Đề tài Cổ phần hoá - Một trọng những chủ trương quan trọng của quá trình cải tổ các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 I. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC. 2 1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là sự lựa chọn tất yếu. 2 2. Kinh nghiệm cổ phần hoá DNNN ở một số nước, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam. 9 2.1. Kinh nghiệm chung của các nước trên thế giới về cổ phần hoá. 9 2.2. Kinh nghiệm cổ phần hoá ở những nước tư bản phát triển. 9 2.3. Kinh nghiệm cổ phần hoá ở Trung Quốc. 9 2.4. Bài học kinh nghiệm từ việc cổ phần hoá ở các nước trên thế giới đối với Việt Nam. 11 II. DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DNNN. 13 1. Thực trạng DNNN ở Việt Nam trong bước chuyển sang kinh tế thị trường. 13 2. Tiến trình cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam. 15 3. Các yếu tố tác động tới quá trình cổ phần hoá DNNN ở nước ta hiện nay. 17 III. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẺ THÚC ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DNNN TRONG THỜI GIAN TỚI. 18 1. Những quan điểm cơ bản cần quán triệt trong cổ phần hoá. 18 IV. KẾT LUẬN. 22 LỜI NÓI ĐẦU Trên cơ sở đổi mới tư duy kinh tế, những năm gần đây nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường như một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển. Trong điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước đã bộc lộ đầy đủ những yếu kém, lâm vào tình trạng sa sút và khủng hoảng. Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để cấu trúc lại sở hữu nhà nước và cải cách khu vực kinh tế nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của nó theo tinh thần các nghị quyết đại hội VI và VII của Đảng. Vấn đề này đã được nhiều nhà kinh tế học, lý luận học, nghiên cứu kỹ lưỡng và họ đã đưa ra được những giải pháp cơ bản, phù hợp với tình hình kinh tế nước ta hiện nay. Một trong những giải pháp có tính chiến lược nhất là "tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm đa dạng hoá sở hữu, đưa yếu tố cạnh tranh làm động lực tăng hiệu quả kinh doanh và xác lập một mô hình hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường". Xét trên một mức độ quan trọng của chiến lược này, đồng thời cũng là giải pháp có tính phổ biến để cải cách khu vực kinh tế nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới, nên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài "Cổ phần hoá - Một trọng những chủ trương quan trọng của quá trình cải tổ các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta" với tư cách là một công trình khoa học. Tuy nhiên đây cũng là một vấn đề hết sức mới mẻ đối với tình hình nước ta, nó vẫn còn đang được nghiên cứu, tìm tòi. Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin đề cập một vài suy nghĩ có liên quan đến đề tài.

doc26 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 28/06/2013 | Lượt xem: 733 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Cổ phần hoá - Một trọng những chủ trương quan trọng của quá trình cải tổ các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Website: Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368 LỜI NÓI ĐẦU Trên cơ sở đổi mới tư duy kinh tế, những năm gần đây nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở nước ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường như một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển. Trong điều kiện cơ chế quản lý thay đổi, khi hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước đã bộc lộ đầy đủ những yếu kém, lâm vào tình trạng sa sút và khủng hoảng. Vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để cấu trúc lại sở hữu nhà nước và cải cách khu vực kinh tế nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả và vai trò của nó theo tinh thần các nghị quyết đại hội VI và VII của Đảng. Vấn đề này đã được nhiều nhà kinh tế học, lý luận học, nghiên cứu kỹ lưỡng và họ đã đưa ra được những giải pháp cơ bản, phù hợp với tình hình kinh tế nước ta hiện nay. Một trong những giải pháp có tính chiến lược nhất là "tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhằm đa dạng hoá sở hữu, đưa yếu tố cạnh tranh làm động lực tăng hiệu quả kinh doanh và xác lập một mô hình hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường". Xét trên một mức độ quan trọng của chiến lược này, đồng thời cũng là giải pháp có tính phổ biến để cải cách khu vực kinh tế nhà nước ở hầu hết các nước trên thế giới, nên tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài "Cổ phần hoá - Một trọng những chủ trương quan trọng của quá trình cải tổ các doanh nghiệp Nhà nước ở nước ta" với tư cách là một công trình khoa học. Tuy nhiên đây cũng là một vấn đề hết sức mới mẻ đối với tình hình nước ta, nó vẫn còn đang được nghiên cứu, tìm tòi. Vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin đề cập một vài suy nghĩ có liên quan đến đề tài. I. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KINH NGHIỆM CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC. 1. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là sự lựa chọn tất yếu. - Từ thực tiễn tiến hành công cuộc phát triển nền kinh tế đất nước theo định hướng XHCN và những kinh nghiệm thu được qua quá trình chỉ đạo, điều hành sản xuất kinh doanh chúng ta đã xác định được rằng cải cách doanh nghiệp nhà nước một cách triệt để là yêu cầu có tính quyết định để tăng cường động lực phát triển sản xuất và thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn. Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì tập trung tiến hành công tác. Sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và đã đạt được một số kết quả nhất định như giảm mạnh số lượng DNNN, nâng quy mô vốn bình quân, giảm bớt được sự tài trợ ngân sách, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, bước đầu đã phát huy được quyền chủ động kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở, giảm mạnh sự can thiệp hành chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, do đặc điểm và thực trạng DNNN của nước ta quá trình này vẫn còn phải tiến hành một cách thận trọng, lâu dài vì phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề phức tạp trong cả lĩnh vực kinh tế và trong lĩnh vực đời sống xã hội mới đạt được kết quả mong muốn. Hiện nay, bên cạnh các khó khăn chủ quan xuất phát từ nơi bị nền kinh tế, thì biến động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đang tiếp tục lan rộng và theo chiêù sâu cũng sẽ đồng thời ảnh hưởng theo chiều hướng xấu đến nền kinh tế nước ta. Điều này cho thấy tính cấp bách phải khẩn trương nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế để đảm bảo cho sự phát triển đất nước một cách ổn định, vững chắc không những cho những năm trước mắt mà cả tương lai lâu dài. Nghị quyết Hội nghị trung ương 4 (khoá VII) đã dành một phần quan trọng cho mục tiêu đổi mới mạnh mẽ các DNNN, phấn đấu đưa chúng thực sự trở thành lực lượng chủ đạo dẫn dắt các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, làm nòng cốt để thực hiện thành công tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế thế giới có hiệu quả. Tiếp theo, chính phủ đã có chỉ thị số 20/TTg ngày 21 - 4 - 1998 trong đó đã đề ra chương trình, kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện vàquyết tâm thông qua đợt sắp xếp này để hình thành một cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hợp lý mạnh được quản lý tốt. Cổ phần hoá là một trong những nội dung quan trọng trong quá trình đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước. Cổ phần hoá DNNN lần đầu tiên được nên tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khoá VII (tháng 11 - 1994) và tiếp tục đựơc cụ thể hoá tại Nghị quyết Hội nghị giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1 - 1994), Nghị quyết 10, nghị quyết TW của Bộ Tài chính ngày 17 - 3 - 1995. Thông báo số 63/TB - TƯ ngày 4 - 4 - 1997, và được khẳng định rõ hơn tại nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (khoá VIII). 1.1. Mục tiêu nhất quán của cổ phần hoá một bộ phận DNNN là để huy động vốn, tạo điều kiện để người lao động được làm chủ thực sự trong doanh nghiệp, tạo động lực bên ngoài thay đổi phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Về việc huy động vốn thì trong thời gian qua ngân sách nhà nước đã phải đầu tư một tỷ trọng vốn lớn cho các doanh nghiệp nhà nước nhưng hiệu quả thu lại rất thấp trong khi ngân sách nhà nước laị có hạn và phải dàn trải cho nhiều khoản chi tiêu khác . Qua số liệu điều tra năm 1995 (tổng cục thống kê) cho thấy. Trong 6544 DNNN (trong tổng số 7060 doanh nghiệp) đang hoạt động có 3268 doanh nghiệp thuộc diện giải thể hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu, chiếm 49,95% số doanh nghiệp được nhà nước đầu tư. Để xử lý tình trạng thiếu vốn và tạo cơ chế quản lý tài chính có hiệu lực, thực sự rằng buộc trách nhiệm, trong sản xuất kinh doanh của các DNNN thì giải pháp cần làm là thực hiện cổ phần hoá một số DNNN. Cổ phần hoá cho phép tách quyền sở hữu và quyền quản lý tài sản của doanh nghiệp nhằm đưa lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Cổ phần hoá sẽ huy động các nguồn vốn nhãn rỗi trong xã hội một cách nhanh chóng để phát triển sản xuất kinh doanh. Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi thì nguồn vốn dồi dào trong dân cư sẽ đổ vào nơi có lợi nhuận cao, làm cho các doanh nghiệp cổ phần hoá, ngày càng có vốn lớn từ đó có điều kiện trang bị kỹ thuật hiện đại hơn, mở rộng sản xuất. Đồng thời đồng vốn ngày càng sử dụng tốt tái tạo điều kiện cho doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu liên tục. Cổ phiếu có thể chuyển nhượng cho nhau sẽ thúc đẩy lưu thông tiền vốn. Mặt khác doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu để bổ sung thêm vốn khi cần thiết. Các doanh nghiệp khi đã cổ phần hoá sẽ liên doanh được với các doanh nghiệp trong và ngoài nước từ đó sẽ thu hút được nhiều vốn hơn nữa. 1.2. Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 và chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 về việc thí điểm cổ phần hoá và giải pháp đa dạng hoá các hình thức sở hữu đối với các DNNN. Trong chủ trương này một trong những vấn đề mà người lao động rất quan tâm khi cổ phần hoá là việc làm và thu nhập của họ có được bảo đảm không? Vấn đề này đặt ra cũng là câu hỏi hết sức đáng chú trọng đối với những nhà chức trách nói chung và các DNNN nói riêng. Nhưng thực tế ở những doanh nghiệp đã cổ phần hoá cho thấy, sau khi chuyển thành công ty cổ phần việc làm và thu nhập của người lao động không những được baỏ đảm mà các công ty còn thu hút thêm hơn 1000 lao động mới vào làm việc, tiền lương và thu nhập của họ cũng tăng đáng kể. Chẳng hạn: Công ty chế biến thức ăn gia súc VIFOCO, trước cổ phần hoá gặp không ít khó khăn trong sản xuất kinh doanh, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được dẫn đến thiếu việc làm, thu nhập thấp, sau khi chuyển thành công ty cổ phần, nhờ thu hút được vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý, tình hình sản xuất kinh doanh đã có những thay đổi rõ rệt, sản phẩm của công ty được tiêu thụ rất mạnh trên thị trường. Trước cổ phần hoá trung bình 1 năm công ty chỉ tiêu thụ được 6000 tấn thức ăn gia súc các loại, sau cổ phần hoá (1996) mức tiêu thụ sản phẩm tăng lên gấp 3 lần so với trước (18500 tấn). Số lao động cũng tăng lên đáng kể, trước cổ phần hoá (1994) công ty có 92 cán bộ công nhân viên, sau cổ phần hoá (1996) đã tăng lên 123 người. Đời sống của công nhân lao động được cải thiện một cách rõ rệt thể hiện ở thu nhập bình quân hàng tháng, trước cổ phần hoá bình quân thu nhập của cán bộ CNV trong công ty là 524đ/tháng. Sau cổ phần hoá (1996) thu nhập bình quân là 1,2 triệu đồng/tháng. - Cũng như nhiều DNNN khác, trước cổ phần hoá công ty cơ điện lạnh cũng gặp không ít khó khăn, nhất là về vốn và việc làm của người lao động, từ khi có quyết định chuyển thành công ty cổ phần (tháng 10/1995) nhờ phát hành cổ phiếu có thêm vốn đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo việc làm mới, thu hút thêm nhiều lao động vào làm việc. Trước cổ phần hoá công ty có 334 công nhân viên, sau khi chuyển thành công ty cổ phần, hàng năm số lao động mới được tuyển vào làm việc đều tăng. Năm 1994 công ty thu hút 84 người vào làm việc năm 1995 thu hút 79 người, năm 1996 công ty thu hút thêm 153 người. Như vậy sau 3 năm cổ phần hoá công ty cơ điện lạnh đã tạo ra 313 chỗ làm việc mới đưa tổng số lao động trong công ty từ 334 người (1993) lên 647 người (1996). - Về tiền lương của người lao động không những việc được bảo đảm mà còn tăng đáng kể so với khi còn là DNNN. Trước cổ phần hoá tiền lương của người lao động là 647 ngàn đồng/tháng đến năm 1996 lương bình quân là 1,3 triệu đồng/tháng. Đại lý liên hiệp vận chuyển cũng là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong công tác cổ phần hoá. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty cho thấy các năm sau đều cao hơn so với các năm trước. Đặc biệt là việc làm và thu nhập của người lao động. Năm 1993 trước khi chuyển thành công ty cổ phần, đơn vị có 56 cán bộ công nhân viên, sau cổ phần hoá (CPH) (1994) số lao động tăng lên 156 người, năm 1996 tăng lên 268 người. Thu nhập của người lao động tăng từ 800 nghìn đồng/tháng (1993) lên 1,4 triệu đồng (1994) và 2,5 triệu đồng/tháng (1996). Tình hình sản xuất kinh doanh, vấn đề lao động việc làm và thu nhập của người lao động ở các công ty cổ phần còn lại những đều tăng cao hơn so với khi các doanh nghiệp này chưa chuyển thành công ty cổ phần. Qua những con số nêu trên cho thấy các DNNN thực hiện cổ phần hoá không những bảo đảm được các mục tiêu kinh tế là huy động vốn, phát triển sản xuất kinh doanh ... mà còn bảo đảm được các mục tiêu xã hội như phát huy vai trò làm chủ của công nhân lao động, tạo việc làm mới, tăng thu nhập làm cho người lao động an tâm tham gia vào quá trình cổ phần hoá, thúc đẩy quá trình này tiến lên nhanh, vững chắc đạt được những mục tiêu của chính phủ đã đề ra. 1.3. Cổ phần hoá động lực mới trong quản lý doanh nghiệp. Cổ phần hoá hình thức sở hữu tại doanh nghiệp đã chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu hỗn hợp từ đây đã dẫn tới những thay đổi quan trọng về hình thức tổ chức, quản lý cũng như phương hướng hoạt động của công ty. Ở công ty cổ phần quyền lợi của những người chủ mới gắn chặt với thành bại của hoạt động sản xuất kinh doanh vì thế họ rất đoàn kết, gắn bó và thống nhất trong việc tìm kiếm và đưa ra phương hướng hoạt động phù hợp nhất của doanh nghiệp nhằm củng cố, tăng cường sức cạnh tranh của sản phẩm do họ sản xuất ra, quan tâm đến công việc của côn ty và lao động tích cực với tinh thần trách nhiệm cao, khắc phục việc buông lỏng quản lý tài sản của doanh nghiệp, xoá bỏ tình trạng "vô chủ" của doanh nghiệp. Mặc dù chủ trương trao quyền tự quản cho các DNNN là giải pháp đã đạt kết quả nhất định, nhưng mới chỉ đẩy lùi được chế độ bao cấp của nhà nước đối với DNNN, còn về phân thức thì tài sản của DNNN "vẫn là tài sản chung" cho nên tình trạng vô trách nhiệm, lãng phí của công vẫn chưa được khắc phục. Khi doanh nghiệp nhà nước trở thành công ty cổ phần thì điều này, mặc nhiên sẽ không còn tồn tại. 1.4. Cổ phần hoá chính là quá trình "Chuyển DNNN thành công ty cổ phần". Vậy một câu hỏi đặt ra là:"Công ty cổ phần có phải là mô hình doanh nghiệp thích hợp với những đòi hỏi khách quan của nền kinh tế thị trường hay không?". Trả lời câu hỏi này chính là xác định cơ sở khoa học cho định hướng chuyển đổi các DNNN thành công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay. 1.4.1. Lịch sử hình thành công ty cổ phần, đặc điểm vận động và phát triển của sở hữu tư nhân trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường: Sở hữu xét về bản chất là quan hệ sở hữu của con người đối với tự nhiên thông qua lao động sản xuất. Không có lao động, hoạt động có bản chất của con người thì không có sự chiếm hữu nào cả và do đó cũng không thể có sở hữu. Trong nền kinh tế thị trường (KTTT), lao động của con người mang tính chất hai mặt: Lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Do đó, sở hữu tư nhân được thực hiện trong quá trình lao động. Sản xuất cũng mang tính hai mặt: sở hữu mang tính chất xã hội - phản ánh sự tìm kiếm và tăng thêm giá trị như là động lực mục đích của sở hữu, mặt khác sở hữu lại mang tính chất tư nhân - phản ánh sự chiếm hữu một giá trị sử dụng nhất định dưới dạng hàng hoá hay dịch vụ nhất định. Điều này cho thấy, chỉ từ khi của cải mang hình thái là một giá trị thì do tính chất hai mặt của nó, sở hữu đã trở thành một quan hệ giá trị vận động. Các hình thức chiếm hữu tư nhân cụ thể chỉ là phương tiện để bảo tồn và tăng thêm giá trị như là mục đích của sở hữu. Sự vận động mang tính chất hai mặt này của sở hữu cho phép có sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh, trong đó quyền sở hữu chỉ là việc nắm quyền chi phối giá trị nhằm mục đích tìm kiếm một giá trị lớn hơn, còn quyền kinh doanh là thực hiện một hoạt động cụ thể nhất định để tạo ra giá trị - nó là phương tiện để tăng giá trị. Chính nhờ sự tách biệt này đã cho phép một chủ sở hữu có thể tham gia vào nhiều hoạt động kinh doanh và ngược lại, một hoạt động kinh doanh có nhiều chủ sở hữu tham gia.Nhờ đó nó đã góp phần tạo ra những tầng lớp thực lợi trong xã hội. Không trực tiếp kinh doanh nhưng vẫn thu lợi bằng quyền sở hữu của mình. Có thể nói, nhờ có sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá, tính chất 2 mặt của sở hữu tư nhân mới được bộc lộ và ngày càng phát triển cùng với quá trình xã hội hoá nền sản xuất xã hội. Trong lịch sử, quá trình này được thực hiện bởi hai nhân tố: + Thông qua trao đổi: Quá trình vận động xã hội hoá sở hữu chuyển hoá theo xu hướng :tư liệu sản xuất ngày càng tách khỏi bản thân người lao động như là những người tư hữu nhỏ, và các tư liệu sản xuất ngày càng tập trung lại trong quá trình xã hội hoá với sự thống trị của tư bản (lúc ban đầu là tư bản thương nghiệp về sau là tư bản nông nghiệp, và ngày nay là tư bản tài chính). + Thông qua sự phát triển của chế độ tín dụng: (bao gồm tín dụng thương nghiệp và tín dụng ngân hàng). Quá trình vận động xã hội hoá sở hữu được thực hiện theo xu hướng: 1 mặt nó làm cho hình thức chiếm hữu tư nhân phụ thuộc lẫn nhau bởi các quan hệ kinh tế móc xích chằng chịt với nhau và dần dần hoà nhập vào nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội, mặt khác nó làm cho các hình thái chiếm hữu được tập trung lại trên phạm vi xã hội. Nhờ quá trình này việc mở rộng quy mô kinh doanh không còn phụ thuộc vào sự tích tụ của từng chủ sở hữu, riêng lẻ, mà thông qua các hình thức tín dụng cơ chế tập trung tư bản xã hội, và mở rộng quy mô kinh doanh lên gấp nhiều lần. Như vậy, sự phát triển của hệ thống trao đổi và tín dụng đã giúp cho quá trình xã hội hoá sở hữu tư nhân đạt đến trình độ cho phép hình thành hệ thống ngân hàng, thị trường tài chính và công ty cổ phần. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường các bộ phận trên ngày càng gắn kết với nhau tạo thành bộ máy xã hội khổng lồ thúc đẩy qúa trình xã hội hoá nền sản xuất. Cũng về sau sự phát triển đó càng đòi hỏi sự tham gia của nhà nước như một chức năng kinh tế xã hội để đảm bảo tính định hướng và sự phát triển nền kinh tế thị trường. 1.4.2. Công ty cổ phần là sản phẩm của nền kinh tế thị trường. Về mặt lý thuyết, chúng ta đều thấy rằng hình thái doanh nghiệp dưới dạng công ty cổ phần là sản phẩm của một quá trình tiến hoá lâu dài gắn liền với những nấc thang phát triển của xã hội hoá sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường. Về mặt lịch sử chúng ta có thể nhận thấy quá trình tiến hoá của các hình thái doanh nghiệp được đặc trưng bởi 3 loại hình chủ yếu tương ứng với 3 mức độ phát triển cảu xã hội hoá sở hữu tư nhân, mặc dù biểu hiện trung gian giữa chúng hết sức đa dạng và linh hoạt. + Hình thái kinh doanh một chủ. + Hình thái kinh doanh chung vốn + Hình thái công ty cổ phần. Hình thái công ty cổ phần, ra đời đánh dấu sự tiến hoá của chế độ tín dụng từ kinh doanh chủ yếu dựa vào vay mượn qua ngân hàng hoặc chung vốn sang huy động vốn trên thị trường tài chính, trong đó chủ yếu là thị trường chứng khoán. Trong hình thái kinh doanh này có hai loại hình chủ yếu: Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có phát hành cổ phiếu. Có thể thấy rằng công ty cổ phần ra đời mang những đặc điểm mới cho phép nó thích ứng với những đòi hỏi của sự phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại mà những hình thái khác không đáp ứng được đó là: * Công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân và các cổ đông chỉ có trách nhiệm pháp lý hữu hạn trong phần vốn góp của mình. * Cơ cấu tổ chức trong công ty cổ phần đã thực hiện được việc tách biệt quyền sở hữu và quyền kinh doanh, tạo nên một hình thái xã hội hoá sở hữu của một bên là đông đảo công chúng mua cổ phần còn là đội ngũ các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng tư bản xã hội cho những công cuộc kinh doanh quy mô lớn. * Các cổ phiếu và trái phiếu của công ty cổ phần được chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường chứng khoán vì thế bất kể cổ phiếu được chuyển chủ bao nhiêu lần, cuộc sống của doanh nghiệp vẫn tiếp tục một cách bình thường mà không bị ảnh hưởng. Đồng thời nhờ cơ chế này nó đã tạo sự di chuyển linh hoạt các luồng vốn xã hội theo các nhu cầu và cơ hội đầu tư đa dạng của công ty và công chúng. Tóm lại, sự trình bày khái quát các nấc thang tiến hoá của hình thái doanh nghiệp dựa trên đặc điểm tách biệt của sở hữu tư nhân trong quá trình xã hội hoá, sản xuất có thể khẳng định xu hướng phát triển tất yếu của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Qua đó cho ta thấy việc tiến hành quá trình chuyển đổi mô hình doanh nghiệp sở hữu toàn phần của nhà nước thành các công ty cổ phần bằng con đường cổ phần hoá là một đòi hỏi khách quan trong quá trình cải tổ khu vực kinh tế nhà nước phù hợp với việc xây dựng một nền kinh tế thị trường hiện đại. 2. Kinh nghiệm cổ phần hoá DNNN ở một số nước, bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam. 2.1. Kinh nghiệm chung của các nước trên thế giới về cổ phần hoá. Trong việc xác định các mục tiêu để tiến hành cổ phần hoá DNNN các nước cho rằng: 1) Nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN 2) giảm thâm hụt ngân sách nhà nước là những mục tiêu đầu tiên và trực tiếp. Ngoài ra tuỳ theo điều kiện mỗi nước mà các mục tiêu cổ phần hoá được bổ sung thêm ít nhiều. 2.2. Kinh nghiệm cổ phần hoá ở những nước tư bản phát triển. 1) Thu hút các nhà đầu tư tư nhân vào những ngành, những lĩnh vực lâu nay nhà nước độc quyền những xét thấy không còn cần thiết nữa. 2) Nhà nước có điều kiện tập trung vào những ngành và những lĩnh vực then chốt khác nhằm ổn định kinh tế vĩ mô và tạo cơ sở cho sự tăng trưởng mới 3) Thực hiện phân phối có lợi cho các tầng lớp dân cư có thu nhập thấp tạo sự ổn định về mặt xã hội. 2.3. Kinh nghiệm cổ phần hoá ở Trung Quốc. - Giảm gánh nợ nước ngoài. - Thu hút đầu tư nước ngoài. Cụ thể là: Cổ phần hoá DNNN ở Trung Quốc. - Trung Quốc bắt đầu thí điểm cổ phần hoá DNNN của họ vào đầu những năm 1980, họ đã gặt hái được một số kinh nghiệm đáng chú ý. Từ ngày 22 đến ngày 25/8/1987 tại Hàng Châu (Sơn Tây) Chính phủ Trung Quốc đã tổ chức hội nghị thảo luận về 3 năm thực hiện cổ phần hoá. Chỉ tính riêng trong 5 tỉnh thành phố (Thẩm Dương, Thượng Hải, Bắc Kinh, Quảng Châu, Thiểm Tây) đã có tên 1000 xí nghiệp quốc doanh cổ phần hoá với tổng số vốn lên tới hàng chục tỷ nhân dân tệ. Ngày 25/7/1984 thành lập công ty cổ phần đầu tiên của cả nước với số vốn cổ phần của bên ngoài công ty lên đến 5.318.000 nhân dân tệ, chiếm 73,6% tổng giá trị doanh nghiệp. 1.1. Hình thức cổ phần của Trung Quốc. a. Cơ cấu cổ phần. Cơ cấu cổ phần của doanh nghiệp gồm cổ phần nhà nước, cổ phần CBCNV trong doanh nghiệp và cá nhân ngoài doanh nghiệp. b. Chế độ cổ phần hữu hạn. Vốn cổ phần của các xí nghiệp này do những xí nghiệp nhà nước tập thể, và tư nhân đóng góp. Những xí nghiệp tham gia liên hiệp xí nghiệp cổ phần có thể dùng tài sản dưới những hình thái khác nhau như: tiền vốn, tài sản cố định... để đóng góp cổ phần. c. Chế độ cổ phần hỗn hợp. Cổ phần của các xí nghiệp là sự hỗn hợp cổ phần trong nội bộ và cổ phần ngoài xã hội. Chúng bao gồm: cổ phần nhà nước, cổ phần xí nghiệp, cổ phần các tổ chức kinh doanh và cổ phần cá nhân. 1.2. Xác định cổ phần. Việc xác định cổ phần nhằm làm rõ vai trò sở hữu của người sở hữu cổ phần. Căn cứ vào vốn đầu tư để chia quyền sở hữu cổ phần. Tổng số cổ phần được phân làm 4 loại: cổ phần nhà nước, cổ phần xí nghiệp, cổ phần xã hội, cổ phần cá nhân. Cổ phần nhà nước chủ yếu là chỉ tài sản được hình thành do đầu tư của nhà nước vào những xí nghiệp thuộc sở hữu toàn dân bao gồm: tài sản cố định, vốn lưu động do nhà nước cấp. Cổ phần xí nghiệp nói chung là chỉ tài sản được hình thành từ lợi nhuận để lại cho xí nghiệp. Cổ phần xã hội là cổ phần mà các tầng lớp xã hội ở ngoài xí nghiệp đã mua. Cổ phần cá nhân là cổ phần mà công nhân trong xí nghiệp và nhân dân mua bằng những thu nhập cá nhân từ nguồn vốn nhàn rỗi của họ. 1.3. Phân phối lợi nhuận. Nhìn chung có 3 cách phân phối lợi nhuận: a. Lợi nhuận hình thành trước hết phải trả các khoản vay của ngân hàng, sau đó căn cứ vào các luật thuế để nộp các loại thuế cho nhà nước. Phần lợi nhuận còn lại phân phối cho các quỹ căn cứ vào số lượng các quỹ và tỉ lệ cụ thể của mỗi quý do HĐQT quyết định căn cứ vào những quy định có liên quan của nhà nước. b. Hạ thấp mức thuế doanh thu, phần lợi nhuận còn lại sau khi nộp thuế trả nợ sẽ đem phân bố các quỹ. c. Lợi nhuận thực hiện còn lại của xí nghiệp được phân bổ cho các quỹ sau khi nộp thuế, tiền phạt nếu chiếm dụng vốn của nhà nước hoặc của các xí nghiệp khác, trả nợ và trả lãi ngân hàng. 1.4. Phân phối lợi tức cổ phần. Cơ bản đều căn cứ vào tỷ lệ cổ phần để chia lợi tức được hưởng khi hoạt động kinh doanh có lãi và chịu thiệt hại, tổn thất khi thua lỗ, lợi tức được phân chia dưới dạng 1 khoản thu nhập cố định hoặc dưới dạng biến động phụ thuộc vào khối lượng lợi nhuận thu được trong quá trình sản xuất kinh doanh. 2.4. Bài học kinh nghiệm từ việc cổ phần hoá ở các nước trên thế giới đối với Việt Nam. 2.4.1. Tính phổ biến của quá trình cổ phần hoá. Sự triển khai có tính chất toàn cầu của quá trình này tạo ra một tương quan hợp lý giữa sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân giữa sự điều tiết của nhà nước và của thị trường. Vì vậy tiến hành cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam là một vấn đề không thể bỏ qua, một đòi hỏi khách quan để chuyển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết định hướng của Nhà nước và khai thác các động lực của thị trường. Đặc biệt Việt Nam ta nên học tập hình thức cổ phần hoá DNNN của Trung Quốc một quốc gia rộng lớn song có nhiều nét tương đồng với chúng ta. 2.4.2. Tính đặc thù của quá trình cổ phần hoá DNNN. Đó là sự phản ánh các sắc thái khác nhau về mục tiêu, cách thức tổ chức, bước đi và các biện pháp cụ thể do những đặc điểm về điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội cao mỗi nước chính phủ quy định, ở nước ta cũng không thể không chú ý đến tính đặc thù về các điều kiện quy định quá trình này để có sự sàng lọc kinh nghiệm các nước và chuẩn bị kỹ càng các điều kiện vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam. 2.4.5. Tính chiến lược của quá trình cổ phần hoá. Hầu hết các nước đều coi cổ phần hoá là một bộ phận của quá trình cải cách toàn bộ nền kinh tế, do đó nó đòi hỏi phải được suy xét và hành động mang tính chiến lược cao khi xác định các mục tiêu về cơ cấu và tương quan giữa các lĩnh vực và khu vực kinh tế để dịch chuyển phân bổ các nguồn lực và quyền lực cho các nhóm người sở hữu và quản lý khác nhau. Vì vậy, ở hầu hết các nước đều lập ra một cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện quá trình này theo những quan điểm chiến lược đề ra. ở nước ta, với quy mô và tính chất quan trọng của chương trình cổ phần hoá, nhà nước không thể suy xét nó ở tầm chiến lược trong quá trình đổi mới toàn diện để phát triển nền kinh tế, đồng thời cũng cần phải thành lập một cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm quản lý, chỉ đạo và giải quyết toàn bộ những vấn đề liên quan đến chương trình này. 2.4.4. Tính quá trình của việc thực hiện cổ phần hoá. Thực tiễn và nhiều công trình nghiên cứu ở các nước đều chỉ ra rằng việc thực hiện cổ phần hoá gồm nhiều giai đoạn: chuẩn bị điều kiện về tổ chức, lựa chọn các mục tiêu, phương thức thực hiện, kiểm soát và điều chỉnh. Tuy các giai đoạn không có sự phân định rõ rệt nhưng nó có ý nghĩa chỉ đạo về mặt thực tiễn: khuyến khích tính thận trọng với những giải pháp phù hợp dựa trên những điều kiện thực tế. Tính quá trình tỏ ra thích hợp với cả chính phủ, đang cần thời gian nắm bắt và kiểm soát, cũng như công chúng đang cần thời gian để tìm vào sự ổn định, lâu dài về chính sách của chính phủ. ở Việt Nam chúng ta, trong hoàn cảnh thiếu nhiều điều kiện quan trọng để thực hiện cổ phần hoá thì việc quán triệt quan điểm quá trình trong cổ phần hoá các DNNN là cần thiết để chống những tư tưởng và biểu hiện nóng vội, chủ quan duy ý chí, muốn hoàn thành công việc này một lần trong thời gian ngắn. Như vậy, qua thực tiễn tiến hành công tác cổ phần hoá ở nước ta, và qua kinh nghiệm cơ bản của một số nước xung quanh, chúng ta thấy việc cổ phần hoá đáp ứng được yêu cầu bức thiết của công cuộc cải cách các DNNN phù hợp theo sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện đại. II. DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DNNN. 1. Thực trạng DNNN ở Việt Nam trong bước chuyển sang kinh tế thị trường. DNNN là một bộ phận quan trọng, cấu thành của khu vực kinh tế nhà nước, vì thế vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế này phụ thuộc nhiều vào hiệu quả kinh tế xã hội mà DNNN mang lại. Nước ta cũng giống như các nước XHCN trước đây, thực hiện mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, lấy việc mở rộng và phát triển các DNNN làm mục tiêu cho công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội nên đã chiếm tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế và dựa trên cơ sở nguồn vốn cấp phát của ngân sách nhà nước, tất cả các hoạt động đều chịu sự kiểm soát và chi phối trực tiếp của nhà nước song cũng giống như nhiều nước trên thế giới, các DNNN hoạt động hết sức kém hiệu quả, ngày càng bộc lộ những điểm yếu, đặc biệt là ở cấp địa phương quản lý. + Tỷ trọng tiêu hao vật chất: Tỷ trọng tiêu hao vật chất trong tổng sản phẩm xã hội của khu vực kinh tê nhà nước cao gấp 1,5 lần và chi phí để sáng tạo ra một đồng thu nhập quốc dân cao gấp 2 lần so với kinh tế tư nhân. Mức tiêu hao vật chất của các DNNN trong sản xuất cho một giá trị đơn vị tổng sản phẩm xã hội ở nước ta thường cao gấp 1,3 lần so với mức trung bình trên thế giới. VD: chi phí vật chất của sản phẩm hoá chất bằng 1,88 lần, sản phẩm cơ khí bằng 1,3 - 1,8 lần, phân đạm bằng 2,35lần. Mức tiêu hao năng lượng của các DNNN ở nước ta cũng cao hơn so với mức trung bình của thế giới. VD: trong sản xuất giầy gấp 1,26 lần, hoá chất cơ bản bằng 1,44 lần, than bằng 1,75 lần, phân đạm bằng 1,83 lần... + Chất lượng sản phẩm của nhiều DNNN rất thấp và không ổn định: Trung bình trong khu vực kinh tế nhà nước chỉ có khoảng 15% đạt tiêu chuẩn xuất khẩu; 65% số sản phẩm đạt mức độ dưới trung bình để tiêu dùng nội địa; 20% số sản phẩm kém chất lượng. Do đó, hiện tượng hàng hoá ứ đọng với khối lượng lớn và chiếm hơn 10% số vốn lưu động của toàn xã hội. + Hệ số sinh lời của khu vực kinh tế nhà nước rất thấp. VD: Hệ số sinh lời của vốn lưu động mang tính chung chỉ đạt 7%/năm, trong đó ngành giao thông vận tải đạt 2%/năm ngành công nghiệp khoảng 3%/năm, ngành thương nghiệp đạt 22%/năm... hệ số sinh lời của vốn lưu động đạt 11%/năm, trong đó các ngành tương ứng ở trên đạt 9,4%; 10,6% và 9,5%. + Hiệu quả khai thác vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước hết sức thấp. Cụ thể là trong mấy năm gần đây, hàng năm nhà nước dành hơn 70% vốn đầu tư ngân sách của toàn xã hội cho các DNNN, tuy nhiên chúng chỉ tạo ra được từ 34% - 35% tổng sản phẩm xã hội. Hơn nữa khu vực kinh tế nhà nước lại sử dụng hầu hết lao động có trình độ đại học, công nhân kỹ thuật, phần lớn số vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại quốc doanh. + Số các doanh nghiệp thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn: Theo số liệu của tổng cục thống kê năm 1990, trong số 12.084 cơ sở quốc doanh thì có tới 4.504 đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ, chiếm hơn 4.584 đơn vị sản xuất kinh doanh thua lỗ, chiếm hơn 30% tổng số các doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, quốc doanh trung ương có 501 cơ sở thua lỗ, bằng 29,6% số cơ sở do TW quản lý, quốc doanh địa phương có 4.083 cơ sở thua lỗ chiếm 39,9% số đơn vị do địa phương quản lý. Các đơn vị thua lỗ trên đây có giá trị tài sản cố định bằng 38% tổng giá trị tài sản của toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước và với 787.300 lao động trong tổng số 2.590.000 lao động, bằng 32,9% số lao động của toàn bộ khu vực kinh tế nhà nước. Các số liệu đó cho thấy việc làm ăn thua lỗ của các DNNN đã gây tổn thất rất lớn cho ngân sách nhà nước và là một trong những nguyên nhân đưa đến việc bội chi ngân sách nhà nước triền miên trong những năm qua. Thêm vào đó nhà nước lại có hàng loạt chính sách bù giá, bù lương bù chênh lệch ngoại thương và hàng loạt các khoản bao cấp khác cho các khoản vay nợ của nhà nước ngày càng nặng nề và trầm trọng. Chỉ tính trong giai đoạn 1985 - 1990, tỷ lệ thâm hụt ngân sách thường xuyên ở trên mức 30%. + Từ năm 1989 đến nay, nền kinh tế đã thực sự bước sang hoạt động theo cơ chế thị trường. Các chính sách về kinh tế, tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước đã được thay đổi theo hướng tự do hoá giá cả. Chi phí ngân sách nhà nước đã bù lỗ, bù giá, bổ sung vốn lưu động cho khu vực này đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, tư tưởng bao cấp trong đầu tư vẫn còn rất nặng nề. Tất cả các doanh nghiệp được thành lập đều được cấp toàn bộ vốn từ ngân sách nhà nước. Hàng năm trên 85% vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi được dành cho các DNNN vay. Tài sản tiền vốn của nhà nước giao cho doanh nghiệp chủ yếu là không được bảo tồn và phát triển. Theo báo cáo của tổng cục thống kê, hầu hết các DNNN mới chỉ bảo tồn được vốn lưu động, còn vốn cố định thì mới chỉ bảo tồn ở mức 50% so với chỉ số lạm phát. Hai ngành chiếm giữ vốn lớn nhất là công nghiệp và thương nghiệp (72,52%) lại là hai ngành có tỉ lệ thất thoát vốn lớn nhất (16,41% và 14,95%). Vấn đề nợ nần, vòng vo, mất khả năng thanh toán còn diễn ra khá nghiêm trọng do tình trạng quản lý của nhà nước về tài chính đối với doanh nghiệp chậm được đổi mới, đồng thời từ đó nạn tham nhũng lãng phí diễn ra ở mức báo động. * Một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả của các DNNN. 1.1. Các DNNN được sinh ra và trưởng thành trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài hàng chục năm, vốn do nhà nước cấp phát. Các DNNN chỉ đơn thuần là một đơn vị "gia công" cho nhà nước, thiếu quyền tự chủ, không có tính năng động, táo bạo trong sản xuất kinh doanh. 1.2. Các DNNN đã từ lâu không được đặt trong môi trường cạnh tranh, không gắn với thị trường do đó chậm đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm. 1.3. Tổ chức bộ máy trong các DNNN cồng kềnh, không có sự phân biệt đầy đủ quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh. Tình trạng làm chủ tập thể chung chung kéo dài mà thực chất là vô chủ phổ biến ở hầu hết các DNNN. 1.4. Việc phân phối thực chất không dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động mà chủ yếu nhằm phục vụ chính sách xã hội, mang nặng tính bình quân chủ nghĩa. 2. Tiến trình cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam. 2.1. Quá trình cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam còn chậm. Tiến trình. Quá trình thực hiện điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần theo quyết định số 202/CP ngày 22/8/1996 cả nước đã chuyển được 5 DNNN thành công ty cổ phần trong đó Bộ giao thông vận tải có một đơn vị là công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển là đơn vị được tiến hành và hoàn thành đầu tiên của cả nước (7/1993). Rút kinh nghiệm từ việc chỉ đạo thí điểm, và phản ánh của các bộ, ngành thủ tướng chỉnh phủ đã ban hành Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 về việc chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần và nghị định số 25CP ngày 26/3 sửa đổi, bổ sung nghị định 28/CP thì đến nay đã có 29DNNN được cổ phần hoá. Bộ GTVT có 5 DNNN thực hiện cổ phần hoá. Ngoài công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển có công ty cổ phần đá Đồng Giao hoạt động theo luật công ty tháng 2/1997. Khách sạn Hải Vân Nam thuộc công ty dịch vụ du lịch đường sắt Sài Gòn đã có quyết định xác định giá trị DN tháng 6/1997 đang trong giai đoạn đăng ký bán cổ phiếu. Công ty vận tải SAFI đã có quyết định chuyển sang công ty cổ phần 5/1998, đã thẩm định xong giá trị... Tháng 4/1998 Bộ giao thông vận tải đã báo cáo và đăng ký danh sách thực hiện cổ phần hoá đợt 1 năm 1998 là 10 đơn vị, và đợt 2 đầu năm 1999 là 10 đơn vị và cả năm 1999 là 50 đơn vị. Như vậy bộ GTVT là bộ đi đầu và cũng là bộ có số lượng thực hiện cổ phần hoá nhiều nhất. Tại thời điểm này, Bộ thương mại và 5 tỉnh thành phố đăng ký danh sách 21 DNNN - cổ phần hoá. Cục quản lý vốn và tài sản ở các địa phương báo cáo có 70 DNNN - cổ phần hoá... Tuy nhiên so với yêu cầu đặt ra thì tiến trình cổ phần hoá ở nước ta vẫn còn chưa đạt. Tiến độ thực hiện chậm nhưng tập trung có mấy nguyên nhân sau đây. 2.2. Nguyên nhân cổ phần hoá chậm ở Việt Nam trong những năm gần đây. - Các doanh nghiệp và CBCNV các doanh nghiệp chưa thật sự thông suốt tư tưởng cổ phần hoá: Sự mất quyền lãnh đạo mất quyền lợi, mất việc làm... - Về chế độ chính sách chưa thoả đáng, chưa khuyến khích người lao động và DNNN chuyển sang cổ phần hoá. - Trình tự, thủ tục rườm rà, phức tạp nhất là khâu thẩm định giá trị doanh nghiệp, có quá nhiều công đoạn... 3. Các yếu tố tác động tới quá trình cổ phần hoá DNNN ở nước ta hiện nay. 3.1. Thuận lợi. + Điều kiện và môi trường pháp lý hiện nay ở nước ta, về cơ bản đã được xác lập, đặt tất cả các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường. Việc thực hiện "Thương mại hoá" các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế là tiền đề cơ bản và cần thiết để từng bước thực hiện cổ phần hoá các DNNN. + Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề cổ phần hoá của DNNN và quyết tâm thực hiện. Điều này thể hiện ở việc ban hành các văn bản nhằm thực hiện chương trình cổ phần hoá DNNN như luật công ty, quyết định 315, và 330 về sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nước. Nghị định 388 - HĐBT về thành lập và giải thể DNNN. + Tình hình kinh tế đất nước đã có nhiều biến đổi theo chiều hướng tích cực. Giá cả thị trường đã được duy trì tương tới ổn định, mức lạm phát được kiềm chế, đồng tiền Việt Nam được giữ giá. + Như những chính sách đổi mới trong phát triển kinh tế, thu nhập của dân cư được nâng cao. Hoạt động trong cơ chế thị trường chưa lâu nhưng đã xuất hiện đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp có khả năng kinh doanh lớn. Tuy nhiên bên cạnh những yếu tố tích cực, góp phần thuận lợi cho việc thực hiện cổ phần hoá DNNN thì vẫn còn có những khó khăn trở ngại đôí với nước ta. 3.2. Khó khăn: - Khu vực tư nhân nhỏ bé, yếu ớt, phản ánh trình độ chậm phát triển của khu vực kinh tế thị trường, hình thái công ty cổ phần còn xa lạ với mọi người. Điều này gây ra sự bỡ ngỡ, lúng túng cho cả người đầu tư lẫn người sử dụng vốn đầu tư dưới hình thức cổ phiếu, do đólàm cho việc tiến hành chương trình cổ phần hoá ở nước ta phải thực hiện trong một thời gian dài song song với sự hình thành và phát triển hình thái công ty cổ phần. - Thiếu vắng thị trường tài chính, trong đó có thị trường chứng khoán. - Sự chưa ổn định trong chính sách vĩ mô của nhà nước. - Các DNNN cũ kỹ, lạc hậu, biên chế cồng kềnh, khả năng cạnh tranh thấp. III. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẺ THÚC ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ DNNN TRONG THỜI GIAN TỚI. 1. Những quan điểm cơ bản cần quán triệt trong cổ phần hoá. Việc triển khai thí điểm chương trình cổ phần hoá đối với các DNNN trong thời gian qua cho thấy, cần phải xác định rõ một số quan điểm cơ bản nhằm tiếp tục thực hiện chương trình này. 1.1. Việc lựa chọn những DNNN để cổ phần hoá phải được đặt trong chương trình tổng thể đổi mới và sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nước. 1.2. Việc lựa chọn doanh nghiệp nào để cổ phần hoá là thuộc thẩm quyền và chức năng của nhà nước với tư cách là người sở hữu, chứ không tuỳ thuộc vào ý kiến giám đốc và tập thể lao động trong doanh nghiệp. 1.3. Xác định mục tiêu cổ phần hoá cụ thể, phù hợp với từng loại doanh nghiệp, như loại cần huy động thêm vốn, loại cần thu hồi vốn để đầu tư vào các lĩnh vực khác, loại nên để cho người quản lý và lao động làm chủ... 1.4. Mọi tài sản của doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá đều thuộc sở hữu nhà nước, trừ quỹ phúc lợi tập thể là người chủ sở hữu, nhà nước có trách nhiệm đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, thì lẽ đương nhiên, nhà nước cũng phải có trách nhiệm với phần "vốn tự có" của doanh nghiệp. 1.5. Phải chú ý đến cả hải giá trị cấu thành: Giá trị hữu hình và giá trị vô hình để kết hợp hai phương pháp tính giá theo thống kê kế toán và theo tỉ suất lợi nhuận bình quân. 1.6. Phương pháp bán cổ phiếu ở các doanh nghiệp được cổ phần hoá cần được thực hiện công khai rõ ràng, thủ tục đơn giản, dễ hiểu đối với mọi người để tránh sự lạm dụng của những người thực thi cũng như sự nghi ngờ của công chúng. 1.7. Ngoài thu hồi vốn, nhà nước cần phải xác định những khoản phí tổn nhất định vì lợi ít lâu dài của sự phát triển đất nước. Những khoản phí tổn cho bảo hiểm, trợ cấp cho người lao động, tìm việc làm mới, bán cổ phiếu theo giá ưu đãi cho những nhóm xã hội nhất định, cho vay tiền để mua không lãi suất hoặc với lãi suất thấp cho những đối tượng nhất định, ngoài ra còn có những chi phí về các hoạt động tư vấn, quảng cáo, kiểm toán, môi giới đầu tư qua cổ phiếu. 1.8. Các doanh nghiệp được cổ phần hoá sẽ hoạt động trong khuôn khổ luật công ty, cả về hình thức tổ chức quản lý, lẫn hoạt động tài chính. Vì vậy nhà nước cần thành lập một cơ quan hoạt động như một công ty tài chính quốc gia với đội ngũ các nhà sáng lập và quản trị để thay mặt nhà nước quảnl ý và thực hiện các hoạt động đầu tư vốn của nhà nước thông qua các công ty cổ phần. 1.9. Các doanh nghiệp được cổ phần hoá phải có sự giải quyết rõ ràng, dứt điểm các vấn đề tồn đọng về tài chính, và lao động trước khi chuyển sang công ty cổ phần theo đúng những quy định đã ban hành của nhà nước. 1.10. Các công ty cổ phần trong đó nhà nước chiếm tỷ trọng khống chế vẫn là DNNN. Vì: - Việc chuyển một bộ phận DNNN hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận sang công ty cổ phần chỉ là sự thay đổi về hình thức tổ chức quản lý nhằm huy động thêm vốn, để trang bị kỹ thuật, đổi mới công nghệ, từ đó tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. - Quyền quản lý và quyền sở hữu doanh nghiệp được tách biệt một cách tương đối. Giám đốc DNNN có toàn quyền điều hành doanh nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình - dưới sự kiểm tra, giám sát của hội đồng quản trị và ban kiểm soát - kể cả được quyền mạo hiểm khi cần thiết để tìm cơ may sinh lời. Trong công ty cổ phần hình thành một cơ chế ràng buộc giữa 3 chủ thể: người sở hữu, người quản lý, và người lao động sản xuất kinh doanh. Từ đó đồng vốn của xã hội được phân bổ và sử dụng một cách hợp lý, tài sản nhà nước đỡ bị thất thoát, chính phủ lại có thể rút ra một phần vốn từ việc bán cổ phiếu để đầu tư vào các công trình trọng điểm khác. Sự can thiệp hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế vào các hoạt động kinh doanh của DNNN sẽ được khắc phục. Tính tự chủ kinh doanh - thuộc tính vốn có của các loại hình doanh nghiệp trong cơ chế thị trường - sẽ được đảm bảo. Nhận rõ ưu thế của công ty cổ phần, Đại hội VIII của Đảng đã chủ trương: "Triển khai tích cực và vững chắc việc cổ phần hoá DNNN để huy động thêm vốn tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản của nhà nước ngày càng tăng lên, không phải để tư nhân hoá. Trên thực tế, tuy các công ty cổ phần của nhà nước vừa phải hoạt động theo luật công ty, vừa hoạt động theo luật DNNN, nhưng những doanh nghiệp ấy do nhà nước thành lập và quan trọng hơn nhà nước là chủ sở hữu cơ bản nhất nên nhà nước nắm quyền quyết định trong hội đồng quản trị. Như vậy lợi ích của nhà nước sẽ được đảm bảo, tài sản, vốn liếng trong DNNN không ngừng tăng lên về mặt giá trị lẫn hiện vật, những ưu thế về vốn, công nghệ, và quản lý được phát huy điều mà DNNN truyền thống và doanh nghiệp tư nhân khó có được. DNNN cổ phần hoá có thể tồn tại dưới các hình thức: + DNNN chỉ bán một phần cổ phiếu cho cán bộ, công nhân trong doanh nghiệp. + DNNN giữ nguyên 100% vốn nhà nước và phát hành trái phiếu để huy động thêm vốn. + Tách một hoặc một vài bộ phận của DNNN và bán cổ phiếu đối với bộ phận đó. + Bán cổ phiếu ngay từ đầu mới thành lập DNNN. + DNNN bán cổ phiếu cho các cổ đông là những DNNN khác. Trong tất cả các hình thức nêu trên, sở hữu nhà nước và lợi ích của chủ sở hữu nhà nước không hề bị xâm phạm. Vấn đề chỉ là ở việc lựa chọn đại diện của nhà nước tham gia hội đồng quản trị sao cho mà bảo đảm doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, vừa bảo vệ được lợi ích của cổ đông nhà nước. Khi tìm hiểu mô hình DNNN và những giải pháp cải cách DNNN của một số nước trong khu vực và trên thế giới ta thấy rằng, có nước đòi hỏi đã là DNNN phải có 100% vốn nhà nước cấp nhưng phổ biến nhất là chỉ cần tỉ trọng vốn nhà nước chiếm đa phần trong doanh nghiệp. Một số nhà nghiên cứu kinh tế Hàn Quốc đã đưa ra quan điểm: "Cổ phần hoá DNNN là một hình thức tổ chức mà không chuyển đổi sở hữu. Nếu cả chính phủ và khu vực tư nhân cùng sở hữu thì nó vẫn được gọi là DNNN chứ không phải là doanh nghiệp tư nhân. Ở Pháp, các DNNN đều được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó nhà nước nắm toàn bộ hoặc đa số cổ phần. Các công ty này hoàn toàn chịu sự chi phối của quy luật thị trường, chấp nhận cạnh tranh và dưới sự điều chỉnh của pháp luật như đối với công ty tư nhân quyền của nhà nước đối với DNNN cổ phần hoá cũng giống như quyền của chủ tư bản trong các công ty tư nhân. Đó là quyền chủ tịch công ty, quyền quyết định thành lập hội đồng quản trị, quyền quyết định kinh doanh, quyền kiểm soát, kiểm tra hoạt động của công ty. Kết quả là hầu hết các DNNN ở nước này đều làm ăn có hiệu quả. Trên đây là một số chỉ tiêu cơ bản để tiến hành thực hiện thí điểm chương trình cổ phần hoá DNNN ở nước ta. Song, nhịp độ vẫn còn chậm, vậy muốn cổ phần hoá nhanh chóng chúng ta phải làm gì. 1. Cổ phần hoá trước hết nên tiến hành đối với những DNNN đang kinh doanh có lãi và có khả năng phát triển. 2. Để tiến hành chương trình cổ phần hoá có kết quả, cần phải xác lập những điều kiện kinh tế vĩ mô cần thiết. + Môi trường pháp lý cho sự chuyển đổi sở hữu trong các doanh nghiệp được cổ phần hoá. + Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán và sở giao dịch chứng khoán. + Xác lập cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chịu trách nhiệm thực hiện chương trình này. 3. Đối với các doanh nghiệp thua lỗ kéo dài nhà nước cần can thiệp để đưa ra những quyết định hữu hiệu để khắc phục. 4. Giải quyết số lao động dư thừa trong quá trình cổ phần hoá, chính phủ nên thành lập các quỹ đền bù, quỹ trợ cấp thất nghiệp. Cổ phần hoá nhưng phải đảm bảo người lao động không mất việc làm. 5. Tập trung chỉ đạo, giao chỉ tiêu cổ phần hoá cụ thể cho một số ngành lớn. Thành lập công ty tư vấn, đầu tư tài chính thành lập một số tổ xây dựng đề án cổ phần hoá, giúp đỡ các doanh nghiệp có được phương án đầu tư có hiệu quả để huy động thêm các nguồn vốn khác trừ nội bộ nền kinh tế cũng như thị trường vốn Quốc tế. IV. KẾT LUẬN. Trong tình hình hiện nay ở nước ta, vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đang được đặt ra một cách cơ bản và cấp bách đối với lý luận và thực tiễn đổi mới khu vực kinh tế nhà nước và chuyển nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường có sự định hướng của nhà nước. Sự trình bày khái quát trên đây về những vấn đề cơ bản của cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, với mục đích góp một phần nhỏ trong việc xây dựng quan điểm chỉ đạo cho công cuộc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đang được chính phủ tiến hành trong mấy năm qua. Tuy nhiên, do việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta đang trong giai đoạn thí điểm nên thiết nghĩ còn có nhiều vấn đề phải được các cấp các ngành nghiên cứu sâu thêm để góp phần vào việc thúc đâỷ quá trình cổ phần hoá trên thực tế đạt được kết quả mong muốn. MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBC2127.doc
Tài liệu liên quan