Sản phẩm quang hợp là một trong những
yếu tố quyết định hiệu suất tăng trưởng và phát
triển ở thực vật. Ở thực vật bậc cao, ánh sáng
đỏ, xanh lơ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp
rõ rệt nhất. Sắc tố đóng vai trò quan trọng trong
khả năng hấp thu chọn lọc ánh sáng, do đó ánh
sáng sẽ không trực tiếp được chlorophyll a hấp
thu để phóng thích điện tử (e-) vào chuỗi quang
hợp mà được hệ thống sắc tố phụ trong phức hợp
nhận ánh sáng hấp thu để năng lượng ánh sáng
giảm dần khi đi qua hệ thống lọc của sắc tố (Bùi
Trang Việt, 2016). Cây Húng quế sau 4 tuần
tăng trưởng trong điều kiện chỉ có ánh sáng đơn
sắc xanh đều có cường độ quang hợp giảm so với
cây dưới đèn huỳnh quang, sự giảm hàm lượng
chlorophyll a trong lá của cây dưới ánh sáng đơn
sắc xanh cùng với sự thiếu các ánh sáng với
bước sóng khác (đặc biệt là ánh sáng đỏ) có thể
là nguyên nhân dẫn đến sự giảm cường độ
quang hợp của lá. Trong khi đó, ánh sáng xanh
450nm lại giúp duy trì hàm lượng carotenoid và
tỉ lệ chlorophyll a/b không giảm so với huỳnh
quang, như vậy trong điều kiện ánh sáng với
cường độ thấp, cây tăng trưởng dưới ánh sáng
450nm có khả năng thích nghi tốt hơn các cây
dưới ánh sáng 440 hay 460nm.
Trong nghiên cứu này, cây Húng quế in
vitro dưới ánh sáng huỳnh quang có hàm lượng
đường và tinh bột cao hơn các cây tăng trưởng
dưới ánh sáng LED xanh, tương tự như giá trị
sinh khối. Do bị giảm hàm lượng chlorophyll a ở
cây dưới tác động của nguồn sáng LED xanh
trong thời gian dài dẫn đến sự giảm cường độ
quang hợp của lá là nguyên nhân dẫn đến sự
thiếu hụt năng lượng và cơ chất cho quá trình
sinh tổng hợp, tích lũy đường và tinh bột ở lá
của cây. Wang & cs (2016) cũng ghi nhận được
kết quả tương tự khi nghiên cứu tác động của
ánh sáng đơn sắc xanh và đỏ trên cây xà lách
Lactuca sativa.
Theo Roberts & Paul (2016), sự thay đổi
chất lượng nguồn sáng ảnh hưởng đến sự phát
triển, hình thái, sinh lý và sự tổng hợp các hợp
chất thứ cấp. Đối với cây Húng quế in vitro, ánh
sáng xanh 440 hay 460nm làm giảm hàm lượng
phenol tổng số và flavonoid trong lá so với các
cây tăng trưởng dưới ánh sáng huỳnh quang.
Ánh sáng xanh 450nm tuy làm giảm hàm lượng
phenol tổng số nhưng lại duy trì hàm lượng
flavonoid ở mức cao trong lá tương đương so với
cây dưới ánh sáng huỳnh quang. Như vậy, ánh
sáng xanh 450nm có vai trò duy trì sự tổng hợp
và tích luỹ flavonoid, sự tích lũy flavonoid giúp
lá được bảo vệ, tăng sự thích nghi trong điều
kiện chỉ có ánh sáng xanh 450nm trong một thời
gian dài. Kết quả tương tự với các nghiên cứu
trước đây ở cây Trường sinh (Nascimento & cs.,
2012), cây Đậu Đũa và Đậu Cove (Khatab & ElKhawas, 2007).
8 trang |
Chia sẻ: hachi492 | Lượt xem: 24 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của ánh sáng xanh lơ đến sự tăng trưởng và tích lũy flavonoid của cây húng quế (ocimum basilicum L) in vitro, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vietnam J. Agri. Sci. 2020, Vol. 18, No. 2: 130-137 Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2020, 18(2): 130-137
www.vnua.edu.vn
130
ẢNH HƯỞNG CỦA ÁNH SÁNG XANH LƠ ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG
VÀ TÍCH LŨY FLAVONOID CỦA CÂY HÚNG QUẾ (Ocimum basilicum L.) In Vitro
Nguyễn Thị Thu Thảo1, Trần Hoài Nguyên1, Đỗ Thường Kiệt1,2, Phan Ngô Hoang1*
1Khoa Sinh học - Công nghệ sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM
2TT Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ cao trong Nông nghiệp, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
*Tác giả liên hệ: pnhoang@hcmus.edu.vn
Ngày nhận bài: 24.10.2019 Ngày chấp nhận đăng: 02.04.2020
TÓM TẮT
Cây Húng quế là một loại rau gia vị và dược liệu được trồng phổ biến ở Việt Nam, các hợp chất tạo mùi vị của
cây này như phenolics và flavonoid được quan tâm. Nghiên cứu so sánh việc tăng trưởng của cây Húng quế in vitro
dưới ánh sáng xanh lơ gồm LED 440, 450 hoặc 460nm với đèn huỳnh quang để tìm hiểu sự thay đổi hình thái, sinh
khối cây, trao đổi khí trong quang hợp, hàm lượng sắc tố, đường, tinh bột và tích lũy flavonoid ở lá sau 4 tuần. Kết
quả, các cây tăng trưởng dưới đèn huỳnh quang hoặc LED 450nm có lóng thân ngắn, nhưng số lá và tổng diện tích
lá cao hơn so với cây tăng trưởng dưới LED 440 hay 460nm; sinh khối khô tích lũy ở rễ của tất cả các cây dưới LED
xanh đều giảm so với đối chứng. Ánh sáng LED 440 hay 460nm thúc đẩy gia tăng sinh khối khô của thân, trong khi
ánh sáng xanh 450nm lại giúp tích lũy sinh khối trong lá. Cường độ quang hợp của lá, hàm lượng chlorophyll a,
đường, tinh bột và hàm lượng hợp chất phenol trong lá các cây dưới ánh sáng xanh lơ (440, 450 và 460nm) đều
giảm so với đối chứng. Tuy nhiên, ánh sáng 450nm giúp duy trì tỷ lệ chlorophyll a/b, carotenoid và flavonoid trong lá
khá cao tương đương so với đối chứng.
Từ khóa: Flavonoid, hợp chất phenol, LED xanh, Ocimum basilicum L, quang hợp.
The Effects of Blue Led Light on the Growth
and Flavonoid Accumulation of Basil (Ocimum basilicum L.) In Vitro
ABSTRACT
Basil is widely cultivated in Vietnam and mostly used for spice and medicinal purposes. In this study, in vitro
basil plants were cultivated under three blue LED light conditions (440, 450, and 460nm, respectively) by using
fluorescent lamps as the control. After four weeks, the morphology, biomass, gas exchange in photosynthesis,
chlorophyll, total sucrose, starch, phenol compounds and total flavonoid content of the plants were determined.
Under the fluorescent light or blue LED of 450nm, the stem height was lower, but the number of leaves was greater,
and the total leaf area was higher than those of plants grown under blue LEDs (440 and 460nm). Root dry mass
percentage of the plants under blue LEDs decreased compared to that of the control. Blue LED at 440 and 460nm
increased the percentage of stem dry mass, whereas blue LED light (450nm) increased the percentage of leaves dry
mass. Monochromatic blue light reduced photosynthetic rate, chlorophyll a, sucrose, starch, and phenol compounds
content of leaves. However, blue LED light (450nm) maintained the carotenoid and flavonoid contents, chlorophyll a/b
ratio in leaves which were rather high in comparison with the fluorescent light of the control.
Keywords: Blue LED, Flavonoids, Ocimum basilicum L., phenol compounds, photosynthesis.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Húng quế (Ocimum basilicum L.) có
nguồn gốc từ châu Á và châu Phi, ngày nay được
trồng phổ biến ở Việt Nam như một loại rau gia
vị. Theo các bài thuốc đông y, những hợp chất
thứ cấp như phenol, flavonoid ở loại cây này có ý
nghĩa rất cao trong điều trị viêm, ung thư... (Đỗ
Tất Lợi, 2004; Cardoso & cs., 2017; Trettel &
cs., 2017). Hợp chất thứ cấp thực vật được tổng
Nguyễn Thị Thu Thảo, Trần Hoài Nguyên, Đỗ Thường Kiệt, Phan Ngô Hoang
131
hợp từ năng lượng và tiền chất của các quá
trình biến dưỡng sơ cấp, đặc biệt, những sản
phẩm có nguồn gốc từ quá trình quang hợp. Ánh
sáng xanh lơ (bước sóng từ 400-500nm) vừa là
nguồn năng lượng cho hoạt động quang hợp, vừa
đóng vai trò tín hiệu cho các cử động và quá
trình quang phát sinh hình thái của thực vật
(Lin & cs., 2013; Bùi Trang Việt, 2016). Việc
nghiên cứu tác động của ánh sáng xanh lơ lên
quá trình quang hợp, sự tổng hợp các sản phẩm
sơ cấp và thứ cấp ngày nay rất được quan tâm
bên cạnh một số công bố liên quan trong lĩnh
vực này trên vài đối tượng. Tuy nhiên, cho đến
gần đây, các nghiên cứu chỉ dừng ở việc tìm hiểu
hiệu ứng phối hợp của ánh xáng xanh lơ và đỏ ở
các tỷ lệ khác nhau trên thực vật (Pennisi & cs.,
2019; Carvalho & cs., 2016; Jensen & cs., 2018;
Piovene & cs., 2015; Naznin & cs., 2019). Trong
khi đó, vai trò đặc hiệu của ánh sáng xanh lơ ở
các bước sóng riêng lẻ khác nhau trên các quá
trình sinh lý của thực vật vẫn chưa được làm rõ.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu
tác động của ánh sáng LED xanh ở các bước
sóng khác nhau lên những biểu hiện hình thái,
hoạt động quang hợp, sự tích lũy một số sản
phẩm biến dưỡng sơ cấp và thứ cấp ở cây Húng
quế in vitro.
2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Vật liệu
Cây Húng quế (Ocimum basilicum L.) in
vitro 2 tuần tuổi có nguồn gốc từ hạt, tăng trưởng
trên môi trường MS (Murashige & Skoog, 1962)
với đa lượng giảm 50%, đường 30 g/L, agar 6 g/L,
ở phòng nuôi cấy: 27 ± 2C, ẩm độ 65 ± 5%, đèn
huỳnh quang, cường độ ánh sáng 50 µmol
photon/m2/giây, quang kì 12/12 giờ.
2.2. Phương pháp
Khảo sát ảnh hưởng của ánh sáng LED
xanh lên cây in vitro. Cây Húng quế in vitro 2
tuần tuổi được theo dõi tăng trưởng dưới các
nguồn sáng huỳnh quang (đối chứng) hoặc LED
xanh ở các bước sóng 440, 450 hoặc 460nm,
cường độ ánh sáng 50µmol photon/m2/giây,
quang kì 12/12 giờ. Hình thái cây, khối lượng
tươi và khô (KLT, KLK), hàm lượng đường, tinh
bột, phenol tổng số và flavonoid trong lá được
xác định sau 4 tuần.
Xác định cường độ quang hợp của lá. Các lá
ở vị trí thứ 1 (tính từ gốc) của cây in vitro sau 4
tuần tăng trưởng dưới các điều kiện chiếu sáng
khác nhau được cô lập và xác định cường độ
quang hợp bằng máy đo oxygen (nguồn sáng
LED trắng, cường độ 50µmol photon/m2/giây, ở
nhiệt độ 27°C). Cường độ quang hợp được tính
dựa trên sự gia tăng lượng oxygen trong buồng
đo theo thời gian (µmol O₂/cm2/phút).
Ly trích và xác định hàm lượng sắc tố:
0,05g lá tươi được nghiền trong 10mL aceton,
vortex (1 phút) và ly tâm 4.000 vòng/phút (10
phút), thu dịch nổi; lặp lại 2 lần. Tổng dịch trích
được giữ lạnh ở 4C trong điều kiện tối và xác
định mật độ quang ở các bước sóng 470, 646 và
663nm (Spectrophotometer UV-VIS12, MRC),
hàm lượng sắc tố trong lá (mg/g TLT) được tính
theo công thức của Welburn (1994):
Hàm lượng chlorophyll a (Ca) = 12,21.A663 -
2,81.A646
Hàm lượng chlorophyll b (Cb) = 20,13.A646 -
5,03.A663
Hàm lượng carotene tổng cộng CCar =
(1000.A470 - 3,27.Ca -104.Cb )/198
Trong đó, A663, A646, A470 là các chỉ số
OD đo được bằng máy quang phổ trong 10mL
dịch chứa sắc tố.
Ly trích, định lượng đường và tinh bột trong
lá: 0,05g lá tươi được nghiền trong 20mL
ethanol tuyệt đối, đun cách thủy 15 phút và ly
tâm với tốc độ 4.000 vòng/phút (5 phút), thu
dịch nổi. Phần lắng sau khi ly tâm được lặp lại 2
lần các bước: hòa với 20mL ethanol 80%, đun
cách thủy 15 phút, ly tâm 4.000 vòng/phút (5
phút) và thu dịch nổi. Toàn bộ dịch trích được cô
cạn, sau đó được thêm nước cất để đủ 50mL.
Lấy 1mL dịch pha loãng được thực hiện phản
ứng màu với 1mL phenol 5%, 5mL acid sulfuric
và đo mật độ quang ở bước sóng 490nm. Hàm
lượng đường tổng số (mg/g KLK) trong mẫu được
xác định dựa trên đường chuẩn sucrose.
Phần lắng (cặn) sau khi ly tâm (trong
phương pháp ly trích đường nêu trên) được sấy
Ảnh hưởng c
in vitro
132
khô ở 70C, thêm 2
15 phút. H
vortex, đun cách th
được thêm nư
vòng/phút (5 phút) và thu d
tục được b
bước đun cách th
dịch trích đư
cho đủ 50
để thực hi
và 5mL axit sulfuric đ
bước sóng 490
được xác đ
glucose (Coombs & cs., 1987).
Ly trích và đ
lá: Dùng 0,05g lá tươi đư
methanol 70%, đun cách th
tâm 4.000 vòng/phút (5 phút), thu d
lắng (cặn) đư
Tổng dịch n
methanol 70% . S
sung 1mL
Na2CO3 7,5%,
mật độ quang
phenol tổng s
đường chu
Ly trích và đ
Mẫu lá đư
trong bình hút
Hình 1. Cây Húng qu
ủa ánh sáng xanh l
mL
ỗn hợp đư
ủy 15 phút. Sau đó, h
ớc cất cho đ
ổ sung 2mL
ủy, ly t
ợc cô cạ
mL. Sử dụng 1
ện phản ứng màu v
nm. Hàm lư
ịnh bằng cách so sánh v
ịnh lư
ợc giữ lạ
ổi đượ
ử dụ
Folin 10%, 1
ủ hỗn h
ở bướ
ố trong m
ẩn axit galic (Baba & Malik, 2015).
ịnh lư
ợc sấy khô hoàn toàn và b
ẩm, lấ
ơ đến
nước cất và đun cách th
ợc thêm 2mL
ủ 10mL
ịch nổ
HClO4 4,6N và l
âm như trên. Toàn b
n còn 5mL, thêm nư
mL dịch pha loãng này
ới 1
ậm đặc; đo m
ợng tinh b
ợng phenol t
ợc nghi
ủy 10 phút
i và lặp lại s
c định mứ
ng 0,4mL d
mL nư
ợp trong tối (30 phút) và đo
c sóng 765nm
ẫu được xác đ
ợng flavonoid t
y 0,01g lá khô nghi
ế in vitro
LED xanh 440 (B), 450 (C) và 460
sự tăng trưởng
HClO4 7,2N,
ỗn h
, ly tâm 4.000
i. Phần bã ti
ặp lại các
ớc c
mL phenol 5%
ật độ quang
ột trong m
ới đường chu
ổng số trong
ền trong 1
ở 70C, ly
ịch nổi. Ph
ự ly trích 2 l
c 50mL b
ịch trích và b
ớc cất, 1,6
. Hàm lư
ịnh dựa trên
ổng s
ảo qu
ền trong
sau 4 tuần tăng trư
và tích lũy flavonoid c
ủy
ợp
ếp
ộ
ất
ở
ẫu
ẩn
mL
ần
ần.
ằng
ổ
mL
ợng
ố:
ản
1mL
đến 5 giây (60
phút), thu d
sự ly trích 2 l
qua đĩa petri và cô c
10mL
mẫu đư
sóng 257
lại v
các thí nghi
Microsoft Office Excel
chương trình SPSS 20.0 cho
hạng, chia nhóm theo công th
trên nh
(p: probability) đư
khác nhau kèm theo sau s
3. K
3.1.
sự tăng trư
trưở
xanh 450
nhi
nhóm cây dư
(Bả
ởng dư
ủa cây húng qu
ethanol 80%,
-
ịch n
ầ
methanol tuy
ợc thể hi
nm (Victório & cs., 2009).
Xử lý số liệ
ới 5 mẫu/ nghi
ệm đư
ững khác bi
ẾT QUẢ
Ảnh hưởng c
ởng cây Húng qu
Về hình thái, cây Húng qu
ng dưới ánh sáng hu
nm có thân th
ều và tổng di
ới ánh sáng xanh 440 và 460
ng 1, Hình 1).
ới các ngu
nm
ế
gia nhiệ
65C), ly tâm 4.000 vòng/phút (5
ổi. Phần l
n. Tất cả d
ạn, cặ
ệt đối. Lư
ện thông qua giá tr
u: Tất cả các thí nghi
ệm thức. S
ợc xử
2010 và th
ệt có ý nghĩa
ợc biểu hi
ố
ủa ánh sáng LED xanh lên
ỳnh quang và ánh sáng
ấp hơn, nhưng s
ện tích lá l
ồn sáng hu
(D)
(Ocimum basilicum
t bằng lò vi sóng t
ắng (cặn) đư
ịch trích đư
n được hòa tan trong
ợng flavonoid trong
ị OD
ệm đư
ố liệu ghi nh
lý bằng ph
ống kê b
Windows. S
ức Duncan d
ở mứ
ện bằng các m
trung bình.
ế in vitro
ế in vitro
ớn hơn rõ r
ỳnh quang (A),
L.)
ừ 3
ợc lặp lại
ợc chuyển
ở bước
ợc lặp
ận từ
ần mềm
ằng
ự phân
ựa
c p = 0,05
ẫu tự
tăng
ố lá/cây
ệt so với
nm
Nguyễn Thị Thu Thảo, Trần Hoài Nguyên, Đỗ Thường Kiệt, Phan Ngô Hoang
133
Bảng 1. Chiều cao cây, số cặp lá và tổng diện tích lá cây sau 4 tuần
Nghiệm thức Chiều cao cây (cm) Số cặp lá Tổng diện tích lá (cm²)
Huỳnh quang 4,5
bc
± 0,4 5,0
a
± 0,0 9,5
a
± 0,0
Xanh 440nm 8,3
a
± 0,4 4,0
b
± 0,0 6,2
b
± 0,0
Xanh 450nm 4,5
c
± 0,5 5,0
a
± 0,0 10,4
a
± 0,2
Xanh 460nm 8,0
a
± 0,0 4,0
b
± 0,0
7,3
b
± 0,2
Ghi chú: Các số trung bình trong các cột với các mẫu tự khác nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa ở mức p = 0,05.
Bảng 2. Khối lượng tươi cây Húng quế in vitro sau 4 tuần
Nghiệm thức
Khối lượng tươi (mg)
Rễ Thân Lá Cả cây
Huỳnh quang 99,0
a
± 9,2 52,8
a
± 4,6 162,0
a
± 9,3 313,8
a
± 17,4
Xanh 440nm 37,7
b
± 3,7 59,5
a
± 5,2 100,6
b
± 4,8 197,8
b
± 13,1
Xanh 450nm 31,0
b
± 3,2 27,0
b
± 3,7 94,1
b
± 7,1 152,2
c
± 16,0
Xanh 460nm 23,3
b
± 3,3 53,6
a
± 3,9 103,3
b
± 9,3 180,3
bc
± 16,3
Ghi chú: Các số trung bình trong các cột với các mẫu tự khác nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa ở mức p = 0,05.
Bảng 3. Khối lượng khô cây Húng quế in vitro sau 4 tuần
Nghiệm thức
Khối lượng khô (mg)
Rễ Thân Lá cả cây
Huỳnh quang 10,9
a
± 1,2
10,2
a
± 0,7 28,1
a
± 1,3
49,2
a
± 2,6
Xanh 440nm 4,2
b
± 0,4 8,6
ab
± 0,4 15,0
b
± 0,9 27,7
b
± 1,4
Xanh 450nm 3,6
b
± 0,3 4,6
c
± 0,5 14,0
b
± 1,0 22,2
b
± 1,6
Xanh 460nm 3,3
b
± 0,4 8,1
b
± 0,8 14,9
b
± 1,7 26,8
b
± 2,8
Ghi chú: Các số trung bình trong các cột với các mẫu tự khác nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa ở mức p = 0,05.
Bảng 4. Tỷ lệ phần trăm sinh khối khô của rễ, thân, lá so với cả cây sau 4 tuần
Nghiệm thức
Phần trăm sinh khối khô (%)
Rễ Thân Lá
Huỳnh quang 21,9
a
± 1,5
20,8
b
± 1,2
57,3
b
± 1,8
Xanh 440nm 14,9
b
± 1,2
31,2
a
± 1,2
53,9
b
± 1,4
Xanh 450nm 16,3
b
± 1,1
20,8
b
± 1,1
63,0
a
± 1,1
Xanh 460nm 12,4
b
± 0,6
31,0
a
± 0,7
56,7
b
± 0,9
Ghi chú: Các số trung bình trong các cột với các mẫu tự khác nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa ở mức p = 0,05.
Sau 4 tuần, khối lượng tươi và khô của các
cây tăng trưởng dưới ánh sáng xanh ở các bước
sóng khác nhau đều giảm so với các cây dưới ánh
sáng huỳnh quang ở cùng cường độ 50µmol
photon/m2/giây (Bảng 2 và 3). Dưới ánh sáng
xanh ở tất cả các bước sóng, các cây đều giảm khối
lượng và tỷ lệ sinh khối khô của rễ so với đối
chứng huỳnh quang. Ánh sáng LED xanh 440 và
460nm thúc đẩy sự tăng mạnh khối lượng khô
của thân, trong khi ánh sáng LED xanh 450nm
giúp tăng mạnh phần trăm khối lượng khô của lá
so với các nghiệm thức còn lại (Bảng 2, 3 và 4).
Ảnh hưởng của ánh sáng xanh lơ đến sự tăng trưởng và tích lũy flavonoid của cây húng quế (Ocimum basilicum L.)
in vitro
134
3.2. Ảnh hưởng của ánh sáng LED xanh trên
quang hợp của lá cây Húng quế in vitro
Các lá ở vị trí thứ 1 (tính từ gốc), sau 4 tuần
tăng trưởng dưới ánh sáng xanh 440, 450 hay
460nm có cường độ quang hợp tương đương nhau
và đều giảm mạnh so với đối chứng (Bảng 5).
Hàm lượng chlorophyll a trong lá cây sau 4
tuần tăng trưởng dưới các ánh sáng xanh đều
giảm so với lá của cây dưới đèn huỳnh quang.
Đặc biệt, lá của các cây dưới ánh sáng LED
xanh 450nm có hàm lượng chlorophyll a giảm
mạnh nhưng hàm lượng carotenoid và tỷ lệ
chlorophyll a/b vẫn được duy trì tương đương so
với đối chứng. Trong khi đó, hàm lượng
carotenoid và tỷ lệ chlorophyll a/b trong lá của
cây dưới ánh sáng LED xanh 440 hay 460nm lại
giảm so với đối chứng (Bảng 6).
3.3. Ảnh hưởng của ánh sáng LED xanh lên
sự tích lũy các hợp chất sơ cấp và thứ cấp
ở lá
Hàm lượng đường và tinh bột trong lá của
cây sau 4 tuần tăng trưởng dưới đèn huỳnh
quang (đối chứng) đều cao hơn so với các cây
dưới ánh sáng LED xanh. Dưới ánh sáng LED
450nm, các cây có hàm lượng phenol tổng số
trong lá giảm nhưng hàm lượng flavonoid cao
tương đương so với cây đối chứng. Trong khi đó,
dưới LED 440 hay 460nm lại làm giảm cả hàm
lượng phenol tổng số và flavonoid trong lá so với
đối chứng (Bảng 7).
Bảng 5. Cường độ quang hợp của lá cây Húng quế in vitro sau 4 tuần
Nghiệm thức Cường độ quang hợp (µmol O2/m
2
/giây)
Huỳnh quang 5,5
a
± 0,7
Xanh 440nm 2,5
b
± 0,3
Xanh 450nm 1,4
b
± 0,3
Xanh 460nm 2,0
b
± 0,3
Ghi chú: Các số trung bình trong các cột với các mẫu tự khác nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa ở mức p = 0,05.
Bảng 6. Hàm lượng sắc tố và tỷ lệ chlorophyll a/b trong lá cây sau 4 tuần
Nghiệm thức
Hàm lượng sắc tố (mg/g TLT)
Tỷ lệ Chlorophyll a/b
Chlorophyll a Chlorophyll b Carotenoid
Huỳnh quang 14,76
a
± 0,24
1,64
ab
± 0,01 4,56
a
± 0,09
8,97
a
± 0,11
Xanh 440nm 11,93
c
± 0,12 1,66
ab
± 0,02 4,14
b
± 0,10 7,19
b
± 0,08
Xanh 450nm 13,63
b
± 0,11 1,52
b
± 0,05 4,54
a
± 0,11 9,03
a
± 0,27
Xanh 460nm 11,91
c
± 0,08 1,75
a
± 0,05 4,14
b
± 0,21 6,83
b
± 0,17
Ghi chú: Các số trung bình trong các cột với các mẫu tự khác nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa ở mức p = 0,05.
Bảng 7. Hàm lượng đường, tinh bột, phenol tổng số và flavonoid trong lá sau 4 tuần
Nghiệm thức
Hàm lượng (mg/g TLT) Hàm lượng phenol tổng số
(µg/g TLT)
Flavonoid
(giá trị OD257) Đường Tinh bột
Huỳnh quang 23,75
a
± 2,64
99,31
a
± 7,56
30,03
a
± 2,24
0,96
a
± 0,08
Xanh 440nm 16,03
b
± 0,38
41,38
c
± 3,45
16,00
b
± 1,61 0,75
b
± 0,04
Xanh 450nm 19,38
b
± 1,06
70,01
b
± 5,45
19,17
b
± 1,67 0,85
ab
± 0,04
Xanh 460nm 18,30
b
± 0,34
56,47
c
± 5,55
16,14
b
± 2,42 0,80
b
± 0,04
Ghi chú: Các số trung bình trong các cột với các mẫu tự khác nhau thì sự khác biệt có ý nghĩa ở mức p = 0,05.
Nguyễn Thị Thu Thảo, Trần Hoài Nguyên, Đỗ Thường Kiệt, Phan Ngô Hoang
135
4. THẢO LUẬN
Về mặt hình thái, cây Húng quế in vitro sau
4 tuần tăng trưởng dưới LED xanh ở các bước
sóng 440, 450, 460nm đều có những biểu hiện
khác biệt và có thể phân thành hai nhóm: nhóm
cây dưới ánh sáng 450nm có kiểu tăng trưởng
tương tự các cây đối chứng và nhóm có thân cao
hơn, ít cặp lá, tổng diện tích lá nhỏ (dưới ánh
sáng 440 và 460nm) (Hình 1 và Bảng 1). Theo
công bố từ một số nghiên cứu cho thấy ánh sáng
xanh 450nm có tác động cản sự kéo dài lóng ở cây
hoa cúc (Shimizu & cs., 2006); ở Sinapsis alba,
khi xử lý ánh sáng xanh từ 0,75-2 ngày hoặc bổ
sung ánh sáng xanh ở 16µmol photon/m2/giây,
trong 11 ngày vào điều kiện đèn cao áp sodium
(cường độ 280µmol photon/m2/giây) đã gây cản
mạnh sự kéo dài lóng thân cây mầm (Casal &
Smith, 1989). Trong nghiên cứu này, dưới ánh
sáng 450nm, các cây Húng quế có lóng thân
ngắn, nhiều lá tương tự đối chứng, trong khi
dưới nguồn sáng 440 hay 460nm, các cây có xu
hướng kéo dài lóng thân và số lá ít hơn.
Về sinh khối, so với ánh sáng huỳnh quang,
ánh sáng xanh ở các bước sóng 440, 450 và
460nm đều làm giảm khối lượng tươi và khô
(giảm khoảng 50%) của toàn cây, đặc biệt là sự
sụt giảm mạnh sinh khối của rễ (từ 63% đến
77%). Theo Takemiya & cs. (2005), ở
Arabidopsis alba, ánh sáng xanh 470 ở cường độ
0,1 µmol photon/m2/giây đã tương tác với các thể
nhận ánh sáng phototropin 1 và 5 để giúp cây
gia tăng sinh khối (Suetsugu & cs., 2014).
Phototropin thường được tạo ra nhiều ở tế bào
khí khẩu giúp thực vật đáp ứng với ánh sáng
xanh điều tiết độ mở khí khẩu. Ở cây đậu, trong
khoảng bước sóng 275 đến 459nm với cường độ
thấp từ 0,18 đến 1µmol photon/m2/giây giúp bão
hòa độ mở khí khẩu. Eisinger & cs. (2000) cho
rằng, tùy loại bước sóng, hiệu ứng này có thể
khác nhau về ngưỡng tác động. Ở Húng quế, các
cây chịu ảnh hưởng của ánh sáng 440 và 460nm
gia tăng tỷ lệ chất khô hoặc giảm mạnh sự trữ
nước trong thân, trong khi hiện tượng này lại
xảy ra ở lá đối với các cây chịu tác động từ
nguồn ánh sáng 450nm. Kết quả này cho thấy,
có thể ánh sáng xanh 450nm làm mất nước
nhanh ở lá thông qua sự mở khí khẩu nhiều hơn
so với các cây dưới nguồn ánh sáng xanh khác.
Nghiệm thức ánh sáng xanh 440 hay 460nm, tỉ
lệ chất khô ở thân cao hơn ánh sáng xanh
450nm và đối chứng, như thế ánh sáng xanh
450nm có tác động giúp tích lũy vật chất trong
lá, trong khi nhóm ánh sáng xanh còn lại có xu
hướng giúp hợp chất hữu cơ, chất thô tổng cộng
dịch chuyển và tích trữ trong thân cây. Tác
động khác nhau của ánh sáng xanh lên sự tích
lũy sinh khối khô như đã nêu trên hoàn toàn
phù hợp với sự biến đổi hình thái của cây khi
tăng trưởng dưới ánh xanh ở các bước sóng khác
nhau (440, 450 hoặc 460nm).
Sản phẩm quang hợp là một trong những
yếu tố quyết định hiệu suất tăng trưởng và phát
triển ở thực vật. Ở thực vật bậc cao, ánh sáng
đỏ, xanh lơ ảnh hưởng đến quá trình quang hợp
rõ rệt nhất. Sắc tố đóng vai trò quan trọng trong
khả năng hấp thu chọn lọc ánh sáng, do đó ánh
sáng sẽ không trực tiếp được chlorophyll a hấp
thu để phóng thích điện tử (e-) vào chuỗi quang
hợp mà được hệ thống sắc tố phụ trong phức hợp
nhận ánh sáng hấp thu để năng lượng ánh sáng
giảm dần khi đi qua hệ thống lọc của sắc tố (Bùi
Trang Việt, 2016). Cây Húng quế sau 4 tuần
tăng trưởng trong điều kiện chỉ có ánh sáng đơn
sắc xanh đều có cường độ quang hợp giảm so với
cây dưới đèn huỳnh quang, sự giảm hàm lượng
chlorophyll a trong lá của cây dưới ánh sáng đơn
sắc xanh cùng với sự thiếu các ánh sáng với
bước sóng khác (đặc biệt là ánh sáng đỏ) có thể
là nguyên nhân dẫn đến sự giảm cường độ
quang hợp của lá. Trong khi đó, ánh sáng xanh
450nm lại giúp duy trì hàm lượng carotenoid và
tỉ lệ chlorophyll a/b không giảm so với huỳnh
quang, như vậy trong điều kiện ánh sáng với
cường độ thấp, cây tăng trưởng dưới ánh sáng
450nm có khả năng thích nghi tốt hơn các cây
dưới ánh sáng 440 hay 460nm.
Trong nghiên cứu này, cây Húng quế in
vitro dưới ánh sáng huỳnh quang có hàm lượng
đường và tinh bột cao hơn các cây tăng trưởng
dưới ánh sáng LED xanh, tương tự như giá trị
sinh khối. Do bị giảm hàm lượng chlorophyll a ở
cây dưới tác động của nguồn sáng LED xanh
trong thời gian dài dẫn đến sự giảm cường độ
quang hợp của lá là nguyên nhân dẫn đến sự
Ảnh hưởng của ánh sáng xanh lơ đến sự tăng trưởng và tích lũy flavonoid của cây húng quế (Ocimum basilicum L.)
in vitro
136
thiếu hụt năng lượng và cơ chất cho quá trình
sinh tổng hợp, tích lũy đường và tinh bột ở lá
của cây. Wang & cs (2016) cũng ghi nhận được
kết quả tương tự khi nghiên cứu tác động của
ánh sáng đơn sắc xanh và đỏ trên cây xà lách
Lactuca sativa.
Theo Roberts & Paul (2016), sự thay đổi
chất lượng nguồn sáng ảnh hưởng đến sự phát
triển, hình thái, sinh lý và sự tổng hợp các hợp
chất thứ cấp. Đối với cây Húng quế in vitro, ánh
sáng xanh 440 hay 460nm làm giảm hàm lượng
phenol tổng số và flavonoid trong lá so với các
cây tăng trưởng dưới ánh sáng huỳnh quang.
Ánh sáng xanh 450nm tuy làm giảm hàm lượng
phenol tổng số nhưng lại duy trì hàm lượng
flavonoid ở mức cao trong lá tương đương so với
cây dưới ánh sáng huỳnh quang. Như vậy, ánh
sáng xanh 450nm có vai trò duy trì sự tổng hợp
và tích luỹ flavonoid, sự tích lũy flavonoid giúp
lá được bảo vệ, tăng sự thích nghi trong điều
kiện chỉ có ánh sáng xanh 450nm trong một thời
gian dài. Kết quả tương tự với các nghiên cứu
trước đây ở cây Trường sinh (Nascimento & cs.,
2012), cây Đậu Đũa và Đậu Cove (Khatab & El-
Khawas, 2007).
5. KẾT LUẬN
Các cây tăng trưởng dưới ánh sáng huỳnh
quang và LED xanh 450nm không tăng chiều
cao cây nhưng vẫn ổn định số lá và tổng diện
tích lá so với các cây dưới LED 440 và 460nm.
Tỷ lệ sinh khối khô ở rễ giảm so với đối chứng
nhưng các cây dưới ánh sáng xanh 440 và
460nm có phần trăm sinh khối khô ở thân tăng
cao; ngược lại các cây dưới ánh sáng 450nm lại
tập trung gia tăng tỷ lệ sinh khối khô ở lá. Ánh
sáng LED xanh làm giảm cường độ quang hợp
lá, giảm hàm lượng chlorophyll a, đường tổng
số, tinh bột tổng số, và lượng phenol tổng số
trong lá so với đối chứng. Tuy nhiên, ánh sáng
450nm giúp duy trì hàm lượng carotenoid, tỷ lệ
chlorophyll a/b, hàm lượng flavonoid trong lá
cao tương đương với cây đối chứng. Từ các kết
quả trên, ánh sáng LED xanh 450nm được xem
là đóng vai trò quan trọng trong sự tập trung
năng lượng phát triển bộ lá và trong sự tích lũy
flavonoid của lá ở cây Húng quế in vitro.
LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả chân thành cảm ơn nguồn
kinh phí hỗ trợ từ đề tài C2017-18-13 do
ĐHQG-HCM cấp; các phòng thí nghiệm tại
Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ
cao trong Nông nghiệp (RCHAA) và phòng thí
nghiệm Sinh lý thực vật, Khoa Sinh học - Công
nghệ sinh học thuộc Trường Đại học Khoa học
Tự nhiên, ĐHQG-HCM.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Baba S. A. & Malik S. A. (2015). Determination of
total phenolic and flavonoid content, antimicrobial
and antioxidant activity of a root extract of
Arisaema jacquemontii Blume. Journal of Taibah
University for Science. 9: 449-454.
Bùi Trang Việt (2016). Sinh lý thực vật đại cương. Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh. 753tr.
Casal J. & Smith H. (1989). Effects of blue light
pretreatments on internode extension growth in
mustard seedlings after the transition to darkness:
Analysis of the interaction with phytochrome.
Journal of Experimental Botany. 40(217): 893-899.
Carvalho S.D., Schwieterman M.L., Abrahan C.E.,
Colquhoun T.A. & Folta K.M. (2016). Light
quality dependent changes in morphology,
antioxidant capacity, and volatile production in
sweet basil (Ocimum basilicum). Frontiers in plant
science. 7: 1328.
Cardoso N.N.R., Alviano C.S., Blank A.F., Arrigoni-
Blank M.D.F., Romanos M.T.V., Cunha M.M.L.,
Silva A.J.R.D. & Alviano D.S. (2017). Anti-
cryptococcal activity of ethanol crude extract and
hexane fraction from Ocimum basilicum var. Maria
bonita: mechanisms of action and synergism with
amphotericin B and Ocimum basilicum essential
oil. Pharmaceutical Biology. 55(1): 1380-1388.
Coombs J., Hind G., Leegood R.C., Tieszen L.L. &
Vonshak A. (1987). Techniques in bioproductivity
and photosynthesis. In: Measurement of starch and
sucrose in leaves. Pergamon press. 169p.
Đỗ Tất Lợi (2004). Những cây thuốc và vị thuốc Việt
Nam. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 1274tr.
Eisinger W., Swartz T.E., Bogomolni R.A. & Taiz L.
(2000). The ultraviolet action spectrum for
stomatal opening in broad bean. Plant Physiology.
122(1): 99-106.
Nguyễn Thị Thu Thảo, Trần Hoài Nguyên, Đỗ Thường Kiệt, Phan Ngô Hoang
137
Jensen N.B., Clausen M.R. & Kjaer K.H. (2018).
Spectral quality of supplemental LED grow light
permanently alters stomatal functioning and
chilling tolerance in basil (Ocimum basilicum
L.). Scientia Horticulturae. 227: 38-47.
Khatab H. & El-Khawas S. (2007). Comparative
studies on the effects of differents light qualities on
Vigna sinensis L. and Phaseolus vulgaris L.
seedlings. Research Journal of Agriculture and
Biological Sciences. (3): 790-798.
Lin K.H., Huang M.Y., Huang W.D., Hsu M.H., Yang
Z.W. & Yang C.M. (2013). The effects of red,
blue, and white light-emitting diodes on the
growth, development, and edible quality of
hydroponically grown lettuce (Lactuca sativa L.
var. capitata). Scientia Horticulturae. 150: 86-91.
Nascimento L.B.S., Leal-Costa M.V., Coutinho,
Marcela M.A.S., Moreira N.S., Lage C.L.S., &
Barbi N.S., Costa S. S. & Tavares E.S. (2012).
Increased antioxidant activity and changes in
phenolic profile of Kalanchoe pinnata (Lamarck)
Persoon (Crassulaceae) specimens grown under
supplemental blue light. Photochemistry and
photobiology. 89(2): 391-399.
Naznin M.T., Lefsrud M., Gravel V. & Azad M.O.K.
(2019). Blue light added with Red LEDs enhance
growth characteristics, pigments content, and
antioxidant capacity in lettuce, spinach, kale, basil,
and sweet pepper in a controlled environment.
Plants. 8(4): 93.
Murashige T. & Skoog F. (1962). A revised medium for
rapid growth and bio assays with Tobacco tissue
cultures. Physiologia plantarum. 15: 473-497.
Pennisi G., Blasioli S., Cellini A., Maia L., Crepaldi A.,
Braschi I., Spinelli F., Nicola S., Fernandez J.A.,
Stanghellini C., Marcelis L.F, Orsini1 F. &
Gianquinto1 G. (2019). Unravelling the role of red:
blue LED lights on resource use efficiency and
nutritional properties of indoor grown sweet
basil. Frontiers in plant science. 10: 305.
Piovene C., Orsini F., Bosi S., Sanoubar R., Bregola
V., Dinelli G. & Gianquinto G. (2015). Optimal
red: blue ratio in led lighting for nutraceutical
indoor horticulture. Scientia Horticulturae.
193: 202-208.
Roberts M.R. & Paul N.D. (2006). Seduced by the dark
side: integrating molecular and ecological
perspectives on the influence of light on plant
defence against pests and pathogens. New
Phytologist. 170(4): 677-699.
Shimizu H., Ma Z., Douzono M., Tazawa S., Runkle
E.S. & Heins R.D. (2006). Blue light inhibits stem
elongation of chrysanthemum. Acta Horticulturae.
711: 363-367.
Suetsugu N., Takami T., Ebisu Y., Watanabe H.,
Iiboshi C., Doi M. & Shimazaki K. (2014). Guard
cell chloroplasts are essential for blue light-
dependent stomatal opening in Arabidopsis. PloS
one. 9(9): e108374..
Takemiya A., Inoue S., Doi M., Kinoshita T. &
Shimazaki K. (2005). Phototropins promote plant
growth in response to blue light in low light
environments. The Plant cell. 17(4): 1120-1127.
Trettel J.R., Gazim Z.C., Gonçalves J.E., Stracieri J. &
Magalhães H.M. (2017). Volatile essential oil
chemical composition of basil (Ocimum basilicum
L.‘Green’) cultivated in a greenhouse and
micropropagated on a culture medium containing
copper sulfate. In vitro Cellular & Developmental
Biology-Plant. pp. 1-10.
Victório C.P., Lage C.L.S. & Kuster R.M. (2009).
Flavonoids extraction from Alpinia zerumbet
(Pers.) Burtt et Smith leaves using different
procedures. Eclética Química. 35: 35-40.
Wang J., Lu W., Tong Y. & Yang Q. (2016). Leaf
morphology, photosynthetic performance,
chlorophyll fluorescence, stomatal development of
lettuce (Lactuca sativa L.) exposed to different
ratios of red Light to blue light. Frontiers in Plant
Science. 7, article 250.
Wellburn A.R. (1994). The spectral determination of
chlorophylls a and b, as well as total carotenoids,
using various solvents with spectrophotometers of
different resolution. Journal of Plant Physiology.
144(3): 307-313.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
anh_huong_cua_anh_sang_xanh_lo_den_su_tang_truong_va_tich_lu.pdf