Đề tài Phương hướng và giải pháp hoàn thiện bộ máy quản trị của Công ty cổ phần Lắp máy điện nước và Xây dựng

Thái độ của lãnh đạo cấp cao cũng có thể tác động đến cơ cấu tổ chức. Các cán bộ quản lý theo phương cách truyền thông thường thích sử dụng các cơ cấu tổ chức theo bộ phận chức năng và ít khi vận dụng các hình thức tổ chức như tổ chức theo mô hình ma trận. Các cán bộ quản lý theo phương cách truyền thống cũng thích sự kiểm soát tập trung vì vậy họ không thích sử dụng các mô hình tổ chức mang tính phân tán nhiều nhân viên hơn.

doc58 trang | Chia sẻ: Dung Lona | Lượt xem: 1093 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Phương hướng và giải pháp hoàn thiện bộ máy quản trị của Công ty cổ phần Lắp máy điện nước và Xây dựng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nước sang sở hữu nhiều thành phần, theo nghị định 44/1998/NĐ - CP ngày 29/6/1998 “chuyển DNNN thành công ty cổ phần nhằm các mục tiêu sau: Một là, huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm phát triển doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu DNNN. Hai là, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản nhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước. Theo nghị định trên của chính phủ Bộ xây dựng ra quyết định số 1595/QĐ - BXD ngày 13/12/1999 của Bộ trưởng Bộ xây dựng về việc phê duyệt phương án cổ phần hoá và chuyển DNNN công ty lắp máy điện nước và xây dựng thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nôi thành công ty cổ phần lắp máy điện nưóc và xây dựng. Quá trình chuyển từ DNNN thành công ty cổ phần như sau: - Thành lập ban đổi mới doanh nghiệp. - Tập huấn cổ phần hoá. - Khoá sổ kế toán, xử lý các tồn tại về tài chính và lập báo cáo tài chính. - Lập danh sách lao động được mua cổ phần hoá theo giá ưu đãi. - Xác định giá thực tế và giá thực tế phần vốn Nhà nước. - Xây dựng phương án cổ phần hoá và điều lệ công ty cổ phần. - Đại hội bất thường cán bộ, công nhân viên chức - Phê duyệt phương án cổ phần hoá - Quảng cáo tiếp thị tổ chức bán cổ phần - Đại hội cổ đông - Khắc dấu đăng ký kinh doanh - Bàn giao tài sản, vốn công ty cổ phần, khai trương công ty cổ phần 2. Tình hình đặc điểm công ty 2.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý điều hành của công ty Để đảm bảo công tác tổ chức, quản lý điều hành hoạt động của công ty được tốt, bộ máy điều hành của công ty lắp máy điện nước và xây dựng được tổ chức theo kiểu trực tuyến tham mưu, ban lãnh đạo của công bao gồm 4 người: Đứng đầu là Giám đốc công ty phụ trách chung toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, trực tiếp chỉ đạo hoạt động của các phòng ban và các đơn vị trực thuộc công ty. Tham mưu giúp việc cho giám đốc công ty là các phó giám đốc chuyên trách từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh, cụ thể: - Phó giám đốc chuyển trách lắp máy điện nước, trực tiếp phụ trách các xí nghiệp điện nước (xí nghiệp điện nước 2, xí nghiệp điện nước 4, xí nghiệp xây lắp kết cấu kim loại số 7) và các tổ đội trực thuộc công ty như: Đội điện nước số 3, số 5, số 6 Đội lắp số 8, đội lắp ráp kết cấu thép. - Phó giám đốc chuyên trách lĩnh vực thi công, xây lắp, an toàn lao động và kiểm tra chất lượng công trình (KCS) trực tiếp phụ trách các xí nghiệp xây dựng (xí nghiệp xây số 9, xí nghiệp xây dựng số 11, xí nghiệp xây lắp hoàn thiện số 12) và các đội, xưởng trực thuộc công ty như: Đội xây dựng số 10, xưởng sản xuất bê tông và vật liệu xây dựng, phòng Kế toán - Tài chính, an toàn lao động - Kiểm tra chất lượng công trình (KCS). - Phó giám đốc chuyên trách lĩnh vực kế hoạch kinh tế tiếp thị, trực tiếp chỉ đạo Phòng kinh tế tiếp thị và Trung tâm tư vấn thiết kế lắp đặt điện nước, thông gió, điều hoà. Ngoài ra tham mưu giúp việc Giám đốc công ty còn có Kế toán trưởng phụ trách Phòng tài chính - Kế toán, tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác kế toán thống kê, thông tin kinh tế và hạch toán kinh tế của công ty theo quy định của Nhà nước. Bên dưới là các phòng ban, xí nghiệp, tổ đội và phân xưởng trực thuộc. Các phòng ban có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc thực hiện nhiệm vụ, chỉ đạo chung mọi hoạt động của công ty, bao gồm: - Văn phòng công ty: Với sô lượng cán bộ nhân viên là 14 người. Văn phòng công ty có trách nhiệm tiếp nhận các chủ trượng chính sách, chỉ thị, nghị quyết của lãnh đạo, tổ chức kiểm tra thực hiện và hướng dẫn giám sát về mặt nghiệp vụ chuyên môn với các bộ phận liên quan giúp lãnh đạo công về nghiệp vụ chuyên môn văn phòng, tổ chức các cuộc giao dịch đón tiếp, quan hệ đối nội, đối ngoại, làm các công việc hành chính, văn thư lưu chữ, quản trị văn phòng và công tác đời sống.... - Phòng tổ chức lao động tiền lương gồm 7 người có nhiệm vụ quản lý lao động, xây dựng kế hoạch quản lý đào tạo và sử dụng lực lượng lao động, tổ chức thực hiện chế độ chính sách đối với người lao động, xây dựng quy chế phương án phân phối tiền lương, định mức lao động... và đảm bảo công tác bảo vệ thanh tra thi đua khen thưởng... - Phòng kế hoạch tiếp thị: gồm 16 người có nhiệm vụ xây dưng kế hoạch sản xuất kinh doanh. Lập tổng dự toán các công trình thi công, tìm đối tác liên doanh liên kết, giới thiệu quảng cáo về công ty với khách hàng, làm hồ sơ dự thầu... - Phòng đầu tư phát triển: gồm 3 người có nhiệm vụ tư vấn là lập báo cáo khả thi các dự án đầu tư của công ty, khai thác, tìm kiếm các công việc thi công xây lắp, quản lý việc thực hiện thực thi dự án, đôn đốc việc thanh quyết toán vốn các dự án đã hoàn thành. - Phòng kinh doanh vật tư: gồm 6 người có nhiệm vụ mua bán quản lý cung cấp vật tư cho xí nghiệp, tổ, đội, xưởng sản xuất trực thuộc công ty và các bên đối tác có nhu cầu về vật tư phục vụ cho công tác xây lắp, quản lý kho bãi tập kết vật tư... - Phòng kỹ thuật thi công - an toàn lao động, KCS: gồm 12 người có nhiệm vụ giám sát chất lượng kỹ thuật mỹ thuật, tiến độ thi công, an toàn lao động của các công trình, hạng mục công trình mà công ty đảm nhận thi công, lập chương trình áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới quy trình công nghệ vào sản xuất thi công... - Phòng tài chính kế toán thống kê: gồm 7 người có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện toàn bộ công tác tài chính kế toán, công tác kiểm tra giám sát việc huy động và sử dụng vốn của công ty, lập báo cáo về tình hình tài chính định kỳ theo quy định của Nhà nước. Tổ chức ghi chép tính toán và phản ánh chính xác trung thực, kịp thời, đầy đủ toàn bộ tài sản và nguồn vốn. Các xí nghiệp, tổ, đội, phân xưởng trực thuộc công ty là những đơn vị có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo lĩnh vực mà xí nghiệp, tổ, đội, phân xưởng được giao. Đây là lực lượng chính trực tiếp thực thi nhiệm vụ xây lắp của công ty đồng thời tạo ra khoản thu nhập chủ yếu cho công ty. Chúng ta có thể thấy rõ hơn tình hình tổ chức bộ máy quản lý, điều hành của Công ty xây lắp máy điện nước và Xây dựng qua biểu 02 Nhìn chung việc tổ chức bộ máy quản lý điều hành của Công ty lắp máy điện nước và Xây dựng là hợp lý phù hợp với tình hình thực tế đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. 2.2. Đặc điểm quy trình công nghệ của công ty. Công ty lắp máy điện nước và Xây dựng là một doanh nghiệp hoạt động trong ngành sản xuất xây lắp do quy trình công nghệ mang những nét đặc trưng của ngành nghề kinh doanh. Trên phương diện sản xuất xây dựng, hoạt động xây dựng (công trình, hạng mục công trình xây dựng) được tiến hành với quy trình công nghệ sau: - Khảo sát thăm dò và thi công phần móng công trình: ở công đoạn này máy móc được thiết bị được sử dụng tối đa. - Tiến hành thi công xây dựng công trình: nguyên vật liệu (công trình, hạng mục công trình xây dựng) được tiến hành với quy trình sau. - Khảo sát thăm dò và thi công phần móng công trình: ở công đoạn này máy móc được thiết bị sử dụng tối đa. - Tiến hành thi công xây dựng công trình: nguyên vật liệu (xi măng, cát, đá, sỏi, vôi, sắt, thép, gạch...) được đưa vào xây dựng phần thô (móng công trình, trụ, cột, tường bao, vách ngăn, cầu thang... )của công trình. Tiếp đến là lắp đặt hệ thống điện nước, thiết bị theo yêu cầu của công trình. Sau cùng là công việc hoàn thiện công trình (lắp cửa, dọn dẹp công trình... trang trí tô điểm đảm bảo tính mỹ thuật) đồng thời trang trí nội thất (nếu có). Kết thúc công đoạn này công ty tiến hành kiểm tra nghiệm thu và ban giao quyết toán công trình. Chúng ta có thể thấy rõ hơn quy trình sản xuất qua biểu số 03 - quy trình công nghệ sản xuất xây dựng. Biểu : Quy trình công nghệ sản xuất xây dựng. Khảo sát thăm dò và thi công phần móng công trình Thi công xây dựng phần thô: nguyên vật liệu(cát, gạch, xi măng...) máy móc được đưa vào thi công xây dựng phần vỏ công trình Lắp đặt máy móc thiết bị, hệ thống điện nước theo yêu cầu của công trình (nếu có) Hoàn thiện trang trí đảm bảo tính mỹ thuật của công trình, kiểm tra nghiệm thu và tiến hành bàn giao, quyết toán công trình. Trên phương diện lắp đặt điện nước, hoạt động lắp đặt được tiến hành theo quy trình công nghệ sau: Khảo sát kiểm tra mặt bằng, lắp đặt theo bản thiết kế mỹ thuật: vật tư, ống dẫn nước, van xả, trang thiết bị lắp đặt... được đưa vào xây dựng lắp đặt công trình điện nước (xây dựng bể chứa, đường thoát nước, cống rãnh, ống dẫn nước sạch, xây dựng trạm biến thế, gia công móng, cột điện, kéo dây... Hoàn thiện công trình và vận hành thử, kiểm tra các thông số kỹ thuật và nghiệm thu công trình, bàn giao và quyết toán công trình với bên chủ quản. Chúng ta có thể khái quát quy trình công nghệ lắp đặt này qua biểu số 04 - Quy trình công nghệ lắp đặt điện nước. Biểu : Quy trình công nghệ lắp đặt điện nước. Khảo sát kiểm tra bằng thi công Tiến hành thi công lắp đặt công trình điện nước Hoàn thiện công trình sửa sang kiểm tra Đưa công trình vào vận hành thử, kiểm tra nghiệm thu Trên đây là quy trình công nghệ sản xuất lắp đặt cơ bản mà công ty lắp máy điện nước và xây dựng sử dụng. Tuy nhiên, do tính đặc biệt của ngành nghề nên ở mỗi khâu của quy trình công nghệ đòi hỏi cán bộ kỹ thuật, công nhân thi công kéo dài, do vậy việc tổ chức sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất to lớn đối với quá trình sản xuất của công ty. 2.3. Đặc điểm tổ chức và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty Lắp máy điện nước và Xây dựng là một doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, sản phẩm của công ty là những công trình, hạng mục công trình xây dựng, lắp đặt có kết cấu phức tạp và thời gian thi công kéo dài, do vậy việc tổ chức sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất to lớn đối với quá trình sản xuất của công ty. Về việc sản xuất kinh doanh công ty tiến hành tổ chức theo các xí nghiệp, đội, xưởng sản xuất dưới sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp các phó giám đốc phụ trách sản xuất kinh doanh. Hiện nay, công ty lắp máy điện nước và xây dựng có 6 xí nghiệp, 8 đội chuyên trách và 2 xưởng sản xuất và sửa chữa. Ngoài ra, công ty còn có một Trung tâm tư vấn thiết kế lắp máy điện nước, điều hoà, thông gió, có thể khái quát về việc tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty như sau: Đứng đầu là các xí nghiệp, các Giám đốc xí nghiệp chịu trách nhiệm quản lý điều hành xí nghiệp của mình thực hiện sản xuất kinh doanh theo chỉ tiêu công ty giao, bao gồm các xí nghiệp: - Xí nghiệp điện nước 2, xí nghiệp điện nước 4: đảm nhận các công việc lắp đặt thi công các công trình điện, nước cho các khu dân cư và các khu công nghiệp, cũng như lắp đặt các đường dây tải điện, hệ thống cấp thoát nước cho các công trình xây dựng. - Xí nghiệp xây lắp kết cấu kim loại số 7: làm các công việc như lắp đặt máy móc thiết bị, kết cấu kim loại cho các công trình xây dựng, công trình công nghiệp và dân dụng. - Xí nghiệp xây dựng số 9, xí nghiệp xây dựng số 11: là những xí nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, đảm nhận các nhiệm vụ khảo sát thiết kế thi công các công trình xâydựng dân dụng. - Xí nghiệp xây lắp và hoàn thiện số 12: đây là xí nghiệp có nhiệm vụ lắp đặt, trang trí và hoàn thiện các công trình mà xí nghiệp xây dựng và thi công xong phần việc của mình, ngoài ra xí nghiệp còn làm các công việc độc lập như trang trí nội thất... Ngoài các xí nghiệp sản xuất chủ yếu ở trên, Công ty có 8 đội sản xuất chuyên trách, 2 xưởng và một Trung tâm tư vấn thiết kế lắp đặt điện nước. Mọi hoạt động của các đội, xưởng sản xuất và trung tâm tư vấn đều do Công ty trực tiếp quản lý điều hành bao gồm: Đội sản xuất : đội điện nước 3, đội điện nước 5, đội điện nước 6, đội lắp ráp kết cấu thép, đội lắp đặt hệ thống thông gió điều hoà số 1, đội xây dựng số 10, đội xe cơ giới. Đây là các đội sản xuất dưới quyền chỉ đạo của Phó giám phụ trách sản xuất mà đứng đầu các đội sản xuất là các đội trưởng có nhiệm vụ chỉ đạo thực thi các nhiệm vụ mà Công ty giao cho từng đội, đồng thời có thể tham gia hỗ trợ các đơn vị trực thuộc công ty trong quá trình tham gia sản xuất do sự điều động của các Phó giám đốc phụ trách sản xuất. Xưởng bê tông và vật liệu xây dựng: có nhiệm vụ sản xuất cột, dầm bê tông và bê tông trộn sẵn phục vụ nhu cầu thi công của các đơn vị sản xuất trong công ty. Xưởng cơ khí và sửa chữa: có nhiệm vụ sửa chữa máy móc thiết bị, bảo dưỡng và tu bổ các loại xe, các loại máy và cung cấp các công cụ, dụng cụ cơ khí cho các đơn vị trong công ty. Trung tâm tư vấn thiết kế điện nước, thông gió, điều hoà, đạt được dưới sự chỉ đạo điều hành trực tiếp của Phó giám đốc phụ trách lĩnh vực kinh tế tiếp thị, có nhiệm vụ công tác tư vấn với khách hàng, cho các đơn vị liên quan đến hoạt động lắp đặt điện nước... Mặc dù, các xí nghiệp tổ đội, xưởng của công ty được tổ chức độc lập, hoạt động sản xuất theo lĩnh vực, ngành nghề do công ty phân công, bố trí song các xí nghiệp, tổ đội, xưởng sản xuất có thể hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành công việc xây lắp một cách nhanh nhất, bảo đảm bàn giao đúng thời hạn, đúng tiêu chuẩn chất lượng công trình quy định... Có thể nói tổ chức sản xuất ở Công ty xây lắp điện nước và xây dựng là hợp lý giúp cho công tác qủan lý điều hành sản xuất được thuận tiện, đồng thời gắn được trách nhiệm của từng xí nghiệp, tổ, đội, xưởng với công việc mà đơn vị đó thực hiện. Từ đó, đóng góp nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn công ty. Trong nền kinh tế thị trường, cũng như bao doanh nghiệp Nhà nước khác. Công ty lắp máy điện nước và xây dựng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích bảo toàn, phát huy đồng vốn và thu lợi. Tuy nhiên là một Công ty xây lắp, nhiệm vụ chính của công ty là phải lắp đặt điện nước và xây dựng các công trình, hạng mục công trình do Tổng công ty giao. Ngoài ra công ty còn chủ động tìm kiếm các công trình, hạng mục xây lắp trên mọi miền đất nước nhằm tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho họ và góp phần lợi nhuận cho công ty. 2.4. Tình hình trang thiết bị máy móc của công ty. Ngày đầu mới thành lập Công ty lắp máy điện nước và xây dựng chỉ có số máy móc thiết bị cũ kỹ (được trang bị từ thời xí nghiệp tiền thân của công ty trước đây) và số máy móc được trang bị mới đã gây nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh của Công ty. Hiện nay, do sự giúp đỡ của cấp trên và tự đầu tư một số lượng máy móc thiết bị của Công ty đã được trang bị nhiều lên (chủ yếu là mua) với nhiều chủng loại máy móc thiết bị phục vụ công tác xây lắp. Theo báo cáo sản xuát quý 3/1998, công ty được trang bị thêm một xe cẩu TADANO 500E, một xe nâng hàng, hai máy trộn bê tông, một máy gấp mép tôn, bốn máy zen Nhật, một máy phát hàn... Việc trang bị máy móc thiết bị như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho công ty thực thi các công trình xây lắp một cách nhanh hơn, gọn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật của công trình, từ đó góp phần thu hồi vốn nhanh, tăng vòng quay của vốn kinh doanh, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Mặc dù, công ty được trang bị phần lớn là máy móc thiết bị mới, hiện đại song số lượng vẫn còn ít và thiếu đồng bộ. Do vậy, một vấn đề đặt ra cho công ty là phải trang bị bổ sung thêm máy móc thiết bị, đảm bảo đầy đủ số lượng và tính động bộ của máy móc thiết bị, nhằm phục vụ một cách tốt nhất nhiệm vụ sản xuất của công ty. II. Phân tích thực trạng bộ máy quản trị của công ty cổ phần. 1. Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng quản trị. - Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. 1.1. Hội đồng quản trị có quyền và nhiệm vụ sau đây: + Quyết định chiến lược phát triển của công ty. + Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại. + Quyết định chào bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại, quyết định huy động thêm vốn theo hình thức khác. + Quyết định phương án đầu tư. + Quyết định giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ, thông qua hợp đồng mua bán, vay, cho vay và hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty hoặc tỉ lệ khác nhỏ hơn được qui định tại điều lệ công ty. + Bổ nhiệm miễn nhiệm, cách chức giám đốc và cán bộ quản lý quan trọng khác của công ty, quyết định mức lương và lợi ích khác của các cán bộ quản lý đó. + Quyết định cơ cấu tổ chức, qui chế quản lý nội bộ công tyquyết định thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác. + Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm và bất thường lên Đại hội đồng cổ đông. + Kiến nghị mức cổ tức được trả, quyết định thời hạn và thủ tục cổ tức hoặc xử lý các khoản lỗ phát sinh trong quá trình kinh doanh. + Quyết định giá chào bán cổ phần và trái phiếu của công ty định giá tài sản vốn góp không phải tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi vàng. + Duyệt chương trình, nội dung tài liệu phục vụ họp đại hội đồng cổ đông, triệu tập họp đại hội đồng cổ đông hoặc thực hiện các thủ tục hỏi ý kiến để Đại hội đồng cổ đông thông qua quyết định. + Quyết định mua lại không quá 10% số cổ phần đã bán. + Kiến nghị việc tổ chức lại hoặc giải thể công ty. + Các quyền và nhiệm vụ khác theo qui định tại luật doanh nghiệp và điều lệ công ty. Hội đồng quản trị thông qua quyết định bằng biểu quyết tại cuộc họp mỗi thành viên Hội đồng quản trị có một phiếu biểu quyết. Khi biểu quyết có số phiếu ngang nhau thì quyết định do Chủ tịch HĐQT. 1.2. Số lượng: gồm 5 ty thành viên. 1.3. Cách thức bầu. - Thành viên HĐQT phải có đủ điều kiện sau: + Là cổ đông sở hữu cổ phần phổ thông từ 0,2% vốn điều lệ trở lên. + Có trình độ học vấn từ đại học trở lên, có năng lực kinh doanh và tổ chức quản lý doanh nghiệp. + Có sức khoẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực liêm khiết, có hiểu biết luật pháp. - Đại hội đồng cổ đông bầu HĐQT theo cách bỏ phiếu ứng cử hội đồng quản trị sau khi đã lên danh sách. Người được bầu vào HĐQT là người có nhiều số phiếu nhất và sau đó lấy tiếp những ứng cử viên cho đến khi đủ số lượng là 5 thành viên. - Nhiệm kỳ của mỗi thành viên HĐQT là 5 năm các thành viên HĐQT có thể được bầu lại, việc thay thế thành viên HĐQT theo nguyên tắc kế thừa đảm bảo trong HĐQT có ít nhất 2 thành viên cũ. 1.4. Cơ chế hoạt động của HĐQT. - HĐQT họp thường kỳ mỗi quí một lần , trường hợp đặc biệt khoảng cách giữa 2 nhiệm kỳ họp cũng không được quá 3 tháng. - Trường hợp cần thiết, HĐQT có thể họp phiên họp bất thường theo yêu cầu của: +Chủ tịch HĐQT + ít nhất 3 thành viên HĐQT + Trưởng ban kiểm soát. + Giám đốc. - Cơ quan thường trực của HĐQT có thành viên của HĐQT làm nhiệm vụ giải quyết công ăn việc làm hàng ngày. - Phân công nhiệm vụ và quyền hạn giữa các thành viên trong HĐQT. + Phó chủ tịch HĐQT có trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ do Chủ tịch phân công, thay mặt chủ tịch thực thi công việc được uỷ quyền trong thời gian chủ tịch vắng mặt. + Các thành viên HĐQT thực hiện nhiệm vụ đã được HĐQT phân công, không uỷ quyền cho người khác. - HĐQT bầu giám đốc công ty, phó giám đốc và kế toán trưởng riêng chức vụ giám đốc công ty có thể là thành viên của HĐQT hoặc thuê ngoài. 2. Ban kiểm soát: Đại hội đồng cổ đông bầu ban kiểm soát, sau khi đã lên danh sách ứng cử viên vào ban kiểm soát. Đại hội đồng cổ đông sẽ bỏ phiếu bầu các thành viên ban kiểm soát. 2.1. Quyền và nhiệm vụ của ban kiểm soát. a. Ban kiểm soát là người thay mặt cổ đông để kiểm tra tính hợp lý và hợp pháp trong quản trị, điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính và các nội dung khác theo qui định của pháp luật. b. Ban kiểm soát gồm: 3 người do Đại hội đồng cổ đông bầu và bãi miễm với đa số phiếu theo số lượng cổ phần bằng thể thức trực tiếp và bỏ phiến kín. c. Các kiểm soát viên bầu một người là trưởng ban kiểm soát d. Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của công ty, kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến giá trị, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, theo yêu cầu của cổ đông, nhóm cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phần phổ thông trong thời hạn ít nhất 6 tháng. e. Thường xuyên thông báo với HĐQT về kết quả hoạt động tham khảo ý kiến của HĐQT trước khi trình báo cáo, kết luận và kiến nghị lên đại hội đồng cổ đông. g. Báo cáo Đại hội đồng cổ đông về tính chính xác, trung thực, hợp pháp của việc ghi chép, lưu trữ chứng từ và lập sổ kế toán, báo cáo tài chính và báo cáo khác của công ty, tính trung thực, hợp pháp trong quản trị, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty theo qui định của pháp luật. h. Kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động của công ty. i. Tham dự các cuộc họp của HĐQT, phát biểu ý kiến và có những kiến nghị nhưng không tham gia biểu quyết. Nếu có ý thức và với quyết định của HĐQT thì có quyền ghi ý kiến của mình vào biên bản phiên họp và được trực tiếp báo cáo trước đại hội cổ đông gần nhất. 2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn kiểm soát viên. - Kiểm soát viên (riêng trưởng ban kiểm soát phải là cổ đông, có vốn chủ sở hữu cổ phần phổ thông 0,1% vốn điều lệ) có trình độ trung cấp nghiệp vụ trở lên, am hiểu kỹ thuật và nghiệp vụ kinh doanh của công ty. Trong đó ít nhất một kiểm soát viên phải có nghiệp vụ về tài chính kế toán. - Những người không được làm thành viên ban kiểm soát bao gồm: + Thành viên HĐQT, Giám đốc, người có liên quan của thành viên HĐQT, của giám đốc, kế toán trưởng công ty đó. + Người đang truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt từ hoặc toà án tước quyền hành nghề vì vi phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế lừa dối khách hàng và các tội khác theo qui định của pháp luật và kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên. 3. Bộ máy điều hành. Sau khi có Đại hộ đồng cổ đông lần thứ nhất cơ cấu bộ máy quản lý cũng có sự chuyển đổi từ cơ cấu bộ máy quản lý của DNNN sang cơ cấu bộ máy quản lý của công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng được thể hiện như sau: 3.1. Giám đốc điều hành. - Tiêu chuẩn lựa chọn giám đốc. + Có trình độ quản lý kinh doanh thuộc các ngành kinh tế - kỹ thuật, có ít nhất 5 năm công tác trong ngành nghề kinh doanh của công ty, có đủ kiến thức và kinh nghiệp quản lý công ty, hiểu biết pháp luật. + Không kiêm nhiệm bất cứ một chức vụ quản trị điều hành nào tại các tổ chức kinh tế khác. - HĐQT bổ nhiệm một người trong số họ (hoặc người khác) nhưng cụ thể là phó chủ tịch HĐQT kiêm giám đốc điều hành. - Giám đốc là người điều hành cao nhất mọi hoạt động hàng ngày của công ty chịu trách nhiệm trước HĐQT về thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao. - Giám đốc có các quyền và nhiệm vụ sau đây: + Quyết định về tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty. + Tổ chức thực hiện các Quyết định của HĐQT. + Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty. + Kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức, qui chế quản lý nội bộ công ty. + Bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty trừ các chức danh do HĐQT bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. + Quyết định lương và phụ cấp (nếu có) đối với người lao động trong công ty, kể cả cán bộ quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của giám đốc. 3.2. Phòng kế hoạch tổng hợp. - Là cơ quan tham mưu cho giám đốc điều hành nhiệm vụ của phòng là: - Xây dựng kế hoạch dài hạn hàng năm, hàng quí và tổng hợp kế hoạch kịp thời chính xác, giúp giám đốc công ty chỉ đạo điều hành sản xuất kinh doanh. - Cân đối các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất. - Kế hoạch hoá và lên tiến độ chung cho công việc. - Đôn đốc kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch hàng quí hàng tháng của công ty. - Soạn thảo kiểm tra hợp đồng kinh tế với các chủ đầu tư. - Viết hợp đồng làm khoán với các đơn vị trong công ty theo qui chế của công ty. - Đi tiếp thị các công trình và mua hồ sơ dự thầu và tham gia các cuộc đấu thầu của công ty. - Kết hợp cùng với phòng kỹ thuật - KCS chuẩn bị hồ sơ đấu thầu các công trình (về hồ sơ pháp lý của công ty và xây dựng giá trị dự thầu công trình). 3.3. Phòng kỹ thuật - an toàn - KCS. Có những chức năng và quyền hạn như sau: - Kiểm tra các biện pháp thi công và biện pháp an toàn lao động cho các xí nghiệp và các đội trực thuộc thi công công trình trước khi trình giám đốc duyệt. - Theo dõi đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các công tác thi công, an toàn và chất lượng của các công trình đang thi công của công ty. - Phổ biến các chính sách, chế độ, thông tư, nghị định, qui phạm, qui trình về kỹ thuật - an toàn - chất lượng cho các đơn vị nắm được để thực hiện. - Tổ chức tập huấn cho các công trình đang thi công về công tác bảo hộ lao động. - Theo dõi kiểm tra, kiểm định máy móc thiết bị đang thi công trên các công trường. - Tham gia cùng phòng kế hoạch - Tổng hợp làm các biện pháp thi công các công trình đấu thầu của công ty. - Có một tổ chức trắc đạc chuyên trách việc giác móng cho các công trình theo yêu cầu của các xí nghiệp và đội trực thuộc. - Chịu trách nhiệm trước giám đốc về quyền hạn và trách nhiệm được giao. 3.4. Phòng tổ chức lao động tiền lương. Có những chức năng và quyền hạn như sau: - Quản lý tổ chức bộ máy công ty và các xí nghiệp, đội trực thuộc điều động lực lượng công nhân của công ty cho các đội. - Hướng dẫn việc quản lý sử dụng công nhân và hợp đồng thuê lao động. - Hướng dẫn kiểm tra, quản lý việc chấm công, chia lương trả lương của các tổ đội trong các công trình thi công. - Quản lý hồ sơ của cán bộ công nhân viên trong công ty. - Tham mưu cho giám đốc sắp xếp về nhân sự cho công ty. 3.5. Phòng hành chính. Có những chức năng và quyền hạn như sau: - Tiếp nhận trình duyệt, phân phối và soạn thảo các công văn giấy tờ, quản lý, quản lý các con dấu, lưu trữ công văn, giấy tờ liên quan đến toàn công ty. - Quản lý các vấn đề điện, nước và các sửa chữa nhỏ trong trụ sở công ty. - Điều động xe ô tô đi công tác. - Phụ trách in, ấn, fotô các văn bản và tài liệu của các phòng ban trong công ty. 4. Đánh giá tổng hợp về bộ máy quản lý hiện nay. - Về quá trình chuyển đổi từ DNNN sang công ty cổ phần mới được một thời gian ngắn từ 29/3/2000 cho đến nay. Cho nên bộ máy quản lý công ty có sự thay đổi cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần mới mang tính chất là mô hình còn thực chất làm việc (về hiệu quả) vẫn chưa được thể hiện rõ ràng lắm sau đây có một số nhận xét về mặt hợp lý và chưa hợp lý của bộ máy đó: 4.1. Về mặt hợp lý. - Bộ máy quản lý của công ty đã có phần gọn nhẹ và tinh giảm chẳng hạn như so với sơ đồ bộ máy quản lý cũ thì đã giảm đi một số phòng ban như (phòng vật tư + ban cơ điện): sát nhập các đội và các xí nghiệp lại từ 15 đơn vị xuống còn 10 đơn vị. - Số lượng cán bộ công nhân viên trong các phong ban có phần gọn nhẹ đi. Ví dụ: giải quyết cho một số người đã đủ tuổi về hưu đưa một số cán bộ xuống các đơn vị sản xuất. 4.2. Về mặt chưa hợp lý. Theo quyết định 863/QĐ - BXD ngày 26/6/2000 về việc xếp hạng doanh nghiệp. Công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội được xếp doanh nghiệp hạng I. Như vậy công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng là một công ty lớn cho nên cơ cấu tổ chức của công ty cũng cần phải sắp xếp sao cho phù hợp với công ty loại I. Chẳng hạn trong bộ máy điều hành vẫn còn thiếu các phó giám đốc để giúp việc cho giám đốc: vì hiện nay một mình giám đốc điều hành giải quyết không hết được các công việc hàng ngày gây nên cho sự chậm trễ cho các đơn vị phải xếp hàng chờ đợi giám đốc giải quyết - về các phòng ban tuy được quyết định thành lập và có qui chế rõ ràng nhưng sự hoạt động vẫn chưa hiệu quả lắm người nọ nhìn người kia, trách nhiệm làm việc chưa rõ ràng. Tóm lại trên đây là toàn bộ thực trạng của bộ máy quản lý công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng bên cạnh những mặt hợp lý còn có những mặt chưa hợp lý của bộ máy quản lý. Tuy nhiên mục đích cuối cùng là làm sao cho bộ máy quản lý của ty làm việc có hiệu quả nhằm đáp ứng được sự phù hợp của tình hình kinh tế hiện nay của đất nước và sự mong mới của các cổ đông trong công ty. Sau đây em xin nêu lên một số ý kiến về phương hướng và biện pháp hoàn thiện bộ máy quản lý của công ty trong thời gian tới. Phần thứ ba Một số ý kiến về phương hướng và biện pháp hoàn thiện bộ máy quản lý tại công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng. I/ Mục tiêu phương hương của công ty trong những năm tới. - Căn cứ vào đường lối của Đảng và nhà nước, nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước theo định hướng XHCN. Kể từ đó đến nay nền kinh tế nước đã có nhiều khởi sắc tổng thu nhập quốc dân tăng lên đáng kể, đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng lên. Nhưng với những thành quả đã đạt được để hội nhập với các nước trong khu vực ASEAN và thế giới thì những kết quả trên chúng ta còn phải phấn đấu và phát huy hơn nữa trên đó Đảng và Nhà nước đã có chủ trương chính sách để đẩy mạnh công nghiệp hoáa hiện đại hoá đất nước. Trong đó việc sắp xếp lại và đổi mới quản lý DNNN là nhiệm vụ trọngyếu và phức tạp. Cổ phần hoá DNNN là một trong biện pháp đổi mới DNNN. - Căn cứ vào nghị định 44/1998/NĐ/CP ngày 29/6/1998 của Bộ tài chính về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần. - Căn cứ quyết định số 1595/QĐ - BXD ngày 13/12/1999 của Bộ trưởng Bộ xây dựng về việc phê duyệt phương án cổ phần hoá và chuyển DNNN công ty lắp máy điện nước và xây dựng thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội thành công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng. - Căn cứ vào nghị quyết 01/NQ - ĐHCĐ ngày 29/3/2000 của công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng duyệt phương án kinh doanh năm 2000 - 2001 như sau: TT Các chỉ tiêu chủ yếu Đơn vị tính 2000 2001 1 Tổng doanh thu Triệu đồng 70.000 75.000 2 Lợi nhuận chung Triệu đồng 1.150 1.380 3 Lợi nhuận ròng Triệu đồng 787 1.035 4 Trích quỹ dự trữ SX = 5% Triệu đồng 39,35 51,75 5 Cổ tức % năm 12 14 6 Tổng số CBCNV Người 429 429 7 Thu nhập bình quân 1000đ/1ng 800 900 Để thực hiện những phương hướng và mục tiêu trên việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị của công ty là một trong những công việc tất yếu và cấp bách phải giải quyết em xin mạnh dạn nêu lên một số giải pháp hoàn thiện bộ máy tổ chức quản trị sau đây: II/ Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị làm cơ sở hoàn thiện thêm quản lý của công ty. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị phải luôn được hoàn thiện theo hướng ngày càng thích hợp với mục tiêu và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh cơ cấu tổ chức phải đảm bảo mối quan hệ hợpl ý về số lượng với khâu quản lý ít nhất. Có như vậy cơ cấu quản lý mới năng động đi sát vào phục vụ sản xuất kinh doanh và phù hợp với môi trường kinh doanh qua nghiên cứu cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị, cần được hoàn thiện như sau: 2. Sơ đồ tổ chức công ty trước khi chuyển sang cổ phần và sau khi chuyển sang cổ phần ta thấy cơ cấu bộ máy quản lý có phần gọn nhẹ nhưng chưa được hoàn thiện lắm. 2.1. Về các phòng ban bỏ đi một phòng đó là phòng vật tư. Vì đặc thù của ngành xây dựng thường thực hiện cơ chế làm khoán nghĩa là công ty khoán công trình cho xí nghiệp và đội theo tỉ lệ % từ khoảng trên dưới 14%, còn lại là xí nghiệp và đội chủ động lo vật tư và nhân công để thực hiện công việc được giao cho nên phòng vật tư là không cần thiết. 2.2. Hoàn thiện chức năng giữa các bộ phận. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý các bộ phận chức năng, quan hệ quản lý giữa các bộ phận chức năng và nhiệm vụ trong các bộ phận phải luôn luôn hoàn thiện giữa các phòng ban và cấp lãnh đạo phải có mối quan hệ chặt chẽ hỗ trợ nhau cùng chỉ đạo sản xuất kinh doanh. Muốn thực hiện những vấn đề trên ta phải phân tích quá trình thực hiện các chức năng qui định, khối lượng công việc, phát hiện ra những khâu yếu nhất trong công tác, phân chia quyền hạn, tỷ lệ lao động gián tiếp với nơi lao động trực tiếp. Trên cơ sở đánh giá đã hợp lý hay chưa để từ đó đề ra những biện pháp hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ giữa các phòng ban. 2.3. Hoàn thiện chức năng ban giám đốc. Ban giám đốc công ty nên có khoảng 2 - 3 người. Trong đó có 1 giám đốc và 1 - 2 phó giám đốc. - Giám đốc: Phụ trách chung toàn bộ các công việc như tổ chức, kỹ thuật, kế hoạch, tài chính. - Phó giám đốc: giúp việc cho giám đốc về công tác chuyên môn và phê duyệt một số vấn đề được giám đốc uỷ quyền. Nghĩa là sau khi chức năng của ban giám đốc được chia lại ta có thể thấy rằng. Các phó giám đốc trước đây phụ trách theo mảng chẳng hạn như phó giám đốc phụ trách thi công xây dựng thì quản lý luôn phòng kỹ thuật - AT - KCS và các Xí nghiệp và Đội thuộc về lĩnh vực xây dựng. Phó giám đốc thi công cơ điện thì quản lý các xí nghiệp hoặc đội thuộc lĩnh vực điện và nước. Phó giám đốc kế hoạch tiếp thị phụ trách trực tiếp phòng kế hoạch phòng đầu tư. Như trên cho ta thấy sơ đồ tổ chức cũ tạo nên sự phân quyền cát cứ mỗi phó giám đốc có một mảng riêng của mình cho nên trong quá trình làm việc rất khó có sự phối hợp giữa các phòng ban với nhau đó là nhược điểm của sơ đồ tổ chức cũ. Chuyển sang sơ đồ tổ chức mới, các phó giám đốc ngoài chức năng giúp việc và tham mưu cho giám đốc về các lĩnh vực chuyên môn như (xây dựng, điện nước) còn được giám đốc uỷ quyền choi một số công tác khác như về phụ trách an toàn lao động, kiểm tra hồ sơ dự thầu về chuyên môn và pháp lý đã đúng theo yêu cầu của hồ sơ dự thầu chưa... nhưng điểm mấu chốt ở đây là các phó giám đốc có thể phối hợp với nhau về chuyên môn cũng như phối hợp với các phòng ban để thực hiện tốt những công việc của giám đốc đã giao. 3. Bố trí lại lao động cho các phòng ban. ở đầu phần thứ hai chúng ta đã thấy được rằng nói chung sự phân chia tương đối rõ ràng, khoa học, hầu hết các phòng ban đều có đầy đủ các chức năng và nhiệm vụ được giao và phù hợp với khả năng và quyền hạn cũng như trách nhiệm của mình. Nhưng phần trên chỉ đưa ra những chức năng và nhiệm vụ chính của từng phòng mà chưa thể hiện trong từng phòng từng bộ phận thì phân công công việc như thế nào, chế độ trách nhiệm ra sao, chế độ báo cáo, chế độ ra quyết định ... và về cán bộ sắp xếp như thế nào (tiêu chuẩn, bố trí, định danh...) ta có thể đưa ra một số giải pháp cho phòng ban sau đây: Phòng kỹ thuật - an toàn - chất lượng. Bố trí lao động cho phòng kỹ thuật - an toàn - KCS. STT Chức danh Số lượng Trình độ Chuyên môn 1 Trưởng phòng 1 Đại học KSXD 2 Nhóm duyệt và làm biện pháp thi công 2 Đại học KSXD + KTS 3 Nhóm an toàn 1 Đại học Cử nhân pháp lý 4 Nhóm chất lượng 2 Đại học KSXD 5 Công tác khác (duyệt KL, kế toán, phòng..) 2 Đại học KS thông gió + điện 6 Tổ trắc đạc 2 Trung cấp Trắc đặc Ta có thể mô hình hoá cho phòng kỹ thuật - an toàn - KCS như sau: Trưởng phòng Tổ trắc đạc Nhóm KCS Nhóm công việc khác Nhóm AT Nhóm BT - TC Như vậy theo mô hình trên trong một phòng ta có thể thấy được. - Về số lượng: 10 người - Về chức năng: 4 nhóm + 1 tổ - Về trách nhiệm: được phân định rõ ràng cho từng nhóm và tổ - Về báo cáo thì: khi có nhiệm vụ được giao các nhóm, các tổ tự giác làm những phần việc thuộc trách nhiệm của mình sau đó báo cáo lên trưởng phòng xem xét và kiểm tra. Trước khi báo cáo lên ban giám đốc, ngoài ra trong công việc các nhóm cũng có sự phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau. Ví dụ: như nhóm làm biện pháp thi công cho công trình thì có liên quan đến biện pháp an toàn lao động( những qui định, qui phạm do nhóm an toàn cấp tài liệu và số liệu) còn nhóm KCS phối hợp với nhóm làm biện pháp đề ra các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng (TCVN: những qui trình qui phạm). Như vậy: Ta có thể thấy rõ được chức năng, nhiệm vụ của từng người trong nhóm của từng phòng và từng phòng lại là 1 bộ phận của bộ máy quản lý công ty. Từ đó giám đốc trong quá trình điều hành có thể nắm rõ được mọi công ty. Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban cũng như trách nhiệm của từng cá nhân trong bộ phận đó có thể điều hành điều khiển cho bộ máy quản lý của công ty hoạt động nhịp nhàng đạt được hiệu quả cao nhất và phấn đấu đạt được mục tiêu của Đại hội đồng cổ đông đã đề ra. 4. Hoàn thiện nâng cao chất lượng đội ngũ lao động. - Hoàn thiện công tác đào tạo. Công tác đào tạo thể hiện ở hai hình thức đó là: + Đào tạo tại chỗ: để có thể khai thác hết khả năng làm việc của người lao động, người lao động có thể vừa làm việc vừa hỏi nghiệp vụ trong công ty. + Đào tạo ngoài công ty. Công ty có thể gửi nhân viên đến các cơ sở đào tạo để nghiên cứu học hỏi thêm về kỹ thuật quản lý. III. Một số kiến nghị nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho sự phát triển công ty cổ phần. Xuyên trao đổi, đúc rút kinh nghiệm trong quản trị các nghiệp vụ sản xuất - kinh doanh giúp Giám đốc và Hội đồng quản trị có những quyết định đúng đắn cho bước đi của Công ty trong tương lai. - Giải quyết tốt mối quan hệ giữa người lao động với Công ty và giữa các bộ phận lao động với nhau, giữa những người lao động trong cùng bộ phận nhằm đảm bảo tính công bằng, công khai, dân chủ; khuyến khích các bộ phận và từng người lao động đem hết khả năng và trách nhiệm để sản xuất - kinh doanh. Hợp lực toàn bộ sức mạnh cá biệt thành sức mạnh của toàn Công ty, cùng thúc đẩy Công ty phát triển. IV. Một số kiến nghị nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho sự phát triển Công ty cổ phần. Một là, ổn định tiền tệ, giảm lạm phát . Tiền tệ ổn định là một điều kiện quan trọng cho sự phát triển của công ty cổ phần, tiền tệ là yếu tố tác động đến nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, tiền tệ là vật ngang giá chung, có vai trò nói lên tất cả các loại thị trường vào nó chỉ phát huy được chức năng khi có sự ổn định tiền tệ. Sự ổn định tiền tệ sự phát triển của các doanh nghiệp trong đó có Công ty cổ phần. Một khi Công ty phát triển nó sẽ tác động tích cực trở lại đối với nền kinh tế nói chung, cũng như tiền tệ nói riêng. Bởi vì, những Công ty phát triển có nghĩa là một khối lượng tiền tệ trong xã hội được di chuyển vào sản xuất kinh doanh, từ đó hạn chế được những cơn sốt giá cả. Với ý nghĩa đó cần có những chính sách kinh tế vĩ mô tạo điều kiện ổn định tiền tệ, kích thích tiết kiệm và chuyển tiền tiết kiệm vào hoạt động đầu tư. Về thực chất người mua cổ phiếu là đầu tư tài chính với mục đích lợi nhuận cao hơn và đều có yêu cầu chung là phải an toàn trong khoản đầu tư đó. Nếu lạm phát họ sẽ không muốn giữ các khoản tiết kiệm dưới dạng tiền tệ và do đó không sẵn sàng mua cổ phiếu của Công ty cổ phần. Lạm phát từ lâu đã là căn bệnh chung của nền kinh tế thị trường, giảm lạm phát là vấn đề hàng đầu trong mục tiêui và chính sách kinh tế vĩ mô của các quốc gia. Lạm phát cao hạn chế khả năng phát hành cổ phiếu của doanh nghiệp vì trong trường hợp này lợi tức cổ phiếu, trái phiếu cao, doanh nghiệp không chịu nổi, do đó lạm phát thấp sẽ thúc đẩy nhanh sự ra đời và phát triển thị trường vốn trong nước. Lạm phát tăng làm giá cả tăng vụt, đồng tiền mất giá làm cho chi phí đầu vào luôn biến đổi, chính vì vậy lạm phát sẽ gây khó khăn cho việc tính toán và hoạch định các phương án kinh doanh thiếu chính xác, không tránh được những rủi ro có thể xảy ra. Nếu lạm phát giảm, giá cả ổn định nó sẽ tạo điều kiện tính toán và hoạch định các phương án kinh doanh một cách tương đối chính xác, đồng thời nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu và cả những người đầu tư. Hai là, chính sách tài chính thể hiện chủ yếu hai nội dung thu và chi của Chính phủ, từ đó tác động vào tổng cung, tổng cầu số lượng và giá cả. Kinh tế thị trường đòi hỏi phải xây dựng ngân sách theo tinh thần : bội chi để chống suy thoái kinh tế, bội thu để chống lạm phát, khi cần sẽ huy động nguồn vốn trong nước bằng nhiều hình thức (kỳ phiếu, công trái...) hoặc vay vốn nước ngoài để đầu tư phát triển, không phát hành tiền bù bội chi cho ngân sách. Về chi ngân sách Nhà nước cần ưu tiên cho các khoản đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, vật chất - xã hội (khi hệ thống đường giao thông được mở rộng, xâydựng hiện đại sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư mở rộng tầm nhìn và đầu tư. Chi cho hoạt động thông tin, dự báo, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là hoạt động công ty cổ phần vì đây là loại hình sản xuất tập trung vốn của nhiều người và mục đích của họ là lợi nhuận. Ngoài ra chính sách thuế của Nhà nước tác động rất lớn đến hoạt động của Công ty cổ phần. Thông qua thuế Nhà nước điều chỉnh cơ cấu kinh tế, kích thích hoặc hạn chế hoạt động sản xuất kinh doanh của từng ngành từng lĩnh vực. Theo đánh giá của các chuyên gia, chính sách thuế của ta hiện nay còn nhiều bất hợp lý trong thu thuế bất động sản, thuế thu nhập, thuế lợi tức... Do đó việc sửa đổi bổ sung và hoàn chỉnh chính sách thuế, tạo lập sự công bằng hợp lý trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế hiện nay là vấn đề cấp bách Nhà nước cần quan tâm. Để đẩy mạnh việc phát triển Công ty cổ phần Nhà nước nên có những chính sách thuế khuyến khích thuế đầu tư. Ba là, Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện vai trò điều tiết quản lý vĩ mô về mặt tiền tệ. Nhưng sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước trên thị trường sẽ quyết định việc gia tăng hay thu hẹp khối lượng tiền tệ cung ứng cho nền kinh tế, vì theo yêu cầu của nền kinh tế vào các thời điểm nhất định. Các chính sách của Ngân hàng Trung ương tác động đến sự hình thành và phát triển thị trường vốn. Ngân hàng thương mại có vai trò then chốt trong việc hình thành và phát triển thị trường vốn, quản lý chứng khoán cho khách hàng và việc tổ chức các thị trường chứng khoán. Khi công ty muốn phát hành cổ phiếu hay trái phiếu họ có thể nhờ dịch vụ phát hành của một ngân hàng, Ngân hàng này sẽ giúp họ lựa chọn loại chứng khoán phát hành, tư vấn về các vấn đề như lãi suất chứng khoán, thời hạn chứng khoán và các vấn đề kinh tế khác. Các ngân hàng thương mại có thể mua toàn bộ cổ phiếu phát hành mới và sau đó bán lại cho công chúng. Trong những trường hợp đặc biệt như số phát hành khá lớn, nhiều ngân hàng có thể cùng nhau chia sẻ dự định phát hành này nhằm giảm tối thiểu rủi ro. Như vậy Ngân hàng đã đóng vai trò quan trọng trên thị trường vốn. Ngoài ra các Ngân hàng thương mại có thể hành động với tư cách trung gian mua bán chứng khoán, đây là dịch vụ ngân hàng phát triển sau này gọi là dịch vụ trung gian chứng khoán để có được kinh nghiệm và kỹ thuật chuyên môn của họ. Hoạt động này trên thị trường thứ cấp cần được luật cho phép dễ dàng với các qui định chặt chẽ, nhằm tránh những trường hợp đầu cơ gây xáo trộn trên thị trường chứng khoán. Bốn là, tăng cường và hoàn thiện công tác kiểm toán. Kiểm toán là công cụ hết sức quan trọng trong cơ chế kinh tế thị trường, nhất là khi các Công ty cổ phần đã trở nên phổ biến trong nền kinh tế nhằm đáp ứng lợi ích của nhiều phía: - Của Nhà nước để quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài nguyên. - Của các doanh nghiệp, các công ty - để kiểm soát vốn liếng, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh và hiệu quả hoạt động nhất là việc hoạt động của Công ty cổ phần vì doanh lợi lời lãi của Công ty ảnh hưởng đến lợi tức cổ phần. Đồng thời nó thể hiện giá trị cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, do đó việc kiểm toán vốn liếng, doanh thu, hiệu quả sẽ tác động cho những nhà đầu tư, tạo điều kiện huy động nguồn vốn trong sản xuất. - Của các nhà đầu tư, cho vay liên doanh, liên kết, khách hàng để kiểm soát việc bảo toàn và hiệu quả sinh lợi của các khoản đầu tư, cho vay của các hoạt động liên doanh, liên kết, các quan hệ mua bán. Qua kiểm toán các nhà đầu tư sẽ biết từng doanh nghiệp làm ăn như thế nào để đầu tư và mua bán cổ phiếu. Phải tăng cường và hoàn thiện công tác kiểm toán đồng thời hình thành các hình thức kiểm toán: Kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập, kiểm toán theo chức năng quản lý và kiểm toán nội bộ để phối hợp và hỗ trợ. Năm là, hình thành thị trường chứng khoán để tác động tích cực góp vốn đầu tư phát triển Công ty cổ phần. Với sự ra đời của thị trường chứng khoán đã khuyến khích tiết kiệm và đầu tư của dân chúng. Sau khi chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần, khu vực tư doanh được mở rộng, luật công ty được ban hành. Theo luật này Công ty cổ phần được phát hành cổ phiếu và trái phiếu, là những mặt hàng cung cấp cho thị trường chứng khoán, nếu thị trường chứng khoán được tổ chức thì việc mua bán chứng khoán được dễ dàng, sẽ đưa vốn vào sản xuất tốt hơn. Thị trường chứng khoán và Công ty cổ phần có tác dụng tương hỗ tích cực cho nhau, thị trường chứng khoán là" chợ trao đổi hàng hoá cổ phiếu" cho Công ty cổ phần. Công ty cổ phần là tiền đề đáp ứng hàng hoá cổ phiếu cho yêu cầu của thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán có tổ chức sẽ cung cấp mọi thông tin cần thiết về các loại cổ phiếu, chứng khoán cũng như mọi khả năng sinh lời của từng loại trong tương lai. Thị trường chứng khoán thu thập và phân tích các nguồn thông tin cần thiết như thành tích trong quá khứ của một đơn vị kinh tế cũng như đối chiếu với các loại chứng khoán khác. Ngoài ra, thị trường chứng khoán tạo thói quen đầu tư, thị trường chứng khoán với cơ sở pháp lý hoàn chỉnh và bộ máy quản lý hữu hiệu, sẽ là môi trường thuận lợi cho việc phát hành cổ phiếu và các loại chứng khoán cũng như mọi nghiệp vụ mua bán ở thị trường. Với sự phổ biến và hướng dẫn rộng rãi, người dân sẽ sử dụng nguồn vốn tiết kiệm của mình để mua cổ phiếu hay chứng khoán với niềm tin về lợi nhuận hay tiền lãi bảo đảm. Thị trường chứng khoán điều tiết việc phát hành cổ phiếu. Thị trường chứng khoán sẽ là nơi bảo đảm an toàn cho các nhà đầu tư bằng cách xem xét, đánh giá các loại cổ phiếu trước khi cho phép đem ra mua bán. Như vậy, qua thị trường chứng khoán người dân có điều kiện được thông tin đầy đủ hơn kể cả điều kiện phân tích sàng lọc thông tin để xác định Công ty cổ phần hay doanh nghiệp cổ phần hoá làm ăn lành mạnh, có hiệu quả để có lòng ham muốn tích cực tham gia mua cổ phiếu góp vốn vào sản xuất kinh doanh cho yêu cầu ích nước lợi nhà. Thị trường chứng khoán tạo điều kiện luân chuyển, lưu động nhanh vòng quay vốn của các cổ đông và thông qua thị trường chứng khoán các cổ đông có quyền nhượng bán cổ phiếu để thu hồi vốn cho các yêu cầu khác cấp bách hơn hoặc cho yêu cầu đầu tư nơi khác có lợi nhuận tối ưu hơn. Sáu là, đổi mới và hoàn thiện phương pháp hạch toán và hệ thống kế toán gọn nhẹ khoa học và hiện đại để đáp ứng nhu cầu hoạt động của các công ty cổ phần. Do tính chất xã hội hoá ngày càng cao của Công ty cổ phần, hạch toán và kế toán là phương pháp và công cụ quan trọng để quản lý vốn, tài sản và hoạt động sản xuất của bản thân các Công ty cổ phần,đồng thời là nguồn thông tin số liệu tin cậy để Nhà nước điều hành vĩ mô nền kinh tế, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các ngành, các lĩnh vực. Chính vì vậy việc đổi mới và hoàn thiện không ngừng công tác kế toán thích ứng với yêu cầu quản lý trong cơ chế kinh tế mới trong các Công ty cổ phần. Đổi mới và hoàn thiện một cách căn bản hệ thống các chế độ kế toán hiện hành, trước hết là: Chế độ chứng từ ban đầu, hệ thống tài khoản kế toán; chế độ sổ sách kế toán, chế độ báo cáo kế toán. Kết luận Qua nghiên cứu quá trình phát triển và tình hình thực tế của công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng. Chúng ta thấy rằng là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản bao gồm thi công các công trình xây dựng, công trình điện nước nghĩa là công ty thi công các công trình rất đa dạng và phong phú về tính chất chuyên môn cũng như sản phẩm công trình được bố trí khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước. Công ty cũng gặp nhiều khó khăn chủ quan và khách quan một trong các khó khăn đó là bộ máy quản lý công ty hoạt động chưa đạt được hiệu quả như mong muốn mà cần phải tổ chức và hoàn thiện. Trong phạm vi chuyên đề này nhờ sự giúp đỡ của cán bộ công nhân viên trong công ty, tôi xin rút ra một số giải pháp nhằm đóng góp hoàn thiện cơ cấu bộ máy quản lý của công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng các thầy cô giáo trong khoa Quản trị kinh doanh công nghiệp & Xây dựng cơ bản đặc biệt là PGS. TS Nguyễn Kế Tuấn đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành chuyên đề này. Tài liệu tham khảo 1. Giáo trình kinh tế và quản lý công nghiệp - Trường Đại học KTQD - NXB Giáo dục năm 1999 2. Giáo trình Quản trị doanh nghiệp - Trường Đại học KTQD - NXB giáo dục năm 1998. 3. Giáo trình Quản trị nhân lực - NXB thống kê 4. Giáo trình lý thuyết quản lý kinh tế - trường Đại học KTQD - NXB giáo dục năm 1997. 5. Chiến lược & sách lược - NXB thống kê 6. Luật doanh nghiệp - NXB Lao động năm 2000. 7. Các văn bản hướng dẫn thực hiện cổ phần hoá DNNN - NXB xây dựng năm 1999. 8. Thời báo kinh tế Việt Nam. Mục lục Trang Lời mở đầu 1 Phần thứ nhất: Một số vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức bộ máy quản lý 3 I/ Thực chất của quản lý và những nội dung cơ bản của quản lý 3 1. Thực chất của quản lý 3 2. Những nội dung cơ bản của quản lý 3 II/ Thực chất và yêu cầu của việc tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp 8 1. Thực chất của tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp 8 2. Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức bộ máy quản lý 8 3. Những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp 9 Phần thứ hai: Thực chất của tổ chức bộ máy quản lý công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng 17 I/ Quá trình phát triển và một số đặc điểm chủ yếu của công ty 17 1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty 17 2. Tình hình đặc điểm công ty 21 II/ Phân tích thực trạng bộ máy quản trị của công ty cổ phần 30 1. Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng quản trị 30 2. Ban kiểm soát 33 3. Bộ máy điều hành 34 4. Đánh giá tổng hợp về bộ máy quản lý hiện nay 39 Phần thứ ba: Một số ý kiến về phương hướng và biện pháp hoàn thiện bộ máy quản lý tại Công ty cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng 41 I/ Mục tiêu phương hướng của Công ty trong những năm tới 41 II/ Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị làm cơ sở hoàn thiện thêm quản lý của công ty 42 2. Sơ đồ tổ chức công ty trước ................. 44 3. Bố trí lại lao động cho các phòng ban 45 4. Hoàn thiện nâng cao chất lượng đội ngũ lao động 47 III/ Một số kiến nghị nhằm tạo lập môi trường thuân lợi cho sự phát triển công ty cổ phần 48 IV/ Một số kiến nghị nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho sự phát triển công ty cổ phần 48 Kết luận 54 Tài liệu tham khảo 55

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc3157.doc
Tài liệu liên quan