Đề tài Sự phát triển của kế toán trên thế giới và Việt Nam. Các vấn đề đặt ra đối với kế toán Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Phần I: Lịch sử Kế toán Kế toán thời kỳ cổ đại Trong một quy ước Hammurabi ban bố trong triều đại đầu tiên của Babylonia (2285 2242 B.C.) có quy định rằng việc bán hàng phải được ghi nhận bằng một bản thảo có dấu. Do vậy các giao dịch đều được các bên ghi chép lại. Ở Mesopotamian có một nghề tương đương với nghề kế toán hiện này là ghi chép bản thảo. Công việc của họ cũng tương tự như một kế toán viên là phải ghi chép lại các giao dịch, và hơn nữa họ còn phải đảm bảo rằng các thoả ước giao dịch phù hợp với yêu cầu về giao dịch thương mại. Đã có hàng trăm ngư¬ời được thuê làm công việc này, và đây được coi là một nghề nghiệp có uy thế. Khi một giao dịch được thực hiện, các bên tham gia giao dịch đi thuê ng¬ười chép bản thảo, mô tả thỏa thuận của họ với người đó, và sau đó nhận lấy bản chép ghi trên đất sét vì đất sét có rất nhiều trong vùng này. Kế toán trong thời Ai cập cổ đại cũng phát triển tương tự như tại thung lũng Mesopotamia. Tuy nhiên họ sử dụng giấy cói thay cho đất sét và điều này giúp cho việc ghi chép bản thảo đựơc thực hiện dễ dàng hơn. Hiện nay còn lưu giữ được nhiều bản thảo khổ lớn, dùng riêng cho các kho hàng hoàng cung. Tuy vậy, kế toán Ai cập cổ xưa chỉ dừng lại ở việc ghi chép đơn giản qua hàng nghìn năm tồn tại. Nguyên nhân chính là do tình trạng mù chữ và sự vắng mặt của đồng tiền đúc đã ngăn cản sự phát triển của nó. Người Hy Lạp đã có đóng góp quan trọng đối với ngành kế toán qua việc sử dụng đồng tiền đúc vào khoảng 600 năm trước công nguyên. Việc đưa đồng tiền đúc vào tiêu dùng đã khởi nguồn cho một cuộc cách mạng của ngành kế toán. Ngành nghề ngân hàng trong xã hội Hy Lạp cổ xưa rất phát triển so với các xã hội trư¬ớc đó. Các chủ ngân hàng giữ những sổ tài khoản, trao đổi hoặc cho vay, thậm chí thu xếp chuyển tiền mặt thông qua những ngân hàng cộng sự tại các thành phố khác nhau. Ở xã hội Rome cổ đại có một tục lệ là những người chủ gia đình ghi chép lại các khoản thu chi thường nhật của gia đình vào quyển sổ nhật ký. Việc quản l‎y chi tiêu gia đình như vậy rất quan trọng vì ở Rome người dân phải định kỳ tường trình về tài sản và công nợ, để theo đó Nhà nước tính thuế và thậm chí xác định quyền công dân. Người La mã đã xây dựng dự toán ngân sách hàng năm, với nỗ lực tổng hợp hoạt động của các công ty tài chính, hạn chế chi tiêu nhằm đạt được khoản ngân sách dự tính và đánh thuế người dân. Kế toán Thời Trung cổ Hàng nghìn năm sau sự sụp của Đế quốc La mã và trước khi tu sĩ Luca Pacioli xuất bản “Summa” được xem là thời kỳ ngư¬ng trệ của kế toán, và thường không được nhắc đến trong lịch sử kế toán. Tuy nhiên, theo sử gia Michael Chatfield, kế toán thời Trung cổ đã đặt nền tảng cho những học thuyết của chủ nghĩa bảo thủ, và đã tạo tiền đề cho sự phát triển thần tốc của kế toán thời Phục hư¬ng. Bản ghi chép kế toán còn tồn tại lâu nhất cho đến nay bằng tiếng Anh là “Pipe Roll”, hoặc "Great Roll of the Exchequer” ghi chép số tiền thuê mướn, tiền phạt và tiền thuế hàng năm của hoàng tộc Anh từ năm 1130 đến 1830.

doc18 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 24/06/2013 | Lượt xem: 196 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Sự phát triển của kế toán trên thế giới và Việt Nam. Các vấn đề đặt ra đối với kế toán Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề bài: Sự phát triển của kế toán trên thế giới và Việt Nam. Các vấn đề đặt ra đối với kế toán Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. BÀI LÀM Phần I: Lịch sử Kế toán Kế toán thời kỳ cổ đại Trong một quy ước Hammurabi ban bố trong triều đại đầu tiên của Babylonia (2285 2242 B.C.) có quy định rằng việc bán hàng phải được ghi nhận bằng một bản thảo có dấu. Do vậy các giao dịch đều được các bên ghi chép lại. Ở Mesopotamian có một nghề tương đương với nghề kế toán hiện này là ghi chép bản thảo. Công việc của họ cũng tương tự như một kế toán viên là phải ghi chép lại các giao dịch, và hơn nữa họ còn phải đảm bảo rằng các thoả ước giao dịch phù hợp với yêu cầu về giao dịch thương mại. Đã có hàng trăm người được thuê làm công việc này, và đây được coi là một nghề nghiệp có uy thế. Khi một giao dịch được thực hiện, các bên tham gia giao dịch đi thuê người chép bản thảo, mô tả thỏa thuận của họ với người đó, và sau đó nhận lấy bản chép ghi trên đất sét vì đất sét có rất nhiều trong vùng này. Kế toán trong thời Ai cập cổ đại cũng phát triển tương tự như tại thung lũng Mesopotamia. Tuy nhiên họ sử dụng giấy cói thay cho đất sét và điều này giúp cho việc ghi chép bản thảo đựơc thực hiện dễ dàng hơn. Hiện nay còn lưu giữ được nhiều bản thảo khổ lớn, dùng riêng cho các kho hàng hoàng cung. Tuy vậy, kế toán Ai cập cổ xưa chỉ dừng lại ở việc ghi chép đơn giản qua hàng nghìn năm tồn tại. Nguyên nhân chính là do tình trạng mù chữ và sự vắng mặt của đồng tiền đúc đã ngăn cản sự phát triển của nó. Người Hy Lạp đã có đóng góp quan trọng đối với ngành kế toán qua việc sử dụng đồng tiền đúc vào khoảng 600 năm trước công nguyên. Việc đưa đồng tiền đúc vào tiêu dùng đã khởi nguồn cho một cuộc cách mạng của ngành kế toán. Ngành nghề ngân hàng trong xã hội Hy Lạp cổ xưa rất phát triển so với các xã hội trước đó. Các chủ ngân hàng giữ những sổ tài khoản, trao đổi hoặc cho vay, thậm chí thu xếp chuyển tiền mặt thông qua những ngân hàng cộng sự tại các thành phố khác nhau. Ở xã hội Rome cổ đại có một tục lệ là những người chủ gia đình ghi chép lại các khoản thu chi thường nhật của gia đình vào quyển sổ nhật ký. Việc quản l‎y chi tiêu gia đình như vậy rất quan trọng vì ở Rome người dân phải định kỳ tường trình về tài sản và công nợ, để theo đó Nhà nước tính thuế và thậm chí xác định quyền công dân. Người La mã đã xây dựng dự toán ngân sách hàng năm, với nỗ lực tổng hợp hoạt động của các công ty tài chính, hạn chế chi tiêu nhằm đạt được khoản ngân sách dự tính và đánh thuế người dân. Kế toán Thời Trung cổ Hàng nghìn năm sau sự sụp của Đế quốc La mã và trước khi tu sĩ Luca Pacioli xuất bản “Summa” được xem là thời kỳ ngưng trệ của kế toán, và thường không được nhắc đến trong lịch sử kế toán. Tuy nhiên, theo sử gia Michael Chatfield, kế toán thời Trung cổ đã đặt nền tảng cho những học thuyết của chủ nghĩa bảo thủ, và đã tạo tiền đề cho sự phát triển thần tốc của kế toán thời Phục hưng. Bản ghi chép kế toán còn tồn tại lâu nhất cho đến nay bằng tiếng Anh là “Pipe Roll”, hoặc "Great Roll of the Exchequer” ghi chép số tiền thuê mướn, tiền phạt và tiền thuế hàng năm của hoàng tộc Anh từ năm 1130 đến 1830. “Pipe Roll” là bản ghi chép trên giấy da cuối cùng về một hệ thống "proffer" sử dụng một vật đối chiếu “tally stick” làm bằng gỗ như một cơ sở của việc ghi sổ kế toán. Hai lần mỗi năm, vào Lễ phục sinh và Ngày lễ thánh Mi-sen (29/9), các lãnh chúa được gọi đến kho bạc quốc gia tại Westminster. ở Lễ phục sinh, mỗi lãnh chúa phải nộp một nửa trong tổng mức định giá tài sản hàng năm người đó sở hữu. Sau khi nhận được các khoản đóng góp này, viên thủ quỹ sẽ cắt “tally stick” được chuẩn bị trước coi như một ghi nhận của giao dịch đó. Được sử dụng thậm chí trước khi bản thảo Pipe Roll ra đời, “tally stick”là một thanh gỗ hẹp, dài chín inch, được cắt với những với các kích cỡ khác nhau tương ứng cho số tiền nhận được. Một mẩu cắt kích cỡ một bàn tay người có định giá 1000 bảng, mẩu cắt rộng bằng một ngón tay cái trị giá 100 bảng; mẩu cắt dày bằng một " hạt ngô hoặc lúa mạch chín " trị giá 1 bảng; và một shilling, chỉ là một vết khía. Nước Ý thời kỳ Phục hưng : sự ra đời của kế toán kép Những người Italia cách tân thời kỳ Phục hưng (TK 14 th - 16 th) được cho là cha đẻ của kế toán hiện đại. Họ đã nâng hoạt động mậu dịch và thương mại lên một tầm cao mới qua việc sáng tạo các phương thức xác định lợi nhuận chuẩn xác hơn. Mặc dầu đã biết đến chữ số Arập từ lâu, vào thời kỳ này, người Italia sử dụng chúng thường xuyên để theo dõi những tài khoản kế toán. Họ giữ lại cho những bản ghi chép hoạt động kinh doanh do thời kỳ này việc sử dụng vốn và tín dụng quy mô lớn ngày một phát triển. Luca Pacioli và Summa Luca Pacioli là đại diện tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng, ông thông hiểu các kiến thức về văn học, nghệ thuật, toán học, kinh doanh và các môn khoa học. Sinh năm 1445 tại Borgo San Sepulcro, Tuscany, Frater Luca Bartolomes Pacioli thu thập được một lượng kiến thức đáng kinh ngạc về khoa học kỹ thuật, tôn giáo, kinh doanh, khoa học quân sự, toán học, y học, nghệ thuật, âm nhạc, pháp luật và ngôn ngữ. Ông đồng ‎tình với quan điểm cho rằng tồn tại mối quan hệ nội sinh giữa vô vàn các quy luật khác nhau và trong mối quan hệ đó luôn duy trì sự hoà hợp và cân bằng như giưã toán học và kế toán. Bạn của ông, Leonardo da Vinci đã giúp ông chuẩn bị những bản vẽ cho tuyển tập 1497, Divina Proportione; đổi lại, Pacioli tính cho Da Vinci mà số lượng đồng đỏ cần cho pho tượng khổng lồ Duke Lidovico Sforza ở Milan. Khoảng năm 1482, sau khi hoàn thành luận thuyết thứ ba về toán học, Pacioli một người muốn cống hiến đời mình cho công việc thuyết giáo, khoác lên mình chiếc áo tu sĩ. Ông đi chu du khắp Italy thuyết trình về toán học, và đến năm 1486, ông đã hoàn thành cấp bậc đại học tương đương với học vị tiến sĩ. Pacioli không bao giờ cho rằng mình sáng tạo ra kế toán kép. Ba mươi sáu năm trước khi ông hoàn thành luận thuyết nổi tiếng này, Benedetto Cotrugli đã viết Delia Mercatura et del Mercante Perfetto, trong đó có một chương ngắn gọn mô tả nhiều đặc tính của kế toán kép. Mặc dầu công trình này không được xuất bản, Pacioli đã biết đến bản thảo này và lấy đó làm khởi nguồn viết nên Phương pháp kế toán kép. Vào năm 1494, ở tuổi 50, chỉ 2 năm sau khi Colombus phát hiện ra châu Mỹ, Pacioli trở lại Venice cho xuất bản xuất bản ấn phẩm thứ năm mình, Summa de Arithmetica, Geometria, Proportioni et Proportionalita. Cuốn sách này được coi là một bản tóm lược và kiến giải về toán học, trong đó sổ kế toán chỉ là một trong số năm đề mục được đề cập đến với 36 chương ngắn về sổ kế toán. Vào thời điểm đó, 10 tháng 11 năm 1494, tức là mới một phần tư thế kỷ sau khi Gutenberg sáng chế ra máy chữ, nên việc xuất bản sách là vô cùng đắt đỏ. Điều đó cho thấy việc Pacioli xuất bản các tác phẩm nghiên cứu khoa học của mình quả thật là kỳ công. Ý nghĩa của Summa Trong vòng 1 thế kỷ đầu tiên sau khi được công bố, Summa được dịch ra 5 ngôn ngữ khác nhau như tiếng Hà lan, Đức, tiếng Anh và đã nhanh chóng đụơc truyền bá khắp châu lục. Có lẽ nhiều người trong số chúng ta không tránh khỏi ngạc nhiên rằng tại sao kể từ sau Pacioli, phương thức ghi sổ kế toán dường như không có thay đổi gì đáng kể. Trong thực tế, điểm khác nhau sơ đẳng giữa kế toán hiện đại và "Phương pháp Venice " là có sự bổ sung và tinh giản hơn nhằm đáp ứng quy mô kinh doanh ngày càng được mở rộng. Kế toán phát triển xuyên lục địa Vào giữa thế kỷ 19, Nước Anh đang ở vào thời kỳ thịnh vượng với Cách mạng Công nghiệp. Nước Anh dẫn đầu về sản xuất than đá, hàng dệt bông và sắt, và là trung tâm tài chính của thế giới. Năm 1880 Institute of Chartered Accountants mới được hình thành ở Anh và xứ Wales tập hợp tất cả những người hành nghề kế toán tại các nước đó. Ngoài 587 thành viên ghi danh đầu tiên, sau đó đã bổ sung thêm 606 thành viên là những kế toán viên có kinh nghiệm. Vào cuối những năm 1800, một số lượng lớn của tư bản Anh chảy sang các ngành công nghiệp phát triển ở Hoa kỳ. Các kế toán viên người Anh và Xcốt-len đã sang Mỹ để kiểm toán các khoản mục đầu tư này, và một số trong bọn họ đã tiếp tục ở lại và hành nghề ở Mỹ. Thư mục thành phố từ năm 1850 liệt kê 14 kế toán viên đang hành nghề tại New York, bốn ở Philadelphia và một ở Chicago. Đến năm 1886, con số đó la 115 tại New York, 87 ở Philadelphia và 31 ở Chicago. Những nhóm những kế toán viên đã tập hợp lại và phát triển thành hiệp hội kế toán chuyên nghiệp tại khắp các thành phố Mỹ. Năm 1887, hiệp hội kế toán quốc gia đầu tiên ở Mỹ được thành lập là American Association of Public Accountants, tiền thân của American Institute of Certified Public Accountants. Kế toán hiện đại Cuối thế kỷ 19 là thời kỳ phát triển của kinh tế Mỹ song cũng gắn liền với những vụ bê bối tài chính. Sự tập trung tư bản thái quá và đầu cơ cổ phiếu là nguyên nhân gây ra khủng hoảng tài chính giai đoạn 1873-1893. Sự chuyển giao chế độ từ nhà nước tư bản sang đế quốc một pàân là để nắm quyền kiểm soát hoạt động tài khoá và tăng cường ngân sách phục vụ cho các cuộc chiến. Với vỏ bọc chủ nghĩa cộng hòa, đế quốc Anh đã tập trung sức mạnh chính trị và tài chính trong tay hoàng đế. Bước sang những năm 1920, nền kinh tế Mỹ bắt đầu khủng hoảng, giá cả trên thị trường rớt xuống đến 40%. Luồng Tiền mặt bị đình chệ, vốn vay trở nên khan hiếm. Đáp lại, các doanh nghiệp đã thắt chặt quỹ tiền mặt hiền thời của mình. Tại thời điểm đó, người ta không còn lựa chọn nào hơn là phát hành cổ phiếu để thu hút vốn. Vào những năm 1940, báo cáo ngân sách được đưa vào sử dụng và nhanh chóng trở thanh bộ phận thiết yếu của báo cáo tài chính. Năm 1971, American Institure of Certified Public Accountants bắt đầu yêu cầu nộp báo cáo thu nhập thường niên của các cổ đông. Hiện nay, với hơn 330,000 thành viên, AICPA là hiệp hội kế toán chuyên nghiệp quốc gia hàng đầu cho CPAs ở Hoa kỳ. Trang Web-site của họ đầy những tài liệu hữu ích, kể cả tin tức kế toán Mỹ gần đây nhất. Vào đầu năm 2005, các nước thành viên trong Liên minh châu Âu (EU), bao gồm cũ và mới thay hệ thống tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán riêng của từng nước bằng một chuẩn mực kế toán và kiểm toán chung. Khác biệt trong hệ thống kế toán của từng quốc gia đó cản trở về mặt thương mại toàn cầu, báo cáo tài chính, xây dựng cấu trúc và qui trỡnh về mặt luật phỏp giữa cỏc doanh nghiệp ở những quốc gia hoặc khu vực khỏc nhau. Vỡ vậy xu hướng của thế giới là hợp nhất để có một chuẩn mực thống nhất trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán toàn cầu.  Trên thế giới có nhiều hệ thống báo cáo tài chính và tức nhiên, đi theo đó là tiêu chuẩn kế toán và kiểm toán khác nhau. Phổ biến nhất hiện nay là hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế và hệ thống báo cáo tài chính Mỹ. Cũn ở Việt Nam, cỏc doanh nghiệp thực hiện bỏo cỏo tài chớnh theo hệ thống tiờu chuẩn quốc gia. Các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam luôn lập hai hệ thống báo cáo tài chính, một báo cáo với cơ quan chức năng Việt Nam và một báo cáo về công ty mẹ. Phần II: Sự phát triển của Kế toán Việt nam Trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế thế giới nói chúng và ngành kế toán nói riêng, kế toán Việt nam cũng đã có những bước chuyển mình để mau chóng hoà nhịp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra. Tiếp thu nền kinh tế văn hoá Trung Hoa qua hàng nghìn nắm Bắc thuộc, hơn nữa do có vị trí thông thương đường biển, đường sông thuận lợi, nghề kế toán Việt nam có cơ hội phát triển từ rất sớm. Tuy vậy kế toán chỉ phần lớn phục vụ lợi ích cho giai cấp vua chúa, quan lại với việc thắt chặt gánh nặng địa tô, thuế má lên người dân. Mặt khác, cũng do chiến tranh diễn ra liên miên khiến cuộc sống người dân luôn bị xáo trộn, sản xuất bị ngưng trệ. Thế kỷ 20 đã chứng kiến cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã chia tách đất nước làm hai phần. Mãi đến thắng lợi lịch sử mùa xuân năm 1975 lại nền độc lập thống nhất cho đất nước sau hơn một thế kỷ chia cắt. Lúc này chúng ta mới có thể thực hiện hệ thống kế toán độc lập thống nhất cả nước. Sau chiến tranh, Việt nam đã xây dựng hệ thống kế toán xã hội chủ nghĩa theo mô hình các nước xã hôi chủ nghĩa, mà điển hình là Liên Xô cũ, một mô hình cứng nhắc, không phù hợp với xu thế phát triển kinh tế quốc tế nói chung. Chúng ta đó cú những chính sách tài chính riêng biệt, quy định đối với các doanh nghiệp Nhà nước mà không quy định đối với doanh nghiệp cổ phần và TNHH, cũn kế toán chỉ là công cụ để ghi chép các hoạt động tài chính theo quy định của Nhà nước, mà chủ yếu để quyết toán thuế, do vậy, các báo cáo tài chính được ghi chép trên số liệu của kế toán rất khác nhau giữa doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp thuộc các thành phần khác, không tạo ra môi trường bỡnh đẳng và sự đồng nhất, có thể so sánh được. Khắc phục hạn chế này, từ những năm 1993 - 1994 Việt Nam đó bắt đầu tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế và được nghiên cứu một cách đầy đủ từ giai đoạn năm 1996- 1998, khi thực hiện dự án kế toán kiểm toán của cộng đồng châu Âu (EURO-TAPVIET). Kể từ năm 1999, chúng ta đó bắt tay vào soạn thảo và xây dựng chuẩn mực kế toán Việt Nam trên cơ sở hệ thống chế độ kiểm toán quốc tế. Đến tháng 12/2001, Bộ Tài chính ban hành 4 chuẩn mực đầu tiên và liên tiếp cho đến nay, sau 4 năm, đó ban hành được 22 chuẩn mực kế toán.: Tháng 10/ 2000, Bộ Tài chính (MOF) ban hành các sắc lệnh hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực kế toán đối với các doanh nghiệp hoạt động tại Việt nam. Các doanh nghiệp trong nước phải tuân thủ Hệ thống Kế toán Việt nam (VAS). Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trừ một số trường hợp ngoại lệ cũng phải tuân thủ hệ thống kế toán này. Với dự định tiến tới việc thực hiện một hệ thống kế toán thống nhất, MOF ban hành một bức thư xác nhận vị thế của mình yêu cầu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải tuân thủ VAS kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2001. những công ty mà đã không áp dụng VAS để bắt đầu áp dụng VAS từ 1 Tháng giêng 2001. Tháng 1/ 2001, Bộ Tài chính (MOF) đã thông qua chương trình xây dựng một hệ thống chuẩn mực kế toán và kiểm toán Việt nam. Các chuẩn mực kế toán sẽ được xây dựng dựa theo các chuẩn mực kế toán quốc tế, các chuẩn mực kiểm toán cắn cứ theo Các chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Các chuẩn mực nói trên sẽ được áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp và công ty kiểm toán hoạt động tại Việt nam Tháng 4/ 2001, với nỗ lực xúc tiến phát triển hoạt động kiểm toán ở Việt nam, Bộ Tài chính (MOF) đã thông qua 6 chuẩn mực mới về kiểm toán có hiệu lực từ 15 tháng 1 năm 2001, số 250, 310, 500, 510, 520, 580. Tháng 4/2003, Việt nam thông qua các chuẩn mực kế toán Việt nam gồm 10 tiêu chuẩn (số 01, 02, 03, 04, 06, 10, 14, 15, 16, 24) dựa trên một phần từ các tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế có liên quan IAS. Những tiêu chuẩn này do Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt thực hiện được áp dụng với các doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế khác nhau ở Việt Nam thay thế những nguyên tắc kế toán tương ứng. Các chuẩn mực số 02, 03, 04, 14 có hiệu lực áp dụng đối với các báo cáo tài chinh năm 2002, các chuẩn mực còn lại áp dụng cho các báo cáo năm 2003. Ban hành theo theo sắc lệnh ngày 26/6/2003 của Thủ tướng và theo nghị định số 129/2004/ND-CP ngày 31/5/2004 của chính phủ, “Act on Accounting” (Đạo luận kế toán) quy định về mô hình kế toán tiêu chuẩn và vị trí kế toán trưởng, kế toán viên. Theo Nghị định này, doanh nghiệp có thể thuê dịch vụ kế toán của một công ty kế toán hoặc kiểm toán chuyên nghiệp mà không cần bố trí vị trí kế toán chuyên biệt.  Các năm 2003, 2004, 2005 là 3 năm liên tiếp chúng ta thực hiện luật kế toán, với sự ban hành “Act of Accounting”, 3 sắc lệnh hướng dẫn, hệ thống các chuẩn mực kế toán, các quy định đối với kế toán trưởng, và đối với việc hành nghề kế toán đã tạo một hành lang pháp lý thuận lợi đối với hoạt động kế toán của doanh nghiệp đang hoạt động ỏ Việt nam nói chung. 15 năm là quóng thời gian đáng ghi nhận trong sự nghiệp phát triển kế toán, kiểm toán nước nhà. Chúng ta đó đạt một số thành tựu : 1- Đó tập trung quản lý thống nhất việc nghiờn cứu, ban hành và đưa vào vận hành trong nền kinh tế quốc dân một hệ thống chế độ kế toán doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường, đó và đang thực hiện có hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xó hội. 2 - Đổi mới một bước và đẩy mạnh tiến trỡnh cải cỏch hệ thống kế toỏn Nhà nước, bao gồm cả kế toỏn quản lý quỹ NSNN, tài sản quốc gia và kế toỏn cỏc đơn vị thụ hưởng NSNN, đang hướng đến việc xây dựng mới hệ thống kế toán Nhà nước theo hướng tập trung hỡnh thành Tổng Kế toỏn Nhà nước. 3 - Bước đầu đó đạt được sự quản lý thống nhất chế độ kế toán ở một số lĩnh vực, như: chế độ kế toán ngân sách; chế độ kế toán NHNN và các TCTD; chế độ kế toán hộ kinh doanh; chế độ kế toán các hoạt động trên thị trường chứng khoán;... 4 - Chất lượng công tác kế toán đó được nâng cao một bước thích ứng với kinh tế thị trường và cơ chế quản lý mới, đáp ứng được sự điều hành và quản lý vi mụ và vĩ mụ. 5 - Bước đầu đó tạo lập được tiền lệ, điều kiện để từng bước lập lại trật tự, kỷ cương trong công tác kế toán. 6- Với hệ thống kế toán đó được đổi mới và đưa vào vận hành trong nền kinh tế quốc dân (Luật Kế toán ra đời, ban hành chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán;... trỡnh độ công tác kế toán ở nước ta đó được nâng lên một bước, tiếp cận dần với kế toán các nước trên thế giới và trong khu vực. 7- Hoạt động kiểm toán đó ra đời và đang có những bước phát triển đáng kể đặc biệt là hoạt động kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nước. 8- Hỡnh thức tổ chức hoạt động mang tính chất nghề nghiệp của đội ngũ kế toán đó bắt đầu hỡnh thành trong nền kinh tế quốc dõn. Hội Kế toán Việt Nam đang vươn lên tham gia nhiệm vụ quản lý hành nghề và kiểm soỏt đạo đức kế toán viên, kiểm toán viên với tư cách là một Hội nghề nghiệp. Thực trạng kế toán Việt Nam: Sau 15 năm đổi mới, bên cạnh những mặt đó đạt được, hệ thống kế toán, kiểm toỏn Việt Nam cũn nhiều tồn tại cần khắc phục: Hệ thống văn bản pháp luật về kế toán, kiểm toán cũn thiếu, chưa đồng bộ, chưa thật sự phù hợp với thông lệ quốc tế, chưa thành mực thước kiểm tra, kiểm soát hoạt động của kinh tế thị trường: Pháp luật chủ yếu tập trung vào kế toán tài chính, điều tiết thuế chính vỡ thế thực trạng kế toỏn tại cỏc doanh nghiệp cho thấy kế toỏn chỳng ta thiờn về việc phản ỏnh kế toỏn để đối phó với thuế nhiều hơn là phục vụ cho công tác tham mưu ra quyết định của Thủ trưởng đơn vị. Một tỡnh trạng khỏ phổ biến trong khối cỏc doanh nghiệp tư nhân, TNHH các doanh nghiệp nay đa phần là làm kế toán để đối phó với thuế, dẫn đến doanh nghiệp sợ thuế và từ đó nẩy sinh các tiêu cực nhũng nhiễu của cán bộ thuế. Một tỡnh trạng nữa cần đề cấp đến là việc thực hiện và áp dụng các thông tư hướng dẫn về chế độ kế toán cũn chưa đồng bộ, có nhiều văn bản bất hợp lý so với thực tế nhưng vẫn chưa sửa đổi hoặc thay đổi gây khó khăn trong việc thực thi: Chế độ công tác phí, chế độ tiền lương, chế độ phụ cấp độc hại.... Kế toán quản trị chưa được phát triển tại các doanh nghiệp Việt Nam mà đa số mới chỉ được áp dụng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện của các cấp, các ngành và công tác kiểm tra kế toán trong một số ngành, một số địa phương hoặc cơ sở cũn bị xem nhẹ; Công tác đào tạo đội ngũ kế toán, kiểm toán có trỡnh độ cao chưa được thực hiện mà Đào tạo chuyên gia kế toán là một đũi hỏi cấp bỏch hiện nay: Kế toỏn là một nghề, cũng giống như các nghề khác; nghĩa là phải có chức danh nghề nghiệp để đánh giá theo từng cấp độ chuyên môn nghiệp vụ của những người làm việc trong lĩnh vực này. Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và khu vực hiện nay, đũi hỏi kế toỏn khụng chỉ dừng lại trong phạm vi quốc gia mà phải mang tính toàn cầu. ở Việt Nam cũng cần phải có các chuẩn mực nghề nghiệp, chức danh nghề nghiệp, bảo đảm sự hành nghề theo những nguyên tắc và chuẩn mực thống nhất. Có nghĩa là cần phải đào tạo đội ngũ chuyên gia kế toán đạt tiêu chuẩn trỡnh độ Việt Nam tương đương với tiêu chuẩn, trỡnh độ của chuyên gia kế toánquốc tế.             Luật Kế toán đó được ban hành ngày 17/06/2003 đó tạo ra một hành lang phỏp lý mới đối với các đơn vị kinh tế nói chung và các doanh nghiệp, tổ chức có vốn nước ngoài nói riêng. Đến nay, Nhà nước đó ban hành hai văn bản là Thông tư số 60/1997/TC-CĐKT ngày 01/09/1997 và Thông tư số 155/1998/TT-BTC ngày 08/12/1998 để hướng dẫn đăng ký và thực hiện chế độ kế toán áp dụng đối với doanh nghiệp, tổ chức có vốn nước ngoài. Tuy nhiên một số quy định về kế toán đối với loại hỡnh đơn vị này đó tỏ ra bất cập, cần phải cú những bổ sung, sửa đổi cho phù hợp để tạo ra sự thông thoáng làm lành mạnh hóa môi trường đầu tư. Về chuẩn mực kế toán Việt Nam: Đầu tháng 3/2005, Bộ Tài chính vừa ban hành thêm 6 chuẩn mực kế toán, đưa tổng số chuẩn mực kế toán quốc gia được ban hành lên con số 22. Việc xây dựng và áp dụng chuẩn mực kế toán đang đem lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp và nền kinh tế quốc gia. Hỡnh thành “sõn chơi” bỡnh đẳng - ích nước, lợi doanh nghiệp. Trong lĩnh vực quản lý tài chớnh thỡ chuẩn mực kế toán được ví như mực thước chuẩn phản ánh kết quả sản xuất, kinh doanh và hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Mục tiêu của chuẩn mực kế toán là các báo cáo tài chính phải phản ánh đúng thực trạng kinh doanh của doanh nghiệp và phải so sánh được với nhau, nhưng không phải chỉ so sánh giữa các loại hỡnh doanh nghiệp ở Việt Nam, mà của cả doanh nghiệp Việt Nam so với những doanh nghiệp nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp nước ngoài cũng có thể so với doanh nghiệp Việt Nam. Vỡ thế, mục tiêu của chuẩn mực kế toán là rất cao và khác hẳn với cơ chế chính sách mà Việt Nam đó cú từ những năm trước. Chuẩn mực kế toán Việt Nam phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế thể hiện sự thừa nhận của nhà nước Việt Nam đối với các chuẩn mực kế toán quốc tế được áp dụng ở Việt Nam, cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam có chấp nhận đổi mới theo cơ chế thị trường. Các chuẩn mực kế toán sẽ góp phần tạo thuận lợi cho môi trường đầu tư ở Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế, để nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư vào Việt Nam, hiểu Việt Nam và Việt Nam hiểu được quốc tế. Qua đó cũng giúp cho việc thực hiện chủ trương mở cửa và hội nhập của Việt Nam với nền kinh tế quốc tế; tạo ra môi trường kinh doanh bỡnh đẳng giữa các thành phần kinh tế trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư tham gia vào phát triển nền kinh tế. Về phía các doanh nghiệp muốn làm ăn lâu dài, chính đáng sẽ có lợi nhiều vỡ nú tạo ra môi trường kinh doanh bỡnh đẳng, tạo sự tin cậy giữa các doanh nghiệp khi áp dụng chuẩn mực kế toán. Tiếp tục hoàn thiện Để tiếp cận với các chuẩn mực kế toán là tương đối phức tạp và việc tiếp cận nó cũn khỏ khú khăn đối với Việt Nam, đặc biệt là đối với những nghiệp vụ mới nảy sinh trong hoạt động kinh tế ở nước ta. Ông Bùi Văn Mai nhận xét, chúng ta không nên vội vàng ban hành tất cả các chuẩn mực kế toán với số lượng lớn, khiến đối tượng áp dụng bị rối, thấy phức tạp quá, không tiếp cận được. Hơn nữa cũng cần phải có thời gian để giáo viên các trường đại học kinh tế, tài chính tiếp cận với các chuẩn mực kế toán và đưa vào giáo trỡnh giảng dạy. 22 chuẩn mực kế toán được ban hành trong thời gian khác nhau nên cần chuẩn hoá lại cho phù hợp với tỡnh hỡnh thực tiễn của nền kinh tế. Nếu so với hệ thống kế toán quốc tế bao gồm 36 chuẩn mực thỡ số lượng ban hành của ta cũng đó chiếm tỷ lệ khá cao. Có một số chuẩn mực kế toán đũi hỏi khắt khe và chưa phải là thời điểm thích hợp đưa ra áp dụng đối với nền kinh tế của Việt Nam thỡ chỳng ta tạm chưa ban hành. Theo kế hoạch, từ nay đến cuối năm 2005, Bộ Tài chính sẽ ban hành thêm 5 chuẩn mực kế toán, nâng số chuẩn mực được ban hành lên 27 và sẽ tạm dừng lại ở đây. Trong năm 2006 và 2007, Bộ Tài chính sẽ tiến hành khảo sát, kiểm tra thực tế việc áp dụng các chuẩn mực kế toán tại doanh nghiệp; Cuối năm 2008 sẽ tổng kết đánh giá, đồng thời sửa đổi bổ sung 27 chuẩn mực kế toán đó ban hành, và ban hành lại một lúc các chuẩn mực kế toán này cho đồng bộ, thống nhất, phù hợp với tỡnh hỡnh hiện tại của nền kinh tế, đồng thời tiếp tục nghiên cứu để ban hành tiếp những chuẩn mực kế toỏn cũn lại. Một số giải pháp: 1. Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam và thực hiện chính sách kinh tế mở, hội nhập với quốc tế và khu vực. Cụ thể là phải xây dựng và đưa vào thực hiện trong nền kinh tế quốc dân một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về kế toán, kiểm toán một cách đồng bộ, hoàn chỉnh, tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho việc tiến hành cụng việc kế toỏn, kiểm toỏn với một hệ thống cỏc phương pháp và kỹ thuật kế toán tiên tiến thích ứng với trỡnh độ phát triển kinh tế, đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế - tài chớnh nước ta và tiếp cận với chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế. 2. Tăng cường đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu qủa hoạt động của các tổ chức làm nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện công tác kế toán, kiểm toán trong nền kinh tế quốc dân nhằm đảm bảo các luật lệ, các chế độ kế toán được thực thi và phát huy tác dụng trong thực tiễn; thiết lập và giữ vững trật tự kỷ cương trong công tác kế toán, kiểm toán. 3. Tăng cường và hoàn thiện hoạt động kiểm toán trong nền kinh tế quốc dân (kể cả Kiểm toán độc lập, Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán nội bộ). Cụ thể là phải nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán; mở rộng thị trường kiểm toán (kể cả mở rộng ra thị trường nước ngoài); tăng cường quy mô và số lượng các đơn vị cung cấp dịch vụ kiểm toán nhằm đáp ứng nhu cầu kiểm toán trong điều kiện hội nhập. 4. Xây dựng đề án chiến lược về ứng dụng kỹ thuật tin học, làm căn cứ định hướng và bước đi cho việc thực hiện các chương trỡnh ứng dụng tin học, từng bước hiện đại hoá công tác kế toán, kiểm toán và thông tin cho các ngành, các địa phương cho từng thời kỳ. Tổ chức soạn thảo và  ấn hành các tài liệu hướng dẫn có liên quan đến việc tin học hoá kế toán, tạo thuận lợi cho các đơn vị cơ sở thực hiện. 5. Xây dựng, từng bước hỡnh thành đội ngũ nhân viên kế toán, kiểm toán chuyên nghiệp, lành nghề thích ứng với nền kinh tế thị trường. Cụ thể là phải: Nghiên cứu, ban hành đầy đủ hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện hệ thống chức danh, tiêu chuẩn cán bộ chuyên môn nghiệp vụ kế toán, kiểm toán. Tổ chức đội ngũ, tiến hành kiểm tra sát hạch trỡnh độ để sắp xếp, sử dụng đội ngũ cán bộ kế toán theo chức danh tiêu chuẩn. Vận hành cơ chế chặt chẽ về việc tuyển chọn, thi tuyển, sát hạch để nâng cấp, nâng bậc, cấp chứng chỉ hành nghề cho cán bộ kế toán, kiểm toán viên. Cải tiến chương trỡnh, nội dung đào tạo cán bộ kế toán trong các trường đại học và trung học, thực hiện chế độ bồi dưỡng, nâng cao trỡnh độ định kỳ cho cán bộ. 6. Hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức nghề nghiệp (Câu Lạc bộ kế toán trưởng, Hội Kế toán Việt Nam). Tạo môi trường thuận lợi để cán bộ kế toán trao đổi nghề nghiệp, nâng cao tay nghề, đồng thời làm cầu nối để kế toán Việt Nam giao lưu với kế toán quốc tế. 7. Mở rộng quan hệ quốc tế tiến tới mở cửa hội nhập khu vực và thế giới về kế toán, kiểm toán. Chiến lược đổi mới hệ thống kế toán, kiểm toán Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đưa ra 4 giải pháp tiếp tục thực hiện trong thời gian tới. Thứ nhất là xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đồng bộ và thống nhất về kế toán, kiểm toán, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát của Nhà nước về hoạt động kế toán, kiểm toán.Văn bản pháp lý có tính cao nhất chi phối hoạt động này là Luật Kế toán sẽ có hiệu lực vào 1/1/2004; hiện tại có 2 nghị định hướng dẫn Luật Kế toán đang được hoàn chỉnh trỡnh Chớnh phủ và Nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế toán sẽ hoàn thiện trỡnh Chớnh phủ vào cuối năm 2003 để cùng có hiệu lực thi hành từ 1/1/2004. Hệ thống chuẩn mực kiểm toán đó ban hành đến giai đoạn 5, chuẩn mực kế toán đó ban hành giai đoạn 2 và đang tiếp tục thực hiện và công bố các chuẩn mực cũn lại khoảng đến hết năm 2004 thỡ hoàn thành về cơ bản. Theo Thứ trưởng Trần Văn Tá, trong thời gian tới sẽ tiếp tục hoàn thiện và cụ thể hoá một số chế độ kế toán đặc thù. Những công việc này theo lộ trỡnh sẽ hoàn tất vào năm 2005 và tới khi đó cơ sở và khuôn khổ pháp lý cho kế toỏn và kiểm toỏn Việt Nam được coi là đầy đủ. Thứ hai là tiếp tục cải cỏch, hỡnh thành và phỏt triển cỏc tổ chức nghề nghiệp trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán. Trước hết phải quy định rừ chức năng nhiệm vụ của Hội đồng quốc gia về kế toán và mối quan hệ giữa hội đồng với cơ quan quản lý Nhà nước nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động nhằm giảm tính công quyền và nâng cao tính nghề nghiệp trong quản lý hoạt động kế toán, kiểm toán. Tiếp theo là hỗ trợ Hội kế toán Việt Nam nâng cao tính nghề nghiệp trong hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán phù hợp với thông lệ quốc tế. Thứ ba là phát triển thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán. Đa dạng hoỏ loại hỡnh doanh nghiệp kế toỏn, kiểm toỏn, mở rộng thị trường kế toán, kiểm toán, đa dạng hóa dịch vụ; nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán. Thứ tư là duy trỡ và mở rộng quan hệ hợp tỏc quốc tế, thực hiện cỏc bước của tiến trỡnh hội nhập kế toán, kiểm toán. Tại hội nghị, Phó Thủ tướng Vũ Khoan đó đánh giá cao những cố gắng, nỗ lực của những người làm công tác kế toán, kiểm toán. Đồng thời chỉ đạo hội nghị cần quan tâm tới 4 vấn đề lớn. Thứ nhất, những văn bản pháp quy về kế toán, kiểm toán chưa thật cụ thể, đầy đủ, và đồng bộ; vỡ vậy cần cú hướng dẫn cụ thể và trước khi ban hành cần lấy ý kiến tham gia rộng rói của cỏc doanh nghiệp, và phải nhanh chúng điều chỉnh những văn bản cho phù hợp với thay đổi của cuộc sống. Thứ hai là song song với việc ban hành đồng bộ các văn bản pháp quy là đảm bảo cho chính sách đó được thực thi: phổ biến chính sách mới, thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các hệ thống chế độ kế toán để đảm bảo tính minh bạch tỡnh hỡnh kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ ba là kế toán và kiểm toán phải đáp ứng được yêu cầu của hội nhập: cần rà soát lại các văn bản pháp quy và sửa đổi cho phù hợp với thông lệ quốc tế; mở cửa thị trường kế toán, kiểm toán phù hợp với cam kết đó ký; đồng thời những người làm công tác kế toán, kiểm toán phải thông thạo được các luật chơi quốc tế. Thứ tư là đào tạo, đào taọ lại hệ thống những người làm kế toán về chuyên môn nghiệp vụ, trong sạch về đạo đức nghề nghiệp, phải kiên định, sao cho người làm công tác kế toán dám nói "không" với lónh đạo.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docsu_phat_trien_cua_kt_tg_va_vn_2265.doc
Tài liệu liên quan