Đề tài Giải pháp hoàn thiện chế độ cho thuê tài chính ở Việt Nam

Tìm hiểu một cách hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động cho thuê tài chính. Tìm hiểu tình hình cho thuê tài chính trên thế giới một cách khái quát và cụ thể để rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho việc hoàn thiện chế độ cho thuê tài chính ở Việt Nam. - Tìm hiểu và đánh giá thực trạng của hoạt động cho thuê tài chính cũng như chế độ cho thuê tài chính ở Việt Nam để tìm ra những khó khăn vướng mắc cần tháo gỡ, và dựa trên việc phân tích cơ sở pháp lý của hoạt động cho thuê tài chính rút ra được những khó khăn thuận lợi cho việc thực hiện chế độ cho thuê tài chính. Từ đó đưa ra những giải pháp và kiến nghị cụ thể góp phần hoàn thiện chế độ cho thuê tài chính theo pháp luật Việt Nam.

doc95 trang | Chia sẻ: Dung Lona | Ngày: 05/08/2016 | Lượt xem: 45 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Giải pháp hoàn thiện chế độ cho thuê tài chính ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g lai. Về môi trường pháp lý: Mặc dù mới ra đời nhưng hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam đã có một hành lang pháp lý tạo điều kiện cho việc quản lý và thúc đẩy hoạt động này phát triển. Sự ban hành của Nghị định số 16 của Chính phủ về cho thuê tài chính đã mở ra những điều kiện thuận lợi hơn cho mô hình cho thuê tài chính.Chính sách của Chính phủ cũng như các bộ ngành hữu quan đều đi theo xu hướng là càng ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho thuê tài chính hơn. 2. Một số Khó khăn trong thời gian tới: Ngoài những trở ngại đã gặp trong thời gian qua do các nguyên nhân khác nhau đưa tới, cho thuê tài chính của Việt Nam trong thời gian tới phải đối đầu với một số khó khăn sau: Hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam là một hoạt động quá mới mẻ và non trẻ. Nhận thức của các doanh nghiệp và các đơn vị kinh tế đối với hoạt động cho thuê tài chính quá lờ mờ, không hiểu và không biết, dẫn đến tâm lý ngại “tiếp xúc” với các công ty cho thuê tài chính . Sự phát triển chưa ổn định của nền kinh tế , nền kinh tế còn ở quy mô nhỏ cũng như nội lực của các doanh nghiệp yếu cũng là những cản trở lớn đối với cho thuê tài chính. Mặc dù chính sách Chính phủ , NĐ16CP ra đời cùng các văn bản pháp luật đi kèm đã là một thuận lợi cho Cho thuê tài chính , tuy nhiên chế độ cho thuê tài chính ở Việt Nam cũng như các văn bản pháp luật hữu quan còn tồn tại nhiều bất cập. Đây có thể coi là khó khăn lớn nhất cần giải quyết và khắc phục để phát triển hoạt động Cho thuê tài chính ở nước ta. Vướng mắc của ngành công nghiệp cho thuê tài chính ở Việt Nam còn thể hiện ở chỗ chúng ta chưa hề có một hiệp hội công nghiệp đủ mạnh để các công ty cho thuê tài chính được gia nhập như là các hội viên, trên cơ sở đó việc trao đổi và cung cấp thông tin về nhu cầu thị trường , giá cả của thiết bị và sự đổi mới của công nghệ cũng như để tiếp cận với các khách hàng tiềm năng là thật sự cần thiết đối với các công ty cho thuê tài chính. Việt Nam vẫn chưa hình thành được thị trường mua bán và trao đổi đồ cũ , đặc biệt là thị trường mua bán các thiết bị đã qua sử dụng khiến cho hoạt động này cũng rất khó khăn trong tương lai nếu như các khách hàng của Công ty cho thuê tài chính gặp khó khăn về thị trường hoặc bạn hàng. Một khó khăn nữa đó là việc ra đời quá muộn màng của các cơ quan đăng ký tài sản (dù cho nhiều năm nay cả ngành Ngân hàng, Bộ tài chính và Bộ tư pháp đều nỗ lực cho công việc này). Các công ty cho thuê tài chính vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng và phân vân không biết đăng ký tài sản cho thuê tài chính của mình như thế nào, vì mặc dù Trung tâm đăng ký giao dịch có bảo đảm đã được thành lập nhưng chức năng nhiệm vụ , quy chế đăng ký của nó còn chưa được công bố. 3. Một số định hướng nhằm hoàn thiện chế độ Cho thuê tài chính ở Việt Nam 3.1. Định hướng chung để hoàn thiện chế độ Cho thuê tài chính ở Việt Nam Bằng lý luận, kinh nghiệm của các nước có công nghiệp Cho thuê tài chính phát triển và thực tế ở nước ta trong những năm qua cho thấy , hoạt động cho thuê tài chính muốn phát triển thì một trong những yêu cầu tất yếu là phải có một môi trường pháp lý phù hợp , với những quy định cụ thể , đày đủ, chính xác. Hướng xây dựng và hoàn thiện chế độ cho thuê tài chính phải thoả mãn các tiêu chí cơ bản sau: Thứ nhất , phải phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế về Cho thuê tài chính. Đảm bảo được tiêu chí này sẽ khuyến khích các nhà tài trợ nước ngoài tiến hành đầu tư vào Cho thuê tài chính ở Việt Nam đồng thời tạo được hành lang pháp lý cần thiết, thuận lợi cho việc giải quyết những tranh chấp phát sinh. Thứ hai, phải phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam, một nền kinh tế có xuất phát điểm thấp lại đang trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế kinh tế mới. Thứ ba, phải phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Đảng, của Nhà nước . 3.2. Chiến lược phát triển của NHNN có liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính Từ định hướng phát triển kinh tế của Đảng, của Nhà nước tới năm 2020 và từ những thay đổi của thị trường tài chính tiền tệ trong nước, trong khu vực và trên thế giới những năm qua , cùng nhu cầu và xu hướng đổi mới hoạt động ngành ngân hàng, chiến lược phát triển có liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính của NHNN trong những năm tới như sau: 3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện các biện pháp tăng nguồn vốn và các sản phẩm mới nhằm huy động một lượng vốn ngày càng tăng, để đầu tư cho nền kinh tế, cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Xác định rõ việc thường xuyên ổn định và tăng trưởng nguồn vốn là động lực, là cơ sở để thực hiện thành công các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho. Phấn đấu mức tăng trưởng vốn huy động 15-18% mỗi năm bằng việc đa dạng hoá các hình thức huy động vốn. 3.2.2. Việc mở rộng đầu tư đi liền với việc nâng cao chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn, khó đòi xuống mức 3%, có giải pháp cụ thể để khai thác tài sản xiết, xử lý nợ khó đòi. Trên nguồn vốn lớn, bám sát các định hướng của Nhà nước về chiến lược phát triển kinh tế, tiếp cận với các dự án lớn , các chương trình kinh tế trọng điểm, để trực tiếp tham gia đầu tư hoặc tiến hành đồng tài trợ. Dành một tỷ lệ vốn thích đáng để đầu tư cho các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là do các tổng công ty 90-91 có vị trí quan trọng trong nền kinh tế . Phấn đấu tăng dư nợ tín dụng hàng năm là 18 – 20% . Nâng tỷ lệ dư nợ tín dụng trung và dài hạn lên khoảng 35% tổng dư nợ so với 27,53% hiện nay. Trong lĩnh vực sử dụng vốn, thực hiện phương châm đầu tư thận trọng, đạt hiệu quả kinh tế, xã hội cao, đảm bảo an toàn vốn. Tăng trưởng khối lượng tín dụng phải phù hợp với nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nâng cao tỷ lệ vốn đầu tư trung và dài hạn cho các dự án có công nghệ tiên tiến , có vai trò quan trọng trong nền kinh tế như : Bưu chính viễn thông , Điện lực, Hàng không, Dầu khí v.v... 3.2.3. Công tác tổ chức cán bộ Xây dựng quy hoạch, mở rộng có trọng điểm mạng lưới tổ chức của ngân hàng ngoại thương Việt Nam, tạo ra một cơ cấu các chi nhánh hợp lý trên toàn quốc, tập trung khai thác tiềm năng kinh tế của đại bàn, đảm bảo phục vụ cho các ngành kinh tế trọng điểm. Có chính sách đào tạo nguồn nhân lực để không ngừng nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ và nâng tổng số cán bộ đến năm 2005 là 6000 cán bộ nhân viên so với 2700 người như hiện nay. Cải tiến, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ để phát huy tốt năng lực của từng người. 3.2.4. Tiếp tục hiện đại hoá công nghệ ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ , đảm bảo tính cạnh tranh và giữ vị thế của ngân hàng Ngoại thương là ngân hàng hàng đầu trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu,v.v... Đồng thời , hoàn thiện và mở rộng các dịch vụ mới , các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, các dịch vụ của một ngân hàng hiện đại như hoạt động thanh toán thẻ, hoạt động Cho thuê tài chính... 3.2.5. Nâng cao hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Các chi nhánh phấn đấu và Trung ương có biện pháp hỗ trợ để sẽ không còn một chi nhánh nào bị lỗ . Kết quả kinh doanh của các ngân hàng trong những năm tới tăng từ 15% trở lên. 3.2.6. Nghiên cứu quán triệt 2 Luật : Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng, các nghị định của Chính phủ, các quy chế hướng dẫn các luật này , nhằm đảm bảo cho hoạt động của các ngân hàng đi đúng hành lang pháp lý. Các ngân hàng nhanh chóng có các quy định, thể lệ trong các mặt nghiệp vụ chuyên môn hoặc rà soát, điều chỉnh các quy chế , quy định hiện hành của các ngân hàng cho phù hợp với Luật NHNN và các văn bản luật của cấp trên. 3.2.7. Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm soát, kiểm tra nội bộ giúp cho hoạt động của các ngân hàng đi đúng hành lang pháp lý , thực hiện tốt các Nghị quyết, Quyết định của ban lãnh đạo các Ngân hàng . 3.2.8. Đổi mới công tác quản trị điều hành Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng , nâng cao vai trò của Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ trong việc giáo dục, động viên toàn thể cán bộ, công nhân viên thực hiện nhiệm vụ chính trị của các Ngân hàng Việt Nam. Đồng thời phải xây dựng quy chế làm việc nội bộ, chức năng, nhiệm vụ của từng phòng nhằm xác định trách nhiệm của từng cấp lãnh đạo, từng phòng ban trong bộ máy tổ chức của các Ngân hàng . 4. Một số giải pháp cụ thể: 4.1. Tăng cường công tác quản lý và thực hiện hoạt động cho thuê Môi trường pháp lý là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của dịch vụ cho thuê tài chính trong bối cảnh mức độ cạnh tranh trong thị trường tài chính tiền tệ ngày càng cao. Kinh nghiệm từ các nước có thị trường thuê mua phát triển cho thấy một hành lang pháp lý hoàn chỉnh, đầy đủ sẽ đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ thể tham gia vào lĩnh vực này. Vì vậy, vấn đề đặt ra với Việt Nam là phải hoàn thiện hành lang pháp lý hơn nữa, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cho thuê tài chính phát triển. Về vấn đề quản lý và thực hiện, đề nghị Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan hữu quan kiểm soát được hoạt động và tình hình cho thuê tài chính trên thị trường để có được những biện pháp kịp thời và phù hợp khắc phục những khó khăn và những bất cập để chế độ cho thuê tài chính được hoàn thiện hơn. Một biện pháp lâu dài để quản lý dễ dàng hơn cho thuê tài chính ở Việt Nam có thể đưa ra là các cơ quan chức năng nên nghiên cứu ban hành “Luật cho thuê tài chính” hay “Luật khuyến khích công nghiệp cho thuê tài chính” (theo kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp cho thuê tài chính phát triển).Tạo được một văn bản pháp quy cụ thể và chi tiết sẽ khiến các doanh nghiệp không bị lúng túng trong vấn đề pháp lý của hoạt động cho thuê tài chính, cũng thuận lợi hơn cho cơ quan chức năng khi xử lý vi phạm, không phải dẫn chiếu đến văn bản này hay văn bản khác. Mặc dù ở Việt Nam đã ban hành một số văn bản dưới luật điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính, nhưng các văn bản này vẫn chưa hoàn chỉnh và còn một số bất cập chưa đủ để đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ thể. Bên cạnh đó, cũng phải tăng cường công tác quản lý và thực hiện các văn bản pháp lý hiện hành của các chủ thể cho thuê tài chính để đảm bảo tính nghiêm khắc của luật pháp và đảm bảo lợi ích xã hội, như việc thành lập một Ban thanh tra về cho thuê tài chính để kiểm soát hoạt động kinh doanh của các công ty cho thuê tài chính. Chính phủ hay Nhà nước nên thành lập một Hiệp hội công nghiệp đủ mạnh để các công ty cho thuê tài chính được gia nhập như là các Hội viên, vừa thuận lợi cho việc quản lý, tạo một diễn đàn cho việc trao đổi kinh nghiệm cùng các thông tin cập nhật về nhu cầu thị trường, giá cả của thiết bị và sự đổi mới của công nghệ... giữa các công ty cho thuê tài chính, để tiếp cận với các khách hàng tiềm năng cũng như là nơi mà các công ty cho thuê tài chính có thể trực tiếp đề xuất những kiến nghị cùng những khó khăn cần được tháo gỡ về mặt pháp lý cho Nhà nước. Từ đó, chính phủ và nhà nước nghiên cứu và giải quyết. Trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động, tiềm ẩn nhiều rủi ro, đối với các công ty cho thuê tài chính nhà nước, sự giúp đỡ hỗ trợ của Ngân hàng mà công ty đó trực thuộc là hết sức quan trọng, cụ thể như có những hỗ trợ về vốn cả ngoại tệ và nội tệ; Các bộ phận chức năng như Phòng kinh doanh ngoại tệ, Phòng quản lý tín dụng, Phòng thanh toán nhập khẩu có những hỗ trợ về mặt nghiệp vụ, có ưu đãi về biểu phí, mức ký quỹ... hay cung cấp thông tin tín dụng chính xác, kịp thời, như vậy sẽ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính nhà nước trên thị trường. Vì trên thực tế về nguồn vốn lưu động cũng như sự cập nhật thông tin của các công ty cho thuê taì chính này kém hơn các công ty nước ngoài, mà chính sách của Nhà nước ta là ưu đãi trong nước hơn. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên hỗ trợ các công ty cho thuê tài chính khác, tạo một hành lang pháp lý thông thoáng nhưng không lỏng lẻo để các công ty cho thuê tài chính có điều kiện cạnh tranh một cách bình đẳng và an toàn. Chính phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước nên cho phép Các công ty cho thuê tài chính được cho thuê nội ngành trong việc đầu tư, mua sắm tài sản cố định của toàn hệ thống, như vậy sẽ tạo điều kiện cho các công ty cho thuê tài chính có điều kiện giúp đỡ lẫn nhau và phát triển kinh doanh, đồng thời cũng giúp các công ty cho thuê tài chính đỡ khó khăn hơn trong việc tìm nguồn cung cấp, nguồn tiêu thụ và không bị bắt chẹt về giá cả...Hơn nữa, việc cho thuê trong nội ngành cũng dễ quản lý. 4.2. Hoàn thiện các văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính Có thể nói , trong thời gian qua Chính phủ cũng như các cơ quan quản lý hoạt động cho thuê tài chính đã không ngừng nỗ lực tìm hiểu và hoàn thiện chúng, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề xin đơn cử như sau: *Về các phương thức cho thuê tài chính: Pháp luật hiện hành của chúng ta thừa nhận cả bốn hình thức cho thuê tài chính được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Cụ thể như đã được trình bày trong Chương II của Luận văn. Tuy nhiên, trên thực tế để các bên tham gia giao dịch cho thuê tài chính dễ dàng trong việc áp dụng các phương thức này thì cần phải có sự hướng dẫn chi tiết hơn nữa của pháp luật. Như quy định về điều kiện áp dụng từng phương thức, quyền và nghĩa vụ của các bên trong từng phương thức, trình tự, thủ tục áp dụng từng phương thức. Đặc biệt với phương thức cho thuê giáp lưng phải quy định rõ nghĩa vụ chịu trách nhiệm liên đới của bên thuê trong việc cho bên thứ ba thuê lại tài sản và trong phương thức mua và cho thuê lại cần đưa ra những nguyên tắc chung nhất trong việc định giá tài sản thuê cũng như điều kiện về tài sản của bên thuê để được phép cho thuê theo phương thức này. * Về các văn bản pháp luật chi phối hoạt động cho thuê tài chính: Thứ nhất, cần xác định rõ mức độ, phạm vi chi phối của các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính và nhanh chóng hoàn thiện các văn bản này góp phần hoàn thiện quy chế pháp lý đối với hoạt động cho thuê tài chính. Thứ hai, với các quy định về khuyến khích đầu tư trong nước hiện nay, cần có hướng dẫn cụ thể về việc ưu đãi nhằm khuyến khích các công ty cho thuê tài chính đầu tư cho thuê đối với các dự án thuộc diện được khuyến khích đầu tư theo pháp luật hiện hành. Như vậy, vừa tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động cho thuê tài chính phát triển vừa tạo thêm cơ hội để các chủ dự án thuộc diện khuyến khích đầu tư có thêm nguồn vốn đầu tư trang thiết bị khi triển khai thực hiện các dự án này. Vì trên thực tế do họ chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn trung và dài hạn từ bên ngoài. Thứ ba, nên đưa quy chế đấu thầu vào hoạt động cho thuê tài chính. Tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các công ty cho thuê tài chính, sự bình đẳng trong môi trường đầu tư cũng như cơ hội lựa chọn, huy động tối đa nguồn vốn đầu tư cho bên thuê khi có các dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả, cần khuyến khích. Xuất phát từ thực tế hiện nay là trong quan hệ cho thuê tài chính quyền quyết định và ưu thế vẫn thuộc về các công ty cho thuê tài chính, làm cho hoạt động cho thuê tài chính không sôi động, kém hiệu quả và trong nhiều trường hợp quyền lợi chính đáng của bên thuê không được bảo đảm. Trong khi đó xét về bản chất kinh tế thì cả công ty cho thuê tài chính và bên thuê đều là những chủ đầu tư bình đẳng trong nền kinh tế. Ngoài ra, cùng với việc ban hành các văn bản pháp luật, các Bộ ngành có liên quan cần phối hợp cho ra đời các quy định hướng dẫn thực hiện một cách đồng bộ, phù hợp với thực tế, tránh hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Ví dụ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần ban hành quy chế xử lý rủi ro trong hoạt động nhập khẩu đối với tài sản cho thuê tài chính một cách cụ thể hơn. Với Quy chế hiện hành, công ty cho thuê tài chính vẫn có thể gặp rủi ro trong quá trình xử lý nghiệp vụ của mình. * Về các hoạt động nghiệp vụ của công ty cho thuê tài chính Pháp luật hiện hành ở Việt Nam về hoạt động cho thuê tài chính không coi hoạt động cho thuê vận hành là một hoạt động nghiệp vụ của các công ty cho thuê tài chính mà mới chỉ coi đây là một trong những hướng để xử lý tài sản sau khi chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính. Trong khi đó, pháp luật của rất nhiều nước lại quy định coi đây là một hoạt động nghiệp vụ của công ty cho thuê tài chính, làm cho hoạt động của công ty cho thuê tài chính trở nên linh hoạt, mở rộng diện khách hàng và khai thác tối đa công dụng của tài sản đã đầu tư. Đây có thể coi là một hướng nhằm đa dạng hoá hoạt động của các công ty cho thuê tài chính tại thị trường Việt Nam và phù hợp với thông lệ quốc tế. Nó sẽ không chỉ là một cách để xử lý tài sản khi kết thúc hợp đồng mà còn là một trong các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu để thu lợi nhuận của các công ty cho thuê tài chính. Thiết nghĩ pháp luật nên quy định cụ thể vấn đề này làm cơ sở pháp lý cho các công ty cho thuê tài chính triển khai hoạt động này trên thực tế. * Về giới hạn mục đích của bên thuê Việc quy định bên thuê trong quan hệ cho thuê tài chính trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích sản xuất kinh doanh của mình như hiện nay trong khi mở rộng phạm vi chủ thể gồm cả các tổ chức có tư cách pháp nhân nhưng không phải là doanh nghiệp dẫn đến những điểm không phù hợp. Cụ thể, trên thực tế có rất nhiều tổ chức có tư cách pháp nhân nhưng không phải là đơn vị sản xuất kinh doanh, do vậy họ không thể tham gia vào giao dịch cho thuê tài chính trong khi đó pháp luật lại quy định họ có thể là bên thuê trong quan hệ cho thuê tài chính. Hơn nữa, có rất nhiều các tổ chức loại này có nhu cầu tham gia vào quan hệ cho thuê tài chính với mục đích phục vụ cho hoạt động hợp pháp của mình mà không phải là mục đích sản xuất kinh doanh. Ví dụ, các cơ quan nhà nước, trường học thuê phương tiện vận tải để đưa đón nhân viên, học sinh đi làm, đi học. Như vậy, quy định về mục đích sản xuất kinh doanh là không phù hợp với loại chủ thể này. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay thì quy định về mục đích phục vụ sản xuất kinh doanh của bên thuê nói chung khi tham gia vào quan hệ cho thuê tài chính là cần thiết. Vì vậy, nên có quy định riêng về vấn đề này đối với bên thuê là các pháp nhân không phải là doanh nghiệp. * Về việc đăng ký tài sản cho thuê tài chính tại Trung tâm giao dịch có bảo đảm: Bộ Tư pháp nên có Thông tư hướng dẫn cụ thể cho các công ty cho thuê tài chính về cách thức thực hiện việc đăng ký này. Các cơ quan trung ương cũng nên công bố chức năng nhiệm vụ, quy chế đăng ký của Trung tâm này để các công ty cho thuê tài chính có thể hiểu rõ và yên tâm đăng ký tài sản cho thuê tài chính của mình tại Trung tâm. * Về việc đăng ký tài sản thuê là phương tiện giao thông vận tải: Cần có hướng dẫn và quy định cụ thể từ phía các cơ quan công chứng, cảnh sát giao thông... để việc sử dụng bản sao đăng ký có công chứng khi lưu hành không bị gặp trở ngại. Việc xin cấp giấyđăng ký cho phương tiện giao thông vận tải nên có quy định thông thoáng và thuận tiện hơn cho các công ty cho thuê tài chính. Không nhất thiết cứ phải đăng ký theo địa điểm đặt trụ sở chính của công ty cho thuê tài chính hoặc nếu như vậy thì nên thực hiện uỷ quyền thông qua các phương tiện thông tin kết hợp với sự bảo đảm trách nhiệm từ phía trụ sở chính của công ty, như vậy sẽ hạn chế được tổn phí về thời gian và công sức, hạ giá thành cho thuê, đem lại lợi ích cho cả bên thuê và bên cho thuê. Ví dụ, công ty chi nhánh có thể fax cho công ty trụ sở chính toàn bộ hồ sơ đăng ký, công ty trụ sở chính có thể nhận uỷ quyền và cộng thêm với giấy bảo đảm trách nhiệm có dấu đỏ của mình là có thể đăng ký được cho tài sản cho thuê là phương tiện giao thông vận tải của bên thuê thuộc địa điểm công ty cho thuê tài chính chi nhánh. * Về vốn điều lệ: Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nên tăng cường vốn điều lệ của Công ty cho thuê tài chính nhằm taọ điều kiện cho các công ty cho thuê tài chính gia tăng sự lành mạnh về tình hình tài chính. Vì trên thực tế nhiều công ty Cho thuê tài chính đã sử dụng hết số vốn điều lệ và chưa tự được phép huy động tiền gửi trung và dài hạn, phát hành trái phiếu.... Để từ đó các Công ty cho thuê tài chính có khả năng huy động vốn thông qua thị trường vốn, và tham gia tài trợ cho các dự án lớn trong tương lai một cách dễ dàng. 4.3. Ban hành các văn bản pháp quy hướng dẫn cụ thể các quy định liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính: Trong thời gian trước mắt các cơ quan có thẩm quyền cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể các quy định liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính nhằm đông bộ hoá các quy định trực tiếp điều chỉnh hoạt động này tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về cho thuê tài chính ở Việt Nam. Cụ thể như: - Việc nhập khẩu tài sản cho thuê (Điều 18 NĐ16CP) cần có hướng dẫn của Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan. - Việc đăng ký tài sản cho thuê tài chính tại Trung tâm đăng ký giao dịch có bảo đảm (Điều 19 NĐ16CP) cần có sự hướng dẫn của Bộ tư pháp. - Việc công chứng và lưu hành bản sao giấy chứng nhận đăng ký phương tiện vận tải, tàu thuyền đánh bắt thuỷ hải sản (Điều 20NĐ16CP) cần có sự hướng dẫn của Bộ Công an và Bộ Tư pháp. - Nơi đăng ký và đăng kiểm phương tiện vận tải, tàu thuyền đánh bắt thuỷ hải sản cần có sự hướng dẫn của Bộ Công an và Bộ Giao thông vận tải. - Những vấn đề về thuế (Điều 22 NĐ16CP) cần có hướng dẫn của Tổng cục thuế và tổng cục hải quan. - Những vấn đề khác cần có sự hướng dẫn cụ thể của Ngân hàng Nhà nước... 4.4. Phối hợp hoạt động giữa các cơ quan Nhà nước để thúc đẩy hoạt động cho thuê tài chính a. Ngân hàng Nhà nước phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan thúc đẩy hoạt động cho thuê tài chính: Ngân hàng Nhà nước tạo điều kiện cho các công ty cho thuê tài chính hoạt động đối ngoại và vay vốn trực tiếp nước ngoài, tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi của nước ngoài như nguồn vốn ODA, các dự án tài trợ của Chính phủ, ngân hàng, các tổ chức quốc tế như hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, trợ giúp người hồi hương tạo công ăn việc làm... Ngân hàng Nhà nước chủ động tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa hoạt động cho thuê tài chính và nghiệp vụ cho vay thông thường của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan hữu quan nên có chính sách hỗ trợ đối với công ty cho thuê tài chính về các khoản tiền cho vay với lãi suất ưu đãi,về cơ chế quản lý... Mặt khác, do đây là nghiệp vụ mới nên Ngân hàng Nhà nước tiếp tục kêu gọi các tổ chức song phương, đa phương hỗ trợ đào tạo nghiệp vụ cho các công ty cho thuê tài chính. b. Hình thành các liên kết hoạt động: Cần tổ chức hợp tác chặt chẽ giữa các ngân hàng, các doanh nghiệp lớn, các Bộ quản lý ngành có nhu cầu về thuê mua tài chính (như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Công nghiệp...) và các chủ địa phương làm chủ đầu tư. Việc hợp tác này đem lại nhiều ưu điểm quan trọng, tạo tiền đề cho dịch vụ cho thuê tài chính phát triển chắc chắn: Lợi ích của các doanh nghiệp và Bộ quản lý ngành - Đảm bảo có thiết bị hiện đại, hiệu quả để tham gia đấu thầu mà chỉ phải thuê sau khi thắng thầu. - Lên kế hoạch chắc chắn về đầu tư đổi mới công nghệ mà không sợ bị động về vốn vay. - Tránh được thủ tục thế chấp và bảo lãnh phiền phức khi đầu tư vào các thiết bị lớn. Lợi ích của các ngân hàng: - Thực hiện nhanh khâu thẩm định bởi vì một dự án được Bộ quản lý ngành duyệt thường phải qua nhiêù hội đồng, có nhiều chuyên gia giỏi phản biện nên những sai sót về kỹ thuật – kinh tế có thể hạn chế được. - Các dự án nằm trong các kế hoạch đầu tư dài hạn thường có nguồn tài trợ chắc chắn (như nguồn ODA...) và do đó các ngân hàng có thể yên tâm. - Cơ chế thực hiện các dự án qua đấu thầu thường được các ban quản lý dự án kiểm tra kỹ nên việc hỗ trợ thu nợ đơn giản hơn so với cho thuê mua tài chính nằm ngoài dự án. * Do các lợi điểm trên, chúng ta nên áp dụng một hình thức hợp tác theo trình tự như sau: - Các Bộ quản lý ngành, các cơ quan quản lý đầu tư đưa ra các dự án với các điều kiện tài chính kèm theo. - Các ngân hàng tập hợp với các doanh nghiệp thực hiện dự án thành một tập đoàn công nghiệp – tài chính (5-6 công ty xây dựng, 4-5 ngân hàng, 1 công ty tư vấn, 1-2 công ty thương mại, dịch vụ). Tập đoàn này tự lo về thiết bị, vốn liếng để thực hiện dự án, sau đó thu hồi dần. - Trong khuôn khổ của tập đoàn tài chính – côngnghiệp để thực hiện dự án cụ thể đó, tổ hợp 4-5 ngân hàng sẽ hợp tác đồng tài trợ cho doanh nghiệp cả thuê mua thiết bị và vốn lưu động thực hiện dự án. - Trong quá trình thực hiện dự án, Bộ quản lý ngành sẽ chỉ đạo và điều chỉnh tập đoàn tài chính – công nghiệp thông qua đại diện của mình trong tập đoàn. Như vậy, dự án sẽ được đi đúng hướng theo chỉ đạo của trên. Mô hình này có thể áp dụng để: Xây các công trình hạ tầng cơ sở vốn trên 50 triệu USD. Xây các khu công nghiệp, khu đô thị. 4.5. Về chính sách thuế đối với hoạt động cho thuê tài chính: Chính sách thuế là một trong những công cụ điều tiết vĩ mô rất quan trọng của Nhà nước. Thuế không chỉ đơn thuần tạo ra khoản thu cho ngân sách Nhà nước mà nó còn thể hiện sự ưu đãi cuả Nhà nước đối với từng ngành, từng lĩnh vực, từng khu vực nhất định. Thông qua việc đánh thuế, Nhà nước có thể kích thích sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực nhất định bằng cách dành cho ngành đó, lĩnh vực đó những mức thuế ưu đãi. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng chính sách thuế của Chính phủ đối với ngành cho thuê tài chính rất quan trọng, có tính chất quyết định tới sự phát triển của hoạt động này, đặc biệt là trong giai đoạn sơ khai ban đầu. Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, NĐ 16CP ra đời cùng với các văn bản đi kèm đã làm cho chế độ thuế đối với các công ty cho thuê tài chính được cởi mở rất nhiều. Hoạt động cho thuê tài chính không còn phải chịu thuế giá trị gia tăng, thuế doanh thu và cũng không còn phải chịu hai lần thuế trước bạ. Tuy nhiên, đối với thiết bị cho thuê tài chính có thuế giá trị gia tăng đầu vào, Bên thuê phải khấu trừ dần trong suốt thời hạn thuê. Điều này như thể họ phải thuê luôn cả thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT), trong khi nếu vay vốn ngân hàng để mua thiết bị họ sẽ được khấu trừ thuế GTGT ngay một lần. Trong khi đó, các công ty cho thuê tài chính khi mua tài sản cho thuê chỉ được xuất hoá đơn và thu thuế GTGT theo từng kỳ trả tiền của Bên thuê. Vì vậy, nên quy định cho công ty tài chính được khấu trừ ngay toàn bộ số thuế GTGT đã nộp cho bên thuê. Xin đưa ra một số giải pháp cụ thể sau: * Sau khi mua tài sản và nhận được hoá đơn thuế GTGT từ phía nhà cung cấp, công ty cho thuê tài chính được sao lại hoá đơn đó đồng thời xác nhận vào bản sao (nếu cần đề nghị cơ quan thuế chứng nhận) và cung cấp bản sao hoá đơn thuế này cho bên thuê. Dựa trên hợp đồng thuê và bản sao thuế đã được xác nhận nói trên, bên thuê sẽ được phép khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với tài sản đi thuê khi tính thuế GTGT phải nộp. * Để giúp bên thuê được phép khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với tài sản cho thuê, bên cho thuê được phép phát hành một loại hoá đơn đặc thù dưới sự quản lý của cơ quan thuế. Số liệu hoá đơn dự kiến phát hành sẽ được đăng ký với cơ quan thuế. Trên hoá đơn, ngoài những nội dung theo yêu cầu của cơ quan thuế còn có những nội dung sau: Tên hoá đơn (Khác với tên hoá đơn thuế GTGT thông thường). Tên bên cho thuê Tên bên thuê Giá thiết bị (giá chưa có thuế GTGT) Thuế GTGT mà công ty cho thuê tài chính đã trả cho nhà cung cấp Ghi chú: “Hoá đơn này không dùng để chuyển quyền sở hữu, không dùng để yêu cầu thanh toán mà chỉ dùng để chuyển cho người thuê quyền khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với tài sản thuê” Hoá đơn này sẽ được bên cho thuê phát hành cho bên thuê vào thời điểm mà bên thuê thanh toán khoản tiền thuê đầu tiên. Cùng với hợp đồng thuê, nó tạo thành căn cứ pháp lý đầy đủ để người thuê được phép khấu trừ thuế GTGT đầu vào. * Để bên thuê có thể khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với tài sản thuê, bên thuê phải trực tiếp trả tiền thuế GTGT đó cho nhà cung cấp và sẽ nhận được hoá đơn thuế GTGT đứng tên mình. Nói cách khác, bên cho thuê trả tiền thiết bị, còn bên thuê trả tiền thuế GTGT cho nhà cung cấp. Nhà cung cấp phát hành hai hoá đơn riêng biệt, phần giá cả thiết bị cho bên cho thuê và phần thuế giá trị gia tăng cho bên thuê. 4.6. Về mức lãi suất: Thời gian qua lãi suất cho thuê cũng là một vấn đề làm đau đầu các công ty cho thuê tài chính. Nên chăng, các công ty tập chung vào việc cung cấp các dịch vụ kèm theo tài sản như là một phương pháp cạnh tranh với các ngân hàng thương mại. Do đó, dù cho lãi suất cho thuê cao hơn lãi cho vay trung bình dài hạn 2-3 %/năm thì các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chấp nhận. Một số giao dịch cho thuê bằng đồng Việt Nam nên dựa trên cơ sở đảm bảo bằng USD để lãi suất tương đương với cho thuê bằng USD mới có thể thực hiện được trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam. Là một tổ chức tín dụng, các công ty cho thuê tài chính phải chịu sự chi phối chỉ đạo chung của về lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Tình trạng ứ đọng vốn trong các Ngân hàng Thương mại đã tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các tổ chức tín dụng với nhau (các Ngân hàng Thương mại, công ty tài chính trực thuộc các Tổng công ty lớn của Nhà nước, Công ty Cho thuê tài chính..., ngoài ra còn có loại hình đầu tư của các công ty bảo hiểm và đặc biệt là Quỹ Hỗ trợ Đầu tư với mức lãi suất hết sức ưu đãi (khoảng 0,6%/tháng), vô hình chung đã tạo ra một áp lực nhất định đẩy lãi suất cho vay xuống thấp hơn nhiều lãi suất trần. Vì vậy, Nhà nước nên có một quy định chống sự phá giá của lãi suất bởi họ có những thuận lợi riêng. Trong giai đoạn tạo dựng thị trường thuê mua, các ngân hàng cần mạnh dạn tìm các phương thức phù hợp để giảm lãi suất tín dụng và giảm các thủ tục bảo lãnh phiền phức. Ngân hàng nhà nước cũng nên có chính sách hỗ trợ đối với công ty cho thuê tài chính về các khoản tiền cho vay với lãi suất ưu đãi. 4.7. Chính sách trợ giúp phát triển, tăng cường khả năng tiếp cận thị trường vốn trong nước và vốn ngoài nước. Về chính sách trợ giúp phát triển Thứ nhất, Chính phủ yêu cầu các Bộ, các cơ quan ngang Bộ ban hành các chính sách, các văn bản hướng dẫn xuống các doanh nghiệp về loại hình tín dụng mới mẻ này. Nhằm thực hiện việc tuyên truyền cho các doanh nghiệp trong nước hiểu rõ lợi ích và cách vận dụng cho thuê tài chính nhằm thư được kết quả cao. Có thể nói đây chỉ là một hình thức thông tin rộng rãi của các phương tiện truyền thông, của các chuyên gia trong hoạt động tín dụng, nhưng nó có một vai trò hết sức quan trọng trong việc đẩy mạnh sự phát triển của thị trường cho thuê tài chính ở Việt Nam. Tạo điều kiện nâng cao hiểu biết về hoạt động cho thuê tài chính cho các chủ doanh nghiệp. Như vậy, nên chăng chúng ta tổ chức các buổi truyền hình, truyền thanh phổ biến các kiến thức cơ bản về loại hình tín dụng này như đối với việc phổ cập các kiến thức cơ bản về thị trường chứng khoán trong thời gian qua. Thứ hai, nhà nước nên nghiên cứu và trực tiếp đưa ra các loại hàng hoá cho giao dịch cho thuê tài chính bao gồm các khoản mục với các quy định cụ thể. Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta đưa ra giải pháp này bởi vì thực tế ở các nước áp dụng thành công loại hình cho thuê tài chính, điển hình như ở Đức, cũng đã phải đưa ra các hàng hoá với các quy định cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của loại hình hoạt động cho thuê tài chính, tránh hiện trạng hỗn loạn trong thị trường còn mới mẻ này. Đồng thời tương ứng với mỗi loại sản phẩm thì Nhà nước có những giúp đỡ về vốn, về kỹ thuật cho các công ty cho thuê tài chính. Thứ ba, mở các cuộc hội thảo khoa học có tầm cỡ quốc tế về cho thuê tài chính nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ và đối tác ở nước ngoài. Đối với nước ta hoạt động cho thuê tài chính hoàn toàn còn mới mẻ trong khi ở các nước phát triển thì hoạt động này đã thực sự trở thành kênh huy động vốn trong nền kinh tế. Vì vậy việc mở các hội thảo quốc tế về lĩnh vực cho thuê tài chính là hoàn toàn có lợi cho chúng ta không những nâng cao trình độ nghiệp vụ mà còn tạo thanh thế, nâng cao uy tín của chúng ta trên thương trường quốc tế. Trên cơ sở đó thu hút đầu tư của các công ty cho thuê tài chính quốc tế và tìm đối tác cho công ty cho thuê tài chính trong nước. Thứ tư, nhà nước cần có những biện pháp phát triển hoạt động của thị trường đồ cũ để tạo điều kiện cho việc buôn bán những tài sản thuộc giao dịch cho thuê hết hợp đồng. Ví dụ như có những quy định cụ thể của hoạt động thị trường đồ cũ, có chính sách thuế trên tài sản cũ một cách hợp lý...Điều đó không những thúc đẩy thị trường cho thuê tài chính mà còn thúc đẩy thị trường hàng hoá cũ phát triển. Tiếp cận thị trường vốn trong nước: Việc thu hút đủ một lượng vốn trung và dài hạn từ thị trường vốn trong nước là một thách thức lớn mà các công ty cho thuê tài chính gặp phải ở những nước đang phát triển. Nhu cầu về vốn trong nước được đặt ra bởi vì rất nhiều người đi thuê không muốn chấp nhận rủi ro về ngoại hối do xuất phát từ việc thuê các tài sản được mua bằng ngoại tệ, đặc biệt là đối với những công ty đi thuê mới thành lập, những công ty đi thuê nhỏ hoặc có mục tiêu bán sản phẩm của mình ở thị trường trong nước. Để giải quyết được vấn đề này, các công ty cho thuê tài chính cần chú ý xem xét các nguồn tài trợ trong nước tiềm năng sau: + Từ các ngân hàng hay các tổ chức tài chính trong nước. + Các khoản tiền gửi có kì hạn của các quỹ tiết kiệm như: Công ty bảo hiểm, quỹ lương hưu... + Từ các thị trường vốn trong nước, thông qua việc phát hành trái phiếu. + Nhận tiền gủi trực tiếp ( kiến nghị với Chính phủ cho phép). + Các khoản vay nước ngoài mà có thể chuyển sang VNĐ. Trong số các nguồn trên thì nguồn vay từ các ngân hàng trong nước là nguồn quan trọng nhất đối với các công ty cho thuê tài chính. Một trong những cách để giảm bớt rủi ro khi tiếp cận thị trường vốn trong nước là mời một ngân hàng địa phương trở thành một trong những cổ đông chính của công ty và do vậy công ty có thể có một nguồn cung cấp vốn bằng bản tệ một cách dễ dàng. Công cụ này đã được sử dụng một cách khá thành công ở Inđônêsia, Thổ Nhĩ Kì, Cộng hoà Séc, ấn Độ, Gioócđani, Slovenia và Estonia. Tiếp cận thị trường vốn ngoài nước: Đối với một số nền kinh tế trong đó có Việt Nam, khi mà việc thu hút các nguồn tài chính trung dài hạn trong nước trở nên khó khăn thì công ty cho thuê tài chính vẫn có thể tiếp tục phát triển bằng cách thực hiện các khoản cho thuê bằng ngoại tệ đối với những nhà xuất khẩu- những người cần nhập khẩu máy móc thiết bị để mở rộng kinh doanh hàng xuất khẩu. Trong những trường hợp như vậy, ngân hàng Nhà nước và bản thân các công ty cần phải tiếp cận và nhờ sự trợ giúp của các tài chính, tín dụng quốc tế ( như IFC-International Financial Company) để thu hút các khoản vay bằng ngoại tệ. 4.8. Thành lập loại hình bảo hiểm tín dụng Hiện nay ở Việt Nam chưa có dịch vụ bảo hiểm tín dụng nhằm phục vụ cho hoạt động thuê mua tài chính và theo các chuyên gia trong ngành tài chính thì điều này đang cản trở các công ty cho thuê tài chính mới phôi thai hoạt động theo đúng nguyên tắc quốc tế. Bảo hiểm tín dụng là loại hình bảo hiểm dành cho các ngân hàng, các công ty tài chính hay các công ty cho thuê tài chính..., nhằm đảm bảo sẽ bồi thường cho các tổ chức cho vay này trong trường hợp khách hàng của họ gặp ruỉ ro, không có khả năng hoàn lại được số tiền đã vay. Cho đến nay, loại hình bảo hiểm này chưa một lần xuất hiện ở Việt Nam mặc dù trong điều kiện hiện nay, khi các hoạt động tín dụng hoạt động mạnh mẽ, loại hình bảo hiểm này ngày càng chứng tỏ tầm quan trọng và tính cấp thiết của nó. Cũng chính vì không có bảo hiểm thuê mua tài chính mà các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam buộc phải tự bảo hiểm cho mình bằng cách yêu cầu khách hàng phải thế chấp hoặc được bảo lãnh. Nhưng vấn đề là ở chỗ, theo tiêu chuẩn quốc tế, thuê mua tài chính là một loại hình tín dụng không kèm theo bất cứ điều kiện thế chấp hay tín chấp nào. Vì vậy, có thể nói rằng, để tự hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình, các công ty cho thuê tài chính ở Việt Nam đang hoạt động xa rời với những nguyên tắc cơ bản của nghiệp vụ này. Đồng thời, sự cố gắng của các công ty cho thuê tài chính trong việc hạn chế rủi ro bằng cách yêu cầu khách hàng phải thế chấp hay tín chấp cũng có thể chẳng đem lại lợi ích gì vì chẳng thể nào mà biết được những gì mà khách hàng đem ra thế chấp đã được bảo hiểm hay chưa. Theo các chuyên ra trong ngành bảo hiểm thì nguyên nhân của việc chưa có loại hình bảo hiểm tín dụng ở Việt Nam là các công ty bảo hiểm trong nước còn chưa đủ già dặn để cung cấp nghiệp vụ bảo hiểm khá phức tạp này. Đồng thời, các công ty bảo hiểm nước ngoài cũng không đủ can đảm để tham gia vào thị trường bảo hiểm tín dụng cho các ngân hàng và công ty tài chính của Việt Nam vì họ không có điều kiện thẩm định khách hàng đi vay một cách kỹ càng. Để khắc phục tình trạng này chúng ta nên thực hiện theo hai hướng sau: - Biện pháp trước mắt: Thành lập một quỹ giúp đỡ các công ty cho thuê tài chính trong trường hợp gặp rủi ro. Đây là một giải pháp hữu hiệu để khắc phục khó khăn trong khi còn chưa có dịch vụ bảo hiểm tín dụng ở Việt Nam. - Biện pháp lâu dài: Nhanh chóng phát triển hệ thống tài chính, ngân hàng một cách hoàn chỉnh để phục vụ cho hoạt động thẩm định các khách hàng đi vay. Cần phải phát triển, đào tạo đội ngũ các chuyên gia thẩm định có trình độ, có đạo đức, có khả năng tiến hành những đánh giá cẩn thận và kỹ càng đối với tình hình tài chính của người đi vay. Ngoài ra, để phục vụ tốt cho công tác thẩm định cũng cần xây dựng một ngân hàng thông tin và hệ thống thông tin công nghệ, thông tin rủi ro trong hoạt động tài trợ thuê mua tài chính. 4.9. Thiết lập thị trường mua bán thiết bị cũ: Cần thiết lập một thị trường mua bán máy móc thiết bị cũ từ các nguồn sẵn có trong nước để các công ty cho thuê tài chính có thể bán những máy móc thiết bị cũ, hoặc tài sản cho thuê sau khi đáo hạn hợp đồng nhưng vẫn còn giá trị sử dụng (hay đã bị lỗi thời so với công nghệ tiến tiến nhưng còn phù hợp với nhu cầu của một số khách hàng ở những địa phương nào đó) đến đúng với người cần chúng. Trong nhiều trường hợp, khi người đi thuê đã thuê tài sản nhưng đến một thời điểm nào đó trong thời hạn thuê lại không có đủ khả năng thanh toán nốt số tiền thuê còn lại thì người cho thuê sẽ thu tài sản cho thuê về. Nếu không có một thị trường mua bán máy móc thiết bị cũ thì rất có thể công ty cho thuê tài chính không thể thu hồi vốn bởi vì tài sản đó đã quá cũ, không thể tiếp tục cho thuê được nữa. 4.10. Một số kiến nghị, giải pháp khác: * Thực hiện rộng rãi cơ chế đồng tài trợ của các ngân hàng trong triển khai dịch vụ cho thuê tài chính với các lý do: - Đồng tài trợ sẽ tạo ra khả năng tài chính mạnh hơn. Thực hiện quy chế này, ngân hàng có thể tài trợ cho các dự án có quy mô lớn, đem lại lợi ích kinh tế-xã hội cao. - Tránh được các ràng buộc về quy mô tài trợ, hạn chế được rủi ro. - Dễ thực hiện được tái thuê mua với các tổ chức tài chính quốc tế. * Các ngân hàng nên hợp tác chặt chẽ với các công ty tư vấn để thẩm định dự án ngay từ lúc dự án mới hình thành. Các ngân hàng nên tài trợ cho công tác tư vấn để rút ngắn thời gian hình thành dự án, giá cả thiết bị hợp lý và giải pháp tài chính phù hợp với khả năng của cả ngân hàng và doanh nghiệp. * Theo kinh nghiệm của Đức- nước có nền công nghiệp cho thuê tài chính phát triển mạnh mẽ thì nhà nước ta nên khuyến khích thành lập các công ty cho thuê tài chính liên doanh, vì như vậy sẽ làm tăng thêm tiềm lực của các công ty cho thuê tài chính làm cho việc xử lý các dự án cho thuê dễ dàng và có hiệu quả hơn, như vậy cũng có thể tiếp nhận các hợp đồng cho thuê có quy mô lớn hơn. Chúng ta cũng nên ban hành các Nghị định trực tiếp điều chỉnh việc thanh toán tiền thuê. Ngoài ra, nếu có thể, chúng ta có thể vốn hoá tài sản đi thuê vào Bảng cân đối tài sản của người đi thuê và chi phí đi thuê sẽ được khấu trừ vào thuế. Để hoàn thiện chế độ cho thuê tài chính thì về phía các công ty cho thuê tài chính và các doanh nghiệp đi thuê cũng cần có những giải pháp thích hợp thì mục đích của việc hoàn thiện mới có hiệu qủa. Do cho thuê tài chính là một hoạt động kinh doanh rủi ro bởi vì bản chất đây cũng là một hình thức cấp tín dụng. Muốn đạt được thành công trong lĩnh vực này, công ty cho thuê tài chính cần phải tuân thủ các nguyên tắc cho thuê và thực hiện một số các biện pháp nhằm tự hạn chế mức độ rủi ro như sau: Thiết lập sự cân đối trong hoạt động kinh doanh cho thuê: - Nhà tài trợ cần thiết lập một cơ cấu cân đối giữa nguồn vay và tài trợ, thể hiện trên hai mặt: + Cần đảm bảo sự ăn khớp chính xác giữa thời hạn của các nguồn vốn vay và thời hạn của các hợp đồng tài trợ. + Xây dựng một cơ cấu lãi suất tài trợ phù hợp với lãi suất huy động vốn, để nguồn thu từ phí tài trợ có thể đủ trang trải cho các khoản chi phí, dụe phòng và có lợi nhuận ở mức hợp lý. - Các nhà tài trợ nhỏ cần tránh tập trung vốn của mình vào một khách hàng hay một giao dịch lớn. Điều này sẽ rất nguy hiểm, bởi nếu khách hàng này mất khả năng chi trả thì giao dịch sẽ bị phá vỡ và người cho thuê có thể bị phá sản theo khách hàng. Vì vậy, nếu nhận được những yêu cầu cho thuê ngoài khả năng nguồn tài trợ của mình thì công ty nên giới thiệu những giao dịch đó cho các nhà tài trợ lớn để hưởng hoa hồng. Đánh giá định kỳ mức độ an toàn của các giao dịch: Nhà tài trợ cần tiến hành đánh giá các giao dịch tài trợ theo định kỳ. Những nội dung cần đánh giá là: - Đánh giá độ lớn của hợp đồng tài trợ so với giá trị tài sản có và doanh số hoạt động của khách hàng. - Đánh giá khả năng trả tiền thuê của khách hàng trong từng giai đoạn và sự tồn tại của họ trong thời hạn hợp đồng. - Đánh giá người bảo lãnh ở tại thời điểm đó để xem xem khả năng của họ so với những cam kết mà họ đã đưa ra. Thiết lập sự bảo đảm: - Công ty cho thuê tài chính thành lập quỹ dự phòng bằng cách trích lợi nhuận hàng năm đưa vào quỹ này và nghiêm chỉnh tuân thủ quy chế sử dụng quỹ đã được Nhà nước quy định đối với các định chế tài chính. - Thực hiện các nghiệp vụ tự bảo hiểm bằng cách tạo ra sự bảo hiểm cho các hoạt động kinh doanh từ tổ chức mẹ, hoặc nếu công ty thuê mua tài chính là công ty lớn thì có thể thành lập một chi nhánh chuyên đảm nhiệm việc bảo hiểm cho nó. - Thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm chéo giữa các công ty cùng ngành hay với các nhà cung cấp thiết bị để phân tán rủi ro trong kinh doanh. Nhìn chung, để đảm bảo sự an toàn tuyệt đối cho các hoạt động kinh doanh cho thuê, công ty thuê mua tài chính cần áp dụng các biện pháp tự bảo hiểm một cách nghiêm ngặt. Ngoài ra đối với bản thân các bên cho thuê và bên thuê còn có một số biện pháp sau: * Các công ty cho thuê tài chính cần xây dựng một hệ thống các nhà cung cấp thiết bị (nhất là bán thiết bị trả chậm). Tổ chức mạng lưới đại lý dịch vụ nhằm tăng khả năng tiếp thị và chất lượng phục vụ, giảm phí quản lý tài sản, giảm rủi ro. * Các công ty cho thuê tài chính cần thiết lập quy chế làm việc, quy trình nghiệp vụ phù hợp với bản chất của công tác cho thuê tài chính, để vừa kiểm soát được tài sản cho thuê với tư cách là người sở hữu pháp lý, vừa phục vụ tốt cho bên thuê. Bản thân các công ty cho thuê tài chính cũng phải có những nỗ lực để kiện toàn tổ chức và tăng cường đào tạo nghiệp vụ chuyên môn, xây dựng đội ngũ cán bộ thông thạo về nghiệp vụ cho thuê tài chính, am hiểu về chuyên môn máy móc thiết bị cho thuê. * Các công ty cho thuê tài chính nên thành lập một phòng Marketing để thực hiện công tác Market và các hoạt động quảng cáo giới thiệu để đưa hoạt động mới mẻ này giới thiệu với mọi người và các doanh nghiệp. Vì trên thực tế ở Việt Nam, nhiều người còn chưa biết cho thuê tài chính là gì và sự hiểu biết của bản thân các doanh nghiệp về hoạt động này cũng chưa thật sự thông tường dẫn đến tâm lý ngại tiếp xúc. Nếu thực hiện được tốt công tác này thì chắc chắn sẽ phát triển được hoạt động kinh doanh của công ty và vô hình chung cũng đem lại lợi ích cho toàn ngành. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng nên có biện pháp hỗ trợ kết hợp để tăng cường hoạt động tuyên truyền giới thiệu hoạt động cho thuê tài chính với các doanh nghiệp. Bản thân các doanh nghiệp cũng nên tự tìm hiểu để tìm ra kênh huy động vốn hiệu quả nhất cho doanh nghiệp của mình. * Trong giao dịch thuê tài chính, doanh nghiệp đi thuê nên chú ý một số vấn đề: Doanh nghiệp nên chú trọng thuê các tài sản tạo giá trị gia tăng cao, có hiệu quả thiết thực đến dự án phát triển của doanh nghiệp. - Doanh nghiệp đi thuê nên lựa chọn phương thức thuê mua thuần vì mức độ rủi ro thấp, các bên trong giao dịch có trách nhiệm cao. - Doanh nghiệp nên có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức giám định chất lượng để có những thông tin chính xác về tình trạng kỹ thuật, công nghệ của máy móc, thiết bị được cung cấp trong hợp đồng thuê mua tài chính. - Doanh nghiệp cũng nên tuân thủ các quy định của pháp luật về cho thuê tài chính để bảo đảm được quyền lợi pháp lý của mình khi có vấn đề phát sinh trong khi thuê tài sản. * Trong giai đoạn đầu, để hạn chế rủi ro, cả hai bên (bên thuê và bên cho thuê) cần tập trung thực hiện các giao dịch với giá trị nhỏ (vài trăm ngàn USD), tài sản thuê thuộc loại dễ chuyển động (phương tiện vận tải, thiết bị thi công, thiết bị lẻ...), giá cả ít biến động trên thị trường, có giá trị sử dụng không lâu lắm, được sử dụng trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Kết luận Cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng có rất nhiều ưu thế so với các hình thức cấp tín dụng khác, đem lại những lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế và các bên tham gia quan hệ cho thuê tài chính. Qua phân tích cho thấy đây là một hoạt động cấp tín dụng rất phù hợp với những đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động cho thuê tài chính chưa phát triển mạnh mẽ, chưa phát huy hết khả năng, vai trò của nó đối với nền kinh tế ta do nhiều nguyên nhân. Trong đó, nguyên nhân quan trọng nhất phải kể đến là nguyên nhân chế độ cho thuê tài chính chưa thực sự hoàn thiện, hành lang pháp lý còn thiếu đồng bộ, còn nhiều điểm chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế. Để khuyến khích hoạt động cho thuê tài chính phát triển và đảm bảo việc quản lý Nhà nước đối với hoạt động này cần thiết phải nhanh chóng hoàn thiện quy chế pháp lý điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện kinh tế – xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Với đóng góp nhỏ bé của mình qua khoá luận này, em hy vọng sẽ hữu ích phần nào cho ngành công nghiệp cho thuê tài chính đang phát triển hết sức khiêm tốn ở nước ta, cũng mong nhận được ý kiến quý báu từ các thầy cô giáo và những người quan tâm đến lĩnh vực này để luận văn được hoàn thiện hơn nữa. Hà nội, tháng 12 năm 2002 Sinh viên Nguyễn Phương Huyền Tài liệu tham khảo Luật Các tổ chức tín dụng. Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001 Về tổ chức và hoạt động của công ty Cho thuê tài chính. Thông tư số 08/2001/TT- NHNN ngày 6/9/2001 Hướng dẫn thực hiện Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty Cho thuê tài chính. Nghị định 82/1998/NĐ-CP ngày 3/10/1998 của Chính phủ ban hành vốn pháp định của các tổ chức tín dụng. Nghị định số 64 / CP ngày 9/ 10/ 1995 Ban hành Quy chế Tạm thời về Tổ chức và hoạt động của Công ty Cho thuê tài chính tại Việt Nam. Thông tư của Bộ Tài Chính số 49/1999/TT/BTC ngày 6/5/1999 Hướng dẫn thực hiện luật thuế GTGT đối với hoạt động Cho thuê tài chính. Quyết định của thống đốc Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam số 222/ QĐ- NH2 ngày 14/7/1997 Về việc bổ sung , sửa đổi một số tài khoản vào hệ thống tài khoản kế toán các tổ chức Tín dụng. Thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 03/ TT- NH2 ngày 14/7/1997 hướng dẫn hạch toán Nghiệp vụ Cho thuê tài chính. Tài liệu “ Các vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động Cho thuê tại Việt Nam ( Tài liệu cho Hội thảo về hoạt động cho thuê ngày 27/3/1996, do Công ty cho thuê tài chính thuộc Ngân hàng ngoại thương cung cấp). Mạnh Tiến- Cho thuê tài chính một hướng đi mới (Tạp chí Ngân hàng ngoại thương Việt Nam số 8/1998). Th.s Vũ Quốc Trung – Một số vấn đề trong hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam (Tạp chí Ngân hàng số 3/2000). Trần Quốc Quýnh – Vì sao công ty cho thuê tài chính Nhật Bản (JLC) bị phá sản (Tạp chí Ngân hàng Ngoại Thương số 4/1998). Vũ Hà Cường- “ Thị phần hoạt động của các công ty cho thuê tài chính còn nhỏ” ( Báo TBKTVN, 26/3/2001). Anh Thi- “ Cho thuê tài chính còn xa lạ- Hành lang pháp lý chưa thuận cho hoạt động” (TBKTVN, 19/2/2001). Anh Thi- “Ký kết ba hợp đồng cho thuê tài chính mới” (TBKTVN, 18/4/2001). Đoàn Thanh Hà- “ Cho thuê tài chính- Giải pháp về vốn để đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp” (Tạp chí Tài chính số 11(433)-2000, trang 25 ). Vũ Hà Cường- “ Kích thích cho thuê tài chính” (Tạp chí tài chính số 5 (439)-2001, trang 41). Đoàn Thanh Hà- “ Đi tìm lời giải cho hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam hiện nay” (Tạp chí tài chính số 10 ( 444)-2001, trang 38). Th.s Nguyễn Trọng Nghĩa – Phó vụ trưởng các định chế tài chính,NHNN Việt Nam – Vai trò của công nghệ cho thuê đối với công cuộc phát triển kinh tế và khuôn khổ pháp luật đối với hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam – Bài phát biểu tại Hội thảo về “Bảo hiểm hoạt động Ngân hàng và Cho thuê tài chính” do công ty Bảo hiểm Swire và NHNN đồng tổ chức, Hà Nội 5/9/1996. Đoàn Xuân Thanh- phó giám đốc Công ty cho thuê tài chính Việt Nam- Tình hình cho thuê tài chính ở Việt Nam và ở công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Ngoại Thương, Đánh giá thực trạng và các kiến nghị về mặt pháp lý.( Tài liệu lưu hành nội bộ công ty, năm 2001). Bộ kế hoạch và đầu tư- Viện chiến lược phát triển- Một số ý kiến về định hướng Công nghiệp hoá- hiện đại hoá của Việt Nam đến 2020- 10/1996. Hoàng Thị Mai Hạnh, “ Cho thuê tài chính ở Hàn Quốc và giải pháp đẩy mạnh hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam”, tài liệu của trường Đại học Ngoại Thương. Shawn D. Halladay, Sudhir P. Amembal – “The Hand-Book of Equipmant Leasing”. Copyright 1995.P.R.E.P Institute of America, Inc.Publisher Press.Utah.Volumn 1&2. Asian Development Bank – LEASING in Developing Asia. Volumn 1&2. Leasing in Emerging Markets ( Excutive Summary by Laurence W.Carter, Teresa Barge, and Irving Kuczynski, order from the World Bank Bookstore, 17/1/2000). German Leasing market – Global situation in 2001 and prospects for 2002 & German leasing market-Customers and leasing assets. ( verband.de/dbview/owa/assdoc.dpreview?pdid=656, 04/07/2002).

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docKhoa Luan 1.doc
  • docBia huyen.doc
  • docPhu luc A.doc
  • docPhu Luc B.doc
Tài liệu liên quan