Quan niệm của hêraclit về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất của vũ trụ

Lời mơ đầu Hêraclít (520 - 460 trước CN) - nhà triết học Hy Lạp cổ đại, người không chỉ nổi tiếng với học thuyết về "dòng chảy", mà còn trở nên bất hủ với quan niệm độc đáo về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối tập, về tính thống nhất của vũ trụ. "Dòng chảy" được thừa nhận là nguyên lý xuất phát trong quan niệm của Hêraclít về vũ trụ, là học thuyết xuyên suất toàn bộ hệ thống triết học của ông. Song, cái làm nên nét độc đáo, sự khác biệt rõ ràng nhất giữa Hêraclít với các nhà triết học trước ông và cùng thời đại với ông, thậm chí với cả các nhà triết học sau ông, lại không phải là học thuyết về “dòng chảy" hay quan niệm về sự vận động vĩnh viễn của vật chất, mà là quan niệm, có thể nói, hết sức độc đáo của ông về sự hài hòa, đấu tranh của các mặt đối lập trong vũ trụ và tính thống nhất của vũ trụ ấy quan niệm được coi là một phỏng đoán thiên tài của Hêraclít về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập.

docx18 trang | Chia sẻ: thanhnguyen | Ngày: 12/10/2013 | Lượt xem: 1054 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Quan niệm của hêraclit về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất của vũ trụ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Trong lịch sử triết học, Hêgen được coi là người có công lao to lớn trong việc xác định vai trò của logic trong nhận thức chân lý. Đánh giá cao công' lao này của ông, trong Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Tư tưởng cơ bản vĩ đại cho rằng không nên coi thế giới là tổng hoà những sự vật đã hoàn thành, mà là tổng hoà những quá trình trong đó các sự vật, bề ngoài hình như không biến đổi, cũng như các phản ánh tư tưởng của những sự vật vào đầu óc chúng ta, tức là những ý niệm, đều trải qua một sự biến đổi không ngừng là sự phát sinh và sự tiêu vong, trong đó, bất chấp tất cả những sự ngẫu nhiên bề ngoài và tất cả những bước thụt lùi tạm thời, một sự phát triển tiến lên rút cuộc vẫn được thực hiện, - tư tưởng cơ bản vĩ đại đó, đặc biệt là từ Hêgen trở đi, đã ăn sâu vào trong ý thức chung đến nỗi dưới hình thức chung ấy, nó hầu như không bị ai bác bỏ nữa". Có thể nói, bằng sự tổng kết toàn bộ tiến trình phát triển lịch sử của nhận thức, Hêgen đã xác định rõ trình độ của mỗi giai đoạn nhận thức và vai trò của các học thuyết logic: "Phép biện chứng: phép biện chứng bên ngoài, sự suy luận không đâu vào đâu, mà trong đó linh hồn của bản thân sự vật không được hoà tan. Phép biện chứng nội tại của đối tượng, nhưng thuộc về phương thức xem xét của chủ thể. Tính khách quan kiểu Hêraclít, tức là phép biện chứng, mà bản thân được hiểu như là một nguyên tắc". Điều đó cho thấy, Hêgen đã phân biệt phép biện chứng hay logic của ba loại đối tượng: chủ quan, hiện tượng và khách quan. Nhắc lại tư tưởng này của Hêgen, Lênin đã diễn đạt một cách rõ ràng hơn: “Phép biện chứng chủ quan: Trong đối tượng có phép biện chứng, nhưng tôi không biết, có lẽ đây chỉ là cái vẻ bề ngoài, chỉ là hiện tượng... Phép biện chứng hoàn toàn khách quan, coi như là nguyên lý của tất cả cái gì tồn tại". Theo Hêgen, chỉ có quy luật của ý niệm, ý niệm thuần tuý là kết tinh của tất cả các trạng thái, các ý niệm logic về tính chủ quan, về hiện tượng (khách quan) chỉ là sự tha hoá của ý niệm thuần tuý, "bởi vì ý niệm thuần tuý của nhận thức đã bị giam hãm như vậy trong tính chủ quan, nên nó là khuynh hướng muốn thủ tiêu tính chủ quan ấy đi, và chân lý thuần tuý, với tính cách là kết quả cuối cùng, cũng trở thành sự bắt đầu của một lĩnh vực khác và của một khoa học khác". Với luận điểm này của Hêgen, Ph.Ăngghen đánh giá rằng, ở Hêgen là chủ nghĩa duy vật lộn đầu xuống dưới, vì 'tư tưởng về sự chuyển hoá của ông đã đi đến mâu thuẫn mà, như Lênin nhận xét, "chính trong lúc ý niệm thiết định mình là tính thống nhất tuyệt đối của khái niệm thuần tuý và của thực tại của nó, và vì vậy tự ghép mình vào tính trực tiếp của tồn tại, thì với tính cách là tổng thể được hình thức ấy, ý niệm là giới tự nhiên". Theo đó, ở Hêgen thì ý niệm có tính thứ nhất, ý niệm logic chuyển hoá thành giới tự nhiên và như Lênin nhận xét rằng, ở Hêgen, chủ nghĩa duy vật đã ở trong tầm tay, nếu như từ ý niệm thuần tuý là điểm xuất phát của phép biện chứng, Hêgen xây dựng nên hệ thống logic biện chứng của ý niệm. Dựng lại phép biện chứng của Hêgen, đặt nó đứng bằng hai chân trên mảnh đất hiện thực, các nhà kinh điển của triết học Mác - Lênin đã chỉ rõ, ý niệm logic chỉ là sự phản ánh logic của thế giới khách quan. Rằng, "logic không phải là học thuyết về hình thức bên ngoài của tư duy, mà là học thuyết về những quy luật phát triển của "tất thảy mọi sự vật vật chất, tự nhiên và tinh thần", tức là học thuyết về những quy luật phát triển của toàn bộ nội dung cụ thể của thế giới và nhận thức thế giới, tức là sự tổng kết, tổng số, kết luận của lịch sử nhận thức thế giới". Như vậy, trong định nghĩa này đã bao quát ba dạng logic của ba đối tượng - cái vật chất, cái tự nhiên và cái tinh thần với tư cách là sự phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan, trong đó, có một logic xuyên suốt, thống nhất cả ba logic này và được gọi là logic học. Từ logic tự nhiên, khách quan hình thành nên logic trong nhận thức của con người. Logic trong nhận thức là các phạm trù, khái niệm đánh dấu mức độ và khả năng nhận thức của con người đối với thế giới: "Trước con người, có màng lưới những hiện tượng tự nhiên. Con người bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới tự nhiên. Người có ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên, những phạm trù là những giai đoạn của sự tách khỏi đó, tức là của sự nhận thức thế giới, chúng là những điểm nút của màng lưới, giúp ta nhận thức và nắm vững được màng lưới’. Như vậy, không những là logic, cái tĩnh tại, các quy luật của thế giới khách quan mà còn là cả sự chuyển hoá của chúng nữa cũng được phản ánh vào logic chủ quan, tinh thần, đó là bản chất của cái logic trong triết học Mác - Lênin. Nếu Hêgen mới chỉ cảm nhận thấy rằng, "vận động của ý thức giống như sự phát triển của toàn bộ đời sống của tự nhiên và tinh thần" là dựa trên "bản tính của những bản chất thuần tuý hợp thành nội dung của logic" thì Lênin đã khẳng định rằng, biện chứng Quan niệm của Hêraclit về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất của vũ trụ Hêraclít (520 - 460 trước CN) Hêraclít (520 - 460 trước CN) - nhà triết học Hy Lạp cổ đại, người không chỉ nổi tiếng với học thuyết về "dòng chảy", mà còn trở nên bất hủ với quan niệm độc đáo về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối tập, về tính thống nhất của vũ trụ. "Dòng chảy" được thừa nhận là nguyên lý xuất phát trong quan niệm của Hêraclít về vũ trụ, là học thuyết xuyên suất toàn bộ hệ thống triết học của ông. Song, cái làm nên nét độc đáo, sự khác biệt rõ ràng nhất giữa Hêraclít với các nhà triết học trước ông và cùng thời đại với ông, thậm chí với cả các nhà triết học sau ông, lại không phải là học thuyết về “dòng chảy" hay quan niệm về sự vận động vĩnh viễn của vật chất, mà là quan niệm, có thể nói, hết sức độc đáo của ông về sự hài hòa, đấu tranh của các mặt đối lập trong vũ trụ và tính thống nhất của vũ trụ ấy quan niệm được coi là một phỏng đoán thiên tài của Hêraclít về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Khi coi lửa là bản nguyên vật chất, là nguyên tố vật chất đầu tiên của mọi dạng vật chất, toàn bộ thế giới hay vũ trụ chẳng qua chỉ là sản phẩm biến đổi của lửa, "hết thảy mọi sự vật đều chuyển hóa thành lửa, lửa cũng chuyển hóa thành hết thảy sự vật" Hêraclít đã đi đến quan niệm về tính thống nhất của vũ trụ. Ông cho rằng vũ trụ - cái thế giới mà con người đang sống trong đó - thống nhất ở một cái duy nhất là ngọn lửa vĩnh hằng, bất diệt. Ông viết: "Thế giới là một chỉnh thể bao gồm vạn vật. Thế giới là đồng nhất đối với hết thảy mọi sự vật tồn tại trong nó. Thế giới ấy không do bất cứ vị thần nào sáng tạo ra, cũng không do bất cứ người nào sáng tạo ra. Thế giới là một ngọn lửa sống bất diệt (Chúng tôi nhấn mạnh - Đ.H.T) trong quá khứ hiện tại cũng như trong tương lai. Ngon lửa ấy cháy sáng trong một khoảnh khắc nhất định và cũng tàn lụi đi trong một khoảnh khắc nhất định theo những quy luật của nó". Sự thống nhất ấy của Vũ trụ được Hêraclít hình dung như là sự lan toả hương vị với nồng độ khác nhau trong khói thuốc từ một điếu thuốc đang được đốt cháy bởi lửa. Đánh giá quan niệm này của Hêraclít, V.I.Lênin coi đó là "một sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”. Khẳng định tính thống nhất của thế giới, của vũ trụ a ngọn lừa sống duy nhất, vĩnh hằng, Hêraclít cho rằng thế giới hiện thực hay vũ trụ đang tồn tại ấy là cái duy nhất (L’un), đồng thời cũng là cái đa (cái nhiều), đúng hơn là cái bội đa (Multiple). Quan niệm này đã đưa Hêraclít đến một trình độ khái quát triết học cao hơn, trừu tượng hơn về sự thống nhất của các mặt đối lập trong vũ trụ. Ông cho rằng, mọi cái đồng nhất đều luôn tồn tại trong sự khác biệt và đó là cái hài hòa của những cái căng thẳng, độc lập, cũng như sức căng của dây cung, dây đàn. Rằng "thiện và ác chỉ là một" (B58), sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già trước sau cũng đều là một"(B88). Coi đó là sự “tương phản", "tương thành" của sự vật trong vũ trụ Hêraclit khẳng định:"Đối lập tạo ra hài hòa, giống như cây cung và chiếc đàn sáu dây"(B51). Hết thảy mọi sự vật trong vũ trụ đều tồn tại trong thể thống nhất của cái phân chia được - cái không phân chia được, cái toàn bộ - cái bộ phận, cái đồng nhất - cái không đồng nhất, cái được sinh ra - cái không được sinh ra, cái chết - cái không chết... giống như "cây cung” tên gọi của nó là sống, nhưng tác dụng của nó là chết"(B48). Trong vũ trụ này hết thảy "những vật xung khắc lẫn nhau hợp thành một. Những âm điệu khác nhau hợp lại thành một hòa âm đẹp đẽ nhất"(B8). Các mặt đối lập ấy của sự vật, theo Hêraclít, luôn "trao đổi" với nhau trong sự thống nhất, như lạnh trao đổi với nóng để nóng lên và ngược lại, nóng trao đổi với lạnh để lạnh đi: ướt trao đổi với khô và khô trao đổi với ướt. Ngay trong mỗi con người Hêraclít khẳng định, sống và chết, trẻ và già, thức và ngủ, tỉnh táo và mơ mộng... cũng luôn trao đổi với nhau, "cái sau biến hóa thành cái trước, cái trước biến hòa lại trở thành cái sau”(B88). Và khi cùng tồn tại trong một sự vật, các mặt đối lập này luôn có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, như "bệnh tật khiến cho người ta thấy sức khoẻ quý hơn, cái ác làm cho cái thiện trở nên cao cả hơn, cái đói làm cho cái no dễ chịu hơn, cái mệt mỏi làm cho việc nghỉ ngơi có được sự thú vị hơn"(B111). Mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau ấy của các mặt đối lập trong sự vật, theo Hêraclít, "cũng giống như con nhện nằm ở giữa màng nhện, chỉ cần một con ruồi đụng phải đường tơ nào đó thì con nhện ấy lập tức phát hiện và tiến tới chỗ đó như thế là đụng đến đường tơ khiến cho nó đau đớn lắm không bằng. Cũng giống như linh hồn, khi thân thể bị thương tổn ở một chỗ nào đó thì linh hồn cũng tiến tới chỗ đó như thế là nó không chịu được nỗi đau đớn của thể xác, và đó là bởi linh hồn có một mối liên hệ chặt chẽ với thân thể"(B67). Quan niệm như vậy về các mặt đối lập trong sự vật cho thấy, Hêraclít đã nói đến "sự phân đôi của cái thống nhất" mà việc "nhận thức các bộ phận mâu thuẫn của nó", cái làm nên thực chất, bản chất, đặc trưng, đặc điểm cơ bản nhất trong tư tưởng biện chứng của ông, đã khiến cho nhà triết học Arixtốt, như nhận xét của Lênin, luôn phải "nát óc" và đấu tranh chống lại. Khẳng định thế giới hay vũ trụ vừa là cái duy nhất, vừa là cái bội đa và trong nó, các mặt đối lập vừa có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau, vừa có sự trao đổi, chuyển hóa lẫn nhau, Hêraclít cho rằng, chính với tư cách ấy mà thế giới hiện thực, vũ trụ này luôn tồn tại với sự hoàn hảo và hài hòa vốn có của nó. Sự hoàn hảo, tính hài hòa này của vũ trụ, theo quan niệm của Hêraclít, là sự thống nhất nội tại, là sư hòa hợp, sự cân bằng của các mặt đối lập cấu thành chỉnh thể (sự vật, hiện tượng, thế giới, vũ trụ). Rằng chính sự hoàn hảo và hài hòa ấy đã đem lại cho mọi sự vật, hiện tượng và cả vũ trụ này tính xác định, tính vững chắc và tính ổn định. Nhờ có sự hoàn hảo, hài hòa vốn có ấy mà mọi sự vật, hiện tượng và cả vũ trụ mới là nó, mới tồn tại. Nhưng sự hoàn hảo, hài hòa ấy theo Hêraclít, chi là tương đối, tính xác định, vững chắc và ổn định của mọi sự vật, hiện tượng và cả vũ trụ cũng là tương đối. Trong vũ trụ này không có cái gì là bất biến, là tuyệt đối, vĩnh viễn ngoại trừ sự vận động. Mọi sự hoàn hảo, hài hòa của vũ trụ đều có thể bị phá vỡ bởi cuộc chiến tranh giữa các mặt đối lập vốn có của nó. Nhờ sự đấu tranh, trao đối và chuyển hóa của các mặt đối lập mà mọi sư vật, hiện tượng và cả vũ trụ có thể chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác, vận động và biến đổi Đấu tranh của các mặt đối tập đó là nguồn gốc của vận động và biến đổi, là cái tạo nên “dòng chảy" liên tục của vũ trụ. Đấu tranh là cái nội tại, vốn có ở sự hoàn hảo, hài hòa, bởi mọi sự hoàn hảo và hài hòa đều được tạo thành không phải từ một cái gì đó ở bên ngoài, mang tính huyền bí, mà từ các phương diện khác nhau và đối lập nhau của chính nó. Ông viết: “Sự hài hòa được tạo ra bởi cái chỉnh thể và cái chưa chỉnh thể (cái bộ phận), cái phù hợp với nhau và cái không phù hợp với nhau, cái tích tụ và cái phân tán, cái hòa điệu và cái không hòa điệu, và từ cái chỉnh thể (đối lập) sinh ra cái một và từ cái một sinh ra cái chỉnh thể” (B10). Hêraclít nhấn mạnh, làm rõ sự khác biệt giữa các mặt đối lập để chỉ ra sự thống nhất của chúng và nhấn mạnh, làm rõ sụ thống nhất của các mặt đối lập để chỉ ra những khác biệt. giữa chúng. Qua đó, Hêraclít muốn nói rằng, con người không nên phán đoán về các sự vật qua cái vẻ bề ngoài mà đường như là hài hòa, hoàn hảo ấy của chúng, "không nên kết luận quá sớm về một việc nào đó" (B47) khi chưa nhận thức được các mặt đối lập của nó đấu tranh với nhau như thế nào để tạo nên sự hài hòa và trong sự hài hòa ấy, chúng lại đấu tranh với nhau như thế nào để tạo nên sự hài hòa mới. Bởi người ta thường nhận thấy các mặt đối lập của sự vật tách rời nhau và cho rằng chúng có thể tồn tại một cách tách biệt, không phu thuộc vào nhau, song trên thực tế, các mặt đối lập ấy lại tồn tại trong thể thống nhất, chúng thiết định lẫn nhau, quy định lẫn nhau, tạo thành sự hài hòa, thành một chỉnh thể hòa hợp, hoàn hảo. Đối lập là bản chất của cái hài hòa. Không có các mặt đối lập theo Hêraciít, mọi sự hài hòa trong nghệ thuật, trong cuộc sống và trong cả vũ trụ này cũng đều không có, bởi thiếu chúng sẽ không có gì để hòa hợp. Không có các mặt đối lập thì mọi sự đấu tranh đều không có, vì không có chúng sẽ không có gì để đấu tranh. Hài hòa và đấu tranh đó là hai mặt của một chỉnh thể thống nhất. Vũ trụ này là một chỉnh thể thống nhất bởi ngọn lửa sống vĩnh hằng không ngừng bùng cháy và lụi tàn theo logos của nó - Logos vũ trụ. Mọi chỉnh thể thống nhất (sự vật, hiện tượng thế giới, vũ trụ) theo Hêraclit, luôn vận động và biến đổi, luôn là một “dòng chảy" liên tục, nó vừa đồng nhất, vừa không đồng nhất với chính mình, nó tự khác biệt với chính mình một cách nội tại, vốn có. Khi được hình thành và ngày một tăng lên, muốn sự khác biệt ấy ngày càng “làm suy yếu” sự hòa hợp, tính hài hòa, tính chính thể nội tại của sự vật. Đó là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập. Các mặt đối lập càng mất đi sự phù hợp với nhau, thì chúng càng hợp với nhau cho một cuộc đấu tranh và sự đấu tranh giữa chúng càng mang tính chất căng thẳng, có được sự thắng lợi của một mặt đối lập, cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập sẽ tạo ra một sự vật mới, một chỉnh thể hòa hợp mới, chỉnh thể mới này lại tuân theo quy luật của “dòng chảy" vĩnh hằng và biến đổi phổ biến để đến lượt mình, nó lại sinh ra trong bản thân nó những sự khác biệt mới, những mặt đối lập mới và theo đó, một cuộc đấu tranh mới giữa các mặt đối lập mới lại xuất hiện. Khẳng định điều này qua sự biến đổi của lửa, Hêraclít cho rằng: "Sự chuyển hóa của lửa là: đầu tiên thành biển, một nửa biển thành đất, nửa còn lai thành gió xoáy… Đất lại hóa thành biến và tuân theo Logos mà trước kia, biển hóa thành đất đã tuân theo (B31). Khẳng định sự đấu tranh của các mặt đối lập là vĩnh hằng, Hêraclit còn cho rằng, đấu tranh là nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ và đó là một mặt trong "sự sống" của mọi cái đang diễn ra. Mặt khác trong "sự sống” ấy là tính hòa hợp, tính có trật tự, tính hài hòa. Một chỉnh thể thống nhất bao giờ cũng tồn tại với các mật đối lập của nó, giống như cái ác bao giờ cũng tồn tại với mặt đối lập của nó là cái thiện, cái chết với mặt đói lập của nó là cái sống... và ngược lại. Toàn bộ vấn đề là ở chỗ, mặt đối lập nào chiếm ưu thế trong một thời điểm cụ thể. Đó cũng là cái tất yếu trong “sự sống" của mọi cái đang tồn tại. Trong vũ trụ này không những luôn tồn tại một lực lượng phủ định, lực lượng tạo ra những sự khác biệt và các mặt đối lập đấu tranh với nhau, mà còn luôn tồn tại một lực lượng khẳng định, lực lượng kiến tạo cái chỉnh thể hài hòa, thống nhất từ chính những cái khác biệt và đối lập ấy. Những cái khác biệt, đối lập hợp nhất với nhau để từ những cái khác biệt, đối lập ấy xuất hiện một sự hài hòa, giống như những âm điệu khác nhau hợp thành một hòa âm, "tất cả mọi sự vật đều ra đời trong đấu tranh" (B8). Vốn là "linh hồn" của sự phủ định sự vật cũ, đấu tranh, theo Hêraclít cũng đồng thời là một yếu tố tích cực trong vũ trụ. Nó thể hiện phương diện năng động của tồn tại, là kết quả của nhu cầu và sự không thỏa mãn vĩnh hằng, là nguồn gốc của mọi sự biết đổi, đổi mới, nguồn gốc của “dòng chảy" liên tục trong vũ trụ. Sự hài hòa đó là kết quả của đấu tranh, đó cũng là "linh hồn" của vũ trụ. Và với tư cách đó, hài hòa là cái tuyệt vời của vũ trụ, cái làm nên sự hoàn hảo, sự vĩnh hằng của vũ trụ. Song, sự hài hòa ấy cũng luôn chứa đựng trong nó một yếu tố tiêu cực là xu hướng ngừng trệ và đứng im - đặc trưng của những cái "đang chết" trong vũ trụ. Cái "đang chết" ấy, theo Hêraclít, là vốn có trong vũ trụ, song không có gì phải lo ngại cái "đang chết" đó, bởi trong nó luôn có sự đấu tranh để "xoa dịu” và ngăn chặn không cho phép nó "chết" và chính xác hơn là khi "đang chết", nó lại trở nên mới mẻ, giống như mặt trời mỗi ngày đều mới mẻ để qua đó, duy trì sự tồn tại của cả nó lấn vũ trụ. Với quan niệm này, khi nói về sự sống và cái phủ định luôn bao hàm trong nó cái khẳng định, và ngược lại. Bí mật của mọi chỉnh thể thống nhất là ở tính phân đôi nội tại đó của mọi cái đang tồn tại. Bí mật của vũ trụ cũng là ở tính phân đôi nội tại, vốn có. Không đồng ý với quan niệm của nhà thơ mù Hôme về sự không tồn tại của đấu tranh trong lĩnh vực của Thượng đế và con người", quan niệm đã giữ địa vị của một tư tưởng thống trị ở các nhà tư tưởng tử thế kỷ XII đến thế kỷ IX trước Công nguyên, Hêraclít cho rằng đấu tranh giữa các mặt đối lập là hiện tượng phổ biến trong vũ trụ, không có đấu tranh sẽ không có bất cứ sự hài hòa nào và ngược lại, khi đấu tranh không còn thì mọi cái cũng biến mất (A22). Phản đối chủ trương của nhà toán học cổ đại, nhà triết học được người đương thời tôn vinh là "người cha của triết học thần thánh" - Pitago (571- 497 trước CN), người chủ trương loại trừ đấu tranh khỏi sự hài hòa và xác lập một sự hài hòa vĩnh hằng, sự hài hòa không có biến đổi trong vũ trụ, một "sự hài hòa chết" và bất động trong tự nhiên và trong cuộc sống, Hêraclít tuyên bố nên nhớ rằng, chiến tranh (ở ông chiến tranh được đồng nhất với đấu tranh - Đ.H.T) là phổ biến" (B80), chiến tranh là cha của vạn vật, cũng là vua của vạn vật" (Chúng tôi nhấn mạnh - Đ.H.T) (B53). Điều đó cho thấy, trong quan niệm của Hêraclít, đấu tranh giữa các mặt đối lập là tất yếu, là quy luật tất yếu của vũ trụ, là logos vũ trụ. Với ông, đấu tranh của các mặt đối lập là cái mang tính phổ biến, là nguồn gốc ra đời của mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ. Ông viết: "Tất cả đều sinh ra từ đấu tranh và từ tính tất yếu (B80). Với ông, đấu tranh giữa các mặt đối lập không phải là cái được đem vào cuộc sống và vũ trụ này từ đâu đó ở bên ngoài, mà là cái vốn có trong cuộc sống, trong vũ trụ. Mọi sự đấu tranh đều có thể dẫn đến tình cảnh bí đại, song nó là tất yếu của tồn tại, là cái nội tại, vốn có của cuộc sống, của vũ trụ - vũ trụ với tư cách là một sự hài hòa nào đó. Đấu tranh và hài hòa đó là sự thống nhất giữa các mặt đối lập, là một sự thống nhất tối cao nào đó, là sự hòa hợp và hài hòa của vũ trụ. Sự thống nhất và hài hòa tối cao ấy của vũ trụ, theo Hêraclít là sự thống nhất và hài hòa đầy bí ẩn, "sự hài hòa không trông thấy được", nhưng nó là sự hài hòa mạnh hơn sự hài hòa trông thấy được (B54). Vũ trụ là sự hài hòa bí ẩn, "sự hài hòa không trông thấy được” và mạnh hơn "sự hài hòa trông thấy được" trong quan niệm của Hêraclít có nghĩa rằng, sự hài hòa bí ẩn là sự hài hòa thần thánh" được hiểu theo nghĩa sự vượt trội của nó đối với mọi sự hài hòa hữu hạn - sự hài hòa của các sự vật, hiện tượng đơn nhất. Sự hài hòa của vũ trụ cần đến sự hài hòa của tất thảy sự vật hiện tượng đơn nhất, như sống và chết, thiện và ác, công bằng và bất công ... Nói chính xác hơn, sự hài hòa của Vũ trụ, trong quan niệm của Hêraclít, xa lạ với quan niệm thông thường của con người về sống và chết, thiện và ác, công bằng và bất công bằng trong lĩnh vực của sự hài hòa vũ trụ, các mặt đối lập có địa vị và vai trò ngang nhau, còn trong lĩnh vực của cuộc sống của con người, các mặt đối lập hoàn toàn không được địa vị và vai trò ngang nhau, mặc dù chúng không tồn tại tách biệt nhau. Gạt sang một bên quan niệm mang tính nửa thần thoại của Hêraclít về sự xuất hiện của Thượng đế, có thể nói rằng, ông là người đã đánh giá cao sự tự do của con người khi so sánh sự khác biệt giữa người tự do và người nô lệ với sự khác biệt giữa Thượng đế và con người. Ông cho rằng Thượng đế luôn thờ ơ với cuộc sống nô lệ của một số người này và sự tự do của một số người khác, song con người thì không thờ ơ với điều đó. Con người biết đến chiến tranh với tư cách là ông hoàng của tất cả mọi cái đang tồn tại và cũng biết "chiến tranh khiến cho một số người trở thành thần thánh, một số người trở thành người, một số người trở thành nô lệ và một số người khác thì trở thành người tự do" (B53). Khi nói tới chiến tranh hay đấu tranh với tư cách là nguồn gốc của mọi sự vận động và biến đổi, Hêraclít cũng đã nói tới chiến tranh chính nghĩa: "Chiến tranh là phổ biến, chính nghĩa tức là chiến tranh" (B80). Theo ông, cái chết vì chiến tranh chính nghĩa là cái chết đáng được tôn vinh: "Thần và người đều tôn sùng những người chết nơi chiến trường" (B24), "Cái chết càng vĩ đại thì người chết nhận được phần thưởng càng lớn" (B25). Đề cao chiến tranh và đấu tranh, coi chiến tranh như ông hoàng, song Hêraclít cũng luôn kêu gọi con người đừng có quá kiêu hãnh về chiến tranh và hãy cùng nhau dập tắt sụ kiêu hãnh ấy, bởi "đập tắt bệnh kiêu hãnh còn cần hơn là cứu hoả" (B43). Ông cũng luôn cho rằng chiến tranh và đấu tranh một khi vượt quá "độ", bất chấp “sự công bằng", "tính hợp lý" của vũ trụ sẽ bị chính vũ trụ trừng phạt (B94). Đấu tranh cho một luật pháp được thực hiện là cuộc đấu tranh cần thiết để giữ gìn tính có trật tự của vũ trụ, giữ gìn sự hài hòa của cuộc sống, của vũ trụ và "con người nên chiến đấu cho pháp luật giống như chiến đấu cho bức tường thành của mình"(B44). Không chỉ thế, Hêraclít còn kêu gọi con người hãy tự đấu tranh với chính mình, mặc dù “đấu tranh với trái tim là rất khó, bởi mỗi nguyện vọng đều phải trả giá bằng linh hồn" (B85). Tất cả những quan niệm ấy của Hêraclít về chiến tranh cho thấy, mặc dù ông coi "chiến tranh là cha của vạn vật", là “vua của vạn vật", song ông không phải là người tuyên truyền cho cuộc chiến tranh phi nghĩa giữa người với người. Có thể minh chứng cho điều đó bằng chính câu nói của ông rằng: "Người ưu tú nhất thà chiếm lấy một thứ chứ không cần tất cả những thứ khác. Đó là: thà rằng được cái quang vinh bất diệt chứ không cần những cái sớm nở tối tàn"(B29). Theo chúng tôi, việc Hêraclít nhấn mạnh vai trò của chiến tranh luôn gắn liền với việc ông thường xuyên kêu gọi người dân Hy Lạp hãy đứng lên tiến hành đấu tranh vũ trang để giải phóng các thành phố của đất nước mình khỏi ánh thống trị của Ba Tư. Về phương diện triết học, quan niệm của Hêraclít về chiến tranh chính là quan niệm của ông về sự đấu tranh giữa các mặt đối lập với tư cách là nguồn gốc của mọi cái đang diễn ra trong Vũ trụ. Nói các khác, ở Hêraclít, các khái niệm "chiến tranh" và "đấu tranh" mang một ý nghĩa triết học trừu tượng và do vậy, theo nghĩa đen của những khái niệm này thì "chiến tranh", “đấu tranh" không phải là những cái bắt buộc. Nếu vũ trụ là cái có trật tự, luôn vận động, biến đổi theo logos của nó và trong Vũ trụ ấy, "vạn vật ra đời đều dựa vào logos của nó" (B1), thì đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mỗi sự vật, hiện tượng phải diễn ra trong khuôn khổ của logos, chứ không phải trong khuôn khổ của cái vô trật tự, của thói tuỳ tiện vốn mâu thuẫn với logos vũ trụ. Có thể nói, đó là những quan niệm độc đáo của Hêraclít về tính thống nhất của vũ trụ, về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập trong vũ trụ ấy. Thế nhưng, trong lịch sử triết học, không phải nhà triết học nào cũng thừa nhận như vậy, cũng coi đó là đóng góp của Hêraclít cho sự phát triển của phép biện chứng. Chẳng hạn, Ph.Látxan, trong tác phẩm triết học của Hêraclít bí ẩn ở Êpheđơ" (xuất bản tại Béclin năm 1858), đã cố ý bỏ qua " cái tinh thần triết học Hy Lạp" chân chính cái giản dị và mộc mạc ấy của Hêraclít để "tối tân hóa", "phức tạp hóa", "Hêgen hóa" Hêraclít và những quan niệm độc đáo của ông về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập trong vũ trụ. Song, đã cố ý làm như vậy, Ph.Látxan vẫn buộc phải đồng ý với nhà triết học Philon rằng, trong quan niệm của Hêraclít, "thể thống nhất là cái gồm có hai mặt đối lập" và do vậy, “một khi phân thành hai, thì những mặt đối lập ấy liền xuất hiện", "cũng như thế các bộ phận của vũ trụ cũng chia làm hai và đối lập lẫn nhau: đất - thành núi cao và đồng bằng, nước - thành ngọt và mặn..." rằng "phải chăng nguyên lý này là nguyên lý mà, theo những người cô Hy lạp, Hêraclít vĩ đại và nổi tiếng của họ đã coi là trung tâm của triết học của ông ta và ông ta tự hào coi đó là một phát minh mới"? Bác bỏ mọi đánh giá sai lầm kiểu như Ph.Látxan đối với tư tưởng biện chứng của nhà triết học Hêraclít vĩ đại và nổi tiếng, các nhà sáng lập triết học Mác - Lênin đã coi quan niệm độc đáo ấy về tính thống nhất của vũ trụ, về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập trong vũ trụ là một phỏng đoán thiên tài của Hêraclít về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập. Heraclitus (tiếng Hy Lạp: Ἡράκλειτος - Herákleitos, phiên âm tiếng Việt (từ tiếng Pháp): Hêraclit (Héraclite); khoảng 544 TCN – 483 TCN) xuất thân trong một gia đình quý tộc ở Ionia nhưng ông sống một cuộc đời rất nghèo khổ và cô độc. Về cơ bản, ông là một nhà triết học duy vật và được coi là ông tổ của phép biện chứng. Những tư tưởng biện chứng của ông rất sâu sắc, tuy vậy cách thức thể hiện lại rất phức tạp và khó hiểu vì vậy ông thường được gọi là là nhà triết học tối nghĩa. Hiện nay, tài liệu của ông chỉ còn khoảng 130 đoạn bàn về tự nhiên. Trong khi Thales cho rằng bản nguyên của thế giới là nước thì Heraclitus lại cho rằng lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi vật: “Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa biến thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng”. “ Lửa sống nhờ đất chết, không khí sống nhờ lửa chết, nước sống nhờ không khí chết, đất sống nhờ nước chết”.[1] Heraclitus cho rằng, vũ trụ không do ai sáng tạo ra, luôn luôn là lửa, sống động, vĩnh cửu, bùng cháy theo những quy luật của mình: “Thế giới này chỉ là một đối với mọi cái. Không do một thần thánh hay một người nào đó sáng tạo ra nó, nhưng nó mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh cửu, như là độ đo của những cái đang rực cháy, và mức độ của những cái đang lụi tàn”.[1] Theo Heraclitus, sự phát sinh ra vũ trụ từ lửa là con “đường đi xuống”, đồng thời cũng là sự “thiếu hụt lửa”. Và, vũ trụ xét về tổng thể là cái đơn nhất nhưng cái đơn nhất đó là tổng thể của sự thống nhất của vạn vật, trong vũ trụ đơn lẻ này những sự vật hiện tượng nội tại nó tự biến đổi đa dạng, vận động chuyển hóa sang mức độ khác nhau, mà tất cả cơ sở của sự biến đổi ấy là lửa. Theo Heraclitus, “lửa bao quát tất cả và phân xử tất cả”. Hỏa hoạn của vũ trụ cũng đồng thời là tòa án của vũ trụ. Theo đó, hỏa hoạn vũ trụ không chỉ là một sự kiện vật lý đơn thuần mà còn là một hành vi “đạo đức”. Bản thân vũ trụ không phải do chúa trời hay một lực lượng siêu nhiên nào tạo ra mà chính là lửa. Ngọn lửa trong quan niệm của Heraclitus mang tính vật chất là sự so sánh trực quan cảm tính với logos trừu tượng – cái được dùng để chỉ bản chất lôgic – lý tính của tồn tại và quy định trật tự, như là “độ” của mọi quá trình. Do vậy, ngọn lửa mang tính vật chất của Heraclitus là “có lý tính” có liên quan tới logos là “ngọn lửa có lý tính”. Ngọn lửa của Hêraclit thể hiện tính cơ động và tính tích cực của tồn tại, đồng thời cũng thể hiện bản chất ổn định và trật tự bất biến của thế giới, bản chất mang tính vật chất. Nếu như Thales coi nước là khởi nguyên của thế giới với tư cách là một thực thể sinh ra mọi vật thì Heraclitus đã hiểu khởi nguyên theo nghĩa độ cao hơn, coi lửa không chỉ là thực thể sản sinh ra mọi vật, mà còn là khởi tổ thống trị toàn thế giới. Lửa đó sản sinh ra không chỉ các sự vật vật chất, mà cả những hiện tượng tinh thần, kể cả linh hồn con người. Với quan niệm coi toàn bộ vũ trụ như một ngọn lửa bất diệt, thế giới này là lửa thì ông đã tiếp cận được những quan niệm duy vật và nhấn mạnh tính bất diệt và vĩnh viễn của thế giới. Ông đã thể hiện những tư tưởng đầu tiên về sự thống nhất vật chất của thế giới khi coi lửa là bản nguyên của tất thảy mọi vật. Đánh giá quan niệm này của Hêraclit, Lênin coi đó là “một sự trình bày rất hay những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng”.[2] Tuy nhiên, có thể thấy rằng quan niệm duy vật của ông còn rất mộc mạc, thô sơ. Bởi nó xuất phát từ việc ông chỉ dựa vào quan sát thực nghiệm để kết luận, khi quan sát Heraclitus đã nhận thấy vai trò rất to lớn của lửa đối với đời sống của con người và cũng do ảnh hưởng của thần thoại Hy Lạp (nhưng ông có cách giải thích ngược lại với thần thoại). Tuy vậy thì quan niệm đó đã góp phần chống lại những tư tưởng mang tính chất tôn giáo thời bấy giờ. Nó cũng khẳng định quá trình nghiên cứu tư tưởng không thể không dựa vào việc tìm hiểu nguyên nhân từ thực tiễn cũng như cơ sở và nguồn gốc của tư tưởng từ thực tiễn. Tư tưởng về sự vận động biến đổi của sự vật (dòng chảy phổ biến) Dưới con mắt của Heraclitus, mọi sự vật trong thế giới của chúng ta luôn luôn thay đổi, vận động, phát triển không ngừng. Thế giới như một dòng chảy, cứ trôi đi mãi. Từ đó, ông đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Không có gì thường xuyên biến đổi như một dòng sông nhưng cũng không có gì ổn định như dòng sông. Bởi khi nó vận động cũng là khi nó đứng im. Nói cách khác, tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đứng im, tức là cái mà nhờ đó dòng sông là xác định, ổn định và bất biến. Ở Heraclitus, không những sông mà cả mặt trời cũng thường xuyên và liên tục đổi mới, cũng như dòng sông, ông cho rằng không có gì ổn định và bất biến hơn mặt trời luôn chiếu sáng. Heraclitus đã tiếp cận được với những tư tưởng rất cơ bản của phép biện chứng. Ông nói: “trong cùng một dòng sông ấy chúng ta lội xuống và không lội xuống, chúng ta có và không có”. Đó chính là những tư tưởng về mối liên hệ phổ biến tất yếu của qui luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. không những sông mà cả mặt trời cũng thường xuyên và liên tục đổi mới, cũng như dòng sông, ông cho rằng không có gì ổn định và bất biến hơn mặt trời luôn chiếu sáng đưa ra chuẩn mực của mọi sự vật đó là logos. Đó là cái chung phổ biến, tính bền vững một mối liên hệ mang tính xuyên suốt của tiến trình thế giới. Tính khách quan của logos thể hiện ở chỗ, logos được hiểu như là những quy luật bất biến, vĩnh hằng của vũ trụ, là cái mang tính quy luật, là giới hạn hay độ mà các sự vật đang biến đổi phải tuân theo: “logos là cái vĩnh viễn tồn tại…vạn vật ra đời đều dựa vào logos của nó”. Heraclitus khẳng định logos là quy luật biến đổi phổ biến của vạn vật trong vũ trụ: sự chuyển của Lửa là đầu tiên thành biển, biển thành đất và thành gió xoáy...đất lại hóa thành biển và tuân theo logos mà trước kia, biển hóa thành đất đã tuân theo. Bản thân logos là sự thống nhất của những mặt đối lập. Vũ trụ là một thể thống nhất nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau. Những cuộc đấu tranh đó luôn luôn diễn ra trong một sự hài hòa nhất định và bị quy định bởi logos. Còn khi hiểu logos với tư cách là lời nói, học thuyết thì logos trong quan niệm của Heraclitus mang tính chủ quan. Cái logos nằm ngay trong lời nói, trong công việc, trong hiện tượng cảm nhận. Nó là yếu tố hợp lý tồn tại, là lời nói hợp lý của tự nhiên: “Tuy rằng logos tồn tại vĩnh viễn, ta không hiểu được nó trước lúc nghe thấy nó cũng như lần đầu tiên nghe thấy nó. Nhưng tất cả đều xảy ra theo cái lý ấy và người ta thì giống như những người không biết gì khi phải nói những lời và làm những việc như những lời và việc mà tôi trình bày lúc phân chia mỗi vật theo bản chất và giải thích theo thực chất của vật ấy. Còn những người khác thì họ không biết cái mà họ làm lúc tỉnh, ý như là họ quên cái mà họ làm trong những giấc mơ”.[3] Khi hiểu logos với nghĩa chủ quan, tức là Heraclitus coi logos là chuẩn mực của mọi hoạt động suy nghĩ của con người. Và theo ông, ai tiếp cận được với logos thì người đó càng thông thái. Logos của tâm hồn con người và logos của thế giới sự vật, là một logos được xem xét trên hai phương diện: thế giới nội tâm của con người, tính chủ quan của nó và cấu trúc bên ngoài của các sự vật. Nếu chúng giống nhau và trùng hợp với nhau, nếu logos chủ quan của “người tốt nhât” một cách nào đó là đồng nhất với logos khách quan của sự vật, thì từ đó suy ra rằng việc nhận thức logos của thế giới bên ngoài là có thể có được bằng con đường tự nhận thức bằng các lỗ lực của bản thân là cái duy nhất tạo thành phẩm giá cá nhân, công lao cá nhân. Quan niệm của Heraclitus về logos chủ quan một cách cơ động, tức là ông coi một cái sinh động và phát triển nội tại luôn có mối liên hệ khăng khít với logos khách quan, chứ không phải một cách đứng im. Heraclitus đã tiếp cận được những quan niệm đúng đắn khi cho rằng về nguyên tắc thì logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan. Tức là, những quy luật vận động khách quan của thế giới (là logos) được coi là tiêu chuẩn đánh giá hoạt động tư tưởng, suy nghĩ của con người. Quan điểm về con người về nhận thức Heraclitus đánh giá cao vai trò của các giác quan trong nhận thức các sự vật đơn lẻ – tức là nhận thức cảm tính. Theo ông, nhận thức cảm tính cho phép con người tìm được cái lý. Heraclitus cho rằng nhận thức nghiên cứu vũ trụ, logos phải dựa trên cơ sở của cái nhìn và nghe thấy: “tôi thích cái gì mà có thể nhìn thấy được và nghe thấy được” – ông nói. Tuy vậy, nhận thức đó mới chỉ dừng lại ở nhận thức cái bề ngoài và có nhiều hạn chế. Vì vậy, theo Heraclitus để nhận thức được đầy đủ về sự vật – nhận thức được chân lý cần phải phải có lý trí – tức là nhận thức bằng lý tính. Đó chính là chìa khóa giúp con người nhận thức được về logos. Ông viết: “tư duy có một ý nghĩa vĩ đại và sự thông thái chính là ở chỗ nói lên chân lý, ở chỗ lắng nghe tự nhiên rồi hành động thích hợp với tự nhiên”.(10) Và theo ông, không phải ai cũng hiểu được chân lý – tức là nhận thức được logos ngoại trừ những nhà thông thái. Và những nhà thông thái đó là do họ sống tuân theo logos. Ông cho rằng linh hồn của mỗi con người là trạng thái quá khứ của lửa. Linh hồn con người gồm hai mặt đó là phần ẩm ướt – tức là thiếu sự hiện diện của lửa thì đó là những người xấu. Còn những người mà linh hồn có nhiều lửa thì đó là người tốt. Như vậy, theo Heraclitus thì linh hồn mỗi con người đã bao gồm sự thống nhất của hai mặt đối lập – cái ẩm ướt và lửa. Ở người nào càng nhiều yếu tố lửa tức là tâm hồn được khô ráo thì đó là người tốt. Lửa trong tâm hồn là logos của tâm hồn, phần lớn loài người sống theo ý của riêng mình không tuân theo logos vì vậy họ là những người tầm thường. Khi coi linh hồn của con người cũng là cái được sinh ra từ một thực thể vật lý là lửa và cũng là vạn vật trong vũ trụ, trong nó không có một đặc trưng nào của cái siêu tự nhiên mà chỉ mối quan hệ với các yếu tố vật chất, nó là sản phẩm biến đổi huyền diệu của lửa và do vậy là cái quy định mọi hành vi của thể xác và luôn có khát vọng vượt ra khỏi thể xác.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxlich su triet hoc co dai.docx