra trong cuộc họp của hội đồng kê khai đăng ký, việc xét duyệt này có thể tiến hành đồng loạt cho nhiều hồ sơ đăng ký ( trong trường hợp tổ chức kê khai đăng ký đồng loạt ) hoặc cho một số ít hồ sơ ( trường hợp kê khai riêng ). Kết quả xét duyệt hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BIểU Số 14 Loại đất Số hồ sơ đã đăng ký Số hồ sơ đã duyệt Số GCN đã cấp Tỷ lệ GCN đã cấp/ Tổng số hồ sơ 2002 2003 2004 Tổng số Đất nông nghiệp 7051 6875 1762 1543 849 4154 58.91 Đất thổ cư 8985 7655 3409 1765 1025 6199 68.99 Đất chuyên dùng 50 45 18 12 9 39 78 ( Số liệu : Phòng Xây dựng – Nhà đất thành phố Nam định ) Thực trạng hiện nay ở thành phố Nam định do sự hoạt động kém hiệu quả của hội đồng kê khai đăng ký và do thiếu hội đồng kê khai đăng ký nên việc xét duyệt hồ sơ được tiến hành rất chậm dẫn đến số hồ sơ được duyệt và số giấy chứng nhận được cấp đạt tỷ lệ rất thấp. Đến 1/12/2004 tỷ lệ hồ sơ được duyệt và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là : của đất nông nghiệp là 58,91 % ; của đất chuyên dùng là 78% của đất ở là 68,99 %. Do hội đồng xét duyệt có thành phần lấy từ nhiều bộ phận nên việc thống nhất về công việc, về thời gian làm việc là rất phức tạp và khó khăn. Do sự yếu kém về trình độ trình môn dẫn đến trình độ chung của hội đồng kê khai đăng ký là rất yếu do đó công việc xét duyệt hồ sơ kê khai đăng ký rất khó khăn và mất rất nhiều thời gian. Thành phố cần có biện pháp nâng cao năng lực cho cán bộ địa chính như tuyển thêm người mới, thu hút cán bộ có trình độ cao về thành phố làm việc, mở khoá đào tạo cán bộ nhằm nâng cao hiệu quả, khắc phục những khó khăn trong công tác kê khai đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất . IV. Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Nam Định 1. Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Nam định năm 2004 Được tập trung cao, sở đã phối hợp với UBND thành phố tháo gỡ những khó khăn vướng mắc và đẩy mạnh việc thực hiện. Trong năm đã lập được 16509 hồ sơ xét duyệt được 12938 hồ sơ và cấp được 10091 giâyá chứng nhận vào tay người sử dụng đất. Trong đó cấp tại 10 pgường, xã được 8834 GCN, qua mua bán chuyển nhượng được 458 GCN, đơn lẻ 50 GCN và 739 GCN qua đấu giá quyền sử dụng đất. Có được những kết quả trên là do : -Năm 2004 trong công tác tham mưu của Ban lanh đạo Sở dã có nhièu đổi mới, tạo được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và cấp uỷ chính quyền các cấp, sự phối hợp chặt chẽ của các ngành cũng như của Bộ Tài nguyên và môi trường. - Đã có kế hoạch và định hướng cụ thể trong việc tổ chức chỉ đạo điều hành. Kịp thòi tháo gỡ khó khăn vướng mắc. Có nhiều biện pháp nâng cao vai trò trách nhiệm của đơn vị và cá nhân trong công tác tổ chức, chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị. - Đã pháu huy được truyền thống đoàn kết nhất trí trong cơ quan và sớm trriển khai công việc ngay từ đầu năm. - Là sự nỗ lực cố gắng của đội ngũ cán bộ toàn ngành. 2. Những tồn tại trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nguyên nhân - Trước khi thực hiện chỉ thị 10/1998/CT – TTg của Thủ Tướng Chính Phủ, hệ thống chính sách pháp luật đất đai vẫn chưa được hoàn chỉnh, chậm được sửa đổi, bổ sung để giải quyết những vướng mắc khi thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Quá trình đô thị hoá nhanh đã hình thành, mở rộng đô thị, khu công nghiệp tập trung, khu dịch vụ làm cho nhu cầu về đất đai dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng tăng tạo sức ép đối với công tác quản lý đất đai. Trong khi đó công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được quan tâm đúng mức, điều chỉnh kịp thời, nhất là đối với cấp xã, phường, thị trấn. - Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất đai, nhất là đối với cấp xã vừa thiếu lại vừa yếu về chuyên môn nghiệp vụ một số nơi lại phải kiêm nhiệm nhiều việc, chưa được đào tạo cơ bản đã gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai. - Trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp tư tưởng còn nặng về cầu toàn, thủ tục phức tạp, trong khi đó tài liệu, tư liệu, bản đồ, hồ sơ gốc về đất đai làm căn cứ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn thiếu, chưa có biện pháp để khắc phục tình trạng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấpdiễn ra dưới hình thức “ sang tay ” không qua cấp chính quyền có thẩm quyền. - Các xã, phường tổ chức giao ruộng ổn định lâu dài tới hộ từ năm 1992 – 1993. Đến nay tổ chức đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải trên cơ sở tài liệu đo đạc và bản đồ năm 1996. Một số diện tích giao ruộng trước đây chênh lệch so với diện tích để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một việc hết sức nan giải, phức tạp. -Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là công việc rất phức tạp công tác quản lý nhà đất nhiều năm bị buông lỏng, hồ sơ, tài liệu còn thiếu, không đồng bộ. - Nhận thức của một số cán bộ và nhân dân còn hạn chế, chưa thấy được mục đích và ý nghĩa của việc đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( do đó có hiện tượng một số địa phương tổ chức phát giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tới từng hộ, có một số hộ không cần nhận ). - Công tác tuyên truyền về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhìn chung chưa được các cấp quan tâm thường xuyên. Các cấp uỷ Đảng và chính quyền cơ sở chưa coi việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nhiệm vụ chính trị quan trọng cần phải tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo. Một số nơi nhận thức còn đơn giản cấp cũng được, không cấp cũng được. - Kinh phí đầu tư cho công tác này chưa được thoả đáng. *Bài học kinh nghiệm : +Về nhận thức: Để thực hiện tốt công tác này cần có sự chỉ đạo thống nhất của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và các đoàn thể quần chúng quán triệt quân điểm tư tưởng là lấy mục đích quản lý, giải quyết nguyện vọng của nhân dân và xác định quyền sử dụng đất. Từ đó tăng cường công tác tuyên truyền vận động, phát động phong trào rộng lớn để nhân dân hiểu rõ chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước cùng với nghĩa vụ và quyền lợi của họ, tự giác kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. + Về tổ chức thực hiện: Các huyện, thành cần có sự chỉ đạo tập trung lực lượng, bố trí đầy đủ cán bộ và thực hiện tốt công tác tập huấn hướng dẫn nghiệp vụ cho các đồng chí lãnh đạo xã, thị trấn tinh thông về phương pháp, cách kê khai, phân loại những trường hợp hợp lệ và không hợp lệ, những trường hợp cần đưa ra bàn bạc để thống nhất ý kiến nhằm giải quyết nhanh các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. + Về phương pháp: Phát huy kịp thời, giải quyết tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện, đồng thời phải có sự chuẩn bị đầy đủ điều kiện, phương tiện để thực hiện đối với từng ngành, từng cấp đảm bảo giải quyết nhanh các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khẩn trương vận động mọi người có đủ giấy tờ gốc hợp pháp thực hiện cấp đổi giấy chứng nhận mới, đồng thời giải quyết cấp giấy chứng nhận ngay cho những trường hợp có đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định. Qua kết quả đạt được ta thấy ở các huyện, thị tiến độ triển khai chậm, kết quả kê khai đăng ký còn thấp dẫn đến ciệc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa được thường xuyên chú trọng, ở một số nơi như thành phố việc thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đô thị chưa nghiêm túc về trình tự thủ tục, làm ảnh hưởng tiến độ thực hiện công việc. Bên cạnh việc cấp giấy thì các cấp, các ngành phải thường xuyên chăm lo chỉ đạo kịp thời phản ánh và giải quyết các vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Phải làm tốt việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm từng giai đoạn, kịp thời phát hiện những vướng mắc tồn tại để có biện pháp giải quyết ngay. Khắc phục tình trạng “phát” mà không “động”, phô trương hình thức lấy thành tích là chính. Chương III Một số giải pháp nâng cao hiệu quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất I.Chiến lược phát triển kinh tế của thành phố Thực hiện cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên cơ sở phát huy mạnh mẽ nội lực, tạo môi trường thuận lợi để tiếp nhận đầu tư và mở rộng qua hệ kinh tế với bên ngoài nhằm thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm là 19,5%(về giá trị sản xuất ), 16,7%(về tốc độ sản phẩm nội lực), đặc biệt phát triển mạnh du lịch-dịch vụ và công nghiệp xây dựng.Tiếp tục phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, giúp đỡ, tạo môi trường thuận lợi khuyến khích mọi người dân làm giàu hợp pháp, khai thác tối đa lợi thế của thành phố về đất đai, khí hậu, lao động, vị thế để phát triển du lịch- dịch vụ, công nghiệp-xây dựng,nông nghiệp. Chú trọng phát triển nông nghiệp nông thôn, phát triển nông nghiệp toàn diện theo lợi thế từng vùng xây dựng nông thôn mới có nền nông nghiệp đô thị bền vững, có công nghiệp và dịch vụ phát triển đa dạng, xã hội văn minh tiến bộ, ứng dụng những thành tựu khoa học tiên tiến vào sản xuất đặc biệt là sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Phát triển nguồn nhân lực dồi dào của thành phố thu hút nhiều lao động vào lĩnh vực công nghiệp và thương mại-du lịch. Phát triển kinh tế gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội, giải quyết tốt vấn đề việc làm và thu nhập cho người lao động trong đó ưu tiên đối với gia đình liệt sỹ, thương binh và người có công với nước. Đảm bảo an ninh chính trị, an toàn xã hội, củng cố quốc phòng toàn dân, giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trên địa bàn thành phố. Lựa chọn cơ cấu phát triển kinh tế: Cơ cấu phát triển kinh tế giai đoạn 2001-2010 là: Du lịch- dịch vụ-công nghiệp; Xây dựng –nông nghiệp. II. Phương hướng Trong sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung và trên địa bàn thành phố Nam định nói riêng hiện nay đã và đang có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, nền sản xuất hàng hoá đang được phát huy trong cơ chế thị trường. Vì vậy công tác quản lý đất đai đòi hỏi phải có sự cố gắng rất lớn nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố một cách toàn diện. - Tổ chức thực hiện tốt nghị định 181/2004 NĐ-CP ngày 29/10/2004 của chính phủ. - Hoàn chỉnh hồ sơ đăng ký- cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tiếp tục quản lý và sử dụng có hiệu quả đất đai. - Tăng cường việc xử lý các vi phạm luật đất đai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. - Phấn đấu đến hết năm 2005 các chủ sử dụng đất hợp pháp trên địa bàn phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp đều được đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực hiện tốt nhiệm vụ giao đất, đáp ứng nhu cầu đất xây dựng trụ sở các cơ quan, nhu cầu đất ở của cán bộ và nhân dân thành phố. Đề nghị cấp trên hỗ trợ kinh phí để đo đạc, lập bản đồ địa chính những xã, phường chưa có đồng thời cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tới hộ tại các khu vực này. - Làm tốt công tác theo dõi biến động và chỉnh lý biến động về đất đai. Tăng cường quản lý đất đai trên địa bàn đảm bảo đúng pháp luật và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm. - Thực hiện tốt các nội dung khác có liên quan đến đất đai: Thống kê đất đai, xây dựng kế hoạch sử dụng đất đai, chuyển mục đích sử dụng, chuyển quyền sử dụng đất tranh chấp đất đai. - Phấn đấu hoàn thành tốt công việc của ngành Địa Chính, tham mưu cho uỷ ban nhân dân thanh phố về việc quản lý đất đai, đảm bảo nhiệm vụ chuyên môn theo quy định của luật đất đai và yêu cầu của Sở Tài nguyên và môi trường và Tổng cục Địa Chính. III.Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thành phố nam định Thực hiện theo chiến lược phát triển ngành địa chính đến năm 2010 mục tiêu về công tác đăng ký đất đai lập hồ sơ địa chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phải xây dựng được một hệ thống đăng ký đất đai hiện đại cấp xong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả các chủ sử dụng đất hợp pháp, thiết lập xong hồ sơ địa chính đầy đủ thống nhất cho toàn bộ lãnh thổ và được cập nhật thường xuyên, dựa trên cơ sở hệ thống bản đồ địa chính chuẩn mực đáp ứng yêu cầu thông tin thửa đất về tự nhiên như vị trí, hình thể, kích thước, diện tích, loại đất, chất đất, hạng đất, giá đất, mục đích sử dụng, những thay đổi và ràng buộc trong quá trình sử dụng đất. Để thực hiện mục tiêu chiến lược kể trên nhiệm vụ giải pháp cụ thể đặt ra là: 1. Hệ thống luật đất đai : Các văn bản pháp luật về đất đai là cơ sở pháp lý quan trọng trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nội dung của chúng quy định các trường hợp, chế tài pháp lý các nội dung và trình tự của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó các chỉ thị, nghị định, nghị quyết của Chính Phủ còn đốc thúc, hướng dẫn tạo động lực để công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được hoàn thành. Cần phải luôn đổi mới, bổ sung luật đất đai và hệ thống văn bản dưới luật để theo kịp được những biến động của công tác quản lý đất đai. Bên cạnh đó đất nước ta đang phát triển theo cơ chế thị trường về kinh tế, các quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực quản lý đất đai, luật đất đai phải đáp ứng, giải quyết và quản lý được các quan hệ kinh tế này nhưng phải dựa trên cơ sở hợp tình, hợp lý và công bằng. Coi trọng công việc thực hiện các qui định của Nhà nước, phát huy dân chủ và công khai. Thực hiện nghiêm túc triệt để thông qua các bước xử lý đảm bảo sự công bằng và nghiêm minh của pháp luật. Trong quá trình tiến hành đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đảm bảo chính xác, công khai, dân chủ. Trên cơ sở những văn bản hướng dẫn của Nhà nước. Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở xã, phường đưa ra xem xét, bàn bạc, giải quyết từng dạng, từng trường hợp một cách khách quan, công minh. Tôn trọng ý kiến của nhân dân, của tổ dân phố, các thôn xóm, giải quyết thoả đáng những khiếu nại của nhân dân trong bước công khai hồ sơ. 2, Bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai : Bộ máy quản lý Nhà nước về đất đai của nước ta được phân thành 4 cấp từ Trung ương đến cơ sở nhưng chưa được hoàn thiện,đồng bộ, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn chưa rõ ràng thực chất mới chỉ là cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh. Đội ngũ cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn chưa được củng cố và tăng cường cả về số lượng và chất lượng, trong khi đó mọi công việc về đất đai đều bắt đầu từ cơ sở. Cần tăng cường cán bộ địa chính xã vì hiện nay số cán bộ này là rất ít 1 – 2 người không quản lý nổi tình hình đất đai của một xã do thiếu người, yếu về năng lực. Chú trọng công tác đào tạo cán bộ ngành địa chính nói chung và mở lớp chuyên sâu về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói riêng và nâng cao kiến thức cho đội nhũ cán bộ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Loại trừ những cán bộ thoái hoá, biến chất trong đội ngũ làm công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giảm những thủ tục không cần thiết, biết ghép, nối, tạo mắt xích chặt chẽ của giấy tờ liên quan đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm cho lượng tài liệu gọn, nhẹ và có hiệu quả cao. 3. Kinh phí : Một trong nhữngc trở ngại rất lớn đến tiến độ công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là việc thiếu kinh phí từ đó không tạo được động lực trong người dân, người dân không tự nguyện kê khai đăng ký và cán bộ không hăng hái làm việc. Cần cung cấp kinh phí đủ, đúng lúc, góp phần thúc đẩy quá trình đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Quá trình thực hiện công tác kê khai đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần kinh phí ngay từ buổi đầu triển khai để mua sắm thiết bị, vật tư, chi trả công kỹ thuật. Nhưng thực tế đối với tỉnh, thành phố chỉ cấp tiền hỗ trợ kinh phí khi có quyết định của cấp có thẩm quyền phê duyệt danh sách. Người sử dụng đất chỉ nộp tiền khi được nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình từ khi xét duyệt đến khi có được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải mất từ 5 đến 6 tháng. Do vậy xã, phường phải có kế hoạch thật cụ thể tạm ứng để tạo nguồn kinh phí đáp ứng kịp thời sẽ góp phần thúc đẩy quá trình đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với những trường hợp khó khăn không có đủ điều kiện cung cấp kinh phí cho cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tnên áp dụng việc ghi nợ tiền trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực hiện giải pháp tính thuế để triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất ở tại các khu dân cư mới. Cụ thể là đề nghị cấp tỉnh cho phép sử dụng số thửa trên bản đồ quy hoạch các khu dân cư đã được cấp có thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 4. Công tác tuyên truyền : Cần coi trọng công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi luật đất đai sửa đổi, các chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về đất đai, về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để mọi người dân, mọi tổ chức sử dụng đất hiểu biết, thực hiện. Đây là một việc làm cần thiết, ở đâu làm kỹ, làm tốt, phổ biến sâu rộng để cán bộ, đảng viên, nhân dân hiểu biết thì kết quả thực hiện sẽ tốt hơn. Tuyên truyền phổ biến bằng nhiều hình thức khác nhau : Tuyên truyền rộng rãi qua phát thanh của thôn, xóm, xã, phường, qua truyền hình, thông qua các cuộc họp báo, cuộc tìm hiều về luật đất đai về ý nghĩa quyền lợi và nghĩa vụ của người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 5. Hồ sơ : Có biện pháp nhanh gọn giải quyết cho các trường hợp đủ giấy tờ gốc hợp lệ, hợp pháp, như rút ngắn thời gian xét duyệt, giảm bớt các thủ tục xét duyệt, đơn giản hoá các bước kê khai đăng ký. Mẫu hồ sơ phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau : dễ hiểu, dễ sử dụng, dễ kê khai, rõ ràng, đầy đủ tính pháp lý và các tiêu chí của mảnh đất. 6. Sự phối hợp giữa các cơ quan : Gắn kết mối quan hệ hữu cơ giữa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với quy hoạch, kế hoạch phân bổ sử dụng đất, với công tác điều tra đo đạc, công tác giao đất, cho thuê đất, công tác phân hạng và định giá đất. Công tác thanh tra giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với chủ trương, chính sách, chiến lược quản lý sử dụng đất của thành phố Nam định. Học hỏi kinh nghiệm của các tỉnh bạn và kinh nghiệm quản lý đất đai của các nước tiên tiến, có chọn lọc phù hợp với hoàn cảnh quê hương đất nước mình. Kiến nghị: + Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là công việc hết sức cấp bách cần làm ngay yêu cầu cơ quan địa chính cấp tỉnh chỉ đạo các cơ quan địa chính cấp huyện, xã tổ chức triển khai ngay. Cần triển khai ngay công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn đối với các loại đất khác như đất ở, đất nông nghiệp, đất chuyên dùng cần đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp hết cho số hộ gia đình, cá nhân còn lại để hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. + Đề nghị tỉnh có kế hoạch đo đạc bản đồ địa chính toàn thành phố để giúp thành phố thực hiện công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị được triển khai nhanh có độ chính xác cao đến từng chủ hộ sử dụng đất. + Tỉnh cần đầu tư đủ và kịp thời về kinh phí cho các cấp thực hiện việc giải quyết tồn tại đất đai và cấp xong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. + Tỉnh cần ban hành văn bản pháp quy giải quyết những vướng mắc về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị và chỉ đạo các cấp triển khai thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị theo tinh thần Nghị định 181/2004 NĐ-CP ngày 29/10/2004 của chính phủ. + Thành phố cần có biện pháp tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ địa chính xã, phường. Cần tăng số lượng cán bộ địa chính xã, phường từ 1- 3 cán bộ để đảm bảo nhân lực quản lý, giải quyết các vướng mắc trong công tác quản lý đất đai. + Tăng cường trang thiết bị máy móc, máy vi tính để ứng dụng phần mềm vào công tác lập hồ sơ địa chính và tiến tới nối mạng với hệ thống thông tin địa chính của Tổng cục Địa Chính. Kết luận Thành phố Nam định là thành phố có diện tích nhỏ bé chỉ có 10 xã,phường.Trong những năm gần đây đã có những bước phát triển vượt bậc trên nhiều lĩnh vực công tác quản lý của các cấp chính quyền đang dần được hoàn thiện.Trong đó cán bộ của Uỷ Ban nhân dân thành phố nói chung,ngành địa chính nói riêng đã rất cố gắng hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Tỷ lệ cấp giấy chứng nhận tại thành phố đã đạt được những kết quả bước đầu tuy chưa cao nhưng rất đáng khích lệ.Tuy nhiên với việc mở rộng quy hoạch và có những chính sách đổi mới để biến thành phố nói chung và tỉnh Nam Định nói chung trở thành đô thị có vai trò quan trọng trong vùng và của cả nước đã làm cho đất đai có nhiều biến động.Hơn nữa,với sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường đất đai ngày càng phát huy vai trò quan trọng đến ngành kinh tế nhu cầu đất đai ngày càng cao,càng có giá trị làm cho việc chuyển mục đích sử dụng đất ở,đất giao thông,đất chuyên dùng ngày càng lớn.Do vậy phải đẩy nhanh tiên độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng đăng ký ban đầu,đăng ký biến động đất đai để phục vụ cho công tác thanh tra,kiểm tra kiểm kê,quy hoạch,kế hoạch sử dụng đất tại thành phố Nam định,giúp thành phố hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch về phát triển kinh tế – xã hội. Với miền quê giầu truyền thông văn hoá,với những conn người cần cù,thông minh đã làm cho thành phố Nam định ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng về mọi mặt đối với tỉnh và đất nước.Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được mọi người dân ủng hộ, chấp hành,người dân yên tâm đầu tư, cải tạo đất,nâng cao hiệu quả sử dụng đầy đủ,hợp lý,tiết kiệm đất đai. Với vai trò quan trọng của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tỉnh và Sở Tài nguyên và môi trường cần phải có những văn bản hướng dẫn cụ thể,chỉ đạo sát sao Uỷ Ban nhân dân thành phố và phòng Địa Chính thực hiện tốt công việc được giao. Phòng Địa chính đôn đốc UBND xã,phường thực hiện tốt công tác cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất ở tại địa phương mình. Việc dần hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở tại thành phố Nam định đang ngày càng đáp ứng cơ bản các mục tiêu,nội dung,chính sách,chiến lược phát triển kinh tế,xã hội của tỉnh,sớm đưa các hoạt động sử dụng đất đai vào nề nếp,ổn định,khắc phục những thiếu sót,khuyết điểm về mặt quản lý đất đai. Từ đó có biện pháp khai thác cụ thể,hiệu quả,tiết kiêm,hợp lý đầy đủ vốn đất đai theo luật định.Sớm đưa thành phố Nam định trở nên văn minh,giầu đẹp phát huy truyền thông văn hoá,nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc.Đáp ứng đầy đủ về hiệu quả sử dụng đất nói riêng và phát huy thế mạnh trở thành đô thị phát triển nói chung. Tài liệu tham khảo Luật đất đai 2003 - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Giáo trình Quản lý nhà nước về đất đai và nhà ở - GS.TSKH Lê Đình Thắng (chủ biên) - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2000. Giáo trình Nguyên lý thị trường nhà đất - GS.TSKH Lê Đình Thắng (chủ biên) - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2000. Giáo trình Đăng ký thống kê đất đai - GS.TSKH Lê Đình Thắng - ThS. Đỗ Đức Đôi (đồng chủ biên) - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2000. Nghị định 181/2004 - NĐ-CP ngày 29/10/2004. Tạp chí Địa chính số 08/2004; số 11/2004; số 02/2005; số 05/2005. 7. Số liệu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002, 2003, 2004 - Phòng Xây dựng nhà đất - UBND thành phố Nam Định. 8. Tài liệu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất - Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Nam Định.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNKT168.doc