Đề tài Các giải pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2010

* Các giải pháp về đất đai và tư liệu sản xuất cho các hộ nghèo. Đất với người nông dân là tư liệu quan trọng cho quá trình sản xuất, nhất là với những hộ nông dân nghèo. Chính phủ đã ban hành Luật đất đai từ năm 1993 đến nay đã có tác dụng đáng kể, tạo điều kiện cho các hộ không có đất được thuê mướn, các hộ có đất được đem bán hoặc cho thuê, đây là biện pháp linh hoạt giúp ngời dân thích nghi với kinh tế thị trường. Trong thời gian tới chúng ta cần phải bổ sung và hoàn thiện cơ chế này đực biệt là với vùng núi, nơi mà ngời dân chưa bỏ được các tập tục về quyền sở hữu và sử dụng tài nguyên đất, rừng. Chúng ta đồng thời phải khai hoang, lấn biển, tạo ra nhiều quỹ đất hơn không những để sản xuất lấy đất cho sản xuất mà còn để xây dựng cơ sở hạ tầng. ở những nơi quỹ đất thực sự thiếu thốn chúng ta có thể đầu tư cho nông dân tư liệu lao động để kiếm sống như thuyền, lới và các công cụ khác tuỳ thuộc vào điều kiện từng vùng. * Chính sách vay vốn đối với người nghèo. Cùng với đất đai và tư liệu sản xuất, vốn là nguồn lực rất quan trọng đối với nông dân nói chung, đặc biệt là với người nghèo. Ngày nay trong quy chế vay vốn của ngân hàng đã có nhiều điểm rất thông thoáng tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận được với tín dụng phát triển sản xuất. Song trong thời gian tới chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm để chương tình thực sự là bạn của nhà nông, trợ giúp họ trong công cuôc xoá đói giảm nghèo. Các ngân hàng cần có trách nhiệm hơn trong hỗ trợ người nghèo, đặc biệt trong những khoản vay với quy mô nhỏ. Mặc dù đã có chính sách vay vốn ưu đãi nhưng để có được nó nông dân còn rất nhiều gian khổ do ngân hàng không đi xuống thực tế, không hướng dẫn với bà con. Để phát huy tính ưu việt của chính sách cho ngời nghèo vay vốn cần có những hoạch định và quy định rõ ràng về vấn đề tạo nguồn vốn đồng thời đưa vốn đến tay nông dân một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.

doc46 trang | Chia sẻ: aloso | Ngày: 08/05/2014 | Lượt xem: 1051 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Các giải pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2010, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng, kinh tế nước ta rơi vào khủng hoảng nặng nề. Đại hội VI năm 1986 của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng công cuộc đổi mới. Những nội dung quan trọng của đường lối đổi mới kinh tế là thực hành dân chủ hoá đời sống kinh tế, chuyển cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung cao độ sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển việc phát triển kinh tế quốc doanh và tập thể ồ ạt sang phát triển kinh tế nhiều thành phần, chuyển việc cấp phát hiện vật và bao cấp sang sử dụng quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá, mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài, chuyển quan hệ kinh tế đối ngoại từ đơn phương sang đa phương theo hướng nền kinh tế mở, đa dạng hoá hình thức và đa dạng hoá quan hệ. Trong những năm đầu đổi mới, thành công nhất là đã chuyển đổi về cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới trong khi vẫn giữ vững được ổn định chính trị và xã hội. Quá trình chuyển đổi này không những khắc phục được những khó khăn, vấp váp của sự tìm tòi, thủ nghiệm đổi mới trong các giai đoạn trước, mà còn đạt được nhịp độ tăng trưởng nhất định về kinh tế. Tổng sản phẩm trong nước năm 1987 tăng 3.6%, năm 1988 tăng 5.0%, năm 1989 tăng 4.7%, năm 1990 tăng 5.1%, năm 1991 tăng 6.0%, từ năm 1992 tăng lên 8% và từ năm 1995 tăng lên 9.0% trở lên. Cơ chế mới đi vào thực tiễn từ năm 1989, tem phiếu được xoá bỏ, lạm phát phi mã đã bị kìm lại, đời sống người dân từng bước được cải thiện. Bảng 1: dân số tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP và GDP đầu người) Năm Dân số (triệu người) Tăng GDP (%) Tăng GDP đầu người (%) 1977 50,41 2,8 0,25 1978 51,42 2,3 0,28 1979 52,46 -2,0 -3,95 1980 53,72 -1,4 -3,71 1981 54,92 2,3 0,06 1982 56,17 8,8 6,40 1983 57,37 7,2 5,08 1984 58,45 8,3 5,80 1985 59,67 5,7 3,56 1986 61,11 6,5 4,34 1987 62,45 3,6 1,38 1988 63,73 6,0 3,81 1989 64,77 4,7 2,44 1990 66,23 5,1 3,24 1991 67,77 6,0 3,54 1992 69,41 8,6 6,39 1993 71,03 8,1 5,82 1994 72,51 8,8 6,61 1995 74,00 9,5 7,35 1996 75,52 9,3 7,20 1997 77,08 9,0 7,00 Tăng trung bình hàng năm (%) % % % 1986 – 1990 2,20 5,0 2,60 1991 – 1995 2,15 8,2 5,80 1996 – 1997 2,00 9,2 7,05 Nguồn: Tổng cục Thống kê. Niên giám thống kê qua các năm. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao thể hiện rõ nét ở hầu hết các ngành kinh tế then chốt. Hơn mười năm đổi mới, sản xuất nông nghiệp nước ta đã phát triển và đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các ngành, các vùng, góp phần quyết định vào thành công của sự nghiệp đổi mới. Thành công lớn nhất của nông nghiệp là sản xuất lương thực tăng nhanh, an toàn lương thực quốc gia được đảm bảo. Những năm qua, mặc dù thiên tai liên tiếp xảy ra, sản xuất lương thực Việt Nam chẳng những vượt đỉnh cao của những năm trước mà còn tạo ra xu hướng tăng trưởng ổn định, vững chắc, năm sau cao hơn năm trước trong suốt 10 năm liền. Sản lượng lương thực qua các năm như sau: Năm 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 Triệu tấn (quy thóc) 19,58 21,52 51,49 22,00 24,21 25,50 26,20 27,57 29,52 30,6 Sản lượng lương thực tăng bình quân hàng năm 1.29 triệu tấn với nhịp độ tăng bình quân 5.6% năm, cao nhất trong các nước khu vực châu á (1.8%) cũng như thế giới (1.7%). Mức lương thực bình quân đầu người từ 280 kg năm 1987 lên 402 kg năm 1997. Việt nam từ vị trí một nước thiếu lương thực triền miên trong nhiều thập kỷ, kéo dài, đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu của thế giới. Từ năm 1989 xuất khẩu gạo liên tục cho đến nay với quy mô bình quân 1.8 triệu tấn năm mà đỉnh là năm 1997 đã xuất khẩu 3.5 triệu tấn gạo, gấp 2.3 lần năm 1989. ở nông thông nước ta, tình trạng thiếu đói giáp hạt hoặc ăn sắn, khoai trừ bữ ở miền núi, trung du đã lùi về dĩ vãng. Mười năm với 20 vụ giáp hạt đã qua ở miền Trung, miền Bắc, nhưng chưa năm nào tình trạng thiếu lương thực diễn ra trên phạm vi rộng, kể cả những thiên tai dồn dập như lũ lớn năm 1996 và bão lớn năm 1997. Giá cả lương thực ổn định. Trong quá trình phát triển nông nghiệp đã hình thành các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung, chuyên canh với quy mô lớn như lúa ở đồng bằng sông Cửu Long, cà phê ở Tây Nguyên, cao su ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, cây ăn quả ở Nam Bộ và vùng núi phía Bắc, mía ở duyên hải Miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long, bò sữa ở ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Các vùng sản xuất hàng hoá tập trung có tỷ suất hàng hoá cao, chất lượng ngày càng tiếp cận với yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước. Trong đó có một số sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế như gạo, cà phê, cao su, hạt điều. Diện tích và sản lượng các giống lúa đặc sản, lúa thơm ngày càng tăng. Sức cạnh tranh và giá cả gạo xuất khẩu nước ta đã tăng lên đáng kể trên thị trường quốc tế. Nếu những năm 1989 – 1990 trong cơ cấu gạo xuất khẩu Việt Nam trên 80% là loại 25 – 35% tấm và loại gạo 5% tấm chỉ chiếm 3% thì những năm gần đây tỷ lệ gạo 5% tấm đã tăng lên trên 60%, gạo chất lượng tấm đã giảm dần, rút ngắn khoảng cách giá gạo Việt Nam với Thái Lan từ 50USD/ tấn xuống còn 20USD hiện nay. Sản lượng cà phê hạt năm 1988 mới có 31.3 ngàn tấn. Năm 1997 đã lên tới 315 ngàn tấn, gấp hơn 10 lần năm 1988. Chất lượng và giá cả cà phê Việt Nam hiện nay không còn khoảng cách khá xa so với cà phê Indônêxia và Braxin. Trên các vùng chuyên canh tập trung nông nghiệp Việt Nam đang hình thành mô hình trang trại sản xuất, kỹ thuật hiện đại hơn, gắn sản xuất với chế biến và xuất khẩu, tạo ra những tiền đề cơ bản để phát triển nông nghiệp hàng hoá gắn với thị trường xuất khẩu. Nông nghiệp Việt Nam đang tăng trưởng theo hướng xuất khẩu. Giá trị nông sản xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước liên tục trong hàng chục năm với nhịp độ tương đối cao, hơn hẳn nhịp độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp nói chung, do vậy, tỷ lệ xuất khẩu hàng năm của nông nghiệp đã không ngừng tăng lên. Công nghiệp, nhờ đổi mới cơ chế quản lý và tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, đã phát triển nhanh và ổn định với tốc độ cao. Thời kỳ 1986 – 1990 công nghiệp có nhịp độ tăng trường bình quân hàng năm là 5.9%, thời kỳ 1991 – 1997 nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm đã lên tới mức kỷ lục là 13.7%, trong đó khu vực Nhà nước (kể cả liên doanh dầu khí) tăng 15%, khu vực ngoài quốc doanh tăng 10,6%, doanh nghiệp tư nhân tăng 64,3% hộ cá thể tăng 12,7%. Hơn 10 năm đổi mới, công nghiệp Việt Nam đã có thêm nhiều ngành nghề mới và sản phẩm mới, năng lực sản xuất mới và công nghệ mới, tiếp thu được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệp tổ chức và quản lý công nghiệp hiện đại trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế như: Khai thác dầu khí, sản xuất sắt, thép, xi măng, lắp ráp và sản xuất ô tô, xe máy, hàng điện tử, bưu chính viễn thông, công nghệ thực phẩm,…. Nhiều mô hình nhà máy, công xưởng, cơ sở sản xuất hiện đại, phù hợp với đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế đã ra đời, chẳng hạn như khu công nghiệp điện tử Orion - Hanel (Hà nội), khu công nghiệp vi sinh sản xuất bột ngọt Vedan, các nhà máy lắp ráp sản xuất ô tô, xe máy, điện tử. Hàng loạt khu công nghiệp ra đời khắp cả nước, đặc biệt ở một số tỉnh thành phố phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Sống Bé... Các ngành thuộc khu vực dịch vụ như Bưu chính viễn thông, du lịch, vận tải, thương mại, giáo dục, y tế... Cũng tăng trưởng với nhịp độ cao trong thời kỳ đổi mới và đang có chuyển biến tiến bộ cơ bản về chất lượng, phong phú đa dạng về loại hình. Cơ cấu của nền kinh tế đã có sự chuyển dịch rõ rệt nhất là cơ cấu ngành. Tỷ trọng công nghiệp (kể cả xây dựng) trong GDP từ 22.6% năm 1990 lên 31.7% năm 1997, khu vực dịch vụ từ 38.59% năm 1990 lên 42.0% năm 1997, khu vực nông nghiệp (cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) đã giảm mạnh, từ 38.74% năm 1990 xuống còn 25.7% năm 1997. Đây là sự chuyển dịch cơ cấu đúng hướng và phù hợp với yêu cầu thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Về cơ cấu vùng, đang diễn ra xu hướng ngày càng tập trung vào các trung tâm công nghiệp lớn là thành phố Hồ Chí Minh và miền Đông Nam Bộ, thành phố Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ. Những trung tâm này thu hút nhiều nhà máy lớn có công nghiệp hiện đại, quy mô vừa và lớn, sản xuất ra hầu hết các sản phẩm quan trọng và thiếu yếu nhất của ngành công nghiệp chế biến. Từ năm 1986, nhất là thời kỳ 1991 - 1997 nền kinh tế Việt Nam bắt đầu có tích luỹ từ sản xuất trong nước, với tỷ lệ tích luỹ/ GDP tăng dần: 5.1% năm 1990; 10.1% năm 1991; 13.8% năm 1992; 14.8% năm 1993; 17.8% năm 1995; 23% năm 1996; và 20.0% năm 1997. Kinh tế nông thôn vốn nặng về tự cấp, tự túc trước đây, nhưng gần đây đã có tích luỹ từ 7 đến 9% GDP mỗi năm: Nền kinh tế có tích luỹ đã làm tăng tiền lực nguồn vốn đầu tư tái sản xuất mở rộng lên trên 27% GDP những năm gần đây. Bộ mặt đất nước được đổi mới cùng với tăng trưởng kinh tế, theo hướng ngày càng tiến bộ, từng bước tiến lên văn minh và hiện đại. Đời sống nhân dân được cải thiện cả ở thành thị và nông thôn. ở thành thị, con số những hộ có thu nhập tương đối cao, ngoài chi tiêu cho đời sống hàng ngày còn tích luỹ, mua bất động sản, xây nhà hoặc mua sắm đồ dùng lâu bền như ti vi, xe máy, máy điều hoà nhiệt độ nhà ở, máy giặt, bếp ga, lò vi sóng... Ngày càng tăng. Riêng tổng số tiền các hộ dùng mua đất, xây nhà theo điều tra của Tổng cục Thống kê, năm 1991 đã tăng 24.3% só với năm 1990 và năm 1992 tăng 20% so với năm 1991. ở khu vực nông thôn, sau chín năm được mùa liên tục, đời sống nông dân nói chung có bước cải thiện đáng kể. So sánh số liệu kết quả điều tra giàu nghèo năm 1993 và năm 1989 thì năm 1993, không những số hộ có thu nhập cao đã tăng lên mà thu nhập thực tế của hộ nghèo cũng cao hơn và tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 55% năm 1989 xuống còn 19.99% năm 1993. Đời sống nhân dân còn được cải thiện do việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ cho nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Trong tổng số 8791 xã của cả nước thì đã có 60,4% số xã có điện; 87,9% số xã có đường ô tô; 93,2% số xã có trạm xá; 99,8% số xã có trường phổ thông cấp I, 72,6% số xã có trường phổ thông cấp II; 38,6% số xã có trạm truyền thanh. Trong tổng số 11,5 triệu hộ nông dân có 53,2% số hộ dùng điện, 66,2% số hộ dùng nước sạch, 57.6% số hộ có nhà kiên cố và bán kiên cố. (Điều tra năm 1993 của Tổng cục Thống kê). Công cuộc đổi mới những năm vừa qua đã cởi trói cho hơn chục triệu hộ nông dân khỏi sự ràng buộc của cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, sản xuất tập thể kém hiệu quả. Nhờ đó, sức sản xuất được giải phóng, cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp được tăng cường, quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất, khơi dậy tiền năng lao động và đất đai, tạo ra những động lực mới thúc đẩy sản xuất phát triển. Đáng chú ý là vai trò kinh tế hộ tự chủ kết hợp với kinh tế hợp tác và kinh tế quốc doanh đã được nâng lên một bước rất quan trọng, trở thành tác nhân chủ yếu trong sự tăng trưởng nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. 1.2. Thu nhập và phân hoá giàu nghèo. Thu nhập của dân cư tăng lên. Với sự tăng trưởng liên tục và tương đối cao của nền kinh tế hơn 10 năm đổi mới, nhất là những năm gần đây đều tăng trưởng cao, thu nhập bình quân đầu người một tháng đều tăng, năm sau cao hơn năm trước, tính chung cả nước, thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 1994 là 168,11 nghìn đồng; năm 1995 là 206.1 nghìn đồng, tăng 22.59% so với năm 1994; năm 1996 là 226 nghìn đồng, tăng 9.65% so với năm 1995. Thu nhập bình quân tăng hàng năm với tốc độ 16.15%. nếu loại trừ ảnh hưởng do yếu tố giá, thu nhập năm 1995 so với năm 1994 tăng gần 10%, năm 1996 so với năm 1995 tăng 5.5%. Thu nhập ở khu vực thành thị, nông thôn và bảy vùng sinh thái đều tăng. ở khu vực thành thị, thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 1994 là 225.07 nghìn đồng; năm 1995 là 313,60 nghìn đồng, tăng 22.95% so với năm 1994; năm 1996 là 349 nghìn đồng, tăng 11.41% so với năm 1995. Tốc độ tăng bình quân hàng năm 17%. ở khu vực nông thôn, thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 1994 là 141,14 nghìn đồng; năm 1995 là 172,5 nghìn đồng, tăng 22,22% so với năm 1994; năm 1996 là 187,89 nghìn đồng, tăng 8,92% so với năm 1995. Tốc độ tăng bình quân hàng năm là 15,4%. Nếu lấy thu nhập ở nông thôn hệ số là 1 thì thu nhập của hộ thuộc khu vực thành thị năm 1994 là 1.8 lần hộ nông thôn, tương ứng năm 1995 là 1.82% lần, năm 1996 là 1.86 lần. Tình hình thu nhập phản ánh qua bảng 2 cho thấy chỉ có ba vùng là mức thu nhập cao hơn mức bình quân chung cả nước và có tốc độ tăng bình quân hàng năm khá là: Tây Nguyên 16%, Đông Nam Bộ 17,32% và đồng bằng sông Cửu Long 15,5%. Đây là ba vùng có nhiều sản phẩm xuất khẩu với khối lượng lớn, tỷ suất nông sản hàng hoá tương đối cao: gạo, cà phê, cao su, hoa quả, thuỷ sản… Riêng Đông Nam Bộ có thu nhập cao nhất cả nước. Vùng đồng bằng sông Hồng thu nhập thấp hơn mức bình quân 16.95%, chỉ đứng sau tốc độ tăng của vùng Đông Nam Bộ. Vùng núi và trung du phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ có tốc độ tăng bình quân năm 14,4%, thấp nhất so với các vùng. Bảng 2: thu nhập bình quân một người một tháng chia theo vùng và qua các năm (tính theo giá thực tế hàng năm) Thu nhập (1000 đồng) So năm trước (%) Cả nước 168,11 206,10 226,70 112,59 110.00 1. Vùng núi và trung du phía Bắc 132,36 160,65 173,76 121,37 108.16 2. Vùng đồng bằng sông Hồng 163,34 201,18 223,30 123.17 111,00 3. Vùng Bắc Trung Bộ 133,00 160,21 174,05 120,46 108.64 4. Vùng duyên hải miền Trung 144,72 176,03 194,66 121,63 110.58 5. Vùng Tây Nguyên 19497,15 241,14 265,60 122,31 110.14 6. Vùng Đông Nam Bộ 275,34 338,91 378,05 123.09 111,55 7. Vùng đồng bằng sông Cửu Long 181,65 221,96 242,31 122.19 109,17 Nguồn: Tổng cục Thống kê. Kết quả điều tra hộ gia đình đa mục tiêu năm 1994, 1995, 1996. Thu nhâp của hộ dân cư tăng do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do kinh tế tăng trưởng cao như đã trình bày ở trên. Sản xuất nông nghiệp tăng cả về diện tích và sản lượng do thâm canh tăng vụ và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, sản xuất ngành nghề và dịch vụ ngoài nông nghiệp từng bước mở rộng, nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển đã thu hút đang kể lực lượng lao động trong khu vực nông thôn. Do thu nhập tăng, đời sống vật chất, văn hoá của các tầng lớp dân cư được nâng lên. Năm 1994, là 1.8%; nhà bán kiên cố – 56.59%, tăng 3.29%; tỷ lệ hộ có vi deo, ti vi -38,69, tăng 16.8%; tỷ lệ hộ có máy thu thanh – 43,4%, tăng 7,6%; tỷ lệ hộ có mô tô, xe máy 19,54%, tăng 8,6%; tỷ lệ hộ dùng điện chiếm 62,36%. b. Sự phân cực giữa các nhóm dân cư về thu nhập đang tăng lên. Kết quả các cuộc điều tra hộ gia đình đa mục tiêu một số năm qua cho thấy, nhờ thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, thu nhập của hầu hết các hộ dân cư, kể cả nhóm nghèo, các vùng khó khăn, đều tăng lên, nhưng mức tăng của các hộ nghèo, vùng khó khăn chậm hơn các hộ giàu và các vùng có thuận lợi. Do vậy, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo chưa được thu hẹp mà đang tiếp tục dãn ra. Với cách phân chia tổng số hộ điều tra thành năm nhóm thu nhập từ thấp lên cao với số hộ bằng nhau theo thông lệ quốc tế (số hộ mỗi nhóm đều chiếm 20%) thì mức độ chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất (nhóm 5) với nhóm thu nhập thấp nhất (nhóm 1) đang ngày càng tăng lên. Tình hình này được phản ánh trong bảng sau. Bảng 3: thu nhập bình quân đầu người một tháng chia theo năm nhóm thu nhập, mỗi nhóm 20% số hộ. Năm 1994 Bình quân chung (1000đ) Chia theo nhóm thu nhập (1000 đồng) Số lần chênh lệch giữa nhóm 5 và nhóm 1 1 2 3 4 5 6 7 8 cả nước - Miền núi và trung du Bắc Bộ - Đồng bằng Bắc Bộ - Bắc Trung Bộ - Duyên hải miền Trung - Tây Nguyên - Đông Nam Bộ - Đồng bằng sông Cửu Long Năm 1995 Cả nước - Miền núi và trung du Bắc Bộ - Đồng bằng Bắc Bộ - Bắc Trung Bộ - Duyên hải miền Trung - Tây Nguyên - Đông Nam Bộ - Đồng bằng sông Cửu Long Năm 1996 Cả nước - Miền núi và trung du Bắc Bộ - Đồng bằng Bắc Bộ - Bắc Trung Bộ - Duyên hải miền Trung - Tây Nguyên - Đông Nam Bộ - Đồng bằng sông Cửu Long 168.1 32.4 163.3 133.0 144.7 197.2 275.3 181.7 206.1 106.7 201.2 160.2 176.0 241.1 338.9 222.0 226.7 173.8 223.3 174.1 194.7 265.6 378.1 242.3 3.0 7.6 6.3 7.2 3.1 3.1 3.7 1.8 4.3 9.4 6.3 6.7 4.7 3.8 15.4 8.2 8.6 3.2 9.9 8.9 0.1 6.4 18.6 9.5 9.0 6.9 01.9 5.7 5.5 0.9 53.2 11.5 24.7 12.6 26.6 05.0 24.8 16.6 86.4 38.0 34.9 120.9 38.6 13.5 34.0 126.9 209.3 151.5 33.2 14.5 33.2 11.7 24.2 37.3 10.2 47.8 66.7 50.2 64.9 35.5 59.1 75.4 45.8 88.6 84.4 64.7 81.4 48.8 72.2 83.9 91.2 08.5 86.0 58.2 82.1 46.9 64.8 14.2 98.6 02.8 27.6 96.2 20.1 75.0 03.0 56.6 53.5 57.4 50.2 16.0 34.2 84.9 23.1 79.0 15.6 74.9 408.5 301.1 367.8 299.7 309.0 506.0 693.6 436.6 519.6 394.0 468.1 382.2 408.5 683.3 873.1 560.6 574.7 444.3 523.1 408.7 454.7 24.1 934.7 576.2 6.5 5.2 5.6 5.2 4.9 10.1 7.4 6.1 7.0 5.7 6.1 5.7 5.5 12.7 7.6 6.4 7.3 6.1 6.6 5.9 5.7 12.8 7.9 6.4 Nguồn: Tổng cục thống kê - Chuyên san kinh tế 1997 -1998 -thời báo kinh tế Việt Nam, hà nội 1998 Hệ số chênh lệch thu nhập giữa người giàu (nhóm 5) và người nghèo (nhóm 1) bình quân hàng năm là 6.39 lần. Trong báo cáo phát triển con người của chương trình phát triển của Liên Hợp quốc (UNDP), thu nhập của 20% số hộ giàu nhất so với 20% số hộ nghèo nhất của Thái Lan là 8,3 lần. Malaixia -11.7 lầm, Singapor-9.6 lần, Philippin -7.4 lần, Indônêxia -4.9 lần. Trung quốc -6.5 lần, Hồng Công -8.7 lần, ấn độ -4.7 lần, Việt Nam -4.7 lần (năm 1993). Như vậy, chênh lệch thu nhập giữa người giàu và người nghèo của việt nam thấp nhất so với các nước xung quanh trong khu vực. Kết quả điều tra cũng cho thấy ở nước ta, mức độ phân hoá giàu nghèo ở thành thị nhanh hơn ở nông thôn, vùng đồng bằng nhanh hơn miền núi. Vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long có mức độ phân hoá nhanh hơn các vùng khác. Để thấy rõ mức độ chênh lệch về thu nhập trong các nhóm dân cư, có thể phân tổ và so sánh giữa các hộ nghèo và hộ giàu với tỷ lệ nhỏ hơn. * So sánh 5% số hộ có mức thu nhập cao nhất với 5% số hộ có mức thu nhập thấp nhất thì mức độ chênh lệch về thu nhập cao hơn so với 20% số hộ nói trên. Năm 1994 là 15.1 lần, năm 1995 là 15.4 lần, năm 1996 là 15.1 lần. Trong đó, vùng có mức chênh lệch lớn nhất là Tây Nguyên: 15.1; 15.7; 17.4: Đông Nam Bộ: 17.8; 17.4%; 18.9 tương ứng với các năm nói trên. * So sánh 2% số hộ có mức thu nhập cao nhất với 2% số hộ có mức thu nhập thấp thì mức độ chênh lệch giữa các nhóm thu nhập lại còn lớn hơn nữa. Năm 1994 là 26.4 lần, năm 1995 là 26.5 lần, năm 1996 là 27.3 lần. Trong đó, vùng có mức chênh lệch lớn nhất vẫn là Tây nguyên: 38.2; 36.8%; 37.8%; vùng Đông Nam Bộ: 36.2%; 35.1; 34.6 tương ứng với các năm. Nhìn chung, đời sống của các tầng lớp dân cư được cải thiện, thu nhập năm sau cao hơn năm trước, tuy nhịp độ tăng có giảm đi. Để phản ánh sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập giữa các nhóm dân cư, người ta thường dùng hệ số Gini, một trong những chỉ số thông dùng nhất của phân bố thu nhập. Hệ số Gini nhận giá trị từ 0 đến 1 và tăng cùng với mức độ của sự bất bình đẳng. Nó có giá trị 1 trong trường hợp có sự bất bình đẳng tuyệt đối và giá trị 0 trong trường hợp có sự bình đẳng tuyệt đối. Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế nước ngoài thì hệ số Gini của Thái Lan năm 1981 là 0.453; năm 1988 là 0.479; Inđônêxia năm 1990 là 0.321, năm 1993 là 0.335, năm 1996 là 0.356; Philippin năm 1971 là 0.478, năm 1985 là 0.446, năm 1988 là 0.445; Đài loan năm 1960 là 0.440, năm 1970 là 0.330, năm 1980 là 0.289, năm 1990 là 0.296; Hàn Quốc năm 1970 là 0.357, năm 1980 là 0.313, năm 1990 là 0.301. ở Việt Nam, căn cứ vào số liệu điều tra hộ gia đình đa mục tiêu năm 1994, 1995, 1996, các nhà nghiên cứu ở tổng cục Thống kê đã tính hệ số Gini Việt Nam năm 1994 là 0.3730, năm 1995 là 0.3599, năm 1996 là 0.3671. Cũng theo nguồn tài liệu nêu trên thì tỷ trọng thu nhập của 40% số hộ có thu nhập thấp chiếm trong tôngr thu nhập của tất cả hộ gia đình điều tra năm 1994 là 20%, năm 1995 là 21.09%, năm 1996 là 20.97%. Căn cứ vào tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới phân bố thu nhập của xã hội được coi là bất bình đẳng lớn nếu tỷ trọng thu nhập của xã hội được coi là bất bình đẳng lớn nếu tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhỏ hơn 12% tổng thu nhập của tất cả các hộ, được coi là bất bình đẳng vừa nếu tỷ trọng này nằm trong khoảng 12 đến 17%, được coi là tương đối bình đẳng nếu tỷ trọng trên lớn hơn 17% tổng thu nhập của tất cả các hộ. So sánh với tiêu chuẩn trên thì phân phối thu nhập của nước ta là tương đối bình đẳng. Tuy nhiên, hệ số Gini vẫn cho thấy sự bất bình đẳng đã tăng lên trong thời kỳ 1995 - 1996 so với thời kỳ 1994 - 1995 Phân chia theo khu vực nông thôn và thành thị, chênh lệch về thu nhập cũng khá lớn, tuy nhiên mức độ chênh lệch đang có xu hướng giảm dần. Nếu năm 1994 thu nhập bình quân đầu người của nông thôn so với thành thị là 55.3% thì năm 1995 giảm xuống còn 55.0% và năm 1996 giảm xuống còn 53.8%. So sánh thu nhập đầu người của bảy vùng sinh thái, chênh lệch cũng đang có xu hướng tăng lên. Vùng núi và trung du Bắc bộ có mức thu nhập bình quân đầu người thấp nhất, tiếp đến là vùng Bắc Trung Bộ, vùng duyên hải Miền Trung, vùng đồng bằng bắc Bộ. Có ba vùng thu nhập cao hơn mức bình quân chung của cả nước là Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long. So sánh vùng có thu nhập đầu người cao nhất là Đông Nam Bộ với vùng có thu nhập đầu người thấp nhất là vùng núi và trung du Bắc Bộ thì năm 1994 gấp 2,08 lần, năm 1995 gấp 2,11 lần, năm 1996 gấp 2,18 lần. Những sự chênh lệch về thu nhập trên đây giải thích tại sao mấy năm nay tình trạng di dân tự do tăng lên từ nông thôn ra thành thị, từ vùng núi và trung du Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Mức độ chênh lệch về thu nhập tăng là do nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân thuộc về chuyển đổi cơ chế kinh tế là nguyên nhân tổng quát, chủ yếu bởi lợi ích kinh tế đã là động lực kích thích những người có vốn, có sức lao động, có tài năng hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập cho bản thân, cho gia đình và cho xã hội. Song chênh lệch gia tăng còn do nhiều nguyên nhân cụ thể khác nữa. Bước vào cơ chế thị trường, khu vực thành thị có điều kiện tiếp cận với thị trường nhiều hơn, có kiến thức hơn. Hơn nữa, thành thị là nơi tập trung các hoạt động công nghiệp và dịch vụ là những hoạt động có năng suất, hiệu quả và tốc độ tăng trưởng cao hơn. Mặt khác, cảnh kéo giá cả giữa nông lâm thuỷ sản và hàng công nghiệp, dịch vụ thường không có lợi cho nông dân. Mức giá hàng nông nghiệp cũng thường tăng thấp hơn giá hàng công nghiệp và dịch vụ. Đối với các vùng sinh thái, chênh lệch thu nhập chủ yếu do điểm xuất phát cao thấp khác nhau, cộng với tốc độ phát triển cao hơn ở những vùng có điều kiện thuận lợi hấp dẫn đầu tư nước ngoài (vùng Đông Nam Bộ) hoặc có điều kiện tự nhiên phát triển các nông sản xuất khẩu (gạo ở đồng bằng sông Cửu Long; cà phê, cao su ở Tây Nguyên). Đối với các nhóm thu nhập, những người thuộc diện đói nghèo thu nhập thấp, mặc dù được chương trình xoá đói giảm nghèo hỗ trợ, vẫn còn nhiều hộ có hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật, neo đơn, đông con, thiếu vốn, không biết cách quản lý sản xuất và chi tiêu. Trong nhóm thu nhập cao nhất có nhiều người giỏi có vốn liếng, biết cách làm ăn trong cơ chế thị trường, nhiều người làm các chức danh quản lý cho các doanh nghiệp nước ngoài hoặc văn phòng đại diện nước ngoài, song cũng có không tí người giàu lên do làm ăn bất chính, tham nhũng, buôn gian bán lận mà giàu lên nhanh chóng. Nguyên nhân bao trùm là quan hệ phân phối trong xã hội còn nhiều bất hợp lý, làm tăng nhanh khoảng cách chênh lệch về thu nhập và về trình độ phát triển giữa các tầng lớp nhân dân và gữa các vùng. Đời sống của một bộ phận dân cư ở miền núi, vùng nông thôn sâu, vùng xa, một số vùng độc canh lúa, nhất là các vùng gần đây bị thiên tai nặng còn nhiều khó khăn, ít được cải thiện. Chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng sinh thái, giữa các tầng lớp dân cư ngày càng tăng thêm, trong đó nổi lên tình trạng làm giàu bất chính, phi pháp trong xã hội chưa bị đẩy lùi. 2.Thực trạng đói nghèo ở Việt Nam. 2.1. Việt Nam được xếp vàp nhóm các nước nghèo của thế giới. Tỷ lệ đói nghèo của Việt Nam còn khá cao. Theo kết quả điều tra mức sống sân cư (theo tiêu chuẩn chung của quốc tế), tỷ lệ đói nghèo năm 1998 là trên 37% và ước tính năm 200 là 32% (giảm khoảng 50% tỷ lệ hộ nghèo năm 1990). Nếu tính theo chuẩn đói nghèo về lương thực thực phẩm năm 1998 là 15% và năm 2000 là 13%. Theo chuẩn nghèo của chương trình xoá đói giảm nghèo quốc gia mới, năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2% tổng số hộ nghèo trong cả nước. Nghèo đói phổ biến những hộ có mức sống thấp, thu nhập thấp và bấp bênh. Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm tỷ lệ nghèo đói, tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng, những thành tựu này vẫn còn rất mong manh. Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo đói. Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp, với điều kiện nguồn lực rất hạn chế, thu nhập của người nghèo rất bấp bênh. Mức sống cải thiện thu nhập của người nghèo chậm so với mức sống chung và đặc biệt so với nhóm có thu nhập cao do đó càng làm tăng khoảng cách thu nhập giữa các nhóm dân cư. Những tỉnh nghèo nhất hiện nay, cũng chỉ là tỉnh xếp thứ hạng thấp nhất trong cả nước về chỉ số phát triển con người và kinh tế. 2.3. Nghèo đói tập trung ở các vùng điều kiện sống kém. Đa số các người nghèo sống trong vùng tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Đối với các vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung, sự biến động của thời tiết khiến cho các điều kiện sinh sống và sản xuất, của người dân thêm khó khăn. Đặc biết, sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở cảu các vùng nghèo làm cho cá vùng này bị tách biệt với các vùng khác, năm 2000 tình trạng của 1780 xã đặc biệt khó khăn và xã biên giới như sau: 20%- 30% số xã chưa có đường dân sinh đến trung tâm xã; 40% xã nghèo chưa có đủ phòng học, 5% số xã chưa có trạm y tế. 55% số xã chưa có nước sạch; 50% số xã chưa đủ công trình thuỷ lợi nhỏ, 40% số xã chưa có đường bưu điện đến trung tâm xã, 20% số xã chưa có chợ hoặc cụm xã. Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người trong diện cứu trợ đột xuất khá cao, khoảng 1- 1,5 triệu người. Bình quân hàng năm số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ thoát khỏi đói nghèo vẫn còn lớn. 2.4.Đói nghèo tập trung trong khu vực nông thôn: Nghèo đói là hiện tượng phổ biến trong nông thôn với hơn 90% số người nghèo đói sinh sống ở nông thôn. Năm 1999 tỷ lệ nghèo đói về lương thực thực phẩm ở thành thị là 4,6%, nông thôn là 15,9%. Trên 80% số người nghèo là nông dân trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận các nguồn lực trông sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn do điều kiện địa lý và chất lượng sản phẩm kém. Những nông dân nghèo không có điều kiện tiếp xúc với hệ thống thông tin, khả năng chuyển đôỉ phi nông nghiệp còn hạn chế. Nghèo đói trong khu vực thành thị: Trong khu vực thành thị, tỷ lệ đói nghèo thấp hơn, mức sống cao hơn, tuy nhiên mức độ cải thiện mức sống không đồng đều. Trong thời gian qua, tình trạng cải thiện mức sống của lao động làm việc trong khu vực kinh tế Nhà nước không có vốn đầu tư nước ngoài nhanh hơn khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ sở hữu trong khu vực Nhà nước dẫn đến sự mất việc làm của một bộ phận người lao động trong khu vực này. Kết quả là điều kiện sống càng khó khăn hơn đối với bộ phận dân cư làm việc trong doanh nghiệp Nhà nước bị dôi dư, phải chuyển sang làm cho ngoài quốc doanh với mức lương thấp và đối với những người không thể tìm được việc làm và trở thành thất nghiệp. Bên cạnh đó, tác động của quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá đã làm tăng luồng di dân tự do từ nông thôn đến các thành phố, bao gồm cả người trong độ tuổi lao động và trẻ em. Những người dân di cư này thông thường không có hộ khẩu, không có việc làm ổ định, không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nên thu nhập và đời sống bấp bênh. Các chi phí của họ cũng bị tốn kém hơn do không có điều kiện sử dụng các dịch vụ xã hội cơ bản của Nhà nước(y tế, giáo dục...). III. đánh giá tổng quan về mối quan hệ. Những thành tựu đạt được. 1.1. Về kinh tế Trong những năm đầu đổi mới, thành công lớn nhất là đã chuyển đổi cơ bản cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nước. Quá trình này không những khắc phục đợc những khó khăn mà còn đạt được nhịp độ tăng trưởng về kinh tế. Tổng sản phẩm trong nước năm 1990 tăng 5,1%, năm1991 tăng 6,0%, từ năm1992 tăng 8%, từ năm 1995 tăng 9,54%... Nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao thể hiện rõ nét ở các ngành kinh tế then chốt. Thành công lớn nhất của nông nghiệp là sản xuất lương thực tăng nhanh, an toàn lương thực quốc gia được đảm bảo. Sản lượng lương thực tăng bình quân hàng năm 1,29 triệu tấn với nhịp độ tăng bình quân 5,6% năm cao nhất trong các nước khu vực Châu á. Mức lương thực bình quân đầu người từ 280kg năm 1987 lên 402kg năm 1997. Việt Nam từ một nước thiếu lương thực triền miên trong nhiều thập kỷ, nay đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu Thế giới. Nông nghiệp Việt Nam đang tăng trưởng theo hướng xuất khẩu. Giá trị nông sản xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước liên tục trong hàng chục năm với nhịp độ tương đối cao hơn hẳn nhịp độ tăng sản xuất nông nghiệp nói chung, do vậy, tỷ lệ xuất khẩu hàng năm của nông nghiệp đã không ngừng tăn lên. Công nghiệp đã phát triển nhanh và ổn định với tốc độ cao, năm 1991-1997, nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm đã lên tới mức kỷ lục là 13,7%. Hơn 10 năm đổi mới, công nghiệp Việt Nam đã có thêm nhiều ngành nghề mới và sản phẩm mới, năng lực sản xuất mới và công nghiệp mới tiếp thu được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến... Nhiềy mô hình nhà máy, công xưởng, cơ sở sản xuất hiện đại, phù hợp và đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế đã ra đời. Hàng loạt các khu công nghiệp ra đời khắp cả nước, đặc biệt là một số tỉnh thành phố phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương... Các ngành thuộc khu vực dịch vụ như: Bưu chính viễn thông, du lịch, vận tải, thương mại, giáo dục, y tế... cũng tăng trưởng với nhịp độ cao trong thời kỳ đổi mới và đang có chuyển biến, tiến bộ cơ bản về chất lượng, phong phú đa dạng về loại hình. Về xoá đói giảm nghèo. a. Nguồn lực cho công tác xoá đói giảm nghèo và tạo việc làm được tăng cường. Mặc dù ngân sách Nhà nớc còn hạn hẹp, song Nhà nước đã đầu tư cho các chương trình quốc gia phục vụ xoá đói giảm nghèo thông qua chương trình 133 và chương trình 135. Từ khi có chủ trương xoá đói giảm nghèo năm1992 đến nay, Nhà nước đã đầu tư thông qua các chương trình quốc gia có liên quan đến mục tiêu xoá đói giảm nghèo khoảng 21 nghìn tỷ đồng. Riêng trong hai năm 1999 và 2000 gần 9600 tỷ đồng( ngân sách Nhà nớc đầu tư trực tiếp cho chương trình 3000 tỷ đồng; lồng ghép các chương trình, dự án khác: trên 800 tỷ đồng; huy động từ cộng đồng: trên 300 tỷ đồng, nguồn vốn tín dụng cho vay ưu đãi hộ nghèo trên 5500 tỷ đồng). Ngân hàng người nghèo đã được thành lập nhằm cung cấp tín dụng ưu đãi cho người nghèo. Nguồn vốn huy động của cộng đồng dân cư, các tổ chức và cá nhân trong nước cũng tăng đáng kể. Tổng nguồn vốn cho người vay đạt 5500 tỷ đồng. Ngoài ra Nhà nước còn có sự hỗ trợ đáng kể cho đời sống đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn với số tiền khoảng 60 tỷ đồng và cho gần 90000 hộ vay vốn sản xuất không phải trả lãi. Công tác định canh, định cư, di dân kinh tế mới cũng đợc nhà nước quan tâm đầu tư và hỗ trợ kinh phí, trong các năm gần đây ngân sách trung ương đã trích trên 500 tỷ đồng để sắp xếp và ổn định cuộc sống cho các gia đình định canh, định cư, di dân xây dựng kinh tế mới. b. Tỷ lệ các xã không có hoặc thiếu cơ sở hạ tầng thiết yếu đã giảm dần. Trong hai năm 1999 và 2000 đã đầu tư 6500 cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo ( trong đó ngân sách Nhà nước đầu tư trực tiếp cho 1200 xã năm 1999 và 1870 xã năm 2000, ngân sách địa phương đầu tư cho 650 xã, bình quân mỗi xã được xây dựng 2,5 công trình. Ngoài ra các địa phương đã huy động được trên 17 triệu ngày công lao động của nhân dân tham gia xây dựng các công trình, huy động đóng góp bằng tiền và hiện vật trong nhân dân với giá trị hàng chục tỷ đồng. Đến tháng 4/2001 đã có trên 5000 công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. c. Ngoài việc hỗ trợ về nguồn vốn cho công tác xoá đói giảm nghèo, Nhà nước còn chú trọng đào tạo nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác xáo đói giảm nghèo. Đến cuối năm 2000 đã có 1798 xã thuộc 22 tỉnh, thành phố có các bộ phận chuyên trách xoá đói giảm nghèo tại chỗ. Đây là các cán bộ nòng cột được trang bị kiến thức cơ bản để hướng dẫn người dân thực hiện chương trình trên địa bàn, góp phân thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo. d. Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách giải quyết việc làm, tạo cơ hội để ngời lao động có thể chủ động tìm hoặc tự tạo việc làm kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước và của cộng đồng. Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm được triển khai thực hiện đạt được nhiều kết quả. Các trung tâm xúc tiến việc làm, trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp của các ngành các cấp, các đoàn thể quần chúng đã hoạt động tích cực. Chính sách xoá đói giảm nghèo đợc sự hưởng ứng tích cực của các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội và bản thân người lao động, nhiều hoạt động cụ thể đã được triển khai giúp các hộ nghèo giảm bớt khó khăn, từng bước vươn lên thoát khỏi đói nghèo và ổn định cuộc sống. Trong khu vực nông nghiệp và nông thôn vẫn là nơi thu hút nhiều lao động nhất. Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 1,2 -1,3triệu lao động, trong đó khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác và hợp tác xã thu hút khoảng 90%. Trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn và ngay trong những năm kinh tế bị giảm sút, Việt Nam đã thực hiện mạnh mẽ hơn các chính sách bảo đảm xã hội, nhất là vấn đề xoá đói giảm nghèo, lao động và việc làm, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, người tàn tật, trẻ em lang thang cơ nhỡ, ổn định đời sống cho các đối tượng xã hội. Đời sống dân cư nhiều vùng được cải thiện rõ rệt, nghèo đói giảm ở cả nông thôn và thành thị, giảm cả ở người kinh và dân tộc thiểu số. Nhất là vùng nông thôn ngoại vi các thành phố, thị xã và cả những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai phì nhiêu. Mức tiêu dùng bình quân đầu người tính theo giá hiện hành tăng từ 2,6 triệu đồng năm 1995 lên 4,3 triệu đồng năm 2000. Những tồn tại. 2.1. Về kinh tế. Quá trình đổi mới đã mang lại những kết quả đáng khích lệ tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi cơ bản, những khó khăn và trở ngại vẫn còn rất lớn, nếu không sớm khắc phục thì không những không đẩy mạnh quá trình đổi mới, mà quá trình đổi mới có thể bị chững lại. Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: “Trong khi đánh giá đúng thành tựu, chúng ta cần thấy rõ những tồn tại và yếu kém. Nước ta còn nghèo và kém phát triển chúng ta chưa thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, giành vốn cho đầu tư phát triển. Tình hình xã hội còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn đề cần giải quyết...”. Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất Thế giới. Tuy khoản nợ nước ngoài không thuộc diện cao so với các nước trong khu vực nhưng nếu tính bình quân đầu người, nợ nước ngoài của Việt Nam cao hơn thu nhập bình quân đầu người(GDP). Do lực lượng sản xuất nhỏ bé, trình độ khoa học, công gnhệ thất và chuyển biến châm, nguồn nhân lực có kiến thức tay nghề, năng lực quản lý còn ít nên năng suất lao động xã hội thấp và tăng chậm. Chất lượng sản phẩm và công trình xây dựng nhìn chung còn thấp, nhiều hàng hoá kém sức cạnh tranh với nước ngoài. Do thu nhấp, nên tiết kiệm vào đầu tư nội bộ thấp,tỷ lệ tiết kiệm mới chỉ ở mức dưới 20% GDP với quy mô nhỏ, hơn nữa tỷ lệ huy động cho đầu tư đạt thấp đang là trở ngại lớn cho phát triển kinh tế. Hiệu quả đầu tư vào sản xuất kinh doanh thấp, một bộ phận nguồn lực sử dụng cho tiêu dùng bị lãng phí, nhiều doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn làm ăn không có hiệu quả. Cơ cấu kinh tế tuy có bước chuyển dịch đúng hướng nhưng đạt hiệu quả thấp. Cơ cấu hàng xuất khẩu tuy có chuyển biến nhưng tỷ lệ xuất khẩu thô và nguyên liệu còn cao. Tăng trưởng kinh tế tuy đạt mức độ cao nhưng nguy cơ suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế là rất lớn do các yếu tố chiều rộng đã được khai thác đến gần giới hạn, trong khi đó áp lực về vốn đầu tư và công nghệ là rất lớn, khả năng đáp ứng hạn chế. 2.2. Về xã hội. Nhịp độ tăng dân số cao gây áp lực lớn về giải quyết việc làm. Chất lượng giáo dục đào tạo thấp, công tác giáo dục ở những vùng xa, vùng sâu, miền núi còn rất nhiều khó khăn. Hệ thống khám và chữa bệnh bị xuống cấp cả về chất lượng và số lượng. Các hoạt động văn hoá không lành mạnh và tệ nạn xã hội gia tăng. Tỷ lệ người nghèo, hộ nghèo còn cao, phân hoá giầu nghèo còn cao, mức chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư còn khá lớn. Chương 3 các giải pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam đến năm 2010. I. các mục tiêu cơ bản về tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xã hội ở Việt Nam. Mục tiêu về tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu tổng quát của nước ta đến năm 2010 là: Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, năng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành cề cơ bản, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao. Trong đó, mục tiêu cụ thể là: Đưa GDP năm 2010 lên ít nhất gấp đôi năm 2000. Năng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, một phần đáng kể nhu cầu sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu. ổn định kinh tế vĩ mô, cán cân thanh toán quốc tế lành mạnh và tăng dự trữ ngoại tệ, bội chi ngân sách, lạm phát, nợ nớc ngoài được kiểm soát trong giới hạn an toàn và tác động tích cực đến tăng trưởng. Tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt đến trên 30% GDP. Nhịp độ tăng xuất khẩu gấp trên 2 lần nhịp độ tăng GDP. Tỷ trọng trong GDP của nông nghiệp 16-17%, công nghiệp 40-41%, dịch vụ 42-43%. Tỷ trọng lao động nông nghiệp còn khoảng 50%. 2. Mục tiêu về phúc lợi xã hội. *Mục tiêu xoá đói, giảm nghèo. Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn, trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin và chuyển giao công nghệ, giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm... đối với những vùng nghèo, xã nghèo và nhóm dân cư nghèo. Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không có đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ỏ những vùng còn tiềm năng. Nhà nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi ngời dân vươn lên làm giầu chính đáng và giúp đỡ ngời nghèo. Thực hiện trợ cấp xã hội đối với những người có hoàn cảnh đặc biệt không thể tự lao động, không có người bảo trợ, nuôi dưỡng. Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo. Thường xuyên củng cố thành quả xoá đói, giảm nghèo. Nếu như các hộ ở miền xuôi chủ yếu nghèo vì các nguyên nhân nguyên nhân thiếu tư liệu sản xuất, thiếu vốn, thiếu kiến thức làm ăn... thì các hộ nghèo ở miền núi ngoài các nguyên nhân đó, còn bị chi phối bởi điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, địa hình phức tạp, cản trở, cơ sở hạ tầng thấp kém, môi trường bị suy thoái... Do vậy, ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, cần có những chương trình và mục tiêu toàn diện, lâu dài hơn, đặc biệt tập trung vào các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao, nơi có tỷ lệ nghèo cao nhất, nơi tập trung nhiều khó khăn nhất. * Mục tiêu về công bằng xã hội. Thực hiện tốt các chính sách xã hội hướng vào phát triển và lành mạnh hoá xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối, tạo động lực mạnh mẽ phát triển sản xuất, tăng năng xuất lao động xã hội thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, khuyến khích nhân dân làm giầu hợp pháp. Tiến tới thu hẹp khoảng cách về mức sống dân cư giữa các vùng, các dân tộc, các tầng lớp dân cư, đặc biệt là giữa nông thôn và thành thị. Hiện nay, khoảng cách giầu nghèo giữa nông thôn và thành thị có xu hớng dãn ra nhanh. Để đảm bảo rút ngắn khoảng cách chênh lệch về thu nhập, cần duy trì tốc độ phát triển cao của kinh tế đô thị và công nghiệp dịch vụ nhưng đồng thời phải chú trọng đẩy nhanh tốc độ phát triển của kinh tế nông thôn, nhất là các vùng nghèo. Đây chính là một mâu thuẫn rất khó giải quyết. Bài học thành công có tính phổ biến ở các nước đang phát triển là thực thi một chiến lược với mục tiêu công nghiệp hoá đi từ nông nghiệp và nông thôn. Mục tiêu giải quyết việc làm. * Mục tiêu giải quyết việc làm. Là mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển con người ở Việt Nam. Theo tính toán ban đầu số lao động cần giải quyết việc làm trong 5 năm 2001-2005 là 15triệu người, bao gồm: lao động mới tăng thêm mỗi năm khoảng 1,2 triệu và số lao động chưa được giải quyết việc làm từ 5 năm trước chuyển sang, trong khi đó ở nông thôn (tính theo ngày công quy đổi) khoảng 12,5 triệu người, ở thành thị khoảng 2,5 triệu người. Tính đến năm 2005, tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn vào khoảng 80%; tỷ lệ lao động chưa có việc làm ở thành thị chiếm khoảng 5,4% số lao động trong độ tuổi. Tiếp tục giảm tốc độ tăng dân số, sớm ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý( khoảng 88-89tr người vào năm 2010), giải quyết đồng bộ, từng bước và có trọng điểm chất lượng dân số, cơ cấu dân số và phân bố dân cư. Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổ định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân. Đến năm 2010, nước ta có 56,8 triệu người ở độ tuổi lao động, tăng gần 11 triệu người so với năm 2000. Để giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động, phải tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế đầu tư phát triển rộng rãi các cơ sở sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và phát triển thị trường lao động. Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội phù hợp với cơ cấu kinh tế. Chú trọng bảo đảm an toàn lao động. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Xây dựng và thực hiện đồng bộ, chặt chẽ cơ chế, chính sách về đào tạo nguồn lao động, gia công lao động ra nước ngoài, bảo vệ quyền lợi và tăng uy tín của người lao động Việt Nam ở nước ngoài. II. Giải pháp cơ bản về mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế, công bằng xã hội và xoá đói giảm nghèo. 1. Phương hướng giải quyết việc làm. Giải pháp cơ bản, bao trùm là phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực lại luôn luôn được gắn với chênh lệch phát triển kinh tế xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, chênh lệch phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta phải từng bước đợc điều chỉnh theo hướng CNH-HĐH. Điều đó đòi hỏi phải thay đổi cả về cơ cấu chất lượng cung lao động cho phù hợp với nhu cầu về lao động hay nhu cầu phát triển việc làm. -Đối với khu vực thành thị, phương hướng giải quyết việc làm tập trung vào hướng sau: +Gắn với chương trình phát triển các doanh nghiệp qui mô lớn, nhất là ở các địa bàn có điều kiện lập các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, các dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài để tạo việc làm có giá trị kinh tế cao và giá trị lao động cũng cao. + Phát triển các lĩnh vực, ngành nghề có khả năng thu hút được nhiều lao động. Trong đó, giải quyết việc làm khu vực phi chính thức, các doanh nghiệp nhỏ vừa hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. + Phát triển hình thức gia công sản xuất hàng hoá tiêu dùng cho xuất khẩu theo hướng đa dạng hoá, mặt hàng, trước hết là các mặt hàng có công nghệ sử dụng nhiều lao động như may mặc, da giầy, gốm sứ, lắp ráp điện tử... + Phát triển các cơ sở dịch vụ công cộng và sự nghiệp nhà ở trong các thành phố, thị xã. -Đối với khu vực nông thôn: ở nông thôn vấn đề cơ bản nhất cần giải quyết là nạn thiếu việc làm còn rất phổ biến, việc làm kém hiệu quả, thu nhập thấp dẫn đến đời sống thấp. Do vậy giải quyết việc làm cho lao động khu vực nông thôn một mặt để tăng thu nhập, mặt khác cũng qóp phần làm giảm sức ép về việc làm ở khu vực thành thị. Phương hướng cơ bản là: + Phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp, sử dụng nhiều lao động ở nông thôn nhưng cần ít vốn. + Khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống có giá trị kinh tế cao, các làng nghề gắn liền với đô thị hoá nhỏ nông thôn. + Tập trung vào những vùng có khả năng thu hút nhiều lao động (Đồng Tháp Mời, tứ giác Long Xuyên, Tây Nguyên...) Thực hiện những phương hướng cơ bản nói trên đòi hỏi phải có cơ chế chính sách khuyến khích tạo, mở việc làm trong các vùng, lĩnh vực và áp dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động, đặc biệt là chiến lược huy động và sử dụng vốn. 2. Chính sách điều hoà phân phối thu nhập. * Việt nam thực thi các chính sách khác nhau để điều tiết thu nhập, tránh gây ra sự chêch lệch quá lớn giữa các tầng lớp dân cư và giữa các vùng. Thông qua các hình thức tăng lương, chia lãi ở công ty, mức chênh lệch giữa các nhóm thu hẹp lại.Thời kỳ khôi phục kinh tế, Việt Nam chủ trương tập trung phát triển công nghiệp. Nhưng khi đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao, chính phủ chủ yếu chú ý đến việc phát triển vùng nông thôn, nhằm làm cho thu nhập của nông nghiệp. Chính sách của chính phủ là điều chỉnh lương thực, thực phẩm, trợ cấp giá nông sản...Chính phủ luôn điều hoà nguồn lợi lớn thu được trong kinh doanh để đa lại sự phân chia công bằng cho các cơ sở kinh doanh nhỏ, hỗ trợ cho các công ty có sức cạnh tranh. * Trợ cấp cho người thất nghiệp, người mất khả năng lao động hoặc thu nhập quá thấp, đánh thuế luỹ tiến vào những người có thu nhập cao là một cách điều hoà thu nhập mà cả người giầu lẫn người nghèo đều chấp nhận. Các biện pháp của chính phủ đã giúp cho các gia đình neo đơn khó khăn, giúp đỡ các gia đình có công với cách mạng, trợ giá cho nông sản, xoá đói giảm nghèo. Xóa đói giảm nghèo là một hoạt động có ý nghĩa thiết thực. Với nguồn ngân sách hỗ trợ từ Nhà nước, nguồn viện trợ các tổ chức quốc tế, bằng việc cung cấp các dịch vụ khoa học kỹ thuật, dịch vụ y tế, giáo dục, kế hoạch hoá gia đình số hộ nghèo đói đã giảm. Mặc dù Nhà nước có quan tâm, nhưng do nguồn tài chính có hạn cho nên kết quả thực hiện các chương trình để điều hoà thu nhập còn bị hạn chế. 3. Giải pháp về xoá đói giảm nghèo. * Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. Đây không còn là điều mới mẻ, nó đã được Đảng cụ thể hoá trong nghị quyết 5 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII. Tuy nhiên nền kinh tế của chúng ta hiện nay cơ cấu kinh tế vẫn còn phải tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chuyển hộ kinh tế thuần nông sang kinh tế thị trường, góp phần con người hoá, hiện đại hoá đất nước. Chúng ta có thể tiến hành một số giải pháp cụ thể sau: Thứ nhất: phải giúp các hộ nghèo, xã nghèo có kế hoạch sản xuất lương thực một cách hợp lý, như mở rộng phát triển nhiều loại cây trồng khác nhau, nhất là cây công nghiệp, chú trọng việc phát triển kinh tế vườn, ao, chuông. Thứ hai: là phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống, kết hợp vừa làm nông nghiệp vừa làm các nghề phụ khi hết thời vụ. Thứ ba: phát triển công nghiệp chế biến và dịch vụ gắn với đô thị hoá nông thôn. Đòi hỏi của nền kinh tế thị trường ngày một cao, do vậy để đáp ứng được nhu câù này chúng ta phải đầu tư cho nông sản để nâng cao sức cạnh tranh cho mặt hàng nay không chỉ là thị trường trong nước, mà còn là thị trường quốc tế. Đồng thời phát triển các dịch vụ về cung ứng vật tư, kỹ thuật sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Đây là một nội dung quan trọng để chuyển dich cơ cấu kinh tế, tiến tới xoá đói giảm nghèo, tuy nhiên để thực hiện nó có hiệu quả phải có các chính sách hỗ trợ về vốn, về thuế. * Các giải pháp về đất đai và tư liệu sản xuất cho các hộ nghèo. Đất với người nông dân là tư liệu quan trọng cho quá trình sản xuất, nhất là với những hộ nông dân nghèo. Chính phủ đã ban hành Luật đất đai từ năm 1993 đến nay đã có tác dụng đáng kể, tạo điều kiện cho các hộ không có đất được thuê mướn, các hộ có đất được đem bán hoặc cho thuê, đây là biện pháp linh hoạt giúp ngời dân thích nghi với kinh tế thị trường. Trong thời gian tới chúng ta cần phải bổ sung và hoàn thiện cơ chế này đực biệt là với vùng núi, nơi mà ngời dân chưa bỏ được các tập tục về quyền sở hữu và sử dụng tài nguyên đất, rừng. Chúng ta đồng thời phải khai hoang, lấn biển, tạo ra nhiều quỹ đất hơn không những để sản xuất lấy đất cho sản xuất mà còn để xây dựng cơ sở hạ tầng. ở những nơi quỹ đất thực sự thiếu thốn chúng ta có thể đầu tư cho nông dân tư liệu lao động để kiếm sống như thuyền, lới và các công cụ khác tuỳ thuộc vào điều kiện từng vùng. * Chính sách vay vốn đối với người nghèo. Cùng với đất đai và tư liệu sản xuất, vốn là nguồn lực rất quan trọng đối với nông dân nói chung, đặc biệt là với người nghèo. Ngày nay trong quy chế vay vốn của ngân hàng đã có nhiều điểm rất thông thoáng tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận được với tín dụng phát triển sản xuất. Song trong thời gian tới chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm để chương tình thực sự là bạn của nhà nông, trợ giúp họ trong công cuôc xoá đói giảm nghèo. Các ngân hàng cần có trách nhiệm hơn trong hỗ trợ người nghèo, đặc biệt trong những khoản vay với quy mô nhỏ. Mặc dù đã có chính sách vay vốn ưu đãi nhưng để có được nó nông dân còn rất nhiều gian khổ do ngân hàng không đi xuống thực tế, không hướng dẫn với bà con. Để phát huy tính ưu việt của chính sách cho ngời nghèo vay vốn cần có những hoạch định và quy định rõ ràng về vấn đề tạo nguồn vốn đồng thời đưa vốn đến tay nông dân một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc29939.doc
Tài liệu liên quan