Tiểu luận Kinh tế tri thức với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta

Nền kinh tế tri thức là bước phát triển tất yếu của xã hội loài người . Rõ ràng vấn đề tri thức là vấn đề hết sức mới mẻ và nhạy cảm . Đây không phải là một bước biến đổi bình thường mà là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại : Nền kinh tế , chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức , nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ . Sự biến đổi về lượng dẫn tới sự biến đổi về chất . Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước rất cần nguồn tri của cải tri thức . Vấn đề đặt ra là chúng ta phải làm gì ? Và phát triển nền kinh tế ra sao ? . Nó vừa là thời cơ vừa là thách thức với chúng ta , chúng ta phải tăng cường nghiên cứu nâng cao nhận thức , tìm ra cánh quản lý kinh tế tri thức . Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là xây dựng cơ cấu lãnh đạo cấp nhà nước . Tiêu chuẩn lại hệ thống sáng tạo kỹ thuật và sáng tạo tri thức , phối hợp tính chất , tập chung lực lượng nắm chắc công nghệ hoá kĩ thuật cao làm cho kinh tế khoa học kĩ thuật trở thành lực lượng sản xuất thứ nhất hướng tới cái lợi tránh cái hại trong tiến trình tiến tới Kinh tế tri thức trong phạm vi toàn thế giới , thực hiện phát triển bền vững nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa . Chúng ta nên nhớ nhiệm vụ của chúng ta mỗi sinh viên trong nền kinh tế tri thức thế kỷ XXI này .

doc23 trang | Chia sẻ: aloso | Lượt xem: 1633 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tiểu luận Kinh tế tri thức với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Phần A : Mở đầu Kinh tế tri thức đề tài được nhiều cuộc hội thảo quốc tế nhiều công trình nghiên cứu quan tâm . Sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ hiện đại đã làm biến đổi sâu sắc nền kinh tế thế giới tạo ra một bước ngoặt mới trong lịch sử phát triển của loài người . Sự xuất hiện vận động và phát triển của nền kinh tế tri thức đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà lãnh đạo và các giới khoa học trên thế giới .Việt Nam cũng vậy : Kinh tế tri thức đặt trong chiến lược phát triển chung của đất nước. Ngày 19.5.2000 , tại lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh ( 19.5.1890 - 19.5.2000 ) Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã nêu rõ : " Trong thời đại cách mạng thông tin hiện nay , chúng ta không có sự lựa chọn nào khác là phải tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới nhất của thời đại để hiện đại hoá nền kinh tế, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo từng hướng , từng bước hình thành nền kinh tế trí thức , có năng lực cạnh tranh với giá trị gia tăng ngày càng cao " (1). Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần IX , trong phần : " Phát triển kinh tế " nêu lên từng bước phát triển kinh tế tri thức , " Con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian , vừa có những bước tuần tự , vừa có thể nhảy vọt , phát huy lợi thế của đất nước , tập trung mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tưụ về công nghệ và khoa học , từng bước phát triển kinh tế tri thức "(2) . Trong chiến lựơc phát triển kinh tế xã hội 2000- 2001 Đảng ta nêu rõ quan điểm : " Công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá ngay từ đầu và trong suốt giai đoạn phát triển . Nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội , từng bước phát triển kinh tế tri thức . "(3) Kinh tế tri thức là vấn đề mới mẻ và đầy nhạy cảm . Đây là bước ngoặt có tính lịch sử và trọng đại . Nền Kinh tế công nghiệp chuyển sang Kinh tế tri thức ( Kinh tế hậu cần công nghiệp ) văn minh loài người chuyển sang văn minh trí tuệ . Do tính bức xúc và mới mẻ của nền Kinh tế tri thức . Sau khi nghiên cứu học phần triết học , để vận dụng kiến thức được học tập và nghiên cứu cụ thể , tôi chọn đề tài : " Kinh tế tri thức với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta . " Phần B . Nội dung I.Kinh tế tri thức bước phát triển tất yếu của lực lượng sản xuất 1 . Sự phát triển tất yếu của lực lượng sản xuất Từ lịch sử văn minh nhân loại đến nay , nhìn từ góc độ tiến bộ kĩ thuật và lực lượng sản xuất phát triển , phát triển kinh tế có thể chia làm ba giai đoạn : Giai đoạn Kinh tế sức lao động . Giai đoạn Kinh tế tài nguyên thiên nhiên và giai đoạn Kinh tế trí lực . Từng giai đoạn phát triển của lực lượng sản xuất , nền Kinh tế tri thức là sự phát triển tất yếu của lực lượng sản xuất : ta có thể phân tích 3 giai đoạn trên , để ta có thể thấy được nguyên lí của sự phát triển . a. Giai đoạn Kinh tế sức lao động : Giai đoạn này phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào sự chiếm hữu về sự phân phối nguồn tài nguyên sức lao động . Do khoa học không phát triển , nên khả năng khai thác nguồn tài nguyên của nhân loại rất thấp . Đối với đại đa số nguồn tài nguyên mà nói thì vấn đề thiếu hụt hoàn toàn không nổi cộm lên một cách đột xuất : Ví dụ mãi đến thế kỷ XIX mọi người còn cho rằng rừng không thể phá hết được . Vì thế sức người là đối tượng chiếm đoạt chủ yếu , có sức người thì có thể khai thác tài nguyên , phát triển kinh tế và có được của cải . Mục đích chiến tranh của Thành Cát Tư Hãn chủ yếu là cướp đoạt sức người còn hoạt động buôn bán nô lệ ở phương Tây thì kéo dài cho mãi đến thế kỷ thứ XIX mới chấm dứt . Kinh tế sức lao đông bắt đầu từ giai đoạn đầu của văn minh nhân loại , kéo dài liên tục mấy ngàn năm đến thế kỷ thứ XIX ( đến nay một số nước trên thế giới vẫn thuộc giai đoan Kinh tế sức lao động ) trong giai đoạn phát triển kinh tế này con người dùng kĩ thuật nguyên thuỷ , những công cụ lao động phổ thông như : cày, cuốc , dao ,búa ... và những công cụ giao thông như : xe ngựa , thuyền gỗ ... phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào ngành sản xuất thứ nhất - Ngành công nghiệp - . Mặc dù trong mấy ngàn năm khoa học kinh tế có phát triển công cụ sản xuất không ngừng được cải tiến nhưng cho đến trước cách mạng công nghiệp thế kỷ thứ XIX trình độ sản xuất vẫn không hề thay đổi . Năng suất lao động thời kì này chủ yếu dựa vào sức người . Trong giai đoạn kinh tế sức lao động phân phối sản xuất tiến hành chủ yếu dựa vào chiếm hữu tài nguyên sức lao động . Mặc dù sự chiếm hữu đất đai có tác dụng chủ yếu đối với khu vực dân số ít như vùng duyên hải đông nam Trung Quốc , lưu vực Lưỡng Hà Ân Độ . Lưu vực sông Nin Ai Cập ... Nhưng nhìn từ góc độ toàn thế giới phân phối sản xuất chủ yếu vẫn dựa vào tài nguyên sức lao động , hoặc thông qua nguồn tài nguyên sức lao động . Trong giai đoạn Kinh tế sức lao động cuộc sống của đại bộ phận dân nghèo họ không thể chống cự nổi những mất mát về kinh tế do thiên tai gây ra . Giáo dục không được phổ cập . Người mù chữ chiếm đại đa số , nhân tài không được phát huy . b . Trong giai đoạn Kinh tế tài nguyên : Là phát triển kinh tế chủ yếu quyết định bởi sự chiếm hữu và phân phối tài nguyên thiên nhiên . Do khoa học kinh tế không ngừng phát triển khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên của nhân loại không ngừng tăng làm cho đại đa số tài nguyên trở nên thiếu , các cuộc chiến tranh thế giới từ thế kỷ XIX đến nay chủ yếu nhằm mục đích cướp đoạt hoặc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên . Trong điều kiện quốc gia độc lập tự chủ có nguồn tài nguyên thì có thể phát triển kinh tế . Sự thật chứng minh : Trong thời kỳ hoà bình kinh tế tăng trưởng có thể phân phối một cách hữu hiệu nhất nguồn tài nguyên thiên nhiên . ( nhưng phải có sự điều tiết vĩ mô ) . Từ thế kỷ XIX đến nay các nước chủ yếu trên thế giới đều lần lượt hoàn thành các cuộc càch mạng khoa học kỹ thuật , khoa học kinh tế có sự phát triển mạnh mẽ : Máy kéo , máy tiện ... Đã thay thế công cụ sản xuất thủ công : ô tô , tàu hoả ... thay thế phương tiện giao thông lạc hậu , lao động được nâng cao . Tuy nhiên vẫn không có tác dụng quyết định . Sắt , than , dầu mỏ ... là nguồn tài nguyên chủ yêú , phát triển sản xuất máy móc đã nhanh chóng trở thành nguồn tài nguyên thiếu hụt , bắt đầu khống chế kinh tế phát triển vì vậy phát triển kinh tế giai đoạn này chủ yếu quyết định bởi sự chiếm hữu tài nguyên thiên nhiên . Trong giai đoạn Kinh tế tài nguyên đã xuất hiện một cuộc đại phân công lao động . Thương nghiệp trở thành ngành độc lập hình thành tầng lớp thương nhân làm cho quy mô trao đổi hàng hoá tăng nhanh , phạm vi trao đổi mở rộng , hình thức trao đổi ngày càng phức tạp từ đó hình thành nên thị trường . Thị trường không chỉ là một khoảng trao đổi mà trở thành tổng hoà của các loại trao đổi . Sự hình thành thị trường đã thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của kinh tế tài nguyên . Trong giai đoạn này sự phân phối sản xuất được tiến hành chủ yếu dựa vào chiếm hữu tài nguyên thiên nhiên ( bao gồm tư liệu sản xuất hình thành qua lao động ) . Cho nên năng xuất lao động tăng cao của cải vật chất tăng lên nhiều nhưng mức sống của quảng đại quần chúng không tăng theo tỷ lệ thuận . Các nước chủ yếu ở phương Tây phải bỏ ra 100 năm để giải quyết vấn đề no ấm phải dùng một nửa thế kỷ để khá giả . Sau đó mới dần dần giàu có . Thời kỳ này về cơ bản đã phổ cập giáo dục bậc trung học , bắt đầu có sự lưu chuyển nhân tài khai thác tài nguyên trí lực chỉ ở mức tương đối . Qua hai giai đoạn trên ta thấy loài người cần có một nền kinh tế mới để phục vụ nhu cầu của con người . Đó là nguyên nhân chính , tất yếu chuyển sang nền kinh tế tri thức của nhân loại, còn có nguyên nhân sâu xa ở chỗ : " Các nhu cầu của cuộc sống , bao gồm nhu cầu về ăn mặc nhu cầu về tinh thần , trong đó có nhu cầu về vật chất ( ăn mặc , đi lại , chữa bệnh ...) sẽ tăng đến giới hạn . Nhưng nhu cầu về tinh thần (học tập, nghiên cứu sáng tạo , hưởng thụ văn hoá nghệ thuật ...) . Sẽ tăng vô hạn ."(4) ( nhận định của Ăng-ghen ) . Bởi vậy các sản phẩm phục vụ nhu cầu tinh thần sẽ tăng vô hạn do đó chỉ có nguồn tài nguyên tri thức mới có thể đáp ứng nhu cầu đó . Theo tính tất yếu của lịch sử thì : Kinh tế tri thức phát triển đầy đủ ở thế kỷ 21 ( Nói theo tư duy triết học là sự phủ định biện chứng tức phủ định có kế thừa chủ nghĩa hiện đại thế kỷ 20 ). c. Giai đoạn kinh tế tri thức : là giai đoạn phát triển kinh tế chủ yếu dựa trên sự chiếm hữu và phân phối tài nguyên trí lực tức khoa học kinh tế trở thành lực lượng lao động sản xuất duy nhất . Kinh tế thế giới sẽ ở vào giai đoạn Kinh tế tri thức ở giai đoạn này. Do sự phát triển cao độ khoa học kinh tế , kết quả nghiên cứu khoa học kinh tế cũng nhanh chóng trở thành hàng hoá , khả năng khai thác tài nguyên kinh tế tri thức thay thế cho tài nguyên thiên nhiên đang bị cạn kiệt cũng tăng nhanh . Ví dụ : Tụ biến nhiệt hạch , điều chế làm cho nước biển thành xăng , có thể làm cho đá silic biến thành máy tính . Do vậy , vai trò của tài nguyên thiên nhiên bị chuyển xuống tầng thứ yếu . Khoa học kinh tế trở thành nhân tố quyết định sự phát triển nền kinh tế thế giới . Sự phát triển khoa học kinh tế mới cao và sự ứng dụng khoa học kinh tế mới cao đã tạo ra một cuộc cách mạng mới cuộc cách mạng : Hậu công nghiệp . Nhìn từ góc độ lực lượng sản xuất khoa học kĩ thuật trở thành nhân tố thứ nhất , nhìn từ góc độ kết cấu ngành nghề thì các ngành nghề truyền thống như ngành sản xuất thứ nhất - Nông nghiệp - ngành sản xuất thứ hai - Công nghiệp - ngành sản xuất thứ ba - Dịch vụ - lại không thể chứa đựng , bao trùm các ngành khoa học công nghệ kĩ thuật mới cao . Thí dụ như ngành công nghệ sinh học , tuy thuộc phạm trù của ngành thứ nhất nhưng bản chất lại hoàn toàn khác Ngành nông nghiệp truyền thống , Ngành công nghệ thông tin là sự kết hợp của Ngành sản xuất thứ hai với Ngành sản xuất thứ ba nhưng lại khác hoàn toàn về bản chất , nếu so với các ngành nghề vốn có . Vì vậy có thể gọi ngành công nghiệp mới cao này là Ngành sản xuất thứ tư . Ngành sản xuất thứ tư này sẽ đứng đầu trong nền Kinh tế tri thức . Nhìn từ góc độ thị trường thì quan niệm thị trường truyền thống cũng bắt đầu thay đổi . Trước hết phải tăng cường tác dụng chỉ đạo vĩ mô , nếu trạng thái vô trật tự sẽ gây cản trở cho sự phát triển kinh tế tri thức ngoài ra quan niệm về thị trường tĩnh quan niệm về chiếm hữu thị trường quan niệm về mở rộng thị trường trên số lượng cũng cần thay đôỉ tương ứng . Nhìn từ góc độ triết học một phương thức mới ra đời ưu thế hơn phương thức cũ như là nguyên lý của sự phát triển là quy luật hiện thực khách quan cho sự phát triển tất yếu của nhân loại . Sự tăng nên về lượng dần sẽ phá vỡ giới hạn của nó , biến thành chất khác . Nguyên nhân quan trọng hơn để đưa ra quan niệm về Kinh tế tri thức là : nếu dựa vào sự phát triển cao độ của nền Kinh tế tài nguyên thì không thể giải quyết được vấn đề thế giới trước mắt . Lấy vấn đề nghèo đói làm thí dụ : Từ năm 1970 đến năm 1990 , Kinh tế tài nguyên phát triển cao độ mà không nổ ra chiến tranh thế giới , nhiều nước phát triển và hầu như tất cả các tổ chức Quốc tế đều quy định kế hoạch viện trợ cho các nước chưa phát triển , nhưng tình trạng nghèo đói của các nước đang phát triển không có gì thay đổi ngày càng xa cách các nước phát triển . Điều này nói lên rằng ngay trong nền kinh tế tài nguyên thì sự cướp đoạt tài nguyên thiên nhiên cũng không thể giải quyết được vấn đề . Chỉ có bằng Kinh tế tri thức , dùng nguồn trí lực để khai thác tài nguyên thiên nhiên mới có thể giải quyết được . Ví dụ một số quốc gia và khu vực như Singapo , Hàn Quốc , Hồng Kông đều không có tài nguyên thiên nhiên giàu có , nhưng các nước này đã dựa vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên trí lực mà xây dựng lên nền kinh tế phát triển như ngày nay. Đương nhiên , trong sự phát triển Kinh tế tri thức cũng tồn tại nhiều vấn đề ví dụ : Vấn đề thất nghiệp . Trước mắt đối với các nước phát triển , tuy công nghệ kĩ thuật mới phát triển với tốc độ nhanh nhưng không mang lại nhiều việc làm , khoảng cách giữa yêu cầc tố chất trí lực cao của xí nghiệp kĩ thuật mới cao so với tố chất lao động chân tay hiện có không thể rút ngắn trong thời gian ngắn. Xét cho cùng nền kinh tế tri thức là cái tồn tại tất yếu trong thế kỷ này nó sẽ phục vụ nhu cầu của chúng ta . 2 . Khái quát chung về Kinh tế tri thức . 2.1. Khái niệm Tổng hợp các khái niệm từ 30 năm nay ta có thể định nghĩa : Kinh tế tri thức là nền kinh tế mà trong đó nhân tố quan trọng nhất là việc chiếm hữu phân phối nguồn trí lực và việc sáng tạo , phân phối sử dụng tri thức trong các ngành sản xuất có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao . Đơn giản ta có thể nói như nhà chính trị Đặng Tiểu Bình chỉ ra là : " Thời đại kinh tế trong đó khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất thứ nhất " . 2 . 2. Đặc điểm chủ yếu của nền Kinh tế tri thức Kinh tế tri thức là kinh tế phát triển trong xã hội tri thức hoá ở mức độ cao theo tôi có 8 đặc điểm nổi bật đó là . 2 . 2.1.Kinh tế phát triển bền vững . Kinh tế tri thức là kinh tế thúc đẩy điều hoà giữa con người và thiên nhiên là nền kinh tế phát triển bền vững . Đến mục tiêu phát triển bền vững , điều hoà giữa con người và thiên nhiên , tư tưởng chỉ đạo phát minh kỹ thuật công nghiệp đã thay đổi .Tư tưởng chỉ đạo phát minh kỹ thuật truyền thống là đơn nhất , tận dụng hết khả năng lợi dụng tài nguyên thiên nhiên , để dành lấy lợi nhuận cao nhất : Không đếm xỉa hoặc đếm xỉa rất ít đến lợi ích môi trường , lợi ích sinh thái và lợi ích xã hội , phát triển kinh tế trên cơ sở nguồn tài nguyên vô tận và dung lượng môi trường không bao giờ cạn kiệt , thậm chí còn lấy việc cướp đoạt tài nguyên làm mục đích . Điều này không thể không bị coi là bi kịch của việc tách rời giữa khoa học và kĩ thuật . Còn kĩ thuật cao được sinh ra trong thời đại mà tài nguyên thiên nhiên hầu như cạn kiệt , nguy cơ môi trường ngày càng tăng , trong khi đó khoa học kĩ thuật lại dung hợp thành một thể thống nhất , đã phản ánh nhận thức toàn diện của nhân loại đối với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội . Vì vậy tư tưởng chủ đạo của kĩ thuật cao là lợi dụng một cách khoa học , hợp lí , tổng hợp , có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có , đồng thời khai phá nguồn tài nguyên thiên nhiên còn chưa được tận dụng hết để thay thế nguồn tài nguyên hiếm đã gần cạn kiệt . Ví dụ : hao phí tài nguyên của phần mềm máy tính và kĩ thuật gen của công nghệ sinh học hoàn toàn khác xa với kĩ thuật truyền thống . 2 .2 .2 Tài sản vô hình . Kinh tế tri thức là kinh tế lấy đầu tư vốn vô hình làm chính . Kinh tế công nghiệp đòi hỏi số lượng lớn tiền của , thiết bị và vốn hữu hình , còn Kinh tế tri thức lại phát triển trên cơ sở tri thức , đầu tư trí lực là đầu tư vô hình . Đương nhiên , để cho khả năng biến thành hiện thực : Kinh tế tri thức cũng phải đầu tư tiền của , thậm chí với công nghệ kĩ thuật cao cần đầu tư với một số vốn rất lớn , mang nhiều tính rủi ro , nhưng nếu không đưa càng nhiều thông tin , tri thức trí lực vào công nghệ sản xuất , thì đó không phải là công nghệ kĩ thuật cao và không thể thực thi . Nếu không có tiền của thì không thể biến khả năng thành hiện thực được . Hiện nay , vốn vô hình của rất nhiều xí nghiệp kĩ thuật cao của Mĩ đã vượt qua 60 % tổng số vốn hữu hình . Việc tăng giá trị của vốn vô hình sẽ thay đổi quan điểm về giá trị của xã hội những công việc có thù lao cao của người có nhiều tri thức càng nhiều thì sự xuất hiện của các cường quốc tri thức càng tăng . 2.2.3. Nhất thể hoá kinh tế thế giới . Kinh tế tri thức là kinh tế trong điều kiện nhất thể hoá kinh tế thế giới . Kinh tế tri thức dựa vào tiền đề đầu tư vốn vô hình , thực hiện sự phát triển bền vững trên cơ sở nhất thể hoá kinh tế thế giới . Trong điều kiện nguồn tài nguyên tiêu hao không tăng nhiều . Mặt khác phạm vi công nghệ đã được mở rộng . Không chỉ gói gọn trong các ngành nghề truyền thống như công nghệ : gang thép , máy móc , vải vóc ... thí dụ với công nghệ thông tin - một loại kĩ thuật cao thì không có quốc gia nào đi đầu trong tất cả các kĩ thuật cao mới như kĩ thuật máy tính , kĩ thuật điện tử , kĩ thuật quang điện tử , kĩ thuật con chíp , kĩ thuật IC quy mô lớn , kĩ thuật sợi quang , kĩ thuật đa chức năng , kĩ thuật phần mềm . Bất kì quốc gia nào cũng có thể lợi dụng tài nguyên trí lực của mình để chiếm giữ một phần trong thị trường thế giới trở thành bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế thế giới thống nhất . Đây là cơ sở kinh tế của kết cấu thế giới đa cực sau chiến tranh lạnh . 2.2.4. Tri thức hoá quyết sách kinh tế . Kinh tế tri thức là kinh tế lấy quyết sách tri thức làm hướng đi . Quyết sách và quản lý nền Kinh tế tri thức phải được tri thức hoá . từ sau khi cầm quyền năm 1992 Tổng thống Mĩ B . Clintơn đã liên tục đưa ra một loạt chính sách phát triển kinh tế kĩ thuật mới cao như : " Công trình xây dựng thiết bị cơ sở thông tin toàn quốc " ( siêu xa lộ thông tin ) các công trình này đã có tác dụng to lớn đối với nền kinh tế nước Mĩ . Chẳng hạn như Chính phủ Mĩ đã hướng cho các công ty lớn đưa kĩ thuật cao vào ngành sản xuất xe hơi truyền thống nên đã giành lại được ngôi báu trong vương quốc sản xuất xe hơi , đồng thời tránh được sự đào thải trong cuộc cạnh tranh về giá cả trên thị trường xe hơi thế giới . Chính phủ chúng ta sẽ làm gì giữa sự biến đổi đó ? 2.2.5. Hướng giá trị mới . Giá trị kinh tế nông nghiệp thể hiện ở sự chiếm hữu đất đai và sức lao động . Giá trị Kinh tế tri thức thể hiện ở sự chiếm hữu tri thức và trí lực . Cần phải thông qua thể chế cải cách kinh tế và xã hội phải dùng hệ thống pháp luật , và thiết lập cơ cấu để đảm bảo tri thức thúc đẩy hướng phát triển "tôn trọng tri thức tôn trọng nhân tài" , hướng dẫn việc thay đổi hướng giá trị xã hội .Trong giáo dục nhân tài cho tương lai , nên lấy nhân tài là công nghệ kinh tế cao làm chủ thể . 2.2.6. Quan niệm mới về thị trường . Kinh tế tri thức là nền kinh tế được sinh ra và phát triển trong nền kinh tế thị trường , nhưng nó có tác dụng ngược trở lại với nền Kinh tế thị trường, dẫn đến sự thay đổi Kinh tế thị trường truyền thống . Cùng với sự phát triển Kinh tế tri thức , Kinh tế thị trường ngày càng phát triển sâu sắc hơn . Sự biến đổi về lượng đến một giới hạn nào đó nó sẽ phá vỡ sự đứng im và biến đổi thành chất mới . Trước mắt , có mấy điểm tương đối rõ như sau : một là " Kinh tế mạng " đã trở thành đặc trưng của thị trường , thương mại điện tử phát triển sẽ hình thành cuộc cách mạng nữa trong Kinh tế thị trường ; Hai là , điều chỉnh vĩ mô tỏ ra cần thiết , ví dụ : các nước liên minh châu cũng cấm thực hiện sinh sản vô tính với con người ; Ba la công ty xuyên quốc gia ngày càng phát triển và đã hình thành cục diện cạnh tranh mới khác với thị trường truyền thống .Trong tình hình mới đó , chúng ta áp dụng đối sách mới về kinh tế đối ngoại và phải dùng nhân tài mới . 2.2.7. Hình thức tổ chức xã hội . “ sáng kiến quan trọng nhất về mặt công nghệ hoá khoa hoc kinh tế của thế kỷ này lập ra khu công viên công nghiêp khoa hoc kinh tế” sáng kiến này của chủ tịch Trung Quốc Giang trạch Dân là cơ sở hình thành nên một xã hội mới . Tổ chức xã hội này cần có cơ quan chuyên môn quản lý . Sự tăng trưởng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa của chúng ta chuyển mô hình tản mạn sang mô hình tập trung chuyên sâu đơn nhất , suy cho cùng cần dựa vào công nghiệp hoá kinh tế cao để thực hiện . 2.2.8. Sáng tạo là linh hồn của kinh tế thị trường Trong cuốn "lý luận phát triển kinh tế " năm 1938 , nhà kinh học Mỹ sinh tại áo-J.A.schumpter đã đưa ra khái niệm sáng tạo kinh tế ( đưa ra nhận định theo thế giới quan ) . Theo định nghĩa của ông thì " sáng tạo " là chỉ " các xí nghiệp thưc hiện mới đối vối yếu tố sản xuất", nó bao gồm 5 nội dung sau : 2.8.1 Đưa ra một loại sản phẩm mới hoặc nêu ra chất lượng mới cho một loại sản phẩm . 2.8.2 áp dụng một phương pháp sản xuất mới . 2.8.3 Mở ra một thị trường mới . 2.8.4 Tạo ra được môt loại nguyên liệu hoặc một loại bán thành phẩm mới . 2.8.5 Hình thành hình thức xí nghiệp mới , ví dụ lập nên vị trí lũng đoạn ( độc quyền ) hoặc phá vỡ vị trí lũng đoạn việc sáng tạo kĩ thuật đã được đề cập tới trong cuộc cách mạng kĩ tthuật mới ; Schumpter cho rằng , người phát minh kĩ tthuật chưa chắc là người "sáng tạo" trong công nghệ kinh tế cao cũng dùng khái niệm này , người giám ứng dụng kinh tế cao gọi là "người sáng tạo" . Shumpter còn cho rằng các nhà sản xuất khác với nhà quản lý kinh doanh phổ thông , chỉ có những nhà quản lý kinh doanh giám đề xướng và thực hiện các hoạt động "sáng tạo" mới là "nhà sản xuất " nếu không như vậy họ chỉ là ông chủ . Công nghệ kỹ thuật cao ở nước ngoài cũng chấp nhận khái niệm này II . Kinh tế tri thức với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước . 1 . công nghiệp hoá - Hiện đại hoá thời kỳ đổi mới . Từ khi đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hoá , hiện đại hoá , Đảng và nhà nước ta càng thấy vị trí và vai trò vô cùng quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam bởi lẽ nói đến công nghiệp hoá - hiện đại hoá là nói đến yêu cầu phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ nói đến sự ứng dụng những phát minh khoa học mới trong ; Công nghiệp , Nông nghiệp , quản lí và dịch vụ nhằm tạo ra một bước tiến mới của nền sản xuất nước ta .Từ nay , có thể nói mọi sản phẩm đáp ứng cho nhu cầu đời sống con người và cả quá trình quản lý xã hội , sự vận hành thông thường nhất trong đời sống như đi lại giao tiếp , dịch vụ ... đều gắn liền với những đòi hỏi của khoa học , của trí tuệ hay chất xám , tức là đòi hỏi về mặt trí thức và sự phát triển của đội ngũ trí thức . Cũng từ nay , sự giàu có , giàu có hơn nữa trở thành một nhu cầu thật sự của mọi người , nhu cầu chính đáng của thời đại văn minh . Từ đó , cũng đồng thời đòi hỏi sự công bằng xã hội . Tiến bộ xã hội gắn liền với công bằng xã hội là tính ưu việt của quan hệ sản xuất mới . Công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước chắc chắn sẽ mang lại tiến bộ về sản xuất và năng suất . nhưng ; công nghiệp hoá , hiện đại hoá trong điều kiện đất nước ta còn nhiều mặt lạc hậu , trình độ dân trí chưa cao và nhất là theo cơ chế thị trường trong xu thế toàn cầu toàn cầu hoá sự phát triển kinh tế thì chưa chắc sự tăng trưởng kinh tế sẽ đưa đến tiến bộ xã hội mà không có tiến bộ xã hội thì tất nhiên cũng không có công bằng xã hội , lượng chưa đủ mạnh để thay đổi chất . Đó là vấn đề bức xúc đang đặt ra cho toàn Đảng , toàn dân ta . Cho nên , khi nói đến công nghiệp hoá - hiện đại hoá cũng như việc hoàn thiện quan hệ sản xuất , Đảng ta phải nói đến xã hội chủ nghĩa là có ý phân biệt với Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá dẫn đến quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa theo quy luật phát triển tự nhiên như các nhà kinh điển chủ nghĩa mác-lênin đã từng phân tích. Chẳng hạn , trong tác phẩm : "Nguồn gốc của gia đình" của sở hữu tư nhân và của nhà nước , Ăng-ghen đã nói : " mỗi bước tiến của sản xuất đồng thời cũng đánh dấu một bước lùi trong tình cảnh giai cấp bị áp bức , nghĩa là của đại đa số . Cái là phúc lợi đối với những người này lại tất yếu phải là tai hoạ đối với những người khác ... " (5) . Đương nhiên , đó là nói đến mỗi bước tiến của sản xuất trong xã hội cũ , xã hội còn sự áp bức và bóc lột . Còn nói đến xã hội mới Ăng-ghen đòi hỏi : " Không được để tình hình như thế . Cái gì tốt với giai cấp thống trị thì cũng tốt với toàn thể xã hội và giai cấp thống trị với toàn thể xã hội chỉ là một "(6) . Để kết luận quan điểm của mình Ăng-ghen đã dẫn ra một câu nói của Morgan nhận định về thời đại văn minh : " Trí tuệ của loài người dừng lại , hoang mang và bỡ ngỡ trước vật sáng tạo của chính mình " . Nhưng tuy vậy cũng sẽ đến ngày lí trí của loài người sẽ đủ mạnh để chi phối của cải , mà lí trí của loài người sẽ quy định những quan hệ giữa nhà nước và tài sản mà nó bảo hộ , cũng như sẽ quy định những giới hạn cho các quyền của những người sở hữu . Lợi ích của xã hội phải tuyệt đối cao hơn lợi ích của cá nhân , và cần phải taọ ra những mối quan hệ công bằng và nhịp nhàng giữa hai lợi ích đó . Nhưng , nếu như sự tiến bộ vẫn là quy luật của tương lai , cũng như nó đã từng là quy luật của quá khứ thì việc chỉ đơn thuần tìm kiếm của cải không là mục đích cuối cùng của nhân loại . " Sự tan rã của xã hội đang đứng sừng sững trước mặt chúng ta một cách đe doạ như là sự kết thúc cuả một quá trình phát triển của cải là mục đích cuối cùng và duy nhất vì một quá trình phát triển . Như vậy nó đang chứa đựng những yếu tố làm cho chính nó bị tiêu diệt . Dân chủ trong việc quản lý , hữu ái trong xã hội , bình đẳng về quyền lợi , giáo dục phổ thông , tất cả những cái đó sẽ báo hiệu giai đoạn cao sắp tới của xã hội , mà kinh nghiệm , lí trí và khoa học đang không ngừng vươn tới " (7) . Những ý kiến nêu trên như đang nói với chúng ta thời đại văn minh không còn xa xôi nữa và chính là thời đại chúng ta đang sống đang chuẩn bị bước vào thế kỷ XXI mà kinh nghiệm , lí trí và khoa học đang không ngừng vươn tới . Đó là thời đại của trí thức , không phải tri thức của một bộ phận xã hội đươc gọi là đội ngũ hay giới trí thức mà có thể nói là của đại đa số những người đang tham gia vào quá trình sản xuất và xây dựng xã hội không kể họ thuộc thành phần nào , là công nhân hay thương nhân hay nông dân , người quản lý và dịch vụ . Bây giờ chúng ta đang nói đến việc tri thức hoá công - nông , nhưng đến một lúc nào đó khẩu hiệu này sẽ trở nên thừa , bởi lẽ trong thực tế tiến bộ xã hội , mọi thành viên của cộng đồng dân tộc muốn tồn tại phải được tri thức hoá . Trí thức , chất xám không còn là tài sản riêng của đội ngũ trí thức nữa . Vậy , lúc đó liệu còn đội ngũ trí thức hay nói cách khác là nghề trí thức nữa không ?. Không còn nghi ngờ gì nữa , khi đất nước đã bước vào thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá một cách toàn diện và mạnh mẽ thì xu thế phát triển của tri thức và đội ngũ trí thức cũng không còn hạn chế trong phạm vi một đội ngũ dù có người muốn nâng cao vị trí của đội ngũ đó lên để muốn so sánh như một giai cấp , thậm chí còn coi là một siêu giai cấp như một điều dự báo của một tác giả bài báo " Chủ nghĩa tư bản trong thời đại toàn cầu hoá "(8). Song , cũng không nên nghĩ rằng đội ngũ trí thức đã bị hoà tan và hoà nhập vào các thành phần xã hội . Khẩu hiệu tri thức hóa công-nông cũng như các thành phần khác trong xã hội chỉ có ý nghĩa và tác dụng nâng cao dân trí nhằm phát huy mọi tiềm lực vốn có về trí tuệ của cả dân tộc chứ không thể thay thế được đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh và có mặt ở tất cả các lĩnh vực của cuộc sống . Theo tác giả bài báo thì : " trí thức sẽ ngày càng trở thành sức mạnh và ý tưởng sáng tạo sẽ ngày càng trở thành tiền vốn của tương lai " và khi đó một xã hội có giai cấp kiểu khác đi có thể trở thành mối nguy chung . Lúc đó , không phải chỉ có tư bản và lao động đối mặt với nhau , mà là một giai cấp bề trên có tri thức đối mặt với quần chúng lao động không có việc làm . Đó là một phán đoán có cơ sở thực tiễn của xã hội các nước phát triển mà ở đó khoa học và công nghệ càng phát triển , trình độ tự động hoá trong sản xuất ngày càng cao , người lao động nhất là người lao động ít tri thức sẽ bị đẩy ra khỏi các xí nghiệp , công sở , trở thành đội quân thất nghiệp . Trong bối cảnh đó không thể nói đến công bằng xã hội và hầu như dẫn đến một nghịch lý là trí tuệ càng phát triển , đội ngũ tri thức càng mạnh thì không chỉ có sự phân hoá giữa lao động trí óc và lao động chân tay mà còn có sự phân hoá giữa người có trình độ tri thức thấp và người có trình độ tri thức cao . Người có tri thức cao có việc làm và trở nên giàu có , người có tri thức thấp sẽ thất nghiệp , trở thành tầng lớp người nghèo phải sống bằng tiền trợ cấp xã hội . Khi nhắc đến những điều dự báo trong bài viết : " Chủ nghĩa Tư bản trong thời đại toàn cầu hoá " với những điều nói về tri thức cũng như : " Một xã hội có giai cấp kiểu khác đi có thể trở thành một mối nguy chung " , chúng ta lại nhớ đến điều mà Mác đã nói về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất như sau : " Không một chế độ xã hội nào lại diệt vong khi tất cả những lực lượng sản xuất mà chế độ xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển , vẫn còn chưa phát triển , và những quan hệ sản xuất mới cao hơn, không bao giờ xuất hiện khi những điều khiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó còn chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ . Cho nên , nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình nhưng nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được" (9) Hình như đã đến lúc chính sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản hiện đại đang chứng minh cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác cả về lý luận và thực tiễn . Sự phát triển trí tuệ loài người khiến cho khoa học , kỹ thuật và công nghệ ngày càng tạo nên sự phát triển của lực lượng sản xuất chính là tạo địa bàn cho sự ra đời những quan hệ sản xuất mới mà ở đó sẽ có dân chủ trong công việc quản lý , hữu ái trong xã hội , bình đẳng về quyền lợi , Giáo dục phổ thông , tất cả những cái đó sẽ báo hiệu giai đoạn cao sắp tới của Chủ nghĩa xã hội , mà kinh nghiệm , lý trí và khoa học đang không ngừng vươn tới như Ăng - ghen đẵ nói ở trên . Vậy thì ở đây không hề có sự mâu thuẫn giữa sự phát triển của tri thức và đội ngũ trí thức với sức sản xuất tạo nên sự tăng trưởng về kinh tế cũng như không hề có sự mâu thuẫn giữa tri thức với quần chúng lao động không có việc làm , mà chính là sự phát sinh mâu thuẫn giữa phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa với chính lực lượng sản xuất mà chính nó tạo ra . Có lẽ , đã đến lúc nhân loại đặt ra cho mình nhiệm vụ phải giải quyết . Có điều là nó phải giải quyết bằng cách nào theo con đường nào là điều đã đặt ra không chỉ cho các lý luận gia cả giai cấp Tư sản mà có thể là cho sứ mệnh cao cả của đội ngũ trí thức của từng dân tộc và của cả thế giới . Khi phát triển đến đỉnh cao nhờ sự thành công của khoa học kỹ thuật và công nghệ , Chủ nghĩa tư bản đã phát sinh ra mâu thuẫn mà tự nó không thể giải quyết được . Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế đang diễn ra hiện nay ( cái chung đang dần hoà mình vào cái riêng và thành đơn nhất ) chẳng những đang làm cho các nước kém phát triển gặp khó khăn mà cũng đặt ra cho nền kinh tế trị trường tự do tư bản Chủ nghĩa nhiều vấn đề nan giải có tính xã hội như nạn thất nghiệp ngày càng tăng , các tệ nạn xã hội , vấn đề môi trường sinh thái , vấn đề giàu nghèo ở ngay các nước phát triển ... và cả những diễn biến phức tạp của thị trường tự do như : "bàn tay vô hình " không ai kiểm soát nổi . Chính sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ tạo nên nền văn minh mới đã đưa chủ nghĩa tư bản đến độ chín muồi đòi hỏi phải thay đổi quan hệ sản xuất cũng có nghĩa là sự thay đổi thể chế chính trị . Cho nên , khi nói đến nền văn minh mới hiện nay không thể không nói đến vị trí vai trò của trí thức có tầm trí tuệ cao đủ sức nghiên cứu đề ra những định hướng phát triển mới nhằm tránh cho nhân loại khỏi rơi vào khủng hoảng như đã từng xảy ra trong lịch sử . Riêng ở nước ta với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước , chúng ta có thể thấy xu thế phát triển của khoa học và công nghệ gắn liền với tốc độ tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội ở nước ta trong những thập kỷ tới như thế nào . Có thể nói , với những bước đi thuận lợi đang diễn ra hiên nay, đất nước ta chắc chắn sẽ vượt qua được tình trạng nghèo nàn lạc hậu để có thể sánh vai với những nước có hoàn cảnh giống ta ở khu vực . Trong bối cảnh đó , đội ngũ trí thức ở nước không chỉ vẫn tồn tại như một nghề mà hơn thế có thể là một lực lượng hùng hậu có tác động mạnh mẽ đến quá trình xây dựng quan hệ sản xuất mới . Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đưa đất nước ta thành một nước có công nghiệp phát triển nếu chỉ đơn thuần là tìm kiếm của cải , xem việc tăng trưởng kinh tế là mục đích cuối cùng thì đương nhiên chúng ta sẽ rơi vào điều cảnh báo như Ăng-ghen đã nói ở trên . Vì vậy , mục đích cuối cùng của phát triển phải đưa tiến bộ xã hội có nghĩa là dân chủ trong quản lý , hữu ái trong xã hội , giáo dục phổ thông ... mà điều đó rất khó thực hiện được ở mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa , nhưng lại rất phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa như ở nước ta . Có điều là định hướng đó không dễ tới được trong khi bản thân nền sản xuất ở nước ta còn lạc hậu , chưa qua được ngưỡng cửa công nghiệp hoá-hiện đại hoá , lại phải tiến hành xây dựng nền kinh tế theo cơ chế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hoá . Đây là một thách thức lớn cho toàn Đảng và Nhà nước ta , đồng thời cũng là một thử thách đối với đội ngũ trí thức Việt Nam .Việc tìm ra con đường tổ chức và phát triển xã hội theo đinh hướng xã hội chủ nghĩa giao cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện xã hội nước ta là điều hoàn toàn mới mẻ , chưa có tiền lệ trong lịch sử nhân loại . Trong tương lai đất nước ta , với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và nhằm đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá với yêu cầu đoàn kết , tập hợp nhiều nguồn tri thức , trong đó có trí thức Việt kiều , chắc chắn đội ngũ trí thức Việt Nam sẽ có những thay đổi về cơ cấu đó là chưa nói đến những thay đổi trong bản thân các giai cấp và tầng lớp cách mạng . Do yêu cầu nền kinh tế thị trường và đòi hỏi của nhiệm vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước . Tất cả những chuyển dịch về cơ cấu xã hội , về cơ cấu giai cấp về phân công lao động mới , về đào tạo bồi dưỡng về chính sách mở cửa và giao lưu quốc tế đều có tác động đến quá trình xây dựng quan hệ sản xuất mới trong đó đội ngũ trí thức nước ta có vị trí quan trọng trong việc thực hiện dân chủ trong quản lý , việc xã hội hoá các lĩnh vực hoạt động và sáng tạo văn hoá , việc đề ra chính sách thực hiện công bằng xã hội , việc thực hiện giáo dục phổ thông và nhất là việc định hướng phát triển của khoa học và công nghệ . Để có thể khẳng định rằng trong những năm tới , đội ngũ tri thức nước ta sẽ vẫn là một lực lượng cách mạng đáng kể trong liên minh công-nông- trí . Hơn thế nữa , với xu hướng phát triển đội ngũ trí thức phục vụ yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước , sự tác động của tri thức đến quá trình xây dựng quan hệ sản xuất mới có vị trí quyết định gắn liền với chiến lược con người mà cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã đề ra . 2 . Những giải pháp của Chính phủ . 2.1. Hoạch định những chiến lược Quốc gia để thu hẹp những khoảng cách về tri thức . Nhưng cơ hội để nước ta và các công ty hoạt động tốt hơn - để thu hẹp những khoảng các về tri thức trong nội bộ nước ta và giữa các nước - không phải quá xa vời và chúng không chỉ xuất hiện trong Ngành công nghiệp mà còn trong toàn bộ nền kinh tế . Việc nắm bắt những cơ hội này đòi hỏi chúng ta phải cởi mở trong đón nhận các ý kiến bên ngoài nó cũng đòi hỏi các biện pháp khuyến khích và các thể chế đúng đắn ; những nỗ lực to lớn của địa phương để thu thập , làm thích ứng và sử dụng tri thức một cách có hiệu quả . Các chiến lược bù đắp về tri thức cần tập chung vào ba vấn đề : - Những chính sách nào đẩy mạnh việc thu thập tri thức ? - Những chính sách nào đẩy mạnh năng lực tiếp thu của đất nước ? - Những chính sách nào đẩy mạnh hiệu quả thông tin liên lạc và giảm chi phí ? Vì các nước đang tìm kiếm lời giải đáp . Nên , những ưu tiên cạnh tranh và ganh đua để có được sự quan tâm chú ý vào nguồn lực , và thường đặt ra những tình thế khó sử đòi hỏi phải lựa chọn dứt khoát : Nhà nước cần mua tri thức ở bên ngoài hay tạo ra nó ở trong nước ? Những hệ thống giáo dục có nên mở rộng xoá mù cơ bản mà hy sinh đầu tư vào đào tạo cấp Đại học không ? Thường vấn đề này là cán cân thay đổi theo quá trình phát triển và điều kiện của đất nước . Tiếp thu tri thức toàn cầu và tạo ra tri thức địa phương : có được tri thức là sự kết hợp giữa tiếp thu tri thức bên ngoài và tạo ra tri thức ở trong nước . Vì không một nước nào có thể tạo ra tất cả các tri thức mà nó cần , nên việc học tập từ những nước bên ngoài là một yếu tố quyết định trong chiến lược thành công . Để xây dựng cơ sở tri thức chúng ta phải xây dưng mọi cơ sở tiềm năng sẵn có cho việc tiếp thu tri thức bên ngoài mang tính kế thừa , phát huy và tạo ra tri thức trong nước chúng ta cần phải : tìm ra phương pháp mới và hiệu quả hơn cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ thông qua thương mại . Hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài là những người đi đầu trong đổi mới khuyến khích nhà sản xuất trong nước nỗ lực đáp ứng yêu cầu thực hiện tốt nhất và khai thác các tác động lan toả về tri thức tiềm năng . Tạo cơ hội tiếp cận tri thức kinh tế độc quyền thông qua cấp giấy phép sử dụng công nghệ kích thích đổi mới và tạo cơ hội tiếp cận tri thức toàn cầu thông qua việc xây dựng các điều luật và thể chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ . Thu hút người có tài trở về nước , những người đã nghiên cứu hay làm việc ở nước ngoài . 2.2. Giải quyết vấn đề thông tin để nuôi dưỡng thị trường . Một chiến lược tri thức quốc gia hiệu quả đòi hỏi chính phủ phải tìm ra những biện pháp cải thiện các luồng thông tin giúp cho nền kinh tế thị trường vận hành tốt hơn . Nhưng chính phủ cũng như mọi thành viên khác trong nền kinh tế , bản thân cũng chịu ảnh hưởng của sự yếu kém thông tin . Do đó , các nhà hoạch định chính sách phải xem xét sức mạnh và hạn chế năng lực của chính phủ ứng với năng lực của thị trường . 3. Nhận thức để rút ngắn những khoảng cách về tri thức và các vấn đề về thông tin . Dù chính phủ có cố gắng làm gì chăng nữa , khoảng cách về tri thức và yếu kém về thông tin vẫn tồn tại dai dẳng . Ngay cả những nước theo đuổi chiến lược phát triển cứng rắn dựa vào thông tin cũng không tránh khỏi các vấn đề này. Các nhà chính sách phải thích nghi với sự kém hoàn hảo . Chúng ta ngày càng hiểu biết thêm về hạn chế thông tin , vì vậy chúng ta biết rằng : chỉ riêng thị trường thôi chưa đủ ; xã hội còn đòi hỏi các chính sách và thể chế phải tạo điều kiện cho việc thu nhập áp dụng và phổ biến thông tin , và để giảm thiểu tình trạng yếu kém về thông tin , đặc biệt những yếu kém ảnh hưởng đến người nghèo . Quan điểm này chứa đựng một mệnh lệnh rộng rãi buộc công chúng ra tay. Chính phủ , cũng giống với thị trường , vẫn có thể bị tổn hại bởi sự yếu kém về thông tin . Để quyết định nên giải quyết vấn đề nào ? , các nhà hoạch định chính sách so sánh giữa quy mô vấn đề về thông tin và thất bại thị trường do hậu quả của nó với năng lực cải thiện tình hình của chính phủ . Quá trình hành động thích hợp có khác nhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh . Tuy nhiên , cởi mở trong tìm hiểu nhận thức rằng ngày càng có nhiều thứ chúng ta không biết và sẵn sàng điều chỉnh trong quá trình sẽ cải thiện khả năng thành công . III. Kinh tế tri thức sẽ đem lại cho thế giới chúng ta tương lai ra sao ? Giá trị thông tin là ở sức truyền bá rộng rãi . Trong giai đoạn thông tin phát triển cao độ thì ứng dụng của thông tin tất nhiên phải được xã hội hoá và nó thuộc về tất cả mọi người , không ai có thể độc quyền trong lĩnh vực này . Mà internet chứng minh xu thế này . “Tin tưởng rằng tri thức cuối cùng sẽ thuộc về nhân loại như nước uống và không khí . Của cải vật chất có thể là của riêng , có thể là của chung , nhưng một loại đồ vật thì có thể cung cấp cho một số người có hạn sử dụng , sử dụng càng nhiều giá trị sử dụng càng thấp ; của cải tri thức cũng có thể là của riêng và cũng có thể là của chung nhưng người sử dụng tri thức càng nhiều thì giá trị càng cao “(10) . Ăng-ghen đã từng nói trước mộ của C.Mác rằng : “ Ông Mác đã coi khoa học trước hết như cái đòn bảy mạnh mẽ của lịch sử như một lực lượng cách mạng theo nghĩa hết sức đúng đắn của từ này ”(11). Khi nào tổng số của cải tri thức thế giới vượt qua tổng số của cải vật chất thì xuất hiện điều kiện tất yếu cho xoá bỏ sự chênh lệch giàu nghèo và thực hiện rộng rãi chế độ công hữu . Đây phải chăng là viễn cảnh của nền kinh tế tri thức trong tương lai ? . Phần C : Kết luận Nền kinh tế tri thức là bước phát triển tất yếu của xã hội loài người . Rõ ràng vấn đề tri thức là vấn đề hết sức mới mẻ và nhạy cảm . Đây không phải là một bước biến đổi bình thường mà là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại : Nền kinh tế , chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức , nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ . Sự biến đổi về lượng dẫn tới sự biến đổi về chất . Công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước rất cần nguồn tri của cải tri thức . Vấn đề đặt ra là chúng ta phải làm gì ? Và phát triển nền kinh tế ra sao ? . Nó vừa là thời cơ vừa là thách thức với chúng ta , chúng ta phải tăng cường nghiên cứu nâng cao nhận thức , tìm ra cánh quản lý kinh tế tri thức . Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là xây dựng cơ cấu lãnh đạo cấp nhà nước . Tiêu chuẩn lại hệ thống sáng tạo kỹ thuật và sáng tạo tri thức , phối hợp tính chất , tập chung lực lượng nắm chắc công nghệ hoá kĩ thuật cao làm cho kinh tế khoa học kĩ thuật trở thành lực lượng sản xuất thứ nhất hướng tới cái lợi tránh cái hại trong tiến trình tiến tới Kinh tế tri thức trong phạm vi toàn thế giới , thực hiện phát triển bền vững nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa . Chúng ta nên nhớ nhiệm vụ của chúng ta mỗi sinh viên trong nền kinh tế tri thức thế kỷ XXI này .

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc10216.doc
Tài liệu liên quan