Theo kết qủa tại Hình 4 cho thấy, ở cá Ngựa vằn sau khi gây nhiễm ion đồng ở các
nống độ từ 500-2000 µg/L không ghi nhận sự biến dạng tế bào hồng cầu. Tuy nhiên, số
lượng tế bào hồng cầu ở cá Ngựa vằn ở nồng độ từ 500-2000 µg/L tại Hình 5 có sự thay đổi
rõ rệt. Tại nghiệm thức đối chứng, số lượng hồng cầu là (113,08 ± 4,55) x 104 TB/mm3 và
có xu hướng tăng tại nồng độ 500 µg/L là (140,52 ± 7,34) x1 04 TB/mm3 tăng 27,44 x 104
TB/mm3 (p<0,05). Nguyên nhân do chức năng của đồng tham gia tổng hợp thành phần
hemoglobin của hồng cầu khi vào trong cơ thể cá, hàm lượng đồng tăng lên sẽ kéo theo hàm
lượng hồng cầu tăng lên. Tuy nhiên, tại nồng độ 1000 µg/L và 2000 µg/L số lượng hồng cầu
của cá có xu hướng giảm lần lượt là 4,24 x 104 TB/mm3 và 24,74 x 104 TB/mm3 (P<0,05).
Sự giảm số lượng tế bào hồng cầu trong cơ thể cá biến tiên theo sự tăng dần của nồng độ ion
đồng gây nhiễm từ nồng độ 500 µg/L. Thực tế này được giải thích, bởi vì, cơ quan sản xuất
máu của cá dưới tác động ion đồng bị tổn thương và hủy hoại (Singh, Nath, Trivedi, &
Sharma, 2008). Mặc dù, đồng là một nguyên tố cần thiết để cá phát triển nhưng khi nồng độ
đồng vượt quá mức độ dung nạp, cá có thể bị ảnh hưởng cấp tính hoặc mãn tính. Độc tính
Cu2+ cũng có thể thay đổi đáng kể giữa các loài cá do các yếu tố khác như kích thước cá,
liều lượng và thời gian tiếp xúc, các cơ chế của loài đối với sự trao đổi chất của ion đồng
(De Boeck, Meeus, De Coen, & Blust, 2004). Kết quả nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu
của Thangam, Jayaprakash, & Perumayee, 2014, nghiên cứu chỉ số huyết học trên cá
9 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 1 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ả nh hưở ng của ion đồng (Cu²) lên tỉ lệ sống, sự tăng trưởng và số lượng hồng cầu cá ngựa vằn trưởng thành, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Tập 17, Số 12 (2020): 2210-2218
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION
JOURNAL OF SCIENCE
Vol. 17, No. 12 (2020): 2210-2218
ISSN:
1859-3100 Website:
2210
Bài báo nghiên cứu*
ẢNH HƯỞNG CỦA ION ĐỒNG (Cu2+)
LÊN TỈ LÊ ̣SỐNG, SỰ TĂNG TRƯỞNG VÀ SỐ LƯỢNG HỒNG CẦU
CÁ NGỰA VẰN TRƯỞNG THÀNH
Trần Thị Phương Dung1*, Lưu Tăng Phúc Khang1, Trần La Giang2, Nguyễn Võ Thuận Thành1
1Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
2Trường Cao đẳng Du lịch Nha Trang, Việt Nam
*Tác giả liên hệ: Trần Thị Phương Dung – Email: dungttp@hcmue.edu.vn
Ngày nhận bài: 01-9-2020; ngày nhận bài sửa: 21-9-2020; ngày duyệt đăng: 28-12-2020
TÓM TẮT
Ion đồng là môṭ trong những cation tác đôṇg lên sức sống, khả năng tăng trưởng, số lượng tế
bào máu trong quá trình sống của thủy sản, Nghiên cứu đươc̣ tiến hành nhằm đánh giá tác động của
ion đồng (Cu2+) ở các nồng độ 0 µg/L; 500 µg/L; 1000 µg/L; 2000µg/L lên quá trình phát triển và
chỉ số máu cá Ngựa vằn giai đoạn trưởng thành. Kết quả cho thấy: (i) ở các nồng độ Cu2+ được kiểm
tra khác nhau, nồng độ tối thiểu Cu2+ ảnh hưởng đến tỉ lệ sống của cá Ngựa vằn là 500 µg/L; (ii) ở
mọi nồng độ được kiểm tra Cu2+, tỉ lệ sống của cá bị ảnh hưởng đáng kể vào ngày thứ 6 và ảnh
hưởng nhiều nhất tại nồng độ 2000 µg/L. Dựa vào kết quả thu được, chúng tôi thiết lập một phương
trình để dự đoán tỉ lệ sống của ấu trùng cá và tìm được nồng độ gây chết 50% cá (LD50) Cu2+ gây
chết cá sau 11 ngày cảm nhiễm là 1515 µg/L và thời gian gây chết 50% cá (LT50) của Cu2+ ở nồng
độ 500 -2000 µg/L là từ 8,42-24,61 ngày, Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ Cu2+ càng cao làm
giảm tı̉ lệ sống và khả năng tăng trưởng của cá, làm giảm số lượng tế bào hồng cầu của cá đặc biệt
tại nồng độ 2000µg/L.
Từ khóa: ion đồng; chỉ số máu; nhiễm độc kim loại nặng; cá Ngựa vằn
1. Mở đầu
Ngày nay, sự phát triển của kinh tế xã hội dẫn đến thực trạng ô nhiễm môi trường nước
ngày càng gia tăng dẫn đến ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe của con người. Một trong
những nhân tố gây hại nhất đối với môi trường nước đó là kim loại nặng. Các kim loại do
hoạt động của con người tạo và thải ra như As, Cd, Cu, Ni và Zn, ước tính là nhiều hơn so
với nguồn kim loại có trong tự nhiên (Kabata, & Adriano, 1995). Một số kim loại nặng gây
ô nhiễm phổ biến nhất được liệt kê trong báo cáo của cơ quan bảo vệ môi trường (EPA) là
As, Cd, Cr, Cu, Hg, Ni, Pb và Zn. Kim loại nặng không độc khi ở dạng nguyên tố tự do
nhưng nguy hiểm đối với sinh vật sống khi ở dạng cation do khả năng gắn kết các chuỗi
Cite this article as: Tran Thi Phuong Dung, Luu Tang Phuc Khang, Tran La Giang, & Nguyen Vo Thuan Thanh
(2020). The effects of copper ion on the survival, growth, and red blood cells of adult zebrafish from 1 to 10
days old. Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, 17(12), 2210-2218.
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM Trần Thị Phương Dung và tgk
2211
cacbon ngắn dẫn đến sự tích tụ trong cơ thể sinh vật sau nhiều năm (Shahidul, & Tanaka,
2004). Do đó, các thử nghiệm độc tính được đề nghị để đánh giá nồng độ độc chất tối đa có
thể chấp nhận được và cung cấp dữ liệu cho việc thiết lập tiêu chuẩn chất lượng nước (Le,
2008). Tại Việt Nam, ảnh hưởng của Cu2 + được đánh giá chủ yếu bởi các phương pháp hóa
học hoặc vật lí, không có đánh giá chính xác về sự tăng trưởng của thủy sản động vật, đặc
biệt là trên động vật có xương sống. Vı̀ vâỵ, bên cạnh việc quan trắc ô nhiễm kim loại nặng
trực tiếp bằng các phương pháp lí hóa, việc sử dụng các thủy sinh vật chỉ thị, cụ thể là sử
dụng các loài cá đang được ứng dụng rộng rãi. Việc đánh giá các đặc điểm huyết học ở cá
đã trở thành một các phương tiện quan trọng để hiểu rõ về các quá trình sinh lí và bệnh lí,
các tác động của các chất độc hại (Sudova et al., 2009). Cá Ngựa vằn là một loài cá nước
ngọt khá phổ biến trong nghiên cứu khoa học vı̀ cơ thể có kı́ch thước nhỏ, vòng đời ngắn dê ̃
theo dõi và mang lại nhiều ý nghĩa cho thực tiễn. Sự tích lũy kim loại nặng trong cơ thể ấu
trùng cá ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của cá. Nghiên cứu này cơ bản đánh giá được sự gây
haị của ion đồng (Cu2+) lên sức sống, khả năng tăng trưởng và tế bào máu của cá giai đoạn
trưởng thành.
2. Phương pháp nghiên cứu
2.1. Phương pháp theo dõi tỉ lệ sống và đánh giá khả năng tăng trưởng (Theo Pham, &
Nguyen, 2014)
Cá Ngựa vằn giai đoaṇ trường thành đươc̣ nuôi trong bể kı́nh 29cm x 18cm x18cm,
dung tı́ch 3 lı́t, mật độ 1 con/0,2L, có chứa ion Pb2+, tương ứng các nồng đô ̣khác nhau trong
môi trường chuẩn là môi trường Hank (gồm các loaị muối NaCl, KCl, Na2HPO4, KH2PO4,
CaCl2, MgSO4, NaHCO3) sau khi pha được đựng trong chai Duran sạch (Westerfield, 1995).
Các cá thể sống tốt sau khi kiểm tra sẽ bố trí vào bể thí nghiệm với 4 nồng độ Cu2+ tương
ứng 0 µg/L; 500 µg/L; 1000 µg/L; 2000 µg/.
Mỗi nồng độ Cu2+ quan sát tỉ lệ sống/chết 15 cá, thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Chỉ tiêu
tăng trưởng khối lượng của cá trong suốt thời gian thí nghiệm = khối lượng cá tại thời điểm
cuối thí nghiệm – khối lượng cá ban đầu)). Môi trường nước trong suốt thí nghiệm đồng nhất
về pH= 7-7,5, nhiệt độ duy trì ở mức nhiệt độ phòng tương ứng nhiệt độ nước 27-280C. Cho
cá ăn thức ăn công nghiệp 2 lần/ngày vào lúc 7h sáng và 16h chiều.
2.2. Phương pháp đếm máu cá (Theo phương pháp Natt, & Herrick, 1952)
Lấy máu tại đuôi sau đó cho máu vào ống eppendorf đã cho sẵn heparin. Sử dụng
pippet đếm hồng cầu hút dịch trong eppendorf cho đến vach 101 trong pipet sau đó lắc nhẹ.
Máu sau khi đã pha loãng và trộn đều sẽ tiến hành quan sát và đếm số lượng tế bào hồng cầu
bằng cách đưa lên buồng đếm hồng cầu. Cho hỗn hợp dung dịch lan tỏa vào đầy buồng đếm,
để yên trong 2 phút. Đếm hồng cầu 4 ô lớn (1 ô lớn có 16 ô nhỏ) ở 4 góc của buồng đếm và
1 ô ở trung tâm buồng đếm. Công thức tính mật độ hồng cầu: N1 = A x (4000:80) x 200 =
A x10000 (số hồng cầu đếm được trong 5 ô lớn (80 ô nhỏ) là A). Lấy máu tổng 180 con.
Mỗi nghiệm thức lấy 15 con và lặp lại mỗi nghiệm thức 3 lần.
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM Tập 17, Số 12 (2020): 2210-2218
2212
.
Hình 1. Cá Ngựa vằn trưởng thành dưới kính hiển vi soi nổi (X20)
2.3. Phương pháp xử lí số liệu thống kê
Tất cả số liệu của đề tài được xử lí theo các thuật toán xác suất thống kê bằng phần
mềm SPSS 22. Phân tı́ch số liêụ tı̉ lê ̣sống chúng tôi chuyển đổi số liêụ ở daṇg Xi=log (Ni)/N,
Các số liệu trung bình được trình bày ở dạng TB±SD. Mức ý nghĩa được sử dụng để kiểm
định sai khác có ý nghĩa giữa các nghiệm thức là 0,05 (p < 0,05 thì sự sai khác có ý nghĩa
thống kê) thông qua phân tı́ch phương sai môṭ yếu tố (ONEWAY ANOVA). Sử dụng kiểm
định so sánh đối chiếu Duncan. Trong nghiên cứu sử duṇg mô hı̀nh hồi quy tuyến tı́nh bội
để ước tính các tham số.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Ảnh hưởng của ion chı̀ lên tı̉ lê ̣sống giai đoạn cá trưởng thành
Tı̉ lê ̣sống là một chỉ số đáng tin cậy trong viêc̣ đánh giá khả năng đề kháng của cá.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đa ̃ghi nhâṇ sư ̣thay đổi tı̉ lê ̣sống của cá Ngựa vằn trưởng
thành ở các nồng đô ̣gây nhiêm̃ Cu2+ khác nhau qua 11 ngày cảm nhiễm, khảo sát đươc̣ trı̀nh
bày cụ thể ở Bảng 1.
Bảng 1. Tı̉ lê ̣sống của cá ở giai đoạn cá trưởng thành (1-11 ngày nuôi)
tại các nồng độ Cu2+ khảo sát
Nồng độ
Thời gian
0µg/L 500µg/L 1000µg/L 2000µg/L
Ngày 1 100,00±0,00ax 100,00±0,00ax 100,00±0,00ax 97,78±3,85ax
Ngày 2 100,00±0,01ax 100,00±0,01ax 100,00±0,01ax 95,56±3,85ay
Ngày 3 100,00±0,02ax 100,00±0,02ax 100,00±0,02ax 93,33±6,67ax
Ngày 4 100,00±0,03ax 100,00±0,03ax 97,78±3,85ax 88,89±7,70aby
Ngày 5 100,00±0,04ax 97,78±3,85ax 95,56±3,85ax 84,44±3,85aby
Ngày 6 100,00±0,05ax 95,56±3,85ax 95,56±3,85ax 75,56±10,18bcy
Ngày 7 100,00±0,06ax 93,33±6,67abxy 88,89±7,70aby 64,44±3,85cdz
Ngày 8 100,00±0,07ax 91,11±10,18abcxy
82,22±3,85b
cy 53,33±11,55dez
Ngày 9 100,00±0,08ax 84,44±7,70bcdxy 75,55±10,18cdy 37,78±13,88efz
Ngày 10 97,78±3,85abx 82,22±3,85cdxy 68,89±10,18dey 33,33±17,64fz
Ngày 11 95,56±3,85bx 77,78±7,70dy 60,00±6,67ez 28,89±10,18fw
Trung bình 99,39±1,44x 92,93±8,06xy 87,68±14,07y 68,48±8,47z
a, b, c, d, e, f: chỉ sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo cột (p<0,05)
x, y, z, w: chỉ sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo hàng (p<0,05)
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM Trần Thị Phương Dung và tgk
2213
Trong Bảng 1, tỉ lệ sống của cá Ngựa vằn trong nhóm đối chứng đã thay đổi trong
những ngày nuôi. Cụ thể, từ ngày 1-9, số lượng cá ở nhóm đối chứng không có sự thay đổi
số lượng (p <0,05). Đến ngày thứ 10-11 tỉ lệ sống trung bình giảm tuyến tính theo ngày. Cụ
thể, tỉ lệ sống của cá đã giảm từ 100% vào ngày thứ 9 xuống 95,56% vào ngày thứ 11. Sự
sống của cá nhóm đối chứng tương đối ổn định qua các ngày nuôi, tuy nhiên trong một số
ngày nuôi vẫn có cá chết ngẫu nhiên nhưng số lượng không đáng kể. Dựa trên kết quả của
Bảng 1, chúng tôi đã đánh giá biến động tỉ lệ sống của cá ngựa vằn bằng cách ngày nuôi cấy
trong môi trường với nồng độ Cu2 + được kiểm tra. Các kết quả được hiển thị trong Bảng 1.
Trong các nghiệm thức khảo sát với các nồng độ Cu2+ khác nhau, thời gian bắt đầu cá
mẫn cảm và sau đó chết càng sớm ở nồng độ Cu2+ càng cao. Cụ thể, nồng độ 500µg/L là
ngày thứ 5 (97,78±3,85%), nồng độ 1000µg/L là ngày thứ 4 (97,78±3,85%), nồng độ
2000µg/L là ngày 1 (97,78±3,85%). Trong các nghiệm thức khảo sát với các nồng độ Cu2+
thì thấy thời gian cá chết bắt đầu chết cao nhất ở nồng độ 500µg/L là ngày thứ 9
(84,44±7,70%), nồng độ 1000µg/L là ngày thứ 7 (88,89±7,70%), nồng độ 2000µg/L là ngày
5 (88,89±7,70%), sự giảm có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Vậy tại nồng độ ion đồng càng cao
thì cá bắt đầu mẫn cảm, và chết đỉnh điểm tại thời gian sớm hơn. Kết quả thí nghiệm phù
hợp với nghiên cứu của Gharedaashi, Nekoubin, Imanpoor, và Taghizadeh, (2013) là: sau
khi nhiễm ion đồng sẽ làm giảm tỉ lệ sống và khả năng tăng trưởng của cá Caspian Sea
kutum (Rutilus frisii kutum).
Dựa vào kết quả Bảng 1 ước tính sự biến động thời gian gây chết 50% cá Ngựa vằn
trong các nồng độ gây nhiễm khác nhau (LT50) (Bảng 2)
Bảng 2. Thời gian ước tính gây chết 50% cá thí nghiệm (LT50) (ngày)
Nồng độ Hệ số ước tính
Thời gian ước tính gây chết
50% cá thí nghiệm (LT50)
(ngày)
0µg/L
a=-0,003 (p=0,000)
b= 1,011 (p=0,029)
R2=0,43
170,33
500µg/L
a=-0,023 (p=0,000)
b= 1,066 (p=0,000)
R2=0,82
24,61
1000µg/L
a=-0,04 (p=0,000)
b= 1,114 (p=0,000)
R2=0,87
15,35
2000µg/L
a=-0,077 (p=0,000)
b= 1,149 (p=0,000)
R2=0,95
8,42
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM Tập 17, Số 12 (2020): 2210-2218
2214
Nếu cá Ngựa vằn trải qua các giai đoạn sống trong môi trường có nhiễm ion đồng thì
ở chúng sẽ xuất hiện sự căng thẳng mãn tính. Phản ứng căng thẳng có thể mất đi giá trị thích
nghi của nó và trở thành rối loạn chức năng, có thể dẫn đến sự ức chế tăng trưởng, giảm sinh
sản, và giảm sức đề kháng với tác nhân gây bệnh (Thangam, Jayaprakash, & Perumayee,
2014). Đồng được cá hấp thụ qua mang và đường tiêu hóa, chủ yếu được tích lũy trong các
mô hoạt động chuyển hóa như gan và thận. Nồng độ lớn của Cu2+ gây hại biểu mô mang,
các mô tạo máu, thận, lá lách và gan của cá (Nussey, Van-Vuren, & Du Preez, 1995a, b;
Mazon, Monteiro, Pinheiro, & Fernandes, 2002).
Qua Bảng 1 cho thấy, từ ngày 8 đến ngày 9 thì sự gia tăng nồng độ ion đồng làm biến
động tỉ lệ sống mạnh, nồng độ đồng gây nhiễm càng cao thì tỉ lệ sống của cá Ngựa vằn càng
giảm. Sau 11 ngày, tỉ lệ sống của cá trưởng thành ở nghiệm thức 500µg/L còn 77,78±7,70%
còn tại nghiệm thức 1000µg/L tỉ lệ sống còn 60,00±6,67%, nghiệm thức 2000µg/L tỉ lệ sống
còn 28,89±10,18%, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết qủa phù hợp với một
số nghiên cứu cho rằng tiếp xúc với kim loại nặng cũng làm giảm nồng độ hồng cầu,
Hemoglobin do khả năng hấp thu sắ của ruột bị suy giảm và gây thiếu máu. Thiếu máu là
biểu hiện ban đầu của nhiễm độc nặng cấp tính và sau đó là mãn tính khi nhiễm kim loại.
nặng. Vì nguyên nhân thiếu máu do các cơ quan tạo máu bị hủy hoại dẫn đến giảm tiêu thụ
oxy ở cá dẫn đến chết do ô nhiễm kim loại nặng. Ngoài ra, nồng độ Cu2+ cao cũng gây ra ức
chế miễn dịch nghiêm trọng ở cá, có thể làm cho sinh vật dễ mắc bệnh và chết (Thangam,
Jayaprakash, & Perumayee, 2014).
Hình 2. Tỉ lệ sống (%) của cá Ngựa vằn trưởng thành
sau 11 ngày tại các nghiệm thức nhiểm ion Cu2+
Dựa vào phương trình hồi quy tỉ lệ sống cá ấu trùng qua 11 ngày cho thấy, liều LD50
có thể tính được Y= 94,670 - 0,033X (R= 0,99), Vậy kết thúc thời gian thí nghiệm vào
ngày thứ 11 thì nồng độ để làm chết 50% cá trưởng thành tính ra theo phương trình là
LD50= 1515 µg/L.
96
78
60
29
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
100
0 500 1000 2000
T
ỉ l
ệ
số
ng
(
%
)
NỒNG ĐỘ CU2+ GÂY NHIỄM (µg/L)
TỈ LỆ SỐNG CÁ NGỰA VẰN TRƯỞNG THÀNH (%)
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM Trần Thị Phương Dung và tgk
2215
3.2. Sự tăng trưởng của Cá Ngựa vằn qua các giai đoạn phát triển
Hình 3. Sự tăng trọng của cá Ngựa vằn tại các nghiệm thức nhiểm ion Cu2+
Kích thước ban đầu của tại các nghiệm thức không có sự khác biệt. Cụ thể, tại nghiệm
thức đối chứng là 0,29±0,04g so với nghiệm thức 500µg/L là 0,29±0,02g, nghiệm thức
1000µg/L là 0,27±0,03g và nghiệm thức 2000µg/L là 0,28±0,04g không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê (p>0,05). Tuy nhiên, sau 11 ngày cảm nhiễm với ion đồng, sự tăng trưởng
khối lượng của cá trong các nghiệm thức khảo sát khác nhau. Cụ thể, sự tăng trưởng khối
lượng ở nghiệm thức đối chứng là 0,1g so với nồng độ 500, 1000 là 0,05g và nồng độ 2000
là 0,03g. Kết quả thí nghiệm của chúng tôi hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của
Gharedaashi, Nekoubin, Imanpoor, và Taghizadeh (2013) cho thấy rằng, sau khi nhiễm ion
đồng làm giảm tỉ lệ sống và giảm khả năng tăng trưởng của cá Caspian Sea kutum (Rutilus
frisii kutum). Ion đồng là một trong những ion kim loại làm giảm sự tăng trưởng khối lượng
ở cá Ngựa vằn.
3.3. Ảnh hưởng của ion đồng lên tế bào hồng cầu của cá trưởng thành
Ở cá, ion Cu2+ là một kim loại vi lượng cần thiết cho các chức năng trao đổi chất. Đồng
là một thành phần nhiều enzyme metallo trong cơ thể sinh vật. Hai loại enzym như
Ceruloplasmin và ALA Synthase chứa đồng có chức năng trong quá trình tạo thành phân tử
heme, cấu trúc nên thành phần hemoglobin là thành phần chức năng chính của hồng cầu.
Tuy nhiên, ion Cu2+ gây độc cho cá khi nồng độ vượt quá sự giải độc sinh lí bên trong của
cơ thể (Thangam, Jayaprakash, & Perumayee, 2014). Cá tiếp xúc với các chất ô nhiễm có
nhiều phản ứng sinh lí khác nhau, bao gồm rối loạn sinh lí máu (Booth, Mcdonald, Simons,
& Wood, 1988). Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của ion đồng lên hồng cầu của cá ngựa vằn
đã cho thấy kết quả được trình bày ở Hình 4, 5.
0.10
0.05 0.05
0.03
0.00
0.02
0.04
0.06
0.08
0.10
0.12
0.00 500.00 1000.00 2000.00
T
Ă
N
G
T
R
Ọ
N
G
C
Á
(
G
)
NỒNG ĐỘ CU2+ GÂY NHIỄM (µg/L)
TĂNG TRỌNG CÁ (g)
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM Tập 17, Số 12 (2020): 2210-2218
2216
A. 0 µg/L B. 500 µg/L C. 1000 µg/L D. 2000 µg/L
Hình 4. Hình ảnh tế bào hồng cầu trong máu cá tại các nghiệm thức nhiểm ion Cu2+
Hình 5. Đồ thị số lượng hồng cầu cá tại các nghiệm thức nhiểm ion Cu2+
Theo kết qủa tại Hình 4 cho thấy, ở cá Ngựa vằn sau khi gây nhiễm ion đồng ở các
nống độ từ 500-2000 µg/L không ghi nhận sự biến dạng tế bào hồng cầu. Tuy nhiên, số
lượng tế bào hồng cầu ở cá Ngựa vằn ở nồng độ từ 500-2000 µg/L tại Hình 5 có sự thay đổi
rõ rệt. Tại nghiệm thức đối chứng, số lượng hồng cầu là (113,08 ± 4,55) x 104 TB/mm3 và
có xu hướng tăng tại nồng độ 500 µg/L là (140,52 ± 7,34) x1 04 TB/mm3 tăng 27,44 x 104
TB/mm3 (p<0,05). Nguyên nhân do chức năng của đồng tham gia tổng hợp thành phần
hemoglobin của hồng cầu khi vào trong cơ thể cá, hàm lượng đồng tăng lên sẽ kéo theo hàm
lượng hồng cầu tăng lên. Tuy nhiên, tại nồng độ 1000 µg/L và 2000 µg/L số lượng hồng cầu
của cá có xu hướng giảm lần lượt là 4,24 x 104 TB/mm3 và 24,74 x 104 TB/mm3 (P<0,05).
Sự giảm số lượng tế bào hồng cầu trong cơ thể cá biến tiên theo sự tăng dần của nồng độ ion
đồng gây nhiễm từ nồng độ 500 µg/L. Thực tế này được giải thích, bởi vì, cơ quan sản xuất
máu của cá dưới tác động ion đồng bị tổn thương và hủy hoại (Singh, Nath, Trivedi, &
Sharma, 2008). Mặc dù, đồng là một nguyên tố cần thiết để cá phát triển nhưng khi nồng độ
đồng vượt quá mức độ dung nạp, cá có thể bị ảnh hưởng cấp tính hoặc mãn tính. Độc tính
Cu2+ cũng có thể thay đổi đáng kể giữa các loài cá do các yếu tố khác như kích thước cá,
liều lượng và thời gian tiếp xúc, các cơ chế của loài đối với sự trao đổi chất của ion đồng
(De Boeck, Meeus, De Coen, & Blust, 2004). Kết quả nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu
của Thangam, Jayaprakash, & Perumayee, 2014, nghiên cứu chỉ số huyết học trên cá
113.08
140.52
108.84
88.34
0.00
50.00
100.00
150.00
200.00
0 500 1000 2000
S
ố
lư
ợ
ng
h
ồn
g
cầ
u
(x
10
4
TB
/m
m
3
m
áu
)
NỒNG ĐỘ CU2+ GÂY NHIỄM (µg/L)
S Ố L Ư Ợ N G H Ồ N G C Ầ U
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM Trần Thị Phương Dung và tgk
2217
Cyprinus carpio cho thấy khi nhiễm Cu2+ sẽ làm giảm hồng cầu và hemoglobin so với nhóm
đối chứng. Kết quả tương tự là tìm thấy ở C. macropomum, người ta quan sát thấy số lượng
hồng cầu giảm sau khi nhiễm Cu2+ (Griffin, Davis, & Schlenk, 1999).
4. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nồng độ ion Cu2+ càng cao thì sẽ làm giảm tı̉ lê ̣sống và
giảm khả năng tăng trưởng về khối lượng của cá. Ngoài ra, nồng độ ion Cu2+ cao tuy không
làm biến dạng hồng cầu nhưng lại làm giảm số lượng tế bào hồng cầu của cá đặc biệt tại
nồng độ 2000µg/L.
Tuyên bố về quyền lợi: Các tác giả xác nhận hoàn toàn không có xung đột về quyền lợi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Booth, C. E., Mcdonald, D. G., Simons, B. P., & Wood, M. (1988). Effects of aluminum and low pH
on net ion fluxes and ion balance in the brook trout, salvelinus fontinalis. Fisheries and Aquatic
Science, 45, 1563-1574
De Boeck, G., Meeus, W., De Coen, W., & Blust, R. (2004). Tissue specific Cu bioaccumation
patterns and differences in sensitivity to waterborne Cu in three freshwater fish: rainbow trout,
Oncorhynchus mykiss, common carp, Cyprinus carpio, Aquatic Toxicology, New York, 70,
179-188.
Gharedaashi, E., Nekoubin, H., Imanpoor, R. M., & Taghizadeh, V. (2013). Effect of copper sulfate
on the survival and growth performance of Caspian Sea kutum. Rutilus frisii kutum,
SpringerPlus, 2, 498.
Griffin, R. B., Davis, B. K., & Schlenk, D. (1999). Effect of simulated copper Sulphate therapy stress
indicators in channel catfish. Journal of Aquatic Animal Healt, 11, 231-236.
Kabata, P. A., & Adriano, D. H. (1995). Trace elements in Soils and Plants, third ed. CRC Press
LLC, Boca Raton.
Le, H. B. (2008). Doc hoc moi truong [Ecotoxicology]. Ho Chi Minh City: Vietnam Education
Publishing House. Chapter 1: 07 - 30, Chapter 3: 135 - 137, Chapter 5: 261-275.
Mazon, A. F., Monteiro, E. A. S., Pinheiro, G.H. D., & Fernandes, M. N. (2002). Hematological and
physiological changes induced by Short-term exposure to copper in the freshwater fish,
Prochildus scrofa. Brazilian Journal of Biology, São Carlos, 62, 621-631.
Natt, M. P., & Herrick, C. A. (1952). A new blood diluent for counting erythrocytes and leukocytes
of the chicken. Poult Sci., 31,735-738.
Nussey, G., Van-Vuren, J. H. J., Du, & Preez, H. H., (1995a). Effect of copper on blood
Osmoregulation of the Mozambique tilapia, Oreochromis mossambicus (Cichlidae),
Comparative Biochemistry and Physiology, New York, 111C, 369-380.
Nussey, G., Van-Vuren, J. H. J., & Du Preez, H. H. (1995b). Effect of copper on blood coagulation
of Oreochromis mossambicus (Cichlidae), Comparative Biochemistry and Physiology, 111C,
359-367.
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM Tập 17, Số 12 (2020): 2210-2218
2218
Pham, T. T. H., & Nguyen, T. P. (2014). Ung dung phuong phap cho an gian doan trong nuoi ca tra
(Pangasianodon hypophthalmus) thuong pham [Applying mixed feeding schedule for striped
catfish (Pangasianodon hypophthalmus) grow-out]. Can Tho University Journal of Science,
33, 139-147.
Shahidul, I., & Tanaka, M. (2004). Impacts of pollution on coastal and marine ecosystems including
coastal and marine fisheries and approach for management: a review and synthesis. Marine
Pollution Bulletin, 48, 624-649.
Singh, D., Nath, K., Trivedi, S.P., & Sharma, Y. K., (2008). Impact of copper on haematological
profile of freshwater fish. Channa punctatus”, The Journal of Environmental Biology, 29,
253-257.
Sudova, E., Piackova, V., Kroupova, H., Pijacek, M., & & Svobodova, Z., (2009). The effect of
praziquantel applied per os on selected haematological and biochemical indices in common
carp, Cyprinus carpio. Fish Physiology and Biochemistry, 35, 599-605.
Thangam, Y., Jayaprakash, S., & Perumayee, M., (2014). Effect of Copper Toxicity on
Hematological Parameters to Fresh Water Fish Cyprinus Carpio (Common Carp). IOSR
Journal of Environmental Science, Toxicology and Food Technology, 8, 50-60.
Westerfield, M. (1995). The zebrafish book. 5th edition; A guide for the laboratory use of zebrafish
(Danio rerio). Eugene, University of Oregon Press. Paperback.
THE EFFECTS OF COPPER ION ON THE SURVIVAL, GROWTH,
AND RED BLOOD CELLS OF ADULT ZEBRAFISH
Tran Thi Phuong Dung1*, Luu Tang Phuc Khang1, Tran La Giang2, Nguyen Vo Thuan Thanh1
1Ho Chi Minh City University of Education, Vietnam
2Nha Trang Tourism College, Vietnam
*Corresponding author: Tran Thi Phuong Dung – Email: dungttp@hcmue.edu.vn
Received: September 01, 2020; Revised: September 21, 2020; Accepted: December 28, 2020
ABSTRACT
Copper ion is one of the cations that affect the vitality, growth ability, and the number of blood
cells in fish development. This study was conducted to evaluate the effects of copper ion (Cu2+) on
the development process and hematological parameters of adult zebrafish at different
concentrations: 0 µg/L; 500 µg/L; 1000 µg/L; and 2000 µg/L. The results revealed that, (i) the
minimum Cu2+ concentration affecting the rice fish survival rate is 500 µg/L; (ii) the Cu2+
concentration significantly affecting the survival rate was on the 6th day, the most effect happened at
the 2000 µg/L concentration. Based on the observed results, we offered an equation to predict the
survival rate of fish larvae and discovered the lethal LD50 concentration of Cu2+ after 11 days
culturing is 1515µg/L, and LT50 of Cu2+at the concentration of 500-2000µg/L is 8,42-24,61 days. In
conclusion, the higher the concentration of Cu2+ is, the lower the survival rate and growth ability of
the fish is. The high concentration of Cu2+ decreases the number of red blood cells of the fish, and
the most effective concentration is at 2000 µg/L.
Keywords: Ion copper (Cu2+); hematological parameter; poisoned by heavy metal; Zebrafish
Các file đính kèm theo tài liệu này:
a_nh_huo_ng_cua_ion_dong_cu_len_ti_le_song_su_tang_truong_va.pdf