Đề tài Cơ hội và các thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Qua nội dung trình bày trên, có thể thấy rõ là cơ hội và thách thức. Như vậy thì: ai là người đóng vai trò điều tiết hai mặt trên trong quá trình hội nhập quốc tế và làm thế nào để tranh thủ tận dụng các cơ hội và đối phó với những thách thức? Tôi nghĩ rằng không ai khác mà chính là Nhà nước phải phát huy vai trò và hiệu quả trong quản lý vĩ mô.

doc16 trang | Chia sẻ: ndson | Ngày: 25/04/2015 | Lượt xem: 662 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Cơ hội và các thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời nói đầu Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một trong những xu thế chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Những phát triển mạnh mẽ về khoa học và công nghệ đã góp phần đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới. Thương mại thế giới đã tăng lên nhanh chóng. Quá trình này thể hiện không chỉ trong lĩnh vực thương mại mà cả trong các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, tài chính, đầu tư cũng như các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi trường với các hình thức đa dạng và mức độ khác nhau. Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh giữa các quốc gia, không chỉ giữa nước giàu và nước nghèo mà còn ngay cả giữa các nước giàu với nhau nhằm giành vị trí có lợi nhất cho mình trong phân công lao động và quan hệ kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nước vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Hoà trong bối cảnh đó cùng với phương châm "đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ" và "là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển", Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước và hầu hết các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng. Với việc gia nhập ASEAN (7 - 1995), ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế với EU (7 - 1995), tham gia APEC (11- 1998) và đang chuẩn bị tích cực cho các cuộc đàm phán gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Việt Nam đã và đang từng bước vững chắc hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Hơn lúc nào hết, cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ là sự quan tâm của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức mà còn đối với mỗi cá nhân chúng ta, có rất nhiều các bài viết của các nhà nghiên cứu và các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước đề cập đến các khía cạnh khác nhau của quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là vấn đề rộng lớn, phức tạp và có nhiều biến động; có cả những nhận thức và quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Qua việc tham khảo tài liệu cùng với những kiến thức đã được lĩnh hội trong nhà trường, em đã lựa chọn đề tài "Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế" Nội dung của bài viết được trình bày trong ba phần: Phần 1: Nhận thức về hội nhập kinh tế Phần 2: Hội nhập kinh tế: thời cơ và thách thức. Phần 3: Doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế PHần 1: Nhận thức về hội nhập kinh tế Trong bối cảnh hiện nay, người ta đều thấy rằng, nhận thức về hội nhập vẫn là một vấn đề thời sự. Các quốc gia đều khẳng định cần xây dựng nhận thức thống nhất trong nội bộ rằng hội nhập là cần thiết, phù hợp với xu thế chung, nhất là tham gia WTO sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển của đất nước. - Hội nhập là một quá trình tất yếu, một xu thế bao trùm mà trọng tâm là mở cửa kinh tế, tạo điều kiện kết hợp tốt nhất nguồn lực trong nước và quốc tế, mở rộng không gian để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp nhất có thể trong quan hệ kinh tế quốc tế. Như vậy hội nhập vừa là đòi hỏi khách quan vừa là nhu cầu nội tại của sự phát triển kinh tế mỗi nước. Cần phải hội nhập sớm, nhất là tham gia WTO, để tranh thủ các cơ hội kinh doanh, để có tiếng nói trong quá trình hình thành luật lệ kinh tế, thương mại quốc tế có lợi cho mình. Hội nhập muộn sẽ phải chấp nhận nhiều quy định đã rồi, nghĩa vụ phải thực hiện sẽ lớn hơn và thời gian chuyển tiếp ngắn hơn. - Không thể né tránh việc hội nhập mà vấn đề then chốt là cần phải nhận thức trước, tính toán đầy đủ cái giá phải trả cho việc tổ chức và vận hành các hiệp định quốc tế, phải đề ra được những chính sách, biện pháp đúng để hạn chế trả giá ở mức thấp nhất và tranh thủ cao nhất những cơ hội để phát triển. - Hội nhập thực chất là tham gia cạnh tranh trên quốc tế và ngay trong thị trường nội địa. Để hội nhập có hiệu quả, phải ra sức tăng cường nội lực, cải cách và điều chỉnh cơ chế, chính sách, luật lệ, tập quán kinh doanh, cơ cấu kinh tế trong nước để phù với "luật chơi chung" của quốc tế. Điều này không có nghĩa là các nước bị ép phải cải cách, mở cửa, hội nhập nhưng thực ra cải cách, hội nhập là vì sự phát triển của mình. Chính sách hội nhập phải dựa và gắn chặt với chiến lược phát triển của đất nước, đồng thời cải cách kinh tế, hành chính phải gắn chặt với yêu cầu của quá trình hội nhập. Cải cách trong nước và hội nhập là "Con đường hai chiều". Cải cách bên trong quyết định tốc độ và hiệu quả hội nhập, đồng thời hội nhập sẽ hỗ trợ, thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, qua đó nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Cần phải nhận thức rằng dù có hội nhập hay không thì vẫn tiếp tục cải cách, cải cách mạnh hơn, nhanh hơn vì sự phát triển của mình. Điều quan trọng là phải duy trì ổn định chính trị, xã hội để phát triển kinh tế và hội nhập có hiệu quả. - Hội nhập không phải để được hưởng ưu đãi, nhân nhượng đặc biệt. Hội nhập là mở rộng các cơ hội kinh doanh, thâm nhập thị trường, có môi trường pháp lý và kinh doanh ổn định dựa trên quy chế, luật lệ của các thể chế hội nhập, không bị phân biệt đối xử, không bị các động cơ chính tị hay những lý do khác cản trở việc giao lưu hàng hoá, dịch vụ và đầu tư. Từ ổn định về thị trường, các nước sẽ có điều kiện thuận lợi để xây dựng kế hoạch đầu tư, sản xuất, kinh doanh ổn định dựa trên quy chế, luật lệ của các thể chế hội nhập, không bị phân biệt đối xử, không bị các động cơ chính trị hay những lý do khác cản trở việc giao lưu hàng hoá, dịch vụ và đầu tư. Từ ổn định về thị trường, các nước sẽ có điều kiện thuận lợi để xây dựng kế hoạch đầu tư, sản xuất, kinh doanh ổn định, giải quyết việc làm phát triển kinh tế. Ngoài ra, các nước có thể sử dụng những luật lệ, quy định, cơ chế giải quyết tranh chấp của các thể chế hội nhập để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. - Phải tăng cường thông tin, tuyên truyền, giải thích để giới kinh doanh nhận thức sâu sắc và ủng hội hội nhập, chuẩn bị thật tốt mọi mặt để chủ động hội nhập từng bước, tận dụng những lợi thế so sánh của mỗi nước để cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường. Đặc biệt quan tâm đến việc thông tin, giải thích cho doanh nghiệp và nhân dân, đặc biệt các thành phần bị ảnh hưởng bởi mở cửa và tự do hoá, về lợi ích của hội nhập và tham gia WTO. Cần tham khảo và thu hút giới doanh nghiệp tham gia xây dựng chính sách, lộ trình, các biện pháp hội nhập vì chính họ sẽ thực hiện các cam kết và bảo đảm hiệu quả của quá trình hội nhập. PHần 2: hội nhập kinh tế quốc tế - Thời cơ và thách thức 1. Hội nhập kinh tế quốc tế - Những cơ hội. - Hội nhập quốc tế tạo điều kiện để phát huy lợi thế so sánh, thúc đẩy việc tham gia vào phân công lao động quốc tế, tranh thủ được lợi ích của việc phân bổ nguồn tài lực hợp lý trên bình diện quốc tế từ đó phát huy cao độ nhân tố sản xuất hữu dụng của từng quốc gia. - Tự do hoá luân chuyển hàng hoá, dịch vụ và vốn với việc hạ thấp hàng rào thuế quan, đơn giản hoá trong khâu thủ tục, cắt giảm kiểm soát hành chính sẽ góp phần giảm chi phí sản xuất, đầu tư, tăng sản lượng, giảm thất nghiệp và tăng thêm lợi ích cho người tiêu dùng. - Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới, tăng nhanh vòng quay vốn và tạo điều kiện để đa dạng hoá các loại hình đầu tư nhờ đó vừa nâng cao hiệu quả vừa hạn chế rủi ro đầu tư. - Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao vốn, kỹ năng quản lý, qua đó mở rộng địa bàn đầu tư cho các nước phát triển, đồng thời giúp các nước tiếp nhận đầu tư có thêm nhiều cơ hội phát triển. 2. Hội nhập kinh tế quốc tế - Những thách thức. - Sự bất ổn định của thị trường tài chính quốc tế. Thực vậy, có sự khác biệt cơ bản giữa tư bản công nghiệp và tư bản tài chính, hay nói cách khác là khác biệt giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính. Các nhà đầu tư trực tiếp đã bỏ tiền đầu tư xây dựng nhà xưởng thì không dễ gì một sớm một chiều có thể rút lại vốn đầu tư. Trong khi đó, các nhà đầu tư tài chính có lợi thế linh hoạt hơn nhờ tính chuyển nhượng cao của chứng khoán. Mặt khác nguồn tài chính được phân bố không đồng đều, tập trung vào một số trung tâm tài chính lớn là các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới. Quá trình hội nhập những thách thức và cơ hội luôn làm cho dòng vốn chảy mạnh hơn, dễ dàng hơn và tất nhiên rủi ro sẽ lớn hơn. - Nguy cơ tụt hậu của một số quốc gia. Một số quốc gia tranh thủ được lợi ích của hội nhập mậu dịch quốc tế và thị trường tài chính quốc tế, phát huy được lợi thế so sánh, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng, mở rộng thương mại, thu hẹp dần khoảng cách với các nước phát triển, thì một số nước khác lại không có khả năng hội nhập vào quá trình phát triển thương mại, thu hút vốn đầu tư và kết cục tất yếu là sẽ bị đẩy lùi xa hơn nữa về phía sau. - Chính sách tiền tệ - tài chính của các nước yếu bị phụ thuộc vào chính sách của các nước mạnh. - Mối đe doạ của quá trình toàn cầu hoá đó chính là xu hướng hình thành thế độc quyền, tập trung quyền lực vào một số tập đoàn đầu sỏ quốc tế. Xu hướng sát nhập đang diễn ra mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới cận đại. Vậy thế thì đâu là điểm dừng của xu thế sát nhập này? Bởi lẽ nếu xu thế sát nhập tiếp tục gia tăng chắc chắn sẽ có tác động xấu đến "thị trường cạnh tranh hoàn hảo - nhân tố đã góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế trong suốt hàng thế kỷ qua. - Quá trình hội nhập khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, các nước nhất là đang phát triển phải giảm dần thuế và bỏ hàng rào phi quan thuế, nghĩa là bỏ hàng rào mậu dịch, thì các hàng hoá nước ngoài sẽ ồ ạt đổ vào, bóp chết hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. - Quá trình hội nhập làm tan vỡ các hàng rào bảo hộ của các quốc gia. Do vậy các quốc gia không chỉ chịu tác động tích cực của quá trình này mà còn phải chịu cả những chấn động của hệ thống kinh tế toàn cầu trong các lĩnh vực tiền tệ, tài chính, nguyên nhiên liệu… Các nước càng yếu kém, các chính sách kinh tế vĩ mô càng không đủ thông thoáng phù hợp với các định chế quốc tế, tệ tham nhũng và quan liêu càng nặng, hệ thống ngân hàng - tài chính càng lạc hậu… thì càng chịu tác động nặng nề hơn. - Quá trình hội nhập không chỉ có các lực lượng kinh tế tiến bộ tham gia vào quá trình này mà còn có cả các thế lực phản động, bọn mapha, các tổ chức khủng bố… Mạng lưới hoạt động của maphia hiện đang lan khắp toàn cầu, các đường dây buôn lậu ma tuý đã len lỏi đến cả các trường học. Các thế lực phản động cũng không bỏ lỡ thời cơ xâm nhập vào nước ta phá hoại chính sách đúng đắn là phải ngăn chặn, chống lại mọi hoạt động phá hoại. Nhưng không thể vì nó mà đóng cửa đất nước hay hạn chế sự hội nhập của đất nước vào quá trình toàn cầu hoá. - Ngoài ra, hội nhập với những thách thức và cơ hội còn nảy sinh những mặt tiêu cực khác nữa như: sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước giàu và nghèo có thể tăng lên, sự xung đột giữa các nền văn hoá khác nhau có thể xảy ra, các nước lớn có thể bị phân rã… Song những tác động tiêu cực này có thể lớn nhỏ đến đâu, điều đó lại tuỳ thuộc vào chính sách hội nhập quốc tế của các quốc gia. Một chính sách hội nhập quốc tế đúng đắn và thích hợp, thì tác hại của những mặt tiêu cực này sẽ bị hạn chế và ngược lại. Phần 3: doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 1. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Chúng ta đi vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trùng với thời điểm trên thế giới đang diễn ra những thay đổi to lớn về chính trị và kinh tế. Hoà bình, hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Các nước đều ưu tiên phát triển kinh tế, cần có môi trường hoà bình, ổn định và thực hiện chính sách mở cửa. Trong một thế giới ngày càng được toàn cầu hoá, bất cứ nước nào muốn không bị gạt ra ngoài dòng chảy phát triển, đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, điều chỉnh chính sách, giảm dần hàng rào quan thuế và dỡ bỏ hàng rào phi quan thuế, làm cho việc trao đổi hàng hoá, luân chuyển vốn, lao động, công nghệ và kỹ thuật trên phạm vi thế giới ngày càng thông thoáng hơn. Việt Nam không phải là ngoại lệ, vấn đề là phải chọn tiến trình hội nhập sao cho phù hợp với hoàn cảnh và quá trình phát triển của mình. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đã khởi xướng công cuộc đổi mới mà một trong những hướng quan trọng là mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế. Đại hội VII (1992), Đại hội VIII (1996) đã tiếp tục phát triển đường lối đổi mới của Đại hội VI, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ theo tinh thần: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, trang 130) nhằm đẩy mạnh quan hệ đối ngoại, phá thế bị bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời sống của cộng đồng quốc tế. Chủ trương này đã tạo điều kiện thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của ta. Chúng ta cũng nhận thức rõ hội nhập quốc tế thực chất là cuộc đấu tranh phức tạp để góp phần phát triển kinh tế và củng cố an ninh chính trị, độc lập kinh tế và bản sắc dân tộc của mỗi nước thông qua việc thiết lập các mối quan hệ tuỳ thuộc lẫn nhau, đan xen, nhiều chiều, ở nhiều tầng nấc với các quốc gia khác. Chính sách hội nhập quốc tế từng bước được hình thành trong quá trình triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII. Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã quyết định:"Nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước", xây dựng một nền kinh tế mở và đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Chúng ta đã nỗ lực thúc đẩy hợp tác với tất cả các nước và thể chế chính trị khác nhau. Chúng ta đã phá được thế bao vây cô lập về chính trị, cấm vận về kinh tế, thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 160 nước trong đó có tất cả các nước lớn, phát triển quan hệ thương mại với 130 nước và lãnh thổ. Đồng thời, chúng ta đã khai thông được quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế như IMF, WB và các tổ chức phát triển khác trong hệ thống liên hợp quốc. Chúng ta đã cố gắng cải cách quản lý kinh tế, bao gồm cả lĩnh vực pháp lý và xây dựng cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế. Bước phát triển tiếp theo là chúng ta tiếp tục thúc đẩy tiến trình hội nhập qua việc tham gia các tổ chức hợp tác kinh tế, thương mại khu vực và thế giới như ASEAN (7 - 1995), APEC (11 - 1998), Đàm phán thương mại Việt - Mỹ và tích cực chuẩn bị tham gia WTO. 2. Việt Nam với Hội nhập kinh tế quốc tế - Cơ hội và thách thức. 2.1. Về kinh tế Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những cơ hội để tăng cường sự phát triển của quốc gia. - Cơ hội để chuyên môn hoá sâu hơn qúa trình sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng ta có ưu thế cạnh tranh; nhập những sản phẩm trung gian và tiêu dùng với giá rẻ hơn. - Sự cạnh tranh tăng lên: những cải tiến công nghệ, tri thức được tăng lên cường qua nhập khẩu hoặc thực tế công việc, hạn chế tham nhũng và ăn chênh lệch giá. - Thương mại còn thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tạo thêm những cơ hội buôn bán mới do có nhiều sự tương đồng về văn hoá, luật pháp, quan hệ dân tộc và các hệ thống phân phối. - Tăng thu hút đầu tư và chuyển giao kỹ thuật, công nghệ cao từ các nước. - Tham gia các luồng tài chính và vốn quốc tế tạo ra những cơ hội to lớn: tiếp cận các nguồn tài chính quốc tế sẽ giảm bớt hạn chế về ngoại hối, nhờ đó tăng khả năng nhập khẩu. Ngoài ra còn đóng góp quan trọng và tạo việc làm… Tuy nhiên, thách thức của việc tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế cũng rất lớn. - Nền kinh tế đối phó với khả năng bất ổn định hơn, suy thoái kinh tế có thể xảy ra, khó lường trước được. - Việc tự do hoá thương mại có thể gây khó khăn thậm chí làm sụp đổ một số ngành lâu nay vẫn được bảo hộ. - Nguy cơ bị khoá chặt vào những lĩnh vực thương mại có khả năng tăng trưởng chậm; lợi thế so sánh luôn biến động; sự thiệt hại do có sự chuyển thương mại từ đối tượng này, khu vực này sang đối tượng và khu vực mới. - Trình độ phát triển kinh tế và năng lực của các doanh nghiệp, các ngành sản xuất và dịch vụ của ta còn thấp trong khi phải cạnh tranh với những đối thủ mạnh ở cả thị trường trong và ngoài nước. - Các cơ chế của một nền kinh tế thị trường ở nước ta còn đang hình thành, hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh; nhiều luật lệ và chính sách liên quan đến kinh tế đối ngoại còn thiếu hoặc chưa phù hợp với quốc tế. - Ta hội nhập sau nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã hoạt động nửa thế kỷ, do đó ta phải cố gắng theo kịp tiến độ chung trong khi đang có xu hướng muốn đẩy nhanh quá trình tự do hoá, với quy mô rộng hơn và mức độ sâu sắc hơn. 2.2. Về chính trị Dưới chủ nghĩa xã hội, chính trị và kinh tế không thể tách rời nhau vì chính sách của Đảng là cơ sở mọi biện pháp lãnh đạo kinh tế, hướng dẫn sự phát triển của nền kinh tế. Thực tế cho thấy bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội nhằm bảo đảm sự ổn định và an toàn của toàn bộ hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội là nhiệm vụ trọng đại không chỉ của riêng Việt Nam mà bất cứ quốc gia nào dù lớn hay nhỏ cũng đều phải quan tâm. Một xã hội, một quốc gia thuộc bất cứ chế độ chính trị nào cũng cần phải có ổn định về chính trị trong nước, chủ động tạo ra quan hệ quốc tế thuận lợi để chấn hưng và phát triển đất nước về mọi mặt, giành được vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện các nhiệm vụ trên. Việc mở rộng quan hệ quốc tế về an ninh, trật tự đã giúp Việt Nam và bạn bè xích lại gần nhau, hợp tác để nhân lên điểm đồng, đấu tranh nhằm hạn chế bất đồng theo xu hướng hội nhập, ổn định và cùng phát triển. Mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế về an ninh, trật tự đã và sẽ giúp Việt Nam tranh thủ được các kinh nghiệm và thành tựu, các phương tiện kỹ thuật hiện đại của thế giới để bảo vệ an ninh, trật tự, đồng thời tạo ra một thế trận, một môi trường an ninh, trật tự ổn định để phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, trên con đường hội nhập và phát triển, Việt Nam cũng như các nước trong khu vực đang còn nhiều khó khăn phải vượt qua. Đó là những tranh chấp, bất đồng về biên giới, lãnh thổ, biển đảo, những tác hại của việc truyền bá các luồng văn hoá ngoại lai, các tệ nạn xã hội. Một số tổ chức tội phạm, phản động nước ngoài và gốc Việt đã thường xuyên truyền bá vào trong nước các văn hoá phẩm đồi trụy, phản động, đi ngược lại đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, cản trở việc xây dựng và phát triển nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc; Về an ninh kinh tế xuất hiện nhiều vụ việc phá hoại nền kinh tế Việt Nam như lừa đảo kinh tế, tẩy rửa tiền, sản xuất và lưu hành tiền giả… Trong bối cảnh Việt Nam đang trên đường hội nhập quốc tế, mở cửa giao lưu với thế giới, vấn đề bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội hơn lúc nào hết cần được quan tâm đặc biệt để bảo đảm ổn định chính trị, tạo môi trường xã hội, quan hệ quốc tế thuận lợi cho phát triển kinh tế, tạo sức mạnh quốc gia từ bên trong, vượt qua thử thách, đứng vững và phát triển. 2.3. Về văn hoá - xã hội. Văn hoá, cũng như mọi sự vật và hiện tượng đều có tính hai mặt. Nhận thức của mỗi dân tộc, mỗi con người đối với cùng một nền văn hoá cùng một nền văn hoá cũng khác nhau, họ tìm thấy những khía cạnh khác nhau: tích cực và tiêu cực, tốt và xấu, phù hợp và không phù hợp. Bởi vậy cần có sự chọn lọc những cái hay, cái đẹp và dẫn đến sự đào thải những cái xấu, cái dở. Quốc gia Việt Nam, con người Việt Nam sẽ hội nhập cùng cộng đồng quốc tế với bản lĩnh của mình, với sức mạnh của mình để đạt tới mục tiêu của mình. Trên cơ sở nền kinh tế được quốc tế hoá, thành tựu khoa học kỹ thuật được nhân loại hoá thì những sản phẩm văn hoá mới đang và sẽ nảy nở không còn là riêng của một ai mà trở thành tài sản chung của nhân loại. Vì thế, Việt Nam trong tiến trình hội nhập với bên ngoài, vừa bảo tồn những tinh hoa văn hoá dân tộc vừa phải vượt qua cái ấn tượng nặng nề về sự phân biệt giữa văn hoá phương Đông với văn hoá phương Tây do lịch sử để lại mà nhận thức một cách đúng đắn hơn, rộng mở hơn về sự hội nhập giữa văn hoá dân tộc và văn hoá thế giới, giữa văn hoá của mỗi quốc gia với văn hoá quốc tế. Văn hoá ngày nay ra đời và phát triển trên cơ sở của nền kinh tế công nghiệp và hiện đại hoá. Nó tạo nên lối suy nghĩ năng động, thông minh và nhanh nhạy, phong cách lao động kỹ thuật, khẩn trương và có hiệu quả, mối quan hệ xã hội bình đẳng, dân chủ, mức sống đầy đủ tiện nghi ngày càng được nâng cao. Những điều đó đã nhân lên gấp bội sức mạnh của con người trong tư duy và hành động, tạo nên một động lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội tiến lên với tốc độ phi thường. Mặt khác, là sản phẩm của nền kinh tế thị trường, văn hoá thế giới cũng chứa đựng mặt trái của nó. Đó là tính ích kỷ và sự giành giật không thương tiếc, là lối sống cá nhân thực dụng tràn vào mọi ngõ ngách của gia đình và cộng đồng, nhiều khi bất chấp quan hệ tình cảm truyền thống… Trong quá trình hội nhập văn hoá, Việt Nam phải giải quyết những mối quan hệ chằng chéo giữa văn hoá nông nghiệp lâu đời và văn hoá công nghiệp đang ngày càng phát triển, giữa văn hoá dân tộc truyền thống với văn hoá thế giới ngày càng mở rộng, giữa văn hoá phương Đông cổ truyền với văn hoá phương Tây hiện đại, giữa các trào lưu văn hoá đương đại. Giữa các dòng chảy đó, chọn cho được một hướng đi đúng là vô cùng quan trọng. Hội nhập không phải là hoà mình để thu nhận tất cả và do vậy, có thể mất đi tất cả, ngăn ngừa cái xấu không phải là đóng cửa cài then cho kỹ để tránh sợ xâm nhập từ bên ngoài, mà nên thấy một cách thực tế rằng nguồn gốc, mầm mống và nguy cơ của nó nằm ngay chính trong lòng xã hội của mỗi nước, trong chính chúng ta. Có nhận thức như vậy mới có thế tiếp thu những thành tựu văn minh nhân loại, đồng thời loại trừ những biểu hiện tiêu cực từ bên ngoài xâm nhập. Chúng ta nhận thức rõ rằng: phấn đấu phát triển kinh tế cao là cần thiết và cấp thiết. Song, sẽ là sai lầm và tai hại nếu chỉ dồn sức cho hoạt động kinh tế. Sự phát triển kinh tế phải dựa trên nền tảng văn hoá mang bản sắc dân tộc và phải trở thành nhân tố thúc đẩy sự phát triển. Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII (1998) nhấn mạnh :"Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội công bằng văn minh, con người phát triển toàn diện. Nhưng văn hoá không thể chỉ là kết quả kinh tế mà còn là và phải là động lực của sự phát triển kinh tế" (Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá VIII. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội - 1998, trang 55). Kết luận Đường lối đổi mới đã đưa đất nước ta vào một thời kỳ mới, thời kỳ mở rộng quan hệ quốc tế theo phương châm đa dạng hoá, đa phương hoá, đẩy mạnh hội nhập với thế giới. Hoà vào xu thế chung của đời sống quốc tế, Việt Nam tích cực và chủ động tham gia tiến trình hội nhập quốc tế nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Qua nội dung trình bày trên, có thể thấy rõ là cơ hội và thách thức. Như vậy thì: ai là người đóng vai trò điều tiết hai mặt trên trong quá trình hội nhập quốc tế và làm thế nào để tranh thủ tận dụng các cơ hội và đối phó với những thách thức? Tôi nghĩ rằng không ai khác mà chính là Nhà nước phải phát huy vai trò và hiệu quả trong quản lý vĩ mô. Trên đây là toàn bộ bài viết của em về đề tài: "Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế" Do kiến thức kinh nghiệm còn hạn chế, thời gian tìm hiểu chưa nhiều, nên khó tránh khỏi những khiếm khuyết, sai lầm. Rất mong được sự góp ý, giúp đỡ của thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Các tài lịệu tham khảo chính Tự do hoá và toàn cầu hoá : Rút ra những kết luận đối với công cuộc phát triển, Viện quản lý kinh tế TW dịch , H.1998. Toàn cầu hoá quan điểm và thực tiễn , kinh nghiệm quốc tế , NXB Thống kê , H.1999. Toàn cầu hoá và vấn đề hội nhập quốc tế của Việt Nam , viện KTTG , 1999. Viện thông tin khoa học xã hội , khu vực hoá và toàn cầu hoá - hai mặt của tiến trình hội nhập quốc tế , H. 2000. Viện thông tin khoa học xã hội . Toàn cầu hoá và khu vực hoá : cơ hội và thách thức đối với các nước đang phát triển , H. 2000. Mục lục Lời nói đầu 1 Phần 1: Nhận thức về Hội nhập kinh tế 3 Phần 2: Hội nhập kinh tế quốc tế - Thời cơ và thách thức 5 1. Hội nhập kinh tế quốc tế - Những cơ hội 5 2. Hội nhập kinh tế quốc tế - Những thách thức 5 Phần 3: Doanh nghiệp việt nam trong quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế 8 1. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 8 2. Việt Nam với Hội nhập kinh tế quốc tế - Cơ hội và thách thức 9 2.1. Về kinh tế 9 2.2. Về chính trị 11 2.3. Về văn hóa - xã hội 12 Kết luận 14 Tài liệu tham khảo 15

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docR0136.doc
Tài liệu liên quan