Luận văn Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay đối với tín dụng ngoài quốc doanh tại chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I:LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY 3 1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ CHỨC NĂNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: 3 1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại: 3 1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế: 4 1.2.1 Chức năng cung cấp điểm nhận tiền gửi cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và chính phủ. 4 1.2.2 Chức năng thanh toán: 5 1.2.3 Chức năng tạo tiền: 5 1.3 Cho vay –Lí do tồn tại cơ bản của một ngân hàng. 6 1.4 Kinh tế ngoài quốc doanh trong việc tiếp cận vốn của ngân hàng: 9 1.4.1 Vị trí của tín dụng ngoài quốc doanh đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng 9 1.4.2 Khó khăn của ngân hàng khi thực hiện hoạt động tín dụng ngoài quốc doanh: 10 2 BẢO ĐẢM TIỀN VAY TRONG QUAN HỆ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG: 11 2.1 Khái niệm về bảo đảm tiền vay : 11 2.2 Sự cần thiết có sự bảo đảm đối với khoản cho vay của ngân hàng. 13 2.3 Ý nghĩa của bảo đảm tiền vay đối với các đối tượng tham gia quan hệ vay vốn 16 2.4 Các hình thức bảo đảm tiền vay: 20 2.4.1 Bảo đảm đối nhân: 20 2.4.1.1 Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: 21 2.4.1.2 Bảo lãnh của bên thứ ba: 21 2.4.2 Bảo đảm đối vật: 22 2.4.2.1 Bảo đảm bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay: 22 2.4.2.2 Bảo đảm bằng tài sản cầm cố của khách hàng vay: 23 2.4.2.3 Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: 23 2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến bảo đảm tiền vay: 23 2.5.1 Môi trường pháp lý: 23 2.5.2 Quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng: 24 2.5.3 Những yếu tố liên quan đến bản thân ngân hàng: 24 2.5.4 Mức độ an toàn của các tài sản bảo đảm: 25 2.5.5 Các yếu tố từ phía khách hàng vay: 26 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN BẢO ĐẢM TIỀN VAY ĐỐI VỚI TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC BA ĐÌNH 26 1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC BA ĐÌNH. 27 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình. 27 1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình: 28 1.3 Những hoạt động chủ yếu của Chi nhánh ngân hàng công thương Ba Ðình: 30 1.4 Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh ngân hàng công thương Ba Ðình: 32 1.4.1 Về tình hình huy động vốn: 32 1.4.2 Về công tác tín dụng: 33 1.4.3 Về hoạt động kinh doanh đối ngoại: 35 1.4.4 Về công tác kế toán: 36 1.4.5 Công tác tiền tệ kho quỹ : 37 1.4.6 Về công tác kiểm tra - kiểm soát 38 2 TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN BẢO ĐẢM TIỀN VAY: 38 2.1 Thời kì trước tháng 7/1989 38 2.2 Thời kỳ từ tháng 8/1989 đến 16/8/1996 38 2.3 Thời kì từ 17/8/1996 đến 14/01/2000 40 2.4 Thời kì từ tháng 1/2000 đến nay. 42 3 KHÁT QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH: 44 3.1 Bối cảnh ảnh hưởng đến hoạt động cho vay ngoài quốc doanh 44 3.2 Kết quả hoạt động cho vay ngoài quốc doanh tại ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình. 45 3.2.1 Cho vay vốn lưu động đối với kinh tế ngoài quốc doanh: 45 3.2.2 Cho vay trung dài hạn đối với kinh tế ngoài quốc doanh: 46 4 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO ÐẢM TIỀN VAY ÐỐI VỚI TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC BA ĐÌNH: 48 4.1 Các hình thức bảo đảm tiền vay áp dụng đối với khách hàng trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh: 48 4.2 Hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp của khách hàng vay: 50 4.3 Hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản cầm cố của khách hàng vay: 54 4.4 Hoạt động cho vay có bảo đảm bằng bảo lãnh của bên thứ ba: 57 4.5 Hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: 58 4.6 Hoạt động cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: 58 4.7 Đánh giá về công tác bảo đảm tiền vay đối với tín dụng ngoài quốc doanh tại chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình: 59 4.7.1 Những kết quả mà chi nhánh đã đạt được trong việc thực hiện bảo đảm tiền vay: 59 4.7.2 Những hạn chế và vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện bảo đảm tiền vay: 62 CHƯƠNG III:MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ĐẢM TIỀN VAY ĐỐI VỚI TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC BA ĐÌNH 66 1 ÐỊNH HƯỚNG HOẠT ÐỘNG CHO VAY NGOÀI QUỐC DOANH CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG KHU VỰC BA ĐÌNH TRONG NHỮNG NĂM TỚI. 69 2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC bẢO ÐẢM TIỀN VAY ÐỐI VỚI TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH: 70 2.1 Nhóm giải pháp nhằm thực hiện hình thức bảo đảm tiền vay bằng uy tín của khách hàng vay: 70 2.1.1 Xây dựng chiến lược khách hàng truyền thống: 70 2.1.2 Nâng cao khả năng thẩm định khách hàng và phương án sản xuất kinh doanh của các cán bộ tín dụng. 71 2.1.2.1 Thành lập bộ phận thẩm định độc lập. 71 2.1.2.2 Không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng. 72 2.2 Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và mở rộng hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản: 73 2.2.1 Thiết lập hệ thống thông tin trong nội bộ ngân hàng về định giá tài sản bảo đảm. 73 2.2.2 Cơ cấu lại bộ phận tín dụng ngoài quốc doanh theo hướng đa dạng hoá chuyên ngành của các cán bộ tín dụng. 73 2.2.3 Ða dạng hoá danh mục tài sản bảo đảm. 74 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ÐẢM TIỀN VAY ÐỐI VỚI TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH: 75 3.1 Ðối với Chính Phủ: 75 3.1.1 Về bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố,thế chấp và bảo lãnh của bên thứ 3: 76 3.1.2 Về bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: 78 3.1.3 Tăng cường các biện pháp khuyến khích trong các chương trình bảo lãnh tín dụng: 80 3.2 Ðối với Ngân hàng Nhà nước: 80 3.2.1 Cho phép các ngân hàng thu phí giao dịch và phí giám sát đối với cho vay ngoài quốc doanh: 80 3.2.2 Thu thập và sắp xếp lại những văn bản liên quan đến bảo đảm tiền vay: 81 3.2.3 Phối hợp với các cơ quan khác để thành lập một trung tâm cung cấp thông tin hoạt động có hiệu quả. 81 3.2.4 Xây dựng một công ty định giá tài sản: 82 3.3 Ðối với Tổng cục địa chính, bộ tư pháp vá các bộ ngành khác có liên quan. 82 3.4 Ðối với Ngân hàng Công thương Việt nam: 84 KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc95 trang | Chia sẻ: maiphuongtl | Ngày: 05/07/2013 | Lượt xem: 252 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Luận văn Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay đối với tín dụng ngoài quốc doanh tại chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ã tiến hành tái bán đấu giá dứt điểm ngôi nhà phường Giảng Võ 280 triệu. Nay người mua đã nộp đủ tiền và nhận nhà ở. Đây là món nợ quá hạn của bà Nguyễn Thị Uyển với số tiền gốc là 102 triệu từ nhiều năm nay. c) Bảo đảm tiền vay là nhân tố góp phần mở rộng tín dụng của Chi nhánh: Cơ chế bảo đảm tiền vay mới đã tạo điều kiện cho việc mở rộng tín dụng của Chi nhánh trên một số mặt sau: Việc quy định cụ thể các biện pháp bảo đảm tiền vay đã tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ tín dụng khi tiếp xúc và thẩm định các điều kiện vay vốn của khách hàng. Danh mục các loại hình tài sản bảo đảm cùng các yếu tố có liên quan trong nghị định 178/1999/NĐ-CP và thông tư 06/2000/TT-NHNN1 phù hợp với thực tế và đã giải quyết được nhiều “mâu thuẫn” giữa những cái mà khách hàng có với những các mà ngân hàng cần. Sự đa dạng hóa trong các loại tài sản bảo đảm mở ra nhiều hướng cho vay, trong đó, tài sản bảo đảm được coi như là một trong những điều kiện để xét duyệt nhu cầu vay vốn. Chính vì vậy mà chi nhánh cũng như các ngân hàng thương mại khác cũng được lợi rất nhiều khi ra đời cơ chế này. Sự mở rộng tín dụng được thể hiện qua tình hình tăng trưởng của doanh số cho vay như sau: Năm 1999 2000 2001 Doanh số cho vay 18745 41269 76671 Có thể thất được sự tăng trưởng vượt bậc trong doanh số cho vay của Chi nhánh đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Đây là khu vực kinh tế chứa nhiều yếu tố rủi ro khi cho vay khiến các ngân hàng thường đòi hỏi tài sản bảo đảm như một yêu cầu bắt buộc, thì kết quả đạt được ở trên không thể có được nếu thiếu đi vai trò của bảo đảm tiền vay. Cũng như các ngân hàng thương mại khác, Ngân hàng công thương Ba Đình có thêm một hình thức cho vay nữa là cho vay có tài sản bảo đảm hình thành từ vốn vay từ khi có những quy định khởi đầu về vấn đề này. Mặc dầu nó chưa được áp dụng nhiều nhưng chắc chắn sẽ có xu hướng phát triển trong tương lai nhờ những ưu điểm của hình thức này. 4.7.2 Những hạn chế và vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện bảo đảm tiền vay: Mặc dù doanh cho vay và dư nợ ngoài quốc doanh của năm 2001 tăng mạnh, nhưng kết quả đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của Ngân hàng cũng như chưa đáp ứng đáng kể nhu cầu vay vốn của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh: a) Sự dè dặt trong cho vay đối với khu vực ngoài quốc doanh: Nghị định 178/1999/NĐ-CP, tiếp theo đó là công văn 1219/NHCT5 đã có những quy định và hướng dẫn đối với hình thức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Theo những quy định này, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vẫn được phép cho vay không có bảo đảm bằng tài sản nếu đáp ứng được một số yêu cầu đề ra: Thứ nhất, theo thông tư 06/2000/TT-NHNN1, các điều kiện đó là: “ Có tín nhiệm với tổ chức tín dụng cho vay trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi. Có dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có khả năng hoàn trả nợ; hoặc có dự án, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với quy định của pháp luật. Trong trường hợp vay để phục vụ nhu cầu thiết yếu của đời sống thì khách hàng vay phải có phương án trả nợ khả thi. Có khả năng tài chính và các nguồn thu hợp pháp có khả năng thu được trong thời hạn vay vốn để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tổ chức tín dụng; Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ chức tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng; cam kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp bảo đảm bằng tài sản quy định tại điểm này.” Thêm vào đó, nếu khách hàng là doanh nghiệp thì hàng năm phải thực hiện kiểm toán và phải có xác nhận của tổ chức kiểm toán đối với kết quả sản xuất, kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ được vay không có bảo đảm bằng tài sản sau khi doanh nghiệp đã sử dụng hết tài sản để cầm cố thế chấp cho chi nhánh. Quy định như vậy phần nào không khuyến khích việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Vì nếu cán bộ tín dụng có khả năng đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, việc quy định doanh nghiệp chỉ được vay không có bảo đảm bằng tài sản khi đã cầm cố hay thế chấp hết tài sản của khách hàng có thể là một trở ngại trong việc giữ những khách hàng lâu nămVì có những doanh nghiệp đã vay vốn nhiều lần ở chi nhánh và có uy tín trong việc sử dụng vốn vay và thanh toán nợ, nhưng nhu cầu vay vốn của họ chưa vượt quá giá trị tài sản có thể sử dụng làm bảo đảm. b) Các loại hình tài sản bảo đảm chưa đa dạng: Thông tư 06/TT-NHNN1 hướng dẫn thực hiện nghị định 178/1999/NÐ-CP đã mở ra cho chi nhánh một danh mục các tài sản có thể sử dụng để bảo đảm cho khoản vay, nhưng các tài sản được Ngân hàng chấp nhận làm tài sản bảo đảm còn rất hạn chế, chỉ dừng lại ở các tài sản là nhà ở, quyền sử dụng đất, sổ tiết kiệm, trái phiếu kho bạc. Một số khoản vay có thế chấp bằng máy móc, thiết bị chủ yếu dành cho các công ty có quan hệ vay vốn truyền thống của Ngân hàng. Ðây là một cản trở rất lớn đối với khu vực ngoài quốc doanh trong việc tiếp cận vốn Ngân hàng. c)Việc định giá tài sản bảo đảm còn mang tính chủ quan: Cũng như đa số các ngân hàng thương mại Việt Nam, việc tiến hành định giá tài sản bảo đảm của khách hàng đều do Hội đồng tín dụng của chi nhánh tiến hành mà không có sự tham gia của các cơ quan chuyên môn. Sở dĩ việc định giá tài sản bảo đảm thiếu vắng cơ quan chuyên môn là do hầu hết các khoản cho vay của chi nhánh đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có giá trị thấp ( một phần do quy định hạn chế của ngân hàng công thương Việt Nam) và tài sản bảo đảm thường không quá khó để đánh giá. Nhưng trong yêu cầu phát triển ngày càng cao của kinh doanh thì an toàn lại càng phải được chú trọng hơn. Chính vì thế đánh giá tài sản bảo đảm một cách chính xác là một trong những yêu cầu không thể thiếu được. d) Về vấn đề công chứng, chứng thực hợp đồng bảo đảm: Các món vay của cá nhân và tổ chức ngoài quốc doanh thường có giá trị thấp, nên không giống như các cán bộ tín dụng quốc doanh, phòng ngoài quốc doanh phải tìm kiếm, tiếp cận và theo dõi rất nhiều các hồ sơ xin vay vốn. Theo điều 7-nghị định 178/1999/NĐ-CP về điều kiện thủ tục thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay và bảo lãnh của bên thứ ba: nếu có thoả thuận, hợp động bảo đảm phải có chứng nhận của công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, theo nghị định này, việc công chứng, chứng thực sẽ chỉ được thực hiện nếu hai bên có thoả thuận. Nhưng trên thực tế, các cán bộ tín dụng không biết hết được các quy định của pháp luật liên qua đến công chứng, chứng thực và trường hợp nào là trường hợp “pháp luật quy định khác”. Cho nên, để bảo đảm an toàn cho khoản vay và làm cơ sở để chi nhanh có thể thu hồi vốn khi rủi ro tín dụng phát sinh, các cán bộ tín dụng thường yêu cầu khách hàng thực hiện thủ tục công chứng, chứng thực. Nhưng thủ tục công chứng, chứng thực rất rườm rà, gây tốn phí thời gian cho cả Ngân hàng và khách hàng vay vốn, phần nào thu hẹp mối quan hệ giữa Ngân hàng và khách hàng mới. Mặt khác, các nhân viên công chứng thường thiếu tôn trọng tính tự nguyện, tính thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng và tính ý chí của hai bên. Vì dù sao cả hai bên kí kết hợp đồng đều là những pháp nhân hay thể nhân có đầy đủ năng lực dân sự và năng lực pháp lý trong kí kết hợp đồng. Thậm chí, nhiều nơi công chứng còn áp đặt mẫu hợp đồng cho vả hai bên, áp đặt thời gian vay vốn và thời hạn thế chấp. Ðiều này đặc biệt không phù hợp với quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp- là quan hệ có tính thường xuyên và có tính kinh tế. e) Khách hàng vay vốn có bảo đảm bằng tài sản thế chấp rất quan tâm đến giá trị tài sản đem thế chấp của mình được định giá như thế nào? Vì nó quyết định giá trị khoản vay mà họ nhận được. Thông thường, chi nhánh cho vay từ 70-80% giá trị tài sản thế chấp. Tuy nhiên, việc định giá tài sản thế chấp, nhất là nhà ở không phù hợp với thực tế, khiến các khách hàng vay, dù xây dựng được một dự án khả thi, nhưng không nhận được đủ số tiền vay như dự kiến. Hơn nữa, trong thời gian qua, ngân hàng cũng từ chối rất nhiều yêu cầu vay vốn từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Lí do chủ yếu không phải là khách hàng không có mục đích sử dụng vốn vay hợp lý hay vì lí do tiềm lực tài chính của khách hàng của yếu, mà là vì tài sản thế chấp không có đủ giấy tờ hợp pháp về quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất và bất động sản. f) Về tài sản mà pháp luật quy định phải đăng kí quyền sở hữu: Việc đăng ký quyền sở hữu tài sản có liên quan đến quyết định ai sẽ là người giữ tài sản và giấy tờ của tài sản bảo đảm và việc một tài sản có thể được sử dụng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ. Theo điều 174 Bộ luật dân sự: “ Những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì phải được đăng ký”. Nhưng, hiện nay Luật và các văn bản dưới luật chưa có văn bản nào quy định trực tiếp và đầy đủ về những tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, mà những quy định này nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, khiến các cán bộ tín dụng rất khó thu thập và xử lý những tình huống phát sinh đúng theo quy định của pháp luật. Những tồn tại nói trên không chỉ xuất phát từ bản thân Ngân hàng mà còn chịu nhiều ảnh hưởng từ phía khách hàng vay vốn lẫn môi trường pháp lý để thực hiện bảo đảm tiền vay. Việc tìm ra những nguyên nhân dẫn đến những vướng mắc trên là cơ sở đưa ra những giải pháp góp phần khơi thông nguồn vốn và giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay: Là người có nhu cầu cấp thiết về vốn, nên khách hàng luôn muốn nhanh chống nhận được tiền vay từ phía ngân hàng. Nhưng thực tế cho thấy các cá nhân hay tổ chức ngoài quốc doanh không hiểu rõ về điều kiện vay vốn của Ngân hàng, nên họ nghĩ chỉ cần một phương án sản xuất kinh doanh là đủ. Suy nghĩ như vậy thường dẫn đến thất bại trong quan hệ vay vốn, bởi lẽ, tính khả thi mà khách hàng xây dựng dự án, tính khả thi mà Ngân hàng xem xét có phần khác nhau. Ngân hàng không chỉ dựa trên khả năng mang lại lợi nhuận của dự án cũng như nguồn trả nợ ổn định của dự án, mà còn phải xem xét mức độ rủi ro mà khách hàng phải chia sẻ với mình. Ðó chính là vốn tự có của khách hàng đầu tư cho dự án vay. Tuy nhiên, vốn tự có của khách hàng ngoài quốc doanh (đặc biệt là tư nhân và cá thể) thường là quá nhỏ, nên nhiều khi họ tự ý nâng giá trị vốn chủ sở hữu lên. Kết quả là, khi đi thực tế, các cán bộ tín dụng lập tức từ chối cho vay. Khách hàng trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thường không có trình độ về lập phương án sản xuất kinh doanh. Hồ sơ vay vốn thường có nhiều thiếu sót, việc tính toán các chỉ tiêu của dự án không có tính thuyết phục, thông tin cung cấp sơ sài, không có cơ sở dự báo nhu cầu vốn trong kinh doanh. Phương án thường được xây dựng theo hướng lạc quan nhằm có được các chỉ tiêu với hiệu quả cao, song lại kém tính khả thi, hay không phù hợp với thực tế. Do đó, thường không thuyết phục được ngân hàng cả về mặt tài chính lẫn mặt kỹ thuật của dự án vay. Nguyên nhân từ phía ngân hàng: - Trong quá trình thẩm định dự án vay vốn, thông tin thu thập được thường mang tính cá nhân. Mỗi cán bộ tín dụng nhận đơn xin vay nào thì thu thập thông tin về khoản vay đó. Ðôi khi có tham khảo thêm ý kiến của các cán bộ tín dụng khác hay những mối quan hệ của cá nhân. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở những nguồn thông tin như thế thì các cán bộ sẽ đối mặt với rất nhiều khó khăn khi thẩm định dự án vay vốn của khách hàng. Vì không phải đối với khách hàng nào, ngân hàng cũng có thể thu thập được đầy đủ thông tin cần thiết phục vụ cho quá trinh thẩm định. Ngay cả khi trung tâm thông tin tín dụng của NHNN ra đời, thì cũng chẳng cung cấp cho ngân hàng được bao nhiêu thông tin có giá trị. Thêm vào đó, phòng tín dụng ngoài quốc doanh thường xuyên phải tiếp cận với một số lượng lớn các mối quan hệ với khách hàng. Như vậy, họ không có nhiều thời gian để chỉ thu thập thông tin liên quan đến một dự án, một khách hàng đơn lẻ nào cả. Và kết quả là, chất lượng của quá trình thẩm định dự án không cao, nên nếu tôn chỉ của chi nhánh là thận trọng trong cho vay, thì rất có thể đã bỏ qua nhiều cơ hội tăng lợi nhuận, ngược lại, nếu chấp nhận rủi ro thì nguy cơ mất vốn lớn hơn và trách nhiệm liên đới của cán bộ tín dụng cũng nặng nề hơn. Do đó, các cán bộ tín dụng thường lựa chọn giải pháp an toàn, nên doanh số cho vay của chi nhánh không tương xứng với tiềm năng của ngân hàng. - Bảo đảm bằng tài sản là điều kiện không thể thiếu đối với tín dụng ngoài quốc doanh tại chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình, nhưng việc nhận tài sản bảo đảm nhiều khi lại là nguy cơ không thu hồi được nợ của ngân hàng. Vì khi định giá giá trị tài sản bảo đảm, các cán bộ tín dụng hầu như chỉ có kiến thức về ngân hàng tài chính, mà thiếu hẳn kiến thức về kỹ thuật và công nghệ. Nên định giá tài sản bảo đảm thường thiếu độ chính xác. Nguyên nhân từ khung pháp lý cho việc thực hiện bảo đảm tiền vay: Trong những năm gần đây, những văn bản pháp luật liên quan đến bảo đảm tiền vay được ban hành rất nhiều, không thể nói là số lượng các văn bản là chưa đủ, mà chất lượng còn nhiều điểm gây tranh cãi, nên chưa thực sự tạo ta môi trường pháp lý hoàn chỉnh để công tác bảo đảm tiền vay có thể vận hành tổt. - Từ điền kiện vay vốn của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh: theo thông lệ quốc tế, cũng như quy định của pháp luật về hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế, các hình thức bảo đảm thực hiện hợp đồng bằng tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh được coi là điều kiện tuỳ nghi. Nhưng, trong thời gian qua, chế định này lại được áp dụng như là một điều kiện bắt buộc đối với hoạt động cho vay ngoài quốc doanh. - Ðã thế, cơ sở pháp lý lại không thông thoáng và ít tạo điều kiện cho cả khách hàng lẫn ngân hàng để thực hiện hợp đồng một cách có hiệu quả. Ví như: Thông tư 06/TT-NHNN1 hướng dẫn tài sản thế chấp có thể là quyền sử dụng đất, nhưng tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diễn ra rất chậm. Việc cấp giấy tờ nhà ở, hoá giá nhà tập thể chưa làm được bao nhiêu. Hơn nữa, với biến động khó lường của giá bất động sản, giá đất theo khung giá của nhà nước chênh lệch quá lớn so thị trường tự do, gây khó khăn của ngân hàng khi định giá tài sản. Yêu cầu tài sản bảo đảm phải chứng minh được quyền sở hữu của chủ nhà, nhưng việc đăng kí sở hữu chưa được triển khai, thủ tục lại phiền hà. Cộng thêm, luật kiểm toán kế toán chưa đi vào hoạt động nên tính trách nhiệm của người phát hoá đơn, chứng từ và hợp đồng mua bán hàng hoá chưa cao, dẫn tới việc cầm cố tài sản gặp trở ngại. Ðó là lí do mà ngân hàng thường phải trả lời người vay là không đủ điều kiện vay vốn hoặc khách hàng nhận được ít vốn. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC THỰC HIỆN BẢO ĐẢM TIỀN VAY ĐỐI VỚI TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG BA ĐÌNH. ********** 1 ÐỊNH HƯỚNG hoẠT ÐỘNG CHO VAY ngoài quÔc doanh CỦA chi nhánh ngân hàng công thương khu vỰc Ba Ðình TRONG NHỮNG NĂM TỚI. Chủ động tìm kiếm các dự án có hiệu quả để đầu tư, thực hiện đúng quy trình và biện pháp cho vay để mở rộng tín dụng có hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm thu hồi được cả gốc lẫn lãi đúng hạn. Tăng cường công tác tiếp thị mở rộng và phát triển thị phần đầu tư tín dụng, trong đó coi trọng khách hàng truyền thống và các công ty có uy tín trên thị trường nhằm tăng trưởng dư nợ trong tầm kiểm soát. Xây dựng cơ chế ưu đãi linh hoạt, phù hợp, mở rộng các hình thức cấp tín dụng, đa dạng hoá các nghiệp vụ cho vay, phối hợp chặt chẽ với các phòng nghiệp vụ khác để tạo nên hệ thống các sản phẩm dịch vụ tốt phục vụ khách hàng, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng thương mại khác trên cùng địa bàn. Ðẩy mạnh công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ, đảm bảo kinh doanh an toàn hiệu quả. Thực hiện đầu tư kinh doanh đúng hướng, góp phần làm lành mạnh hoá hoạt động tài chính tín dụng ngân hàng. Tiếp tục triển khai mở rộng mạng lưới hoạt động tại các khu vực dân cư có hoạt động thương mại dịch vụ phát triển, hướng mở rộng địa bàn ra các khu vực lân cận nơi có các khu công nghiệp của thành phố. Xây dựng và triển khai thực hiện phong trào “văn minh giao tiếp” của cán bộ ngân hàng trong quá trình giao dịch làm việc với khách hàng. Thực hiện nghiêm túc việc sử dụng trang phục công sở của cán bộ ngân hàng. Ðẩy mạnh phong trào thi đua lao động giỏi theo mục tiêu thi đua do công đoàn và chính quyền phối hợp phát động. Chú trọng công tác đào tạo nâng cao chất lượng cán bộ phát huy tinh thần trách nhiệm ý thức tự gíac của người lao động trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi nhánh. Với phương châm phát triển an toàn và hiệu quả, phòng tín dụng ngoài quốc doanh cùng với các phòng ban khác thuộc chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình tiếp tục đổi mới và phát triển, thực hiện tốt tiến trình cơ cấu lại ngân hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh, chắc chắn sẽ hoàn thành tốt mục tiêu nhiệm vụ năm 2002. 2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC bẢO ÐẢM TIỀN VAY ÐỐI VỚI TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH: 2.1 Nhóm giải pháp nhằm thực hiện hình thức bảo đảm tiền vay bằng uy tín của khách hàng vay: 2.1.1 Xây dựng chiến lược khách hàng truyền thống: Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản có thể giúp chi nhánh giảm được những chi phí liên quan đến định giá và quản lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, những khoản cho vay này có thực hiện được hay không lại tùy thuộc vào khả năng đánh giá, lựa chọn khách hàng và khả năng hoạt động hiệu quả của khách hàng. Mà đặc điểm của kinh tế ngoài quốc doanh có nguồn vốn nhỏ bé, nhưng lại rất linh hoạt trong việc dịch chuyển vốn từ nơi có lợi nhuận thấp đến nơi có lợi nhuận cao. Sự dịch chuyển đòi hỏi các thành phần kinh tế trong khu vực phải không ngừng đổi mới trình độ công nghệ, trình độ quản lý và nâng cao tay nghề của người lao động. Tất cả những thay đổi như vậy đều đòi hỏi có sự tập trung nguồn vốn lớn hơn nhiều so với vốn tự có nhỏ bé của họ. Theo quy luật cạnh tranh, những đối tượng nào thích ứng được với sự thay đổi này sẽ tồn tại và phát triển ngày càng lớn mạnh, ngược lại, những tổ chức hay cá nhân nào không bắt kịp sẽ nhanh chóng bị đào thải. Như vậy, khác hẳn với khu vực kinh tế quốc doanh, thời gian tồn tại của các thành phần kinh tế trong khu vực rất bấp bênh. Nắm bắt được xu hướng phát triển của khu vực này, các cán bộ tín dụng phải chủ động tìm kiếm, khai thác và thiết lập mối quan hệ lâu dài với những khách hàng nhạy bén trong kinh doanh, có vị thế cạnh tranh trên thị trường và có năng lực tài chính. Thực trạng hoạt động cho vay ngoài quốc doanh tại chi nhánh cho thấy, các khoản vay của chi nhánh đều được bảo đảm bằng tài sản không chỉ xuất phát từ sự yếu kém từ phía khách hàng, mà còn do sự cẩn trọng từ phía người cho vay. Hơn nữa với quy định của pháp luật hiện nay, chỉ có những khách hàng nào có tín nhiệm đối với chi nhánh, đồng thời sử dụng hết tài sản để làm tài sản bảo đảm thì mới nhận được các khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản của chi nhánh. Do vậy, chi nhánh nên tạo điều kiện thuận lợi cho những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả như cho hưởng lãi suất ưu đãi không những so với các khách hàng khác mà còn so với các ngân hàng khác. Nhờ đó, có thể hình thành được một hệ thống khách hàng tin cậy, có uy tín, từ đó có thể thực hiện khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản. Ðó chính là lời chào mời hấp dẫn nhất đối với người vay. 2.1.2 Nâng cao khả năng thẩm định khách hàng và phương án sản xuất kinh doanh của các cán bộ tín dụng. Việc thực hiện các khoản vay không có bảo đảm bằng tài sản đòi hỏi rất nhiều điều kiện liên quan đến cả khách hàng và ngân hàng. Đối với khách hàng là sự tín nhiệm của ngân hàng, phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên, việc đánh giá một phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả không lại không phụ thuộc vào cách đánh giá của khách hàng, mà được nhình nhận trên quan điểm của ngân hàng. Vì vậy để có thể cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, một yếu tố không thể thiếu được là khả năng thẩm định dự án vay vốn cũng như khả năng đánh giá những yếu tố liên quan đến khách hàng vay. Việc nâng cao chất lượng của quá trình thẩm định cho phép ngân hàng lựa chọn được những khách hàng vay đủ phẩm chất và có khả năng hoàn trả nợ vay. 2.1.2.1 Thành lập bộ phận thẩm định độc lập. Các cán bộ tín dụng ngoài quốc doanh hiện nay vừa phải đảm nhiệm chức năng tìm kiếm, thu hút khách hàng vay, vừa là người hướng dẫn khách hàng xây dựng hồ sơ vay vốn, chịu trách nhiệm thẩm định phương án sử dụng vốn vay ( trong phạm vi cho phép), đồng thời theo dõi tình hình sử dụng vốn của khách hàng sau khi vay. Mặc dù, với những dự án có giá trị lớn, phòng cũng đã thành lập một hội đồng thẩm định, nhưng số lượng những dự án như vậy không nhiều. Trong khi đó, các cán bộ tín dụng một mặt, phải hoàn thành tất cả các giai đoạn của một món vay, mặt khác, không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động của mình. Do vậy, việc thành lập một bộ phận thẩm định riêng biệt sẽ giảm nhẹ công việc mà một cán bộ tín dụng phải thực hiện. Hơn nữa, các nhân viên trong bộ phận thẩm định được đào tạo về chuyên môn sẽ góp phần nâng cao chất lượng thẩm định dự án, là cơ sở lựa chọn khách hàng vay không có bảo đảm bằng tài sản. 2.1.2.2 Không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng. Sức mạnh của bất kỳ ngân hàng nào cũng được thể hiện trên ba phương diện: nguồn vốn, công nghệ ngân hàng và trí tuệ của con người. Một ngân hàng với công nghệ hiện đại, thu hút được nguồn vốn lớn, mà không có sự tác động của các cán bộ tín dụng để biến vốn chết thành vốn sống, thì làm sao có thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy, đối với bất kì ngân hàng nào, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực luôn là yếu tố được đặt lên hàng đầu. Ðội ngũ nhân viên trong phòng tín dụng ngoài quốc doanh hiện nay là sự kết hợp giữa hai thế hệ- một thế hệ đi trước giàu kinh nghiệm thực tiễn và am hiểu lĩnh vực sản xuất kinh doanh của khách hàng với một thế hệ trẻ, năng động, ham học hỏi và được trang bị những kiến thức lý luận. Cùng với chính sách trẻ hoá cán bộ tín dụng, ngân hàng cần phải có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo thế hệ trẻ những kiến thức chuyên môn, những kiến thức tổng hợp cũng như kiến thức thực tế. Chi nhánh cần tiếp tục phát huy các biện pháp đã thực hiện như: thường xuyên tổ chức các khoá học, tạo điều kiện cho các các bộ tín dụng tham khảo kinh nghiệm của các đối tác, tổ chức các buổi hội thảo, nói chuyện chuyên đề, đối luyện về các quy định của cơ quan cấp trên cũng như về các sự kiện trong thực tế. Ðặc biệt các kỹ năng về tiếp cận, gợi mở ý tưởng vay vốn và thu hút khách hàng mới thường xuyên nên được huấn luyện, trau dồi và trao đổi. 2.2 Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và mở rộng hình thức bảo đảm tiền vay bằng tài sản: 2.2.1 Thiết lập hệ thống thông tin trong nội bộ ngân hàng về định giá tài sản bảo đảm. Khó khăn nhất đối với phòng tín dụng ngoài quốc doanh chủ yếu nằm ở khâu thu thập thông tin liên quan đến quá trình thẩm định như thông tin về khách hàng, thông tin về tiềm năng phát triển của dự án và thông tin về giá trị tài sản bảo đảm. Nguồn thông tin mà chi nhánh nhận được chủ yếu từ khách hàng vay, một số mối quan hệ cá nhân và trung tâm thông tin tín dụng của NHNN. Nhưng trung tâm này hoạt động không mấy hiệu quả. Thiết nghĩ, chi nhánh nên chủ động xây dựng một mạng thông tin liên quan đến khách hàng vay, giá trị thị trường của tài sản bảo đảm. Trước mắt, những thông tin này tập trung vào việc theo dõi những biến động về giá bất động sản trên thị trường, khi cần có thể cập nhật giá trị thị trường của một số tài sản khác như thiết bị, máy móc. Ðồng thời, chi nhánh có thể kết hợp với trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro NHCT Việt nam, cơ quan tài chính, thị trường và khác ngân hàng khác để đánh giá tài sản bảo đảm nhanh và chính xác. 2.2.2 Cơ cấu lại bộ phận tín dụng ngoài quốc doanh theo hướng đa dạng hoá chuyên ngành của các cán bộ tín dụng. Quy trình thẩm định một hồ sơ vay vốn rất phức tạp, phải trải qua ba giai đoạn: thẩm định khách hàng vay, thẩm định dự án đầu tư và thẩm định bảo đảm tiền vay. Ðánh giá năng lực tài chính của khách hàng không phải là việc làm vượt quá khả năng của các cán bộ tín dụng. Vì năng lực tài chính của khách hàng có thể dễ dàng đánh giá được thông qua việc sử dụng các kỹ thuật thẩm định tài chính. Nhưng khó khăn đối với phòng tín dụng nằm ở khâu thẩm định dự án đầu tư và thẩm định bảo đảm tiền vay. Ðây là giai đoạn đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn trên những lĩnh vực nhất định: thẩm định về phương diện thị trường cần có hệ thống thông tin liên quan đến sản phẩm trên thị trường, thẩm định về phương diện kỹ thuật cần sự am hiểu về lĩnh vực mà khách hàng hoạt động, thẩm định phương diện tài chính cần có những kỹ năng phân tích tài chính của dự án, hợp thẩm định bảo đảm tiền vay cần những hiểu biết về các loại hình tài sản dùng để bảo đảm. Mà phần lớn các cán bộ tín dụng ngoài quốc doanh đều tốt nghiệp từ các trường khối kinh tế, nên khả năng thẩm định khách hàng, thẩm định dự án cũng như thẩm định bảo đảm tiền vay chỉ giới hạn trong phạm vi tài chính. Tất nhiên, khi cần, chi nhánh có thể thuê chuyên gia để định giá tài sản cầm cố, thế chấp và bảo lãnh. Nhưng chi phí cho mỗi lần định giá như vậy cao hơn nhiều so với lợi nhuận ngân hàng thu được từ khoản vay. Hơn nữa, hầu hết các khoản vay trong khu vực này có giá trị không lớn, mà việc bảo đảm bằng tài sản lại là bắt buộc, nên chỉ cần những nhân viên có kiến thức trên lĩnh vực đó là đủ. Vì vậy, việc tuyển mộ nhân viên ngân hàng từ các chuyên ngành khác nhau là việc làm rất cần thiết đối với chi nhánh trong thời gian tới. 2.2.3 Ða dạng hoá danh mục tài sản bảo đảm. Quy chế hiện hành quy định các tài sản bảo đảm tiền vay tương đối đa dạng, nhưng việc áp dụng trong cho vay ngoài quốc doanh còn rất hạn chế, tài sản bảo đảm chỉ giới hạn trong phạm vi các tài sản thông dụng và có độ an toàn cao như: nhà ở, đất đai, ô tô, xe máy, sổ tiết kiệm, trái phiếu kho bạc. Thiết nghĩ, chi nhánh có thể mở rộng hoạt động cho vay có bảo đảm bằng tài sản của mình bằng cách chấp nhận những hợp đồng bán hàng của khách hàng. Những hợp đồng này có thể là hợp đồng bán cho những người mua có độ tin cậy cao, đó là các doanh nghiệp có sản phẩm được chấp nhận rộng rãi trên thị trường. Hơn nữa, trong khả năng có thể quản lý, chi nhánh nên áp dụng hình thức cầm cố hàng hoá luân chuyển. Dĩ nhiên, để có thể thực hiện tốt hình thức này, chi nhánh phải nhận được sự hỗ trợ của một cơ quan quản lý chất lượng hàng hoá, có như vậy, chi nhánh mới thấy thực sự an toàn khi cho vay có bảo đảm bằng hình thức này. Nói như vậy cũng không có nghĩa là nếu không có sự giúp đỡ của cơ quan này, ngân hàng không nhận hàng hoá luân chuyển làm tài sản bảo đảm. Việc mở rộng danh mục các tài sản bảo đảm mang lại cơ hội thu hút được nhiều khách hàng hơn cho ngân hàng. 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC BẢO ÐẢM TIỀN VAY ÐỐI VỚI TÍN DỤNG NGOÀI QUỐC DOANH: Pháp luật nước ta quy định về vấn đề cầm cố, thế chấp, bảo lãnh tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và còn quy định các biện pháp bảo đảm trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng nói riêng. Từ năm 1989 đến nay, nhất là từ 1996, khi bộ Luật Dân sự ra đời và có hiệu lực thi hành, vấn đề bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng được coi là một biện pháp hàng đầu để bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống ngân hàng trong những năm qua, có thể khẳng định, với cơ chế mới về bảo đảm tiền vay như hiện nay, các tổ chức tín dụng đã có hành lang pháp lý tương đối chặt chẽ và thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hoạt động kinh doanh và phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quyết định cho vay và bảo đảm tiền vay, góp phần tích cực trong phòng ngừa rủi ro, thúc đẩy mở rộng đầu tư tín dụng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã bộc lộ nhiều vướng mắc. Ðể phù hợp hơn với thực tế hoạt động của cơ chế thị trường, cơ chế bảo đảm tiền vay cũng cần phải được đổi mới và hoàn thiện. 3.1 Ðối với Chính Phủ: Cơ chế mới về bảo đảm tiền vay theo nghị định số 178 của Chính phủ đi vào hoạt động từ tháng 1/2000 đến nay đã gặp một số khó khăn, vướng mắc chưa phù hợp với tình hình thực tế, nên không thực sự đạt được mục tiêu mở rộng tín dụng và phòng ngừa rủi ro tín dụng. Do vậy, cần phải có những bổ sung, chỉnh sửa đồng bộ, phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tế, cụ thể như sau: Hoàn chỉnh hệ thống văn bản hướng dẫn các văn bản pháp quy của Chính phủ đã ban hành có liên quan đến bảo đảm tiền vay như thông tư hướng dẫn Nghị định 08/1999/NÐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm. Hoàn chỉnh hệ thống văn bản hướng dẫn nghị định 75/2000/NĐ-CP về thủ tục công chứng chứng thực. Hoàn chỉnh hệ thống văn bản hướng dẫn Nghị định số 178/1999/NÐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. Bổ sung, chỉnh sửa, hoàn thiện một số nội dung Nghị định số 178/1999/NÐ-CP của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. Trong phạm vi của chuyên đề này, em chỉ đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số điều trong Nghị định 178/1999/ NÐ-CP và nghị định phù hợp với tình hình thực tế trong hoạt động cho vay ngoài quốc doanh của chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình. 3.1.1 Về bảo đảm tiền vay bằng tài sản cầm cố,thế chấp và bảo lãnh của bên thứ 3: Cơ chế bảo đảm tiền vay cần đổi mới theo hướng bảo đảm bằng các dự án khả thi để lựa chọn cho vay không cần áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản. Trường hợp cần áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản thì cần tạo đủ cơ sở kinh tế và pháp lý để chi nhánh có thể thu hồi các khoản cho vay, tránh tình trạng tồn đọng tài sản thế chấp,cầm cố không xử lý được. Về vấn đề giấy tờ sở hữu tài sản và đăng ký giao dịch bảo đảm: theo quy định của Bộ luật dân sự đối với tài sản cầm cố, thì bên cầm cố phải giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố, trừ tài sản có đăng ký quyền sở hữu thì các bên thoả thuận bên cầm cố vẫn giữ tài sản hoặc giao cho người thứ ba giữ (điều 329). Tài sản cầm cố, thế chấp có đăng ký quyền sở hữu thì bên nhận cầm cố, thế chấp phải giữ bản chính giấy tờ sở hữu tài sản. Nhìn chung, đối với các khoản vay cuả chi nhánh hiện nay, nếu thực hiện theo đúng luật thì việc cầm cố, thế chấp để vay vốn bị ách tắc, nhất là tài sản dùng trong kinh doanh như nhà xưởng, thiết bị, dây chuyền sản xuất.. không có giấy chứng nhận đăng ký quyền sở hữu. Như vậy, việc kiểm tra tính hợp pháp của tài sản bảo đảm mất nhiều thời gian và chi phí và thực tế các cán bộ tín dụng cũng không thể có khả năng thực hiện đầy đủ, kịp thời, gây ra sự chậm chễ việc vay vốn của khách hàng. Nên sửa đổi khoản 3 điều 7 nghị định 178 như sau: “ Tổ chức tín dụng kiểm tra điều kiện của tài sản bảo đảm tiền vay. Khách hàng vay, bên bảo lãnh chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của tài sản bảo đảm tiền vay” Xác định giá trị tài sản bảo đảm: là một nội dung rất quan trọng, làm cơ sở để tổ chức tín dụng quyết định mức cho vay so với giá trị tài sản và được quy định rõ trong khoản 1 điều 8 của nghị định này. Theo quy định thì việc xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay bắt buộc phải lập thành văn bản riêng kèm theo hợp đồng bảo đảm là chưa phù hợp với thực tế, vì việc lập thành văn bản riêng hoặc ghi vào hợp đồng tín dụng là tuỳ thuộc vào đặc điểm của các loại tài sản bảo đảm và do các bên thoả thuận ( như cầm cố các giấy tờ có giá thì chỉ cần ghi vào hợp đồng tín dụng mà không cần lập thành văn bản riêng). Kiến nghị sửa đổi Khoản 1, điều 8 như sau: “ Tài sản bảo đảm tiền vay phải được xác định giá trị tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm; việc xác định giá trị tài sản tại thời điểm này chỉ làm cơ sở xác định mức cho vay của tổ chức tín dụng, không áp dụng khi xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Việc xác định giá trị tài sản bảo đảm tiền vay phải được lập thành văn bản riêng hoặc ghi vào hợp đồng tín dụng” Xác định giá trị quyền sử dụng đất: Công việc này do các cán bộ tín dụng tiến hành và được quy định tại khoản 3 điều 8. Ðối chiếu với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001 và Nghị định 79/2001/NÐ-CP thì quy định về xác định giá trị quyền sử dụng đất thuê, đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất là không có sự thay đổi. Vướng mắc nổi lên là vấn đề xác định giá trị thế chấp quyền sử dụng đất được Nhà nước giao, đất ở, đất được chuyển nhượng hợp pháp là giá đất UBND tỉnh, thành phố quy định hay cần có quy định theo hướng thị trường phù hợp với quan hệ dân sự. Sửa đổi, bổ sung mục a) khoản 3 điều 8 của Nghị định như sau: “Giá trị quyền sử dụng đất thế chấp, bảo lãnh được xác định như sau: a) Ðất do Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở, đất mà hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp; đất do Nhà nước giao có thu tiền đối với tổ chức kinh tế; đất mà tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp, thì giá trị quyền sử dụng đất thế chấp, bảo lãnh do tổ chức tín dụng và khách hàng vay, bên bảo lãnh thoả thuận theo giá đất thực tế chuyển nhượng ở địa phương đó tại thời điểm thế chấp. Tổ chức tín dụng xem xét quyết định mức cho vay và tự chịu trách nhiệm về rủi ro vốn cho vay” Về việc thế chấp tài sản gắn liền với đất phải thế chấp quyền sử dụng đất: nghị định 178 coi đây là nguyên tắc trong bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp. Như vậy, khách hàng vay phải thế chấp đồng thời cả tài sản gắn liền với đất và giá trị quyền sử dụng đất. Quy định này hiện nay đang có nhiều bất cập, vì trong thực tế, nhiều khách hàng vay có tài sản phù hợp với quy định của pháp luật, có nhu cầu vay vốn và chỉ đủ điều kiện thế chấp tài sản gắn liền mà không thế chấp được giá trị quyền sử dụng đất như: nhà ở cao tầng, nhà xưởng máy móc, thiết bị đã có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng, nhưng diện tích đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Vì vậy, khoản 5, điều 6 cần phải được sửa đổi cho phù hợp với quy định của bộ luật Dân sự, luật Ðất đai và nâng cao quyền chủ động và tự chịu trách nhiêm của chi nhánh. Cụ thể là: “ Giá trị quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất có đủ điều kiện làm bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật, thì việc thế chấp, bảo lãnh đồng thời cả giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hay tách rời là do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên thoả thuận thế chấp, bảo lãnh tách rời giữa tài sản gắn liền với đất và giá trị quyền sử dụng đất, thì tổ chức tín dụng nhận thế chấp, bảo lãnh phải có khả năng quản lý tài sản trong quá trình cho vay và xử lý được tài sản đó để thu hồi nợ, nếu khách hàng vay không trả được nợ” 3.1.2 Về bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Tài sản hình thành từ vốn vay chính là hình thức bảo đảm bằng tài sản sẽ có trong tương lai, nhưng quy định hiện hành về hình thức này còn quá hẹp, do chỉ cho phép tài sản hình thành từ vốn vay trung dài hạn làm bảo đảm, tức là chỉ đối với hình thành tài sản cố định. Có rất nhiều lý do đưa ra để luận bàn tại sao đối tượng cho vay ngắn hạn lại không được áp dụng, trong khi tài sản hình thành từ vốn vay ngắn hạn có nhiều loại như các kho hàng là tài sản mà chi nhánh có thể quản lý và theo dõi dễ dàng hơn nhiều so với tài sản hình thành từ vốn vay trung và dài hạn như phương tiện vận tải đang lưu hành. Ðây là hình thức bảo đảm có nhiều rủi ro hơn cầm cố, thế chấp tài sản, do khi phát tiền vay chưa có vật bảo đảm, quản lý trong quá trình hình thành tài sản tuỷ thuộc vào điều kiện và trình độ quản lý của chi nhánh nếu cho vay bảo đảm bằng các kho hàng. Nhưng nếu ngân hàng không đủ khả năng kiểm tra, giám sát, theo dõi hàng ngày biến động của tài sản bán ra, hoặc đưa vào sản xuất cho đến khi có nguồn tiền về để kịp thu nợ, thì đến khi cần xử lý tài sản để thu hồi nợ, các kho hàng trống rỗng, gây hậu quả nghiêm trọng đối với chi nhánh. Mặt khác quy định điều kiện khách hàng vay phải có tín nhiệm với chi nhánh là không cần thiết, vì như vậy, khách hàng phải có quan hệ vay vốn với tổ chức tín dụng, điều này hạn chế khả năng tiếp cận với khách hàng mới của các cán bộ tín dụng. Hơn nữa, quy định khách hàng phải có vốn tự có tham gia vào dự án hoặc phải có tài sản cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 50% giá trị khoản vay ( theo Nghị quyết 11/2000/NQ-CP thì tỷ lệ này là 30%). Quy định tỷ lệ tối thiểu này là cần thiết nhằm bảo đảm an toàn cho tổ chức tín dụng, thông lệ Quốc tế trong cho vay, đều yêu cầu chủ đầu tư phải có vốn đối ứng, không một ngân hàng nào cho vay 100% dự án. Nhưng quy định tỷ lệ tối thiểu như vậy là quá cao, thực tế rất khó thực hiện, đặc biệt là đối với khu vực ngoài quốc doanh, do vốn tự có của khách hàng trong thực tế rất thấp. Ðiều 15 về điều kiện đối với khách hàng vay và tài sản hình thành từ vốn vay được sửa đổi như sau: 1. Ðối với khách hàng vay: a) Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. b) Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi, phù hợp với quy định của pháp luật. c) Có mức vốn tự có tham gia vào dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay bằng các pháp cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 15% vốn đầu tư của dự án hoặc phương án đó. 2. Ðối với tài sản: a) Tài sản hình thành từ vốn vay dùng làm bảo đảm tiền vay phải xác định được quyền sở hữu hoặc quyền quản lý, sử dụng; xác định được giá trị, số lượng và được phép giao dịch. Ðối với tài sản hình thành từ vốn vay là vật tư, hàng hoá, thì ngoài việc có đủ các điều kiện này, tổ chức tín dụng phải có khả năng quản lý, giám sảt tài sản bảo đảm. b) Ðối với tài sản mà pháp luật có quy định phải mua bảo hiểm, thì khách hàng vay phải cam kết mua bảo hiểm trong suốt thời hạn vay vốn khi tài sản đã được hình thành đưa vào sử dụng. 3.1.3 Tăng cường các biện pháp khuyến khích trong các chương trình bảo lãnh tín dụng: Hiện nay, Chính phủ đã có quyết định thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bộ Tài chính đã giao cho Ngân hàng Ngoại thương chịu trách nhiệm thành lập và quản lý quỹ này ở phạm vi trung ương. Còn các địa phương trong nước muốn thành lập quỹ trên địa bàn thì phải đảm bảo một số điều kiện do Bộ tài chính mới ban hành. Việc cho ra đời quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi và nâng cao khả năng tiếp cận các khoản vay vay ngân hàng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Nếu được quản lý và giám sát đúng đắn, sự xuất hiện của quỹ có thể làm giảm các chi phí giao dịch cho các ngân hàng, cải thiện các hoạt động hiện hành về định giá rủi ro thông qua việc thu các khoản lệ phí bảo lãnh linh hoạt hơn (nếu được phép thương thuyết giữa các quỹ và bên vay), và khắc phục được vấn đề về tài sản bảo đảm của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. 3.2 Ðối với Ngân hàng Nhà nước: 3.2.1 Cho phép các ngân hàng thu phí giao dịch và phí giám sát đối với cho vay ngoài quốc doanh: Các ngân hàng thấy rằng việc cho khu vực ngoài quốc doanh vay vốn kéo theo các chi phí về giao dịch đơn vị cao hơn vì phần lớn các cá nhân, tổ chức kinh tế trong khu vực này có quy mô nhỏ và thông tin không rõ ràng. Vì vậy nếu sử dụng các thủ tục nhất quán, không phân biệt các loại bên vay khác nhau thì các ngân hàng có thể phân biệt đối xử với khu vực này. Các khoản phí giao dịch, ở một chừng mực nào đó đã tạo điều kiện để quyết định xem xét cho vay trên quan điểm tín dụng. Vì thế, nếu có các khoản phí này, các ngân hàng được khuyến khích để xem xét đề nghị vay vốn của một số lớn các doanh nghiệp nhỏ hơn và các công ty không có thông tin rõ ràng. Như vậy, các phí này sẽ khuyến khích ngân hàng phát triển một nền văn hoá hướng vào dịch vụ hơn và đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao hơn tính minh bạch đối với khu vực này. 3.2.2 Thu thập và sắp xếp lại những văn bản liên quan đến bảo đảm tiền vay: Hiện nay có khoảng 61 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến bảo đảm tiền vay. Số lượng các văn bản khá nhiều nhưng lại thiếu tính thống nhất trong nội bộ hệ thống. Một văn bản Chính phủ ban hành thường đi kèm với một số lượng lớn các văn bản hướng dẫn của các cơ quan hữu quan khác nhau, nên không tránh được những quy định chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn với nhau. Hơn nữa, các quy định trong nghị định của Chính phủ thường rất mở thể hiện ở câu “ trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Chính điều này gây khó khăn cho các cán bộ tín dụng khi áp dụng các quy định này trong thực tế, vì họ không thể sưu tầm được tất cả những văn bản có liên quan mà có những quy định khác với quy định trong văn bản về bảo đảm tiền vay. Nên chăng, Ngân hàng Nhà nước nên có một bộ phận chuyên thu thập các văn bản có liên quan để có thể hỗ trợ các chi nhánh khi cần thiết. 3.2.3 Phối hợp với các cơ quan khác để thành lập một trung tâm cung cấp thông tin hoạt động có hiệu quả. Ðối với cán bộ tín dụng, thông tin có vị trí đặc biệt quan trọng trong quyết định cho vay đối với khách hàng. Thông tin chính xác là cơ sở của một khoản cho vay hoàn hảo. Cán bộ tín dụng nói riêng và chi nhánh nói chung luôn phải chủ động trong việc thu thập và xử lý thông tin liên quan đến mọi khía cạnh của một món vay. Các nhân viên phòng tín dụng ngoài quốc doanh có thể thu thập thông tin trực tiếp qua khách hàng, các đối tác, các mối quan hệ của bản thân. Chi nhánh có thể hỗ trợ phòng bằng cách xây dựng một mạng lưới thông tin. Nhưng việc xây dựng được mạng lưới như vậy cần có một chi phí không nhỏ, trong một thời gian ngắn, chi nhánh khó có thể thực hiện được. Thiết nghĩ, nếu Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các cơ quan khác thành lập được một trung tâm cung cấp thông tin, thì mạng lưới thông tin của chi nhánh lúc này chỉ tập trung đi sâu vào những thông tin có tính đặc thù trong quan hệ với khách hàng của chi nhánh. Sự kết hợp như vậy mới có thể nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần lành mạnh hoá hệ thống ngân hàng. 3.2.4 Xây dựng một công ty định giá tài sản: Việc từng chi nhánh lập một bộ phận định giá tài sản là một hình thức giúp phòng tín dụng ngoài quốc doanh nhanh chóng xác định được giá trị của tài sản bảo đảm, trên cơ sở đó xác định được giá trị của khoản cho vay, phục vụ nhu cầu vay vốn của khách hàng kịp thời. Nhưng do đặc điểm của phòng tuy số lượng khách hàng lớn nhưng giá trị các món vay lại rất nhỏ, nên nếu chi nhánh đầu tư vào một bộ phận định giá như vậy sẽ vượt quá khả năng chi trả của chi nhánh. Mặc dù vây, việc làm này không phải là quá khó khăn đối với ngân hàng Nhà nước. Ðịnh giá tài sản đòi hỏi các nhân viên có trình độ chuyên môn trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Nếu thiết lập một bộ phận đảm nhiệm chức năng này ở ngân hàng đơn lẻ, ngân hàng phải chuyên môn hoá từng giai đoạn trong tiến trình cho vay. Việc này rất kém tính khả thi, nhất là trong điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay. Vì thế, Ngân hàng nhà nước thực hiện chức năng này là phù hợp nhất. Mặt khác,với nhiệm vụ là cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động ngân hàng thương mại, việc thành lập công ty định giá tài sản sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước quản lý sát sao hơn các khoản cho vay về mặt chất lượng, do vậy ngay từ đầu, các khoản vay đã được đánh giá độ an toàn. 3.3 Ðối với Tổng cục địa chính, bộ tư pháp vá các bộ ngành khác có liên quan. Với Tổng cục địa chính: Trong định giá tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất hoặc nhà ở hiện nay, chi nhánh đang sử dụng khung giá nhà, đất của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà nội, nhưng khung giá này được xây dựng từ khá lâu, nên vốn dĩ khác xa với giá nhà đất hiện nay. Hơn nữa, thị trường bất động sản ở Hà nội đang trong tình trạng nóng, nên giá thị trường của những tài sản này lớn hơn nhiều so với giá được quy định. Mặc dù, các cán bộ tín dụng của phòng đã rất linh hoạt kết hợp giữa giá được quy định, giá thị trường, và biên độ giao động để đưa ra mức giá vừa bảo đảm an toàn cho ngân hàng, vừa thu hút được khách hàng vay, nhưng việc thu thập giá thị trường của các tài sản này mất rất nhiều thời gian. Nên chăng, Tổng cục địa chính và Ban vật giá Chính phủ phối hợp công bố giá nhà, đất trên thị trường ở từng vùng để việc cho vay có căn cứ phù hợp với cơ chế thị trường, người vay có thể nhận được khoản vốn vay lớn hơn và cán bộ tín dụng cũng tránh được nhiều sai phạm. Mục 2- thông tư 06/2000/TT-NHNN1 quy định: “ Tổ chức tín dụng lựa chọn tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh đối với các tài sản có đủ điều kiện sau: Tài sản phải thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay, bên bảo lãnh. Trường hợp tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì khách hàng vay, bên bảo lãnh phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Ðối với quyền sử dụng đất, khách hàng vay, bên bảo lãnh phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được thế chấp theo quy định của pháp luật về đất đai…” Như vậy, khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh phải chứng minh được quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của mình đối với tài sản cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Tuy nhiên, trong thời gian qua, tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Sở địa chính và Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền rất chậm, hạn chế khả năng cung ứng vốn của ngân hàng. Thiết nghĩ, Tổng cục địa chính nên sớm ban hành quyết định rà soát lại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở các cấp cơ sở, đồng thời xúc tiến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những khu đất đủ tiêu chuẩn. Ðối với Bộ tư pháp: Bộ luật dân sự quy định đối với tài sản đăng ký sở hữu thì khi cầm cố, thế chấp phải đăng ký tại cơ quan Ngân hàng có thẩm quyền. Việc đăng ký cầm cố, thế chấp tạo thuận lợi cho việc cầm cố, thế chấp được an toàn và bên cầm cố, thế chấp vẫn được giữ và sử dụng tài sản vào sản xuất, kinh doanh không phải giao tài sản cho bên nhận cầm cố, thế chấp giữ. Tuy nhiên đến nay, việc hướng dẫn chưa thống nhất về trình tự, thủ tục về đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tất cả các loại tài sản là bất động sản và động sản, cho nên việc cầm cố, thế chấp nhất là thế chấp bất động sản như đất đai và tài sản gắn liền với đất tại UBND xã (đối với hộ gia đình và cá nhân), tại Sở Ðịa chính (đối với tổ chức) để vay vốn hầu như chưa thực hiện được. Ðể tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng vay cũng như duy trì độ an toàn trong các khoản vay của ngân hàng, Bộ tư pháp nên nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về những vấn để liên quan đến giao dịch bảo đảm. Việc thành lập Cục quốc gia về giao dịch bảo đảm ( ra đời theo quyết định số 104/2001/QÐ-TTg) là nguồn thông tin chính xác về tài sản cầm cố, thế chấp đã được dùng để bảo đảm cho các nghĩa vụ nào hay chưa, cơ sở cho việc hạn chế, ngăn ngừa rủi ro khi nhận bảo đảm tiền vay bằng các tài sản này của chi nhánh. 3.4 Ðối với Ngân hàng Công thương Việt nam: Ðiều 19-Nghị định 178/NÐ-CP quy định: “tổ chức tín dụng được lựa chọn khách hàng vay để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản khi cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống đối với khách hàng vay…”. Theo quy định này, các khoản cho vay đối với khu vực kinh tế quốc doanh hay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đều được áp dụng hình thức bảo đảm tiền vay này miễn là hội tụ đủ điều kiện ghi trong Ðiều 20 của Nghị định. Ngân hàng công thương Việt nam cũng đã có công văn 1219/CV-NHCT5 quy định về cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng vay là khu vực kinh tế quốc doanh, nhưng điều kiện kèm theo đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh có phần khắt khe hơn. Thận trọng trong cho vay đối với khu vực này là cần thiết, song thiết nghĩ, ngân hàng công thương Việt nam nên giao quyền chủ động cho các chi nhánh trong việc lựa chọn khách hàng để cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. Vì theo đánh giá của các cán bộ tín dụng ngoài quốc doanh tại chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình, không phải không có những khách hàng đáp ứng đủ những điều kiện của Ðiều 20. Nhưng do các doanh nghiệp này chưa sử dụng hết tài sản để thực hiện cầm cố hay thế chấp cho chi nhánh, nên hình thức bảo đảm tiền vay này không được áp dụng, phần nào không khuyến khích được khách hàng vay vốn, đồng thời chi nhánh chịu thêm nhiều chi phí liên quan đến tài sản bảo đảm. KẾT LUẬN Bảo đảm tiền vay là một công cụ quan trọng hàng đầu trong việc bảo đảm cũng như nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh ngân hàng công thương Ba Ðình nói riêng và đối với hệ thống ngân hàng nói chung. Nhưng việc thực hiện bảo đảm tiền vay có hiệu quả hay không lại phụ thuộc chủ yếu vào quan điểm của các nhà làm luật về vai trò của bảo đảm tiền vay. Ở nước ta, cách tiếp cận về bảo đảm tiền vay cũng thay đổi qua nhiều giai đoạn, nó ảnh hưởng trực tiếp đến phương thức mà các cán bộ tín dụng cho vay, qua đó, thể hiện chất lượng của các khoản vay. Cùng với những thay đổi ở tầm vĩ mô, chi nhánh đã thực hiện công tác bảo đảm tiền vay theo đúng quy định, tuy nhiên do quá cẩn trọng, đặc biệt, đối với hoạt động cho vay ngoài quốc doanh, chi nhánh đã bỏ lỡ cơ hội tăng lợi nhuận của mình. Qua quan sát thực tiễn về tình hình thực hiện công tác bảo đảm tiền vay tại phòng tín dụng ngoài quốc doanh của chi nhánh ngân hàng công thương khu vực Ba Ðình, em đã phần nào thể hiện được thực trạng về công tác bảo đảm tiền vay tại chi nhánh. Trên cơ sở đó, em đã mạnh dạn đề xuất những giải pháp với mong muốn trong những năm tới, chi nhánh có thể tự hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay để có thể phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có của chi nhánh. Tuy nhiên,có thể nói, đây là một đề tài tương đối phực tạp đòi hỏi quá trình nghiên cứu và sự xâm nhập thực tế lâu dài. Vì vậy, do được hoàn thành trong một thời gian ngắn, bài viết này không thể tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong nhận được sự góp ý từ phía các thầy cô và những ai quan tâm đến vấn đề này. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: Ngân hàng thương mại-Edward W.reed, Ph.D và Edward K.Gill,Ph.D. Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính-Frederic S. Minskin. Luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức tín dụng. Các định chế tài chính-tài liệu biên dịch. Quản trị Ngân hàng thương mại-Peter S.Rose. Luật đất đai của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam. Các văn bản pháp luật liên quan đến bảo đảm tiền vay. Tạp chí Ngân hàng năm 1999-2001. Tạp chí thị trường tài chính tiền tệ năm 1999-2001. MỤC LỤC KẾT LUẬN…………………………………………………………………………. TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………….……………...

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docV8385.DOC
Tài liệu liên quan